1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

luat la ma (1) :Phân tích bản chất và quá trình tiến hóa khái niệm quyền sở hữu”

13 371 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 30,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được 9 điểm môn này Đề bài :“ Phân tích bản chất và quá trình tiến hóa khái niệm quyền sở hữu” MỞ BÀI NỘI DUNG I.Khái niệm quyền sở hữu và bản chất quyền sở hữu 1. Tìm hiểu chung về Luật La Mã 2. Khái niệm quyền sở hữu 3. Bản chất quyền sở hữu 3.1.Quyền sở hữu có tính độc quyền vĩnh viễn, được bảo vệ nhưng các tính chất đó có thể điều chỉnh lại cho phù hơp hợp với hoàn cảnh thực tế và sự tiến bộ của chính quan niệm về quyền sở hữu. 3.2.Có tính độc quyền, nhưng người sở hữu cũng có thể mang tính chất chung trong trường hợp hai người trở lên cùng sở hữu đối với một tài sản . II. Quá trình tiến hóa khái niệm quyền sở hữu 1.Tài sản thể hiện tư cách nhân thân của chủ sở hữu chứ chưa có khái niệm quyền sở hữu 2.Quyền sở hữu vật là quyền của chủ thể được chi phối tuyệt đối và theo ý chí của mình đối với vật. 3.Quyền sở hữu vật được hiểu thông qua việc liệt kê cụ thể các quyền năng cấu thành của chủ sở hữu đối với vật của mình. 4. Mở rộng hơn khái niệm quyền sở hữu vật (thuộc thế hệ thứ ba) sang liệt kê các quyền năng cụ thể của chủ sở hữu tài sản nói chung (bao gồm vật, tiền và cả các tài sản vô hình). KẾT BÀI

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ BÀI

NỘI DUNG

I.Khái niệm quyền sở hữu và bản chất quyền sở hữu

1 Tìm hiểu chung về Luật La Mã

2 Khái niệm quyền sở hữu

3 Bản chất quyền sở hữu

3.1.Quyền sở hữu có tính độc quyền vĩnh viễn, được bảo vệ nhưng các tính chất đó có thể điều chỉnh lại cho phù hơp hợp với hoàn cảnh thực tế và sự tiến

bộ của chính quan niệm về quyền sở hữu

3.2.Có tính độc quyền, nhưng người sở hữu cũng có thể mang tính chất chung trong trường hợp hai người trở lên cùng sở hữu đối với một tài sản

II Quá trình tiến hóa khái niệm quyền sở hữu

1.Tài sản thể hiện tư cách nhân thân của chủ sở hữu chứ chưa có khái niệm quyền sở hữu

2.Quyền sở hữu vật là quyền của chủ thể được chi phối tuyệt đối và theo ý chí của mình đối với vật

3.Quyền sở hữu vật được hiểu thông qua việc liệt kê cụ thể các quyền năng cấu thành của chủ sở hữu đối với vật của mình.

4 Mở rộng hơn khái niệm quyền sở hữu vật (thuộc thế hệ thứ ba) sang liệt kê các quyền năng cụ thể của chủ sở hữu tài sản nói chung (bao gồm vật, tiền và

cả các tài sản vô hình).

KẾT BÀI

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

MỞ BÀI

Luật La Mã ra đời rất sớm vào khoảng thế kỉ VI – IV TCN khi Nhà nước La

Mã hình thành Tuy nhiên, thời kì cộng hòa trở đi là giai đoạn phát triển hưng thịnh nhất của luật La Mã Vào thời kì này, lãnh thổ đế quóc La Mã được mở rộng nhất

và nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh Luật La Mã lúc này có những phát triển vượt bậc như: đưa ra nhiều khái niệm chuẩn xác, có tính giá trị pháp lí cao, kĩ thuật lập pháp chuẩn xác, từ ngữ rõ ràng, trong sáng Thêm đó, bộ luật điều chỉnh hầu hết các quan hệ xã hội quan trọng, phổ biến, đặc biệt là quan hệ trọng lĩnh vực dân

sự về quyền sở hữu Chính vì vậy em xin chọn đề tài :“ Phân tích bản chất và quá

trình tiến hóa khái niệm quyền sở hữu”

NỘI DUNG I.Khái niệm quyền sở hữu và bản chất quyền sở hữu

1 Tìm hiểu chung về Luật La Mã

Khái niệm luật La Mã rất rộng, được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Ví

dụ luật La Mã là truyền thống luật La Mã trong lịch sử pháp luật châu Âu, dựa trên

Bộ Luật Justinian; luật La Mã còn được hiểu là luật thông dụng (Ius Commune) được áp dụng ở hầu hết các nước châu Âu ; luật La Mã còn là một trường phái luật pháp theo xu hướng bảo tồn những nguyên tắc của luật La Mã… Thế nhưng khi nhắc đến khái niệm luật La Mã chúng ta phải hiểu rằng đó là luật pháp của nhà nước La Mã cổ đại kéo dài suốt 13 thế kỷ (từ thế kỷ VII trước Công nguyên đến thế kỷ VI sau Công nguyên) Những thành tựu rực rỡ trong lĩnh vực xây dựng pháp luật của nhà nước La Mã là một trong những công trình văn hóa vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại, có thể so sánh với Kim tự tháp của Ai Cập, Vạn lý trường thành của Trung quốc… Theo Ăng- ghen: “Luật La Mã là hình thức pháp luật hoàn thiện nhất dựa trên cơ sở tư hữu Sự thể hiện pháp lý những điều kiện sống và những xung đột xã hội trong đó thống trị tư hữu mà những nhà làm luật sau đó không thể mang thêm điều gì hoàn thiện hơn…”

Cho đến ngày nay, người ta vẫn luôn đặt ra câu hỏi tại sao kỹ thuật xây dựng luật pháp của các luật gia La Mã lại hoàn thiện đến mức khó tin như vậy Chỉ lấy một

ví dụ trong phần hợp đồng thì so với luật pháp hiện đại người ta chỉ thấy thiếu một loại hợp đồng duy nhất, đó là hợp đồng bảo hiểm

Trang 3

Sẽ không thái quá khi nói rằng luật La Mã là cơ sở, là nền tảng của pháp luật hầu hết các nước trên thế giới và đối với những nhà làm luật, những người nghiên cứu luật pháp thì việc nghiên cứu luật La Mã là điều gần như không thể bỏ qua Gomsten cho rằng: “Nghiên cứu luật pháp phải bắt đầu từ luật La Mã, bởi vì nếu không nghiên cứu luật La Mã thì tổn phí biết bao công sức một cách vô ích để tìm thấy cái mà người ta đã tìm thấy từ lâu”

Nói đến luật La Mã chúng ta không thể không nhắc tới Luật XII bảng, Bộ Luật Justinian, tên tuổi các luật gia La Mã nổi tiếng như Gai, Pavel, Ulpian, Modestin, Papinian và Hoàng đế Justinian

Khái niệm luật “dân sự” La Mã rộng hơn so với khái niệm luật dân sự Việt Nam, bao gồm cả tố tụng dân sự, hôn nhân gia đình Luật dân sự La Mã bao gồm nhiều chế định khác nhau như sở hữu, nghĩa vụ hợp đồng, thừa kế, thực hiện công việc không có ủy quyền, được lợi tài sản không có căn cứ… T

2 Khái niệm quyền sở hữu

Chế định quyền sở hữu là chế định duy nhất mà các luật gia La Mã chưa đưa

ra được khái niệm chính xác về quyền sở hữu cũng như nội dung quyền sở hữu, nhưng họ đã chỉ ra được những quyền năng cơ bản của chủ sở hữu tài sản Những quyền năng đó bao gồm: quyền sử dụng tài sản (Ius Utendi) đây là quyền khai thác những lợi ích kinh tế từ tài sản phù hợp với tính năng, tác dụng của tài sản đó; quyền thu nhận thành quả và lợi nhuận (Ius Fruendi) về nguyên tắc chủ sở hữu là người hưởng thành quả và lợi nhuận từ tài sản thuộc sở hữu của mình; quyền định đoạt tài sản (Ius Abutendi) bao gồm định đoạt số phận thực tế cũng như số phận pháp lý của tài sản như bán, thừa kế, ban tặng, thậm chí là hủy bỏ; quyền chiếm hữu tài sản (Ius Possidendi) và quyền đòi lại tài sản (Ius Vicicandi) Về nguyên tắc chung, chủ sở hữu tài sản có toàn quyền đối với tài sản của mình, thực hiện hành vi

mà pháp luật không cấm

Bên cạnh đó,Theo TS Bùi Đăng Hiếu, khái niệm quyền sở hữu được đề cập theo ba góc độ khác nhau, đó là:

Thứ nhất, quyền sở hữu được tiếp cận dưới góc độ là một quan hệ pháp luật quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu Theo góc độ này thì quyền sở hữu được phân

Trang 4

tích với đầy đủ các bộ phận cấu thành của bất cứ một quan hệ pháp luật nói chung như chủ thể, khách thể, đối tượng, nội dung, căn cứ xác lập, căn cứ chấm dứt

Thứ hai, khái niệm quyền sở hữu có thể được tiếp cận dưới góc độ là tập hợp các quy phạm pháp luật về sở hữu (theo nghĩa khách quan) Dưới góc độ này thì việc tiếp cận với vấn đề quyền sở hữu sẽ được thực hiện thông qua các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ sở hữu Các quy phạm này chứa đựng trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Hiến pháp,

Bộ luật dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật khác

Với ý nghĩa là một chế định pháp luật, quyền sở hữu ra đời cùng với sự ra đời của Nhà nước, khi mà giai cấp thống trị sử dụng công cụ pháp luật để điều tiết lợi ích trong xã hội, đồng thời khẳng định quyền lực Nhà nước đối với khối tài sản

to lớn của xã hội, áp đặt ý chí của mình đối với các giai cấp, tầng lớp và cá nhân trong việc phân chia của cải vật chất trong xã hội Với ý nghĩa như vậy và trong mối quan hệ với sở hữu (khách quan), thì quyền sở hữu mang tính chủ quan Nhưng trong mối quan hệ với quyền chủ thể thì quyền sở hữu, một chế định pháp luật mang tính khách quan TS Đào Trí Úc đã nhận xét về tính khách quan và chủ quan của quyền sở hữu như sau:

"Quyền sở hữu là một chế định pháp luật Vì vậy nó mang tính chất chủ quan ở nghĩa là sự ghi nhận của Nhà nước đối với nó Vì tính chủ quan đó mà chúng ta mới thấy tình hình điều chỉnh của pháp luật đối với chế độ sở hữu có khi kịp thời, có khi không kịp thời hoặc thậm chí là duy ý chí, có lúc hiệu quả, có lúc không hiệu quả

Nhưng nếu xét trên bình diện phản ánh, chế định quyền sở hữu là khách quan, bởi vì pháp luật của Nhà nước chẳng qua chỉ là sự thể chế hóa, "đưa lên thành luật" những quan hệ kinh tế khách quan về sản xuất, tiêu dùng, lưu thông, tức là quan hệ chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các sản phẩm do con người tạo ra"

Tóm lại, với ý nghĩa là một chế định pháp luật, quyền sở hữu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa người với người (Nhà nước, cá nhân và pháp nhân) về việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản

Trang 5

Thứ ba, khái niệm quyền sở hữu được hiểu dưới góc độ là mức độ xử sự (quyền năng) mà pháp luật cho phép chủ sở hữu được thực hiện các hành vi nhất định (như chiếm hữu, sử dụng, định đoạt) lên tài sản theo ý chí của mình (theo nghĩa chủ quan) Dưới góc độ này, quyền sở hữu được coi là một trong những quyền năng cơ bản nhất mà một chủ thể có thể có được đối với tài sản (bên cạnh các quyền khác đối với tài sản như quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề, quyền dụng ích cá nhân, )

Những quyền năng này đồng thời là nội dung quyền sở hữu, quyền chủ thể của sở hữu chủ Mặc dù chưa đưa ra được khái niệm chung nhất về quyền sở hữu tài sản song nhưng nhà làm luật La Mã đã xây dựng tương đối đầy đủ nhưng quyền năng của chủ sở hữu hợp pháp, đặc biệt là những quy định về quyền chiếm hữu tài sản đã trở thành căn cứ pháp lí quan trọng để chủ sở hữu tài sản khi có tài sản bị xâm hại có cơ sở để bảo vệ quyền tài sản của mình và người xét xử có cơ sở pháp

lí để bảo vệ quyền của chủ sở hữu tài sản hợp pháp Chế định về quyền sở hữu tài sản đã thể hiện kỹ thuật lập pháp tiến bộ của nhà nước La Mã cổ đại, làm cơ sở xây dựng, hoàn thiện khái niệm, nội dung quyền sở hữu - vấn đề có ý nghĩa quan trọng của pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật đương đại

3 Bản chất quyền sở hữu

Quyền sở hữu của Luật La mã có một số bản chất cơ bản sau:

3.1.Quyền sở hữu có tính độc quyền vĩnh viễn, được bảo vệ nhưng các tính chất đó có thể điều chỉnh lại cho phù hơp hợp với hoàn cảnh thực tế và sự tiến

bộ của chính quan niệm về quyền sở hữu

Xét vấn để này dưới góc độ dân sự- trong lĩnh vự tư pháp bảo vệ quyền sở hữu là một trong những quyền năng của chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản từ chiếm hữu bất hợp pháp khi chủ sở hữu tài sản mất quyền chiếm hữu Chủ sở hữu mất quyền chiếm hữu ( nguyên đơn) có quyền yêu cầu người chiếm hữu bất hợp pháp (bị đơn) phải trả lại tài sản từ chiếm hữu bất hợp pháp ( kể cả người chiếm hữu ngay tình hay không ngay tình) trong những trường hợp nhất định bị đơn có thể là người hiện tại không chiếm hữu vật( bị đơn đã chuyển tài sản,cất dấu tài sản, ) trong trường hợp naỳ họ bị coi là cất dấu vật Tuy nhiên, người chủ sở hữu phải chứng minh được người đang chiếm giữ tài sản kia là bất hợp pháp và tài sản ( vật ) là vật đặc định.Đối tượng của việc đòi tài sản từ chiếm hữu bất hợp pháp

Trang 6

bao gồm vật cùng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản trong suốt thời gian chiếm hữu Bên cạnh đó, người chiếm hữu ngay tình phải chịu trách nhiệm đối với tài sản

kể từ thời điểm có yêu cầu (kiện) và hoa lợi, lợi tức thu được đang còn mà không phải là giá trị hoa lợi lợi tức thu được Những chi phí mà người chiếm hữu ngay tình bỏ để ra để bao quản, gìn giữ tài sản, chủ sở hữu tài sản phải trả lại cho người chiếm hữu ngay tình nếu chi phí đó là cần thiết Chủ sở hữu tài sản còn phải hoàn lại cho người chiếm hữu ngay tình những chi phí làm tăng giá trị của tài sản nếu việc tách những phần hoàn lại không làm hại đến tài sản Ngoài ra người chiếm hữu ngay tình có thể trở thành chủ sở hữu theo thời hiệu Đối với người chiếm hữu không ngay tình họ phải chịu trách nhiệm đối với mọi thiệt hại về tài sản trong suốt thời gian chiếm hữu; phải hoàn trả lại hoa lợi lợi tứ thu được hoặc đáng ra thu được

từ tài sản trong suốt thời gian chiếm hữu.Nếu hoa lợi lợi tức thu được không còn

họ phải hoàn trả lại giá trị của hoa lợi lợi tức đó Những chi phí mà người chiếm hữu không ngay tình bỏ ra để bảo quan, gửi giữ tài sản không được chủ sở hữu hoàn lại trừ chi phí đó là cần thiết Kẻ căp không được hoàn lại bất cứ thứ gì

3.2.Có tính độc quyền, nhưng người sở hữu cũng có thể mang tính chất chung trong trường hợp hai người trở lên cùng sở hữu đối với một tài sản

Thông thường một tài sản thuộc sở hữu của một chủ thể , trong trường hợp một tài sản thuộc sở hữu của hai hay nhiều chủ thể thì tài sản đó thuộc sở hữu chung Theo quan điểm của các nhà luật gia La mã , mỗi đồng chủ sở hữu có phần quyền nhất định trên toàn bộ tài sản mà không phải là phần tài sản điều này dẫn đến hậu quả là quyền một chủ thể trong các đồng sở hữu chủ bị mất thì quyền của các chủ thể còn lại sẽ được mở rộng đối với toàn bộ vật và nếu một phân của tài sản bị tiêu hủy thì tất cả các chủ sở hữu cũng bị thiệt hại Sở hữu chung có thể hình thành từ giao dịch so hai chủ sở hữu xác lập, thỏa thuận (ví dụ: hai người cùng mua một tài sản) hoặc một cách độc lập với ý chí của chủ sở hữu chung( Ví

dụ hai người cùng nhận một khôi di sản thừa kế) Bên cạnh đó nguyên tắc các đồng

sở hữu chủ thực hiện quyền sở hữu trên cơ sở cùng nhau thỏa thuận thì phần quyền của các đồng chủ sở hữu có thể bằng nhau nhưng cũng có thể không bằng nhau Bất cứ thay đổi nào đối với tài sản thuộc sở hữu chung ( quyền đối với tài sản chung) đều phải có sự đồng thuận của các chủ sở hữu Mỗi chủ sở hữu đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung Trong trường hợp không thỏa thuận được phân chia tài sản , quan tòa có thể phân chia tài sản thành các phần và xác định cụ thể từng chủ sở hữu chung có quyền đối với phần cụ thể trong khối tài sản chung đó

Trang 7

Nếu tài sản là vật không chia được thì áp dung theo nguyên tắc người nhận tài sản phải trong số các đồng chủ sở hữu phải thanh toán gia trị phần tài sản còn lại cho các đồng chủ sở hữu khác

Ngoài ra , quyền sở hữu có bản chất tính vĩnh viễn nhưng quyền sở hữu của một người có thể được xác lập cho một người khác

II Quá trình tiến hóa khái niệm quyền sở hữu

Khái niệm quyền sở hữu được hình thành rất sớm do đó cùng với sự phát triểncủa đất nước nó đã trải qua nhiều giai đoạn tiến hóa khác nhau nhưng chưa có tài liệu nào có thể khẳng định được chính xác thời điểm hình thành khái niệm quyền sở hữu Từ đó, có thể khái quát hoá quá trình phát triển của khái niệm quyền sở hữu thông qua bốn thế hệ cơ bản, thể hiện bốn cách hiểu khác nhau về quyền sở hữu:

1.Tài sản thể hiện tư cách nhân thân của chủ sở hữu chứ chưa có khái niệm quyền sở hữu

Đây là giai đoạn sơ khai trong lịch sử phát triển chế định sở hữu Khái niệm quyền sở hữu ban đầu được hiểu khác xa rất nhiều so với cách hiểu của chúng ta ngày nay Trong giai đoạn sơ khai này mới chỉ có khái niệm chủ sở hữu chứ chưa

có khái niệm quyền sở hữu Tài sản khi đó được hiểu như là sự tiếp nối tư cách cá nhân của chủ sở hữu Ai xâm phạm đến tài sản của một người (lấy mất con thú săn được, hoa trái thu lượm được) là xúc phạm tới cá nhân người đó Thời La mã cổ đại có quan niệm rằng: Một người kiện kẻ trộm không phải vì mình có quyền sở hữu, mà vì người ăn trộm đã xúc phạm đến danh dự của mình thông qua hành vi ăn trộm đó Kẻ trộm khi đó bị coi là kẻ xúc phạm (bị kiện theo phương thức kiện hành

vi trộm cắp – actio furti), chứ chưa được coi là người chiếm hữu bất hợp pháp tài sản của người khác (chưa áp dụng các phương thức kiện bảo vệ quyền sở hữu như kiện đòi lại tài sản thuộc sở hữu của mình – actio rei vindicatio, hay phương thức kiện đòi lại tài sản bị trộm – condictio furtiva) Quan niệm đó dẫn đến một loạt các

hệ quả pháp lý quan trọng sau đây:

Theo quan niệm đó mà pháp luật La mã giai đoạn cổ đại đã quy định cho phép chủ sở hữu không những được lấy lại tài sản bị trộm mà còn được trả thù lại

sự xúc phạm đó đối với kẻ trộm: chặt tay, giam giữ, giết, bán làm nô lệ, phạt gấp

Trang 8

nhiều lần tài sản trộm, …(1) Cần lưu ý rằng trộm cắp thời đó được coi là vi phạm

tư pháp và được điều chỉnh bởi hệ thống luật tư, chứ không phải bởi luật công như ngày nay

Nếu tài sản rời khỏi chủ sở hữu mà không có sự xúc phạm đến nhân thân của chủ sở hữu (Ví dụ như: chủ sở hữu cho người khác mượn tài sản, sau đó người mượn

Cũng theo quan niệm đó mà Luật La mã thời kỳ cổ đại đã từng quy định rằng, nếu như có nhiều kẻ trộm cùng ăn trộm một tài sản, thì hành vi của mỗi kẻ trộm được coi là những sự xúc phạm riêng biệt đối với chủ sở hữu Khi đó mỗi kẻ trộm phải trả cho người bị trộm toàn bộ tài sản đã ăn trộm (có bao nhiêu kẻ trộm cùng thực hiện việc trộm cắp thì chủ sở hữu được hưởng ngần ấy lần tài sản của mình)(3) Ví dụ như hai kẻ trộm cùng ăn trộm một con ngựa, thì khi bị bắt mỗi kẻ trộm phải nộp cho người bị trộm một con ngựa

Do tài sản là sự tiếp nối tư cách nhân thân của chủ sở hữu, do đó khi chủ sở hữu chết thì tư cách nhân thân chấm dứt, tài sản trở thành vô chủ Một số tài liệu khảo cổ cho thấy thời xa xưa tại nhiều dân tộc có tồn tại tập quán rằng sau khi một người chết đi thì tài sản của người đó (tiền bạc, đồ dùng quý giá, thậm chí cả nô lệ) cũng được chôn theo Cùng với đó một nguyên tắc pháp lý được hình thành dưới thời La mã cổ đại có nội dung như sau: “Việc lấy đi tài sản của người chết không được coi là ăn trộm” – “Rei hereditariae furtum non fit”(4) Trong giai đoạn này chế định thừa kế chưa được hình thành rõ nét, chưa có quy định cụ thể cho việc dịch chuyển tài sản từ người chết sang cho những người còn sống

2.Quyền sở hữu vật là quyền của chủ thể được chi phối tuyệt đối và theo ý chí của mình đối với vật

Với sự phát triển của giao lưu dân sự, thì khái niệm quyền sở hữu thế hệ thứ hai dần được hình thành và được hiểu là “quyền thống trị tuyệt đối của một chủ thể lên vật” Quyền sở hữu là một loại vật quyền quan trọng nhất thể hiện sự phụ thuộc tuyệt đối và vô hạn của vật đối với chủ sở hữu Chủ sở hữu có mọi quyền năng đối với vật Việc xác lập quyền sở hữu đối với vật trả lời cho câu hỏi: Vật này của ai?

Đối với một vật cụ thể thì không thể có bất kỳ chủ thể nào có nhiều quyền năng hơn chính chủ sở hữu vật đó Mọi hành vi tác động lên vật hoàn toàn phụ

Trang 9

thuộc vào ý chí của chính chủ sở hữu đó Các đặc điểm cơ bản của quyền sở hữu được khái quát hoá là: 1) Tính chất tuyệt đối, 2) Tính độc nhất, 3) Mọi xử sự, 4) Theo ý chí của chủ sở hữu, 5) Vô thời hạn, 6) Việc thực hiện quyền sở hữu không dẫn tới chấm dứt quyền sở hữu đó Cũng từ khi có cách hiểu này mà chủ sở hữu mới được bảo vệ bằng những phương thực kiện vật quyền Ví dụ như kiện đòi lại tài sản thuộc sở hữu của mình (rei vindicatio)

Cũng trong giai đoạn này mới hình thành nên nguyên tắc: “Một người không thể chuyển giao cho người khác nhiều hơn những gì mình có” ( Và hệ quả trực tiếp của nguyên tắc này là: nếu như tài sản đã được chuyển giao từ người chiếm hữu bất hợp pháp sang cho người thứ ba thông qua giao dịch dân sự thì chủ sở hữu vẫn được đòi lại tài sản từ người thứ ba đó Ví dụ như một người mua phải tài sản

do trộm cắp có được thì phải trả lại cho chủ sở hữu khi chủ sở hữu đòi lại Bởi lẽ bản thân kẻ trộm không có quyền sở hữu đối với vật trộm được, do đó không thể chuyển giao quyền sở hữu sang cho người mua (không thể chuyển giao cái mà chình mình không có), khi đó người mua phải tài sản trộm cắp sẽ không thể trở thành chủ sở hữu tài sản mua được

Tại đây phát sinh một vấn đề: Khi đó một người khi mua tài sản nào đó thường sẽ rất băn khoăn rằng: Không biết người bán cho mình có đích thực là chủ

sở hữu tài sản không Nếu người bán mà không phải chủ sở hữu tài sản thì đến một lúc nào đó sau khi mua chủ sở hữu sẽ đến đòi lại, bên mua khi đó bị buộc phải trả lại cho chủ sở hữu tài sản mình đã mua Nhằm khắc phục tận gốc vấn đề đó mà pháp luật các nước mới bắt đầu hình thành cơ chế đăng ký tài sản Phương thức đăng ký tài sản đó ban đầu được áp dụng đối với bất động sản, sau đó áp dụng dần cho các loại tài sản khác là động sản

Cách hiểu này đã cho phép chủ sở hữu có mọi quyền năng đối với tài sản, do

đó ở thế hệ thứ hai này ta không thấy có sự liệt kê các quyền năng cơ bản của chủ

sở hữu

3.Quyền sở hữu vật được hiểu thông qua việc liệt kê cụ thể các quyền năng cấu thành của chủ sở hữu đối với vật của mình.

Trên thực tế thì trong một xã hội công dân, mọi hành vi của mỗi thành viên, trong đó kể cả hành vi đối với tài sản của chính mình, cũng chỉ giới hạn trong

Trang 10

phạm vi cho phép sao cho không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, cũng như lợi ích của toàn xã hội, của cộng đồng nói chung

Chính vì lý do đó quyền năng của chủ sở hữu mới luôn bị hạn chế trong một giới hạn luật định Quyền năng vô hạn của chủ sở hữu đối với vật “của mình” chỉ được thể hiện với ý nghĩa lớn hơn so với bất kỳ một chủ thể nào khác, chứ không bao giờ có thể nhiều hơn những gì pháp luật quy định Nói cách khác, quyền sở hữu khi đó được hiểu là tập hợp một số quyền năng cụ thể của chủ sở hữu mà pháp luật quy định Bắt đầu hình thành khái niệm quyền sở hữu thế hệ thứ ba – liệt kê cụ thể các quyền năng cấu thành của quyền sở hữu vật Cách hiểu này được sử dụng rộng rãi trong pháp luật nhiều quốc gia những thế kỷ vừa qua

Dưới thời cộng hoà La mã thì quyền sở hữu được hiểu bao gồm năm quyền năng là: 1) Quyền chiếm hữu, 2) Quyền sử dụng, 3) Quyền hưởng dụng lợi ích từ việc sử dụng vật, 4) Quyền định đoạt số phận vật, 5) Quyền kiện đòi lại vật từ người chiếm hữu bất hợp pháp

Điều 544 Bộ luật dân sự Cộng hoà Pháp quy định rằng chủ sở hữu tài sản có hai quyền năng là “hưởng thụ và định đoạt vật một cách tuyệt đối, miễn là không sử dụng tài sản vào những việc mà pháp luật cấm” Theo quy định tại Điều 903 Bộ luật dân sự Liên bang Đức thì chủ sở hữu vật có hai quyền năng “định đoạt vật theo ý chí của mình và được bảo vệ khỏi mọi sự tác động của người khác lên vật”

Pháp luật các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh- Mỹ thì lại liệt kê cụ thể hơn nữa các quyền năng của chủ sở hữu vật (thậm chí có thể có đến 10 –12 quyền năng) Điểm đặc biệt ở chỗ các quyền năng này lại có thể được hình thành theo các nhóm không giống nhau tại nhiều chủ thể khác nhau

Trong các tài liệu nghiên cứu của các luật gia trên thế giới cũng có thể hiện rất nhiều các quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề liệt kê các quyền năng của chủ sở hữu vật Luật gia Italia Pugliatti cho rằng quyền sở hữu bao gồm hai quyền năng cơ bản là quyền sử dụng và quyền định đoạt(5) Luật gia người Đức Haas T bên cạnh ba quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt lại muốn bổ sung thêm quyền năng thứ tư là quyền quản lý(6)

Một số luật gia muốn đưa ra hàng loạt các quyền năng cụ thể mà chủ sở hữu

có thể có được để ghép chúng vào với nhau theo từng ngữ cảnh cụ thể Ví dụ như:

Ngày đăng: 09/09/2017, 22:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w