VNH3.TB2.557 BẢN LĨNH TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM VỚI QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC, PHÁT TRIỂN XÃ HỘI PGS.TS.. Bản lĩnh của dân tộc Việt Nam là một trong những giá trị truyền thống
Trang 1VNH3.TB2.557
BẢN LĨNH TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM VỚI QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC, PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc
Học viện CT - HC QG Hồ Chí Minh
Mỗi dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình đều tự khẳng định và không ngừng rèn luyện, nâng cao bản lĩnh Bản lĩnh thể hiện trong nhiều lĩnh vực của đời sống và hành động của mỗi dân tộc, mỗi con người trong đó nổi bật là bản lĩnh sống và bản lĩnh chính trị Bản lĩnh vừa thể hiện bản chất của dân tộc vừa thể hiện khoa học xử lý các mối quan hệ Bản lĩnh là cái cần có để bảo vệ và dựng xây đất nước và phát triển xã hội
Trước công nguyên, các Vua Hùng dựng nước Văn Lang khởi đầu sự nghiệp dựng nước và giữ nước, bắt đầu thời đại Hùng Vương - An Dương Vương với Nhà nước Văn Lang và Âu Lạc Thời đại đó kéo dài nhiều thế kỷ minh chứng sức sống và bản lĩnh của cư dân Việt cổ Bản lĩnh của dân tộc Việt Nam là một trong những giá trị truyền thống và được hình thành và phát triển suốt chiều dài lịch sử
Từ buổi đầu dựng nước, sự hình thành bản lĩnh của dân tộc có ý nghĩa rất quan trọng như giá trị nền móng Lạc Long Quân và Âu Cơ cùng các con chia nhau xuống biển, lên rừng để khai khẩn, xây dựng đời sống kinh tế, tổ chức đời sống xã hội hình thành quốc gia dân tộc Truyền thuyết đó nói lên ý chí và quyết tâm chinh phục tự nhiên của cộng đồng sơ khai người Việt Truyền thuyết Sơn Tinh - Thuỷ Tinh là sự phát triển cao của ý chí, bản lĩnh nhằm trị thuỷ, chống thiên tai, làm kinh tế nông nghiệp Truyền thuyết Thánh Gióng thể hiện ý chí chống xâm lược của các thế lực bên ngoài bảo vệ cuộc sống của cộng đồng xã hội người Việt cổ Truyền thuyết phản ánh tính cách văn hoá và bản lĩnh của dân tộc hay chính bản lĩnh, tính cách, văn hoá dân tộc trở thành huyền thoại
Dân tộc, quốc gia Văn Lang hình thành và phát triển từ mấy nghìn năm trước Đó là liên minh của các bộ lạc hình thành cộng đồng chính trị - xã hội với một Nhà nước sơ khai, đơn vị xã hội là công xã nông thôn và sự phát triển của nền nông nghiệp lúa nước Sự khởi đầu lịch sử của mỗi dân tộc đều phải trải qua một chặng đường chuyển hoá lâu dài từ công
xã nguyên thuỷ Moóc-gan đã chia sự phát triển của loài người thành ba thời đại chính: thời đại mông muội, thời đại dã man và thời đại văn minh Ăngghen đã tán đồng nhận thức đó của Moóc-gan Ăngghen cho rằng: "Moóc-gan là người đầu tiên, với sự am hiểu vấn đề đã tìm ra cách sắp xếp thời kỳ tiền sử của loài người thành một hệ thống nhất định, chừng nào
Trang 2mà còn chưa có thêm được nhiều tài liệu khiến người ta thấy cần phải sửa đổi lại thì không nghi ngờ gì nữa, cách chia thời kỳ của Moóc-gan vẫn còn giá trị"1 Khi phân tích những giai
đoạn văn hoá tiền sử theo Ăngghen Moóc-gan chỉ quan tâm đến hai thời đại đầu và bước
quá độ sang thời đại thứ ba Trong hai thời đại đầu Moóc-gan chia mỗi thời đại thành các giai đoạn thấp, giữa và cao với những đặc điểm cư trú, sinh hoạt, lao động và sáng tạo bước đầu Ăngghen đã khái quát lại nội dung của các thời đại theo quan niệm của Moóc-gan:
"Thời đại mông muội - thời đại trong đó việc chiếm hữu những sản vật tự nhiên sẵn có chiếm ưu thế; những sản phẩm do con người tạo ra thì chủ yếu đều là những công cụ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chiếm hữu kia Thời đại dã man - thời đại trong đó con người học được cách chăn nuôi súc vật và làm ruộng, học được những phương pháp thông qua hoạt động của con người để tăng việc sản xuất các sản vật tự nhiên Thời đại văn minh - thời đại trong đó con người học được cách tinh chế thêm những sản vật tự nhiên, thời đại của công nghiệp - hiểu theo nghĩa đích thực của từ này - và của nghệ thuật"2
Trên mảnh đất Việt Nam con người xuất hiện khá sớm cách ngày nay mấy chục vạn năm qua phát hiện ở các di chỉ khảo cổ ở hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn), Núi
Đọ (Thanh Hoá), Hàng Gòn (Đồng Nai) Theo cách nhận thức và phân chia của Moóc-gan
và Ăngghen thì các giai đoạn của văn hoá tiền sử cũng đã xuất hiện ở Việt Nam: Văn hoá
Sơn Vi (cách ngày nay hơn 18000 năm), văn hoá Hoà Bình (cách ngày nay 11000 năm), văn hoá Bắc Sơn (cách ngày nay 10.000 năm), văn hoá Quỳnh Văn (cách ngày nay 6500 năm), văn hoá Hạ Long (cách ngày nay khoảng 6000 năm) và văn hoá Bầu Tró (cách ngày nay
5000 năm) Trong thời văn hoá tiền sử ở Việt Nam, điểm nổi bật là con người đã từng bước chế tạo công cụ để tiến hành lao động sản xuất từ công cụ bằng đá đến công cụ bằng kim khí (đồ đồng và đồ sắt), làm nông nghiệp trồng trọt rồi chăn nuôi
Sinh sống trên vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm hoàn cảnh thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt, người Việt cổ phải tự rèn luyện, tự thích ứng, vừa phải dựa vào điều kiện
tự nhiên (kinh tế săn bắt, hái lượm) vừa phải lao động sản xuất, chống thiên tai một cách
bền bỉ, ngoan cường mới có thể tồn tại và tự khẳng định mình Người Việt cổ đã ra sức lao
động sản xuất để làm ra của cải vật chất nuôi sống mình và quần tụ lại phát triển cộng đồng ngày càng đông đúc "Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử, quy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt: thực phẩm, quần áo, nhà ở và những công
cụ cần thiết để sản xuất ra những thức đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là
sự truyền nòi giống"3
Theo Ăngghen, quá trình khẳng định quốc gia, dân tộc "những trật tự xã hội, trong đó những con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là
do hai loại sản xuất quyết định: một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác
1 Mác - Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tập 21, tr.46
2 Mác - Ăngghen, Toàn tập, đã dẫn, tập 21, tr.53-54
3 Mác - Ăngghen, Toàn tập, đã dẫn, tập 21, tr.44
Trang 3là do trình độ phát triển của gia đình"1 Sự tiến triển của cư dân Việt cổ từ những giai đoạn văn hoá tiền sử sang thời đại văn minh cũng chính là quá trình định hình quốc gia Văn Lang
và hình thành dân tộc (khoảng thế kỷ VII trước công nguyên) Thời đại văn minh được đánh
dấu bởi sự phát triển của nền văn minh sông Hồng
Văn minh sông Hồng được hình thành và phát triển từ những nền văn hoá nổi tiếng
mà khoa học khảo cổ đã phát hiện: văn hoá Phùng Nguyên (khoảng 4000 năm cách ngày nay) xuất hiện đồ đồng khởi đầu thời đại kim khí; văn hoá Đồng Đậu (hơn 3000 năm trước); văn hoá Gò Nhum (gần 3000 năm trước) và văn hoá Đông Sơn (khoảng 2500 năm cách ngày nay và kéo dài đến một, hai thế kỷ sau công nguyên) Giá trị của văn minh sông Hồng
đã được nhiều nhà khoa học, nhiều công trình nghiên cứu khẳng định Đó là nền văn minh
của người bản địa được hình thành sớm, trước khi những giá trị văn hoá, văn minh của bên ngoài xâm nhập
Bản lĩnh sống, bản sắc văn hoá của cư dân vươn lên mạnh mẽ từ thời văn hoá tiền sử
để khẳng định trong văn minh sông Hồng và tập trung vào việc xây dựng quốc gia, phát triển xã hội của thời đại Hùng Vương - An Dương Vương (Văn Lang - Âu Lạc) Sự hoà quyện đời sống thực tế với truyền thuyết đã làm nên diện mạo của dân tộc tự buổi bình minh dựng nước Sự phát triển của thời đại kim khí đánh dấu sự phát triển hay là cuộc cách mạng
về lực lượng sản xuất từ văn hoá Phùng Nguyên đến đỉnh cao là văn hoá Đông Sơn với trình
độ văn hoá cả về kỹ thuật và nghệ thuật luyện và chế tạo đồ đồng (cả công cụ sản xuất, vũ khí và nhạc khí) Truyền thuyết Thánh Gióng trong thời Hùng Vương đánh giặc Ân bằng ngựa sắt làm rõ thêm thời đại kim khí
Văn minh sông Hồng gắn liền với sự ra đời và phát triển nền nông nghiệp lúa nước, góp phần hình thành trung tâm sản xuất lúa gạo ở Đông Nam Á phát triển cho đến này nay Truyền thuyết, sự tích bánh chưng, bánh dày, dưa hấu Mai An Tiêm làm phong phú thêm giá trị của kinh tế nông nghiệp Nền nông nghiệp lúa nước đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn hoá, lối sống, phong tục tập quán và cả ý chí, nghị lực, tình nghĩa con người và cả phong cách ứng xử của con người
Cơ cấu xã hội làng xã (hay công xã nông thôn) đã định hình từ buổi đầu dựng nước Làng xã là sự quần tụ định cư của nhiều gia đình trên địa bàn xác định và liên hệ với nhau bằng mối quan hệ huyết tộc và quan hệ láng giềng Gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ cấu làng xã, cơ cấu xã hội và cả trong phát triển kinh tế, sản xuất Loài người từng bước thoát khỏi chế độ quần hôn, phát triển thành gia đình huyết tộc, gia đình đối ngẫu để
chuyển thành gia đình một vợ một chồng Truyền thuyết Sơn Tinh - Thuỷ Tinh, Chử Đồng
Tử - Tiên Dung, Trầu Cau trong thời đại Hùng Vương đã cho thấy sự xác lập gia đình một
vợ một chồng Các gia đình hạt nhân đó là đơn vị quan trọng trong phát triển kinh tế và hợp thành cơ cấu xã hội làng xã bền vững
1 Mác - Ăngghen, Toàn tập, đã dẫn, tập 21, tr.44
Trang 4Sự ra đời và hoạt động của bộ máy nhà nước Văn Lang - Âu Lạc đánh dấu sự phát triển về tổ chức cộng đồng của văn minh sông Hồng Nhà nước đó thật sự làm chức năng tổ chức đời sống của cư dân, quản lý điều hành các công xã nông thôn chống thiên tai, trị thuỷ phát triển kinh tế nông nghiệp, chống giặc ngoại xâm Nhà nước đó chưa hoàn toàn theo đúng nghĩa nhà nước là cơ quan cai trị, thống trị của một giai cấp này đối với một giai cấp khác mà là nhà nước sơ khai của một hình thái dân chủ làng xã của cư dân nông nghiệp Sự
cố kết của con người không chỉ trong lòng xã hội mà còn ở cấp độ cao hơn là quốc gia, dân tộc Không như thế không thể xây dựng đất nước và phát triển xã hội
Dân tộc Việt đã phải trải qua một thời kỳ lâu dài nằm dưới ách thống trị của phong kiến phương Bắc - thời kỳ Bắc thuộc (từ năm 179 trước công nguyên đến năm 938 sau công nguyên) Mặc dù vậy công cuộc xây dựng đất nước và phát triển xã hội vẫn không ngừng trệ
Cư dân Việt đã bám chắc địa bàn làng xã để xây dựng kinh tế, gìn giữ giá trị văn hoá, truyền thống, mặt khác kiên cường và khôn khéo chống lại chiến lược đồng hoá của một quốc gia mạnh hơn nhiều lần và văn hoá, văn minh phát triển cao Thoát khỏi được âm mưu đồng hoá thâm độc và sự thống trị tàn bạo của nước ngoài để trở về với giá trị của chính mình là nhờ dân tộc Việt đã có bề dầy hàng vạn năm văn hoá tiền sử và hàng ngàn năm văn minh sông Hồng Không những thế khi trở về cư dân vật còn phong phú hơn về giá trị văn hoá, mạnh lên
về quân sự và kinh nghiệm chính trị và dày dạn hơn về bản lĩnh Điều cần nhấn mạnh là thời
Bắc thuộc, người Việt đã bộc lộ khả năng tiếp nhận, thích ứng và hội nhập Người Việt đã
tiếp nhận Phật giáo, Nho giáo để làm phong phú giá trị văn hoá bản địa
Hơn mười thế kỷ xây dựng và phát triển quốc gia phong kiến độc lập (thế kỷ X - XIX), là quá trình hun đúc và khẳng định ngày càng rõ hơn những giá trị truyền thống và bản lĩnh Việt Nam Mười thế kỷ với 10 cuộc kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ và giải phóng đất nước thể hiện ý chí và khát vọng độc lập dân tộc "Nam quốc sơn hà nam đế cư"
để không ngừng xây dựng, phát triển đất nước, xã hội vững bền "Sơn hà thiên cổ điện kim ân" (Trần Nhân Tông) Đánh giặc ngoại xâm để khẳng định chủ quyền quốc gia, dân tộc
"Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ" (Quang Trung) và như mong muốn của Nguyễn Trãi đất nước từ nay vững bền, đổi mới
Các triều đại phong kiến nối đời dựng nước, phát triển chế độ xã hội phong kiến Việt
Nam Lịch sử các triều đại đó có bước thăng trầm, thịnh suy song lợi ích, quyền lực dòng họ (mỗi triều đại là do một dòng họ nắm quyền) phải đặt dưới lợi ích của quốc gia dân tộc Khi mỗi triều đại đã suy yếu, vai trò lịch sử của dòng họ đó đã hết thì tất yếu chuyển sang triều đại mới bằng cách này hay cách khác Ở mỗi bước ngoặt đó đều kết thúc sự suy vong và mở đầu cho sự phát triển và đều gắn với vai trò của những nhân vật lịch sử tiêu biểu "tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, nhưng hào kiệt không đời nào thiếu" (Nguyễn Trãi)
Hào kiệt là các bậc minh quân, các thủ lĩnh chính trị, quân sự lỗi lạc và hào kiệt còn
là những bậc hiền tài, những trí thức lớn tài cao đức rộng "Hiền tài là nguyên khí quốc gia" (Thân Nhân Trung) Đó là những con người kết tinh và tiêu biểu cho trí tuệ, ý chí và bản lĩnh của quốc gia dân tộc, mong muốn và làm hết sức mình để xây dựng đất nước phát triển
xã hội Nhiều cuộc cải cách nhằm canh tân và phát triển đất nước đã diễn ra trong lịch sử
Trang 5Cải cách của Khúc Thừa Dụ (đầu thế kỷ XX), của Lý Công Uẩn (đầu thế kỷ XI), của Trần Thủ Độ (đầu thế kỷ XIII), Hồ Quý Ly (cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV), Lê Thánh Tông (cuối thế kỷ XV), Đào Duy Từ (đầu thế kỷ XVII), Trịnh Cương (đầu thế kỷ XVIII), Quang Trung - Nguyễn Huệ (cuối thế kỷ XVIII), Minh Mạng (đầu thế kỷ XIX) Thế kỷ XIX trong hoàn cảnh khắc nghiệt vẫn nổi lên những nhân vật tiêu biểu cho xu thế đổi mới như Nguyễn Công Trứ, Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện Những nhân vật
đó với những chủ trương táo bạo để chấm dứt sự lạc hậu, trì trệ của đất nước, xã hội phong kiến đã suy tàn để đổi mới mạnh mẽ, thậm chí hướng tới nền thương mại kỹ nghệ, khoa học
kỹ thuật phương Tây
Là một nước nông nghiệp, song từ rất sớm quốc gia phong kiến Việt Nam đã chú trọng giao thương, buôn bán với nước ngoài Năm 1149 vua Lý Anh Tông đã cho mở thương cảng Vân Đồn (Quảng Ninh) Giao thương với các nước trong khu vực và cả phương Tây đã sớm được mở ra Cuối thế kỷ XV người Bồ Đào Nha đã đến buôn bán ở Việt Nam Đầu thế kỷ XVII thương nhân các nước Nhật Bản, Trung Hoa, Hà Lan, Anh,
Pháp đều đã đến buôn bán, mở thương điếm cả ở Đàng Ngoài và Đàng Trong Các thương
cảng nổi tiếng ở đàng ngoài như Thăng Long, Phố Hiến, ở đàng trong như Hội An buôn bán gốm sứ, tơ lụa với nước ngoài Cùng với các thương nhân, các giáo sĩ phương Tây cũng đã đến Việt Nam truyền đạo Gia Tô từ thế kỷ XVI Để phục vụ cho mục đích truyền đạo, giáo
sĩ Alexandre de Rhodes đã la tinh hoá tiếng Việt và sáng tạo ra chữ viết mới - quốc ngữ Cùng với việc giữ đạo Phật, phát triển tư tưởng nho giáo, một bộ phận người Việt từ thế kỷ XVII đã tiếp thu đạo Gia Tô, cùng với chữ Hán, chữ Nôm đã có chữ viết theo hệ la tinh Xu thế hội nhập mở cửa đã được hình thành rõ, tiếp thu và thích ứng cũng được thể hiện
Cuối thế kỷ XIX Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp Chế độ xã hội chuyển từ xã hội phong kiến độc lập, sang xã hội thuộc địa nửa phong kiến Các phong trào yêu nước chống Pháp diễn ra mạnh mẽ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Quyết tâm giành độc lập, canh tân đất nước, phát triển xã hội hoà quyện vào nhau Hoạt động của hội Duy Tân, phong trào Đông Du, phong trào Duy Tân, Đông kinh nghĩa thục gắn liền với những tên tuổi lớn như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền Những xu hướng canh tân, cải cách đó có ý nghĩa thức tỉnh và trở thành động lực thúc đẩy phong trào đấu tranh vì độc lập của Tổ quốc vì cuộc sống của đồng bào, xoá bỏ chế
độ thuộc địa, chế độ phong kiến lỗi thời trở thành yêu cầu khách quan Tuy nhiên, các phong trào canh tân, cải cách đó không thể hiện được trong hoàn cảnh sự cai trị và đàn áp khốc liệt của chủ nghĩa thực dân và phong kiến
Phan Bội Châu sang Nhật nhờ Nhật giúp Việt Nam đánh Pháp và phát triển đất nước nhưng không được đáp lại Phan Châu Trinh sang Pháp hy vọng Pháp xoá bỏ chế độ phong kiến Việt Nam để cải cách đất nước, xã hội cũng không thành công Ngày 5-6-1911 Nguyễn Tất Thành (sau này là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh) sang Pháp và phương Tây xem người ta làm thế nào để về giúp đồng bào mình Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn gắn liền giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người trên nền tảng hệ tư tưởng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin Đầu
Trang 6những năm 20 của thế kỷ XX của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đều nhận thấy con đường và phương pháp của Nguyễn Ái Quốc là đúng đắn và đặt hy vọng, niềm tin vào Nguyễn Ái Quốc Sau này khi cách mạng, sự nghiệp giành độc lập đã thành công (1945) hai
cụ Phan không còn, nhưng chính cụ Huỳnh Thúc Kháng lại trở thành cộng sự gần gũi, thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh Sự thật lịch sử đã cho thấy các nhân vật lịch sử đó dù với con đường hay cách thức khác nhau nhưng đều duy ý chí, khát vọng vì độc lập của dân tộc,
vì sự phát triển đất nước, xã hội vì hạnh phúc của đồng bào Các cụ thật sự không vì cá nhân mình, phong trào, lực lượng mà mình đại diện mà vì lợi ích, số phận của cả dân tộc; nghiêm túc và thẳng thắn thừa nhận đâu là sai lầm đâu là con đường và phương pháp đúng đắn Đó chính là bản lĩnh Việt Nam Con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc được khẳng định trong Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam (2-1930) là sự lựa chọn đúng đắn, sự lựa chọn của chính lịch sử và được lịch sử kiểm nghiệm tính đúng đắn của nó từ 1930 đến nay
Thật sự mong muốn giao thương, hoà đồng và học hỏi các quốc gia, dân tộc khác trên thế giới với một sự tự tin đã trở thành một nét trong bản lĩnh truyền thống của dân tộc Việt Nam Năm 1905 trong phong trào Đông Du, Phan Bội Châu đã đưa khoảng 200 thanh niên Việt Nam du học ở Nhật Bản Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng mong muốn điều đó với Hoa Kỳ Trong thư gửi Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ Giêm Biếcnơ ngày 1-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Nhân danh Hội văn hoá Việt Nam, tôi xin được bày tỏ nguyện vọng của Hội, được gửi một phái đoàn khoảng năm mươi thanh niên Việt Nam sang Mỹ với ý định một mặt thiết lập những mối quan hệ văn hoá thân thiết với thanh niên Mỹ, và mặt khác để xúc tiến việc tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác"1 Chân thành, thẳng thắn, trung thực, vì đại nghĩa, trọng lẽ phải là phép ứng xử của dân tộc Việt Nam Năm 1946 trong phát triển với Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: "Sự thành thực và sự tin cậy lẫn nhau sẽ san phẳng được hết thảy những trở ngại với một sự tin cậy bằng nhau, những dân tộc tự do bình đẳng vẫn có thể giải quyết những vấn đề khó khăn nhất"2
Trong lịch sử, dân tộc Việt Nam đã phải nhiều lần chống sự xâm lược, thống trị và
nô dịch của các nước lớn phong kiến và tư bản, đế quốc và đều giành thắng lợi Mỗi lần chiến thắng, dân tộc Việt Nam đều nêu cao chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn giữ quan hệ hoà hiếu, thân thiện với những quốc gia, dân tộc đã từng xâm lược thống trị mình, không gây hận thù, sẵn sàng khép lại quá khứ, hướng tới tương lai với tinh thần "làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai"3
Với lịch sử vẻ vang và bề dày văn hoá, văn minh, dân tộc Việt Nam hoàn toàn có đủ nội lực để vươn lên xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, sánh vai với các cường quốc năm châu Nhưng một dân tộc có bản lĩnh là một dân tộc biết tự nhìn nhận mình, thấy
rõ những yếu kém của mình Với nền kinh tế nông nghiệp, mấy ngàn năm nhưng phát triển chậm, lạc hậu, lực lượng sản xuất thấp kém, khoa học kỹ thuật, không phát triển, sản xuất
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 4, tr.80, 267-268
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 4, tr.80, 267-268
3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 5, tr.220
Trang 7manh mún, phân tán Nền giáo dục trong chế độ phong kiến thêm về khoa học xã hội, nhân văn, vắng bóng khoa học tự nhiên và công nghệ Nền sản xuất tiểu nông lại trong một không gian khép kín ở làng xã cùng làm cho xã hội chậm phát triển và sinh nhiều nếp sống tiêu cực Chế độ thực dân với chính sách ngu dân càng làm cho những yếu kém vốn có thêm trầm trọng Dân trí thấp, không quen với dân chủ Ngay sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn nêu rõ: "Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập"1
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam từ năm 1986 do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo là cuộc canh tân đất nước sâu sắc, toàn diện và đã mang lại thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử Bắt đầu từ đổi mới tư duy lý luận, nhận thức đúng đắn các quy luật khách quan, khắc phục căn bệnh chủ quan, duy ý chí, nóng vội, thậm chí bất chấp quy luật Cùng với đổi mới tư duy lý luận là phải thay đổi cách nhìn nhận đánh giá thực tiễn của đất nước với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật để thấy rõ thực trạng của đất nước, điểm xuất phát, đặc điểm, hoàn cảnh, những gì là thành công, những gì là yếu kém, khuyết điểm Quá trình khảo nghiệm, chuyển đổi từng bước những giải pháp đổi mới từ cuối những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ XX cũng khẳng định
sự cần thiết và tất yếu phải đổi mới Vượt lên sự bảo thủ, trì trệ, vượt lên lối tư duy bao cấp, hành chính, cứng nhắc và cách làm kém hiệu quả, đó là sự vượt qua chính mình Rõ ràng đổi mới là sự lựa chọn không dễ dàng và đã thành công
Từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan mà Việt Nam lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân khó khăn, thiếu hàng tiêu dùng và lương thực trầm trọng, lạm phát ở ba con số có lúc lên tới 774,7% (1986) Ra khỏi 30 năm kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước (1945-1975) Việt Nam lại phải tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây - Nam và biên giới phía Bắc với những hy sinh, tổn thất nặng nề Việt Nam đã cứu dân tộc Campuchia khỏi hoạ diệt chủng của chế độ Pôn Pốt tàn bạo (1975-1979) và giúp nhân dân Campuchia hồi sinh đất nước (1979-1989), hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả Những năm tháng khắc nghiệt đó Việt Nam bị bao vây, cấm vận làm cho kinh tế xã hội trong nước càng thêm khó khăn Các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô thực hiện chính sách cải tổ nhưng không thành công dẫn tới sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội trên thế giới và sụp đổ một mô hình chủ nghĩa xã hội Trong hoàn cảnh hiểm nghèo
đó, dân tộc Việt Nam tỏ rõ ý chí độc lập tự chủ và bản lĩnh vững vàng không những đứng vững trước nguy nan thách thức mà còn vươn lên mạnh mẽ, giải quyết thành công
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, đã dẫn, tập 4, tr.8
Trang 8nhu cầu lương thực của toàn xã hội và từ năm 1989 đến nay trở thành một trong số ít nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới và năm 1996 ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Nỗ lực vươn lên tự khẳng định, phát huy triệt để nội lực của dân tộc đồng thời ra sức học hỏi bên ngoài, chủ động hội nhập quốc tế và tham gia vào quá trình toàn cầu hoá cũng
là thành công nổi bật trong công cuộc đổi mới, thể hiện ý chí, bản lĩnh Việt Nam Việt Nam
đã từng bước đổi mới tư duy đối ngoại, xác định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng
mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại, là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trên thế giới Với đường lối đó, Việt Nam đã ra khỏi tình trạng bị bao vây, cấm vận, quan hệ đầy đủ với các nước phát triển công nghiệp hàng đầu thế giới (nhóm G8), tham gia các tổ chức khu vực và quốc tế, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) 7-11-2006 Tiếp cận và áp dụng có hiệu quả những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới Xây dựng và phát triển nền kinh tế t định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng và hoà nhập với thị trường thế giới, vận dụng kinh nghiệm tổ chức quản lý kinh tế, xã hội của các nước tiên tiến
Trong thế giới đương đại mối quan hệ liên kết, hợp tác giữa các quốc gia, dân tộc ngày càng phát triển, nhiều vấn đề mang tính toàn cầu mà mỗi nước riêng lẻ khó có khả năng giải quyết thành công và triệt để Từ cuối năm 2007 đến nay kinh tế thế giới lâm vào khó khăn suy thoái, lạm phát, giá cả tăng nhanh ở nhiều nước kể cả ở một số nước phát triển, khủng hoảng lương thực và năng lượng toàn cầu ảnh hưởng đến nhiều nước, nhiều khu vực Tình trạng đó có ảnh hưởng trực tiếp tới Việt Nam Những tháng đầu năm 2008 giá cả và lạm phát cũng tăng nhanh ở Việt Nam Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những quyết sách, giải pháp cần thiết để ổn định tình hình, phát triển bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sớm đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển hay tình trạng của nước đang phát triển nhưng có thu nhập thấp Những chính sách, giải pháp thắt chặt về tài chính, tiền tệ, giải pháp về đẩy mạnh sản xuất và tiết kiệm và nhiều giải pháp khác đã bước đầu phát huy tác dụng đối với kinh tế và an sinh xã hội trong nước và đóng góp vào giải quyết những khó khăn chung của thế giới và các nước Việt Nam đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, tiếp tục tăng xuất khẩu lương thực trong năm 2008 đã góp phần vào việc ổn định bước đầu vấn đề lương thực ở một số nước Những lúc khó khăn càng cần thiết có sự chung tay góp sức vì bạn bè, vì đối tác, vì lợi ích toàn cầu
Độc lập, đoàn kết, thống nhất là ý chí, khát vọng của toàn dân tộc Việt Nam, là xu thế xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc Cũng có thời điểm lịch sử diễn ra tình trạng cát cứ, chia cắt như loạn 12 xứ quân đầu thế kỷ X, phân chia thế lực họ Trịnh, họ Nguyễn từ cuối thế kỷ XVI và cục diện Đàng trong, Đàng ngoài thế kỷ XVII, XVIII, và tình trạng chia cắt tạm thời hai miền Nam, Bắc (1954-1975), nhưng tất yếu phải đi đến thống nhất Chính sách chia để trị của chủ nghĩa thực dân, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam, mọi âm mưu phá hoại nền độc lập, thống nhất của các thế lực thù địch đã thất bại trước ý chí độc lập thống nhất của dân tộc Việt Nam Sự đonà kết thống nhất của dân tộc Việt Nam hiện nay
Trang 9dựa trên cơ sở lấy mục tiêu chung làm điểm tương đồng, xoá bỏ mặc cảm, hận thù, định kiến, sống hoà hợp, thuỷ chung, nhân nghĩa Mục tiêu phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đã tạo nên động lực mạnh mẽ trong xây dựng đất nước và phát triển xã hội hiện nay
Quá trình xây dựng đất nước và phát triển xã hội đã định hình bản lĩnh truyền thống
của dân tộc Việt Nam Đó là ý chí tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc và không ngừng sáng tạo,
là ý chí và khát vọng độc lập, tự do và thống nhất không gì phá vỡ nổi Tính thích ứng, tìm tòi
và không ngừng học hỏi, không ngừng cải cách và đổi mới trong xây dựng đất nước và phát triển xã hội Kiên định con đường và mục tiêu đã lựa chọn, chủ động và quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thách thức, nắm bắt cơ hội và cái mới, đẩy lùi nguy cơ "dĩ bất biến, ứng vạn biến" Quyết tâm gìn giữ giá trị truyền thống đồng thời tiếp thu những giá trị văn hoá, văn minh của nhân loại, chủ động hoà đồng và hội nhập quốc tế Trân trọng và kế thừa giá trị của quá khứ đồng thời nghiêm khắc nhìn nhận những yếu kém của chính mình, tích cực vượt qua
sự lạc hậu, trì trệ, bảo thủ để đổi mới, phát triển một cách có hiệu quả và vững chắc
Bản lĩnh sống và bản lĩnh chính trị của dân tộc Việt Nam là một trong những giá trị truyền thống nổi bật Bản lĩnh đó không ngừng được rèn luyện và bồi đắp và là một nhân tố của sự tồn vong và phát triển của đất nước và xã hội
Trang 10THE VIETNAMESE PEOPLE'S STRONG WILL AND
THE PROCESS OF BUILDING THEIR COUNTRY AND SOCIETY
Nguyen Trong Phuc
Each of the people in its history of survival and development always tries to define,
to train and to improve their will by their own The strong will is reflected in lots of fields in life, and in the acts of each people, especially the will of survival and that of politics It not only reflects the nature of each people but also the science of solving social relations Furthermore, it is the needed to protect, to build the country, and to develop the society
Before Christ, the “Hung Kings” built up “Van Lang” country and it was the beginning of the work of building and protecting their country That era lasted for many centuries and it demonstrated sharply the strong will of Vietnamese people This strong will
is one of the many traditional values formed and developed throughout the history
From the beginning of the work of building the country, the formation of Vietnamese people's will played a very important role as the foundation of the whole process Lac Long Quan and Au Co together with their children went to the seas and went up to the mountains
to exploit, establish the social life and build up the country The legend showed us the will and the determination of the early people to conquer the nature The legend of Son Tinh, Thuy Tinh is the development of their will and their ambition to control the nature and to do the farm work The legend of Thanh Giong reflects their will to fight back the enemies and
to protec the life oftheir commumty These legends all reflect the
culture and the Vietnamese's strong will
The Van Lang community was formed and it developed for thousands years ago The confederations of the tribes formed a political and social community along with a very young nation The elements of this society are the commune of countryside and the development of paddy - agriculture The beginning of every people always has to suffer flom a prolong change from the society of primitive commune Mocgan divided the development of human beings into three main eras Anghen highly agreed with that point of view He said, "Mocgan is the flrst person who has found out the structure of pre - historic era of human beings as a determined system Undoubtedly, if there were no more documents that encourage people to change it, the ways that Mocgan did would work" (l) When analyzing the pre - historic culture era, Anghen realized that Mocgan just paid attention to the first two eras and its transitional steps to the third era In the first two eras, Mocgan divided each era into three levels as low, middle and high sections along with the