Mối quan hệ của 2 chỉ số này tác động đến nhiều mặt của nền kinh tế như tiết kiệm, đầu tư, mức sống của người dân… Do đó, mọi quốc gia đều mong muốn có mức tăng trưởng cao và lạm phát th
Trang 11. Vấn đề nghiên cứu
Trong kinh tế học, có 2 vấn đề tồn tại song song, không thể giải quyết dứt điểm đồng thời, đó là tăng trưởng và lạm phát Tăng trưởng kinh tế và lạm phát là 2 vấn đề
cơ bản trong kinh tế vĩ mô, có mối quan hệ phức tạp và không phải lúc nào cũng tuân theo những quy luật kinh tế Mối quan hệ của 2 chỉ số này tác động đến nhiều mặt của nền kinh tế như tiết kiệm, đầu tư, mức sống của người dân… Do đó, mọi quốc gia đều mong muốn có mức tăng trưởng cao và lạm phát thấp nhưng tuỳ điều kiện hoàn cảnh
cụ thể, tại mỗi thời điểm chỉ có thể ưu tiên một trong 2 yếu tố và cố gắng hạn chế tối
đa tác động tiêu cực của yếu tố còn lại
Theo đó, Maurice Flaman 1992 đã từng cho rằng lạm phát là một căn bệnh mãn tính, những lúc ngớt cơn chỉ là thời kì ủ bệnh và phát cơn thì như một ngọn lửa bùng, nên việc ổn định và kiểm soát lạm phát luôn là một trong những mục tiêu hàng đầu trong việc điều hành kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia Tuy nhiên, trong những thập kỉ vừa qua, kinh tế thế giới có nhiều biến động, đặc biệt là các cuộc khủng hoảng toàn cầu đã làm tụt giảm tốc độ tang trưởng kinh tế và khiến lạm phát tăng cao ở nhiều nước Từ đó, xuất hiện chu kì vòng xoáy – tăng trưởng thấp và lạm phát cao Do chính sách kỳ vọng quá mức về tăng trưởng cao mà lạm dụng yếu tố tiền tệ đã khiến lạm phát hình thành ở mức cao, gây tác động ngược với tăng trưởng kinh tế Vì lý do đó, trong những năm gần đây, nhiều ngân hàng trung ương đã nhấn mạnh vào yếu tố ổn định giá cả Thông qua chính sách tiền tệ được ấn định dưới dạng lãi suất hay việc chú trọng vào sự phát triển, tăng trưởng của các tổ chức giữ tiền để có thể đạt được mục tiêu lạm pháp thấp và ổn định Nhiều nghiên cứu đã chỉ rằng mục tiêu ổn định giá cả của các ngân hàng trung ương là rất xứng đáng vì lạm phát rất tốn kém Bao gồm lãi suất trung bình và những chi phí khác liên quan đến sự độ lệch cũng như sự không chắc chắn về mức lạm phát Hầu hết các doanh nghiệp cũng như hộ gia đình đều cho việc kinh doanh của họ sẽ trở nên khó khăn hơn khi lạm phát cao và không thể lường trước được
Các tài liệu học thuật có rất nhiều nghiên cứu về chi phí lạm phát và đã được đánh giá bởi Briault 1995 Phân tích này đã cung cấp một giả định rằng, dù lạm phát
là một ý tưởng tồi nhưng không thể nào kết luận chắc chắn nếu không có những thực
Trang 2nghiệm cụ thể Dù vẫn có bằng chứng cho rằng lạm phát có hại đến nền kinh tế nhưng
số bằng chứng này lại không quá nhiều
Chính vì các lý do trên, điều quan trọng là phải thực hiện thêm nghiên cứu thực nghiệm về mối liên hệ giữa lạm phát và hiệu quả kinh tế Bài báo này khảo sát mối quan hệ này trong một mẫu lớn các nước trong 30 năm qua
2 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ 100 Quốc gia trong giai đoanh năm 1960 đến năm 1990 Trong đó, tỷ lệ lạm phát được tính toán trong hầu hết các trường hợp là tỷ
lệ lạm phát đựa trên chỉ số giá tiêu dùng (Các chỉ số khử lạm phát đã được sử dụng trong một vài trường hợp, khi dữ liệu về giá tiêu dùng không có sẵn)
Trung bình và trung vị giữa các quốc gia với tỷ lệ lạm phát trong ba Thập kỷ: 1960-1970, 1970-80, và 1980-90 có tỉ lệ lạm phát trung bình là 3,3% / năm trong những năm 1960 (117 quốc gia), 10,1% trong những năm 1970 (122 quốc gia), và 8,9% vào những năm 1980 (119 quốc gia)
Dữ liệu hàng năm được sử dụng tại mỗi quốc gia trong mỗi thập kỷ để tính toán, đo lường sự biến thiên của lạm phát, độ lệch tiêu chuẩn của lạm phát và đánh giá khoảng trung bình của thậ kỷ đó Bảng 1 cho thấy trung bình và trung vị của những sai lệch chuẩn trong ba thập kỷ qua Trung vị là 2,4% mỗi năm vào những năm 1960, 5,4% vào những năm 1970, và 4,9% vào những năm 1980 Như vậy, sự gia tăng sự biến đổi của lạm phát đi kèm với sự gia tăng tỷ lệ lạm phát trung bình
3. Hạn chế
Một vấn đề chính trong việc giải thích kết quả là không phản ánh nhân quả từ lạm phát đến tăng trưởng Lạm phát là một biến nội sinh, có thể đáp ứng sự tăng trưởng hoặc các biến số khác có liên quan để tăng trưởng Ví dụ, mối quan hệ nghịch giữa tăng trưởng và lạm phát sẽ nảy sinh nếu một sự chậm lại của yếu tố ngoại sinh của tốc độ tăng trưởng có khuynh hướng tạo ra lạm phát cao hơn Sự gia tăng lạm phát
có thể xảy ra nếu các nhà chức trách phản ứng trước tình trạng suy thoái kinh tế với các chính sách mở rộng Hơn thế nữa, nếu đường đi của tập hợp tiền tệ không thay đổi thì sự giảm xuống tốc độ tăng trưởng của sản lượng có xu hướng tự động tăng tỷ lệ lạm phát (để ân bằng giữa cung và cầu tiền tệ tại mỗi điểm)
Trang 3Cũng có thể là sự không đồng nhất của lạm phát sẽ tạo ra một kết quả tích cực quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng Mô hình này có xu hướng sai lệch nếu biến động đầu ra chủ yếu do những cú sốc đối với tiền hoặc tổng cầu về hàng hoá
Một khả năng khác là một số biến thứ ba bị bỏ qua có tương quan với tăng trưởng và lạm phát Ví dụ, chất lượng tài sản tốt có khả năng kích thích đầu tư và tăng trưởng và dẫn đến một sự tăng trưởng kinh tế mà không có sự tăng lên của tỷ lệ lạm phát
Các yếu tố ngoại sinh được xem xét đến là
• Độc lập Ngân hàng Trung ương
Sự độc lập của ngân hàng trung ương có thể được coi là ngoại sinh Tuy nhiên, nếu khung pháp lý thay đổi để đáp ứng với lạm phát có thể đưa đến sự tương tác với tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, tính không đồng đều sẽ ảnh hưởng đến kết quả nếu có thay đổi trong chính sách của ngân hàng đối với chính sách tiền tệ
• Độ trễ của lạm phát
Độ trễ của lạm phát chậm lại cũng có tính ngoại sinh với sự tăng trưởng Tuy nhiên, một vấn đề là độ trễ của lạm phát sẽ phản ánh đặc điểm của các tổ chức tiền tệ của một quốc gia và những đặc điểm này có thể là tương quan với các biến đã bỏ qua có liên quan đến tăng tưởng
• Trạng thái thuộc địa trước đây
Tình trạng thuộc địa trước đây có ảnh hưởng đáng kể đến lạm phát, từ đó cũng có ảnh hưởng đến sự tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế