TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON --- HOÀNG THU TRANG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH THIẾU MÁU DO THIẾU SẮT CỦA CÁC BÀ MẸ NUÔI CON NHỎ TẠI XÃ MINH KHAI,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON -
HOÀNG THU TRANG
KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH THIẾU MÁU DO THIẾU SẮT CỦA CÁC
BÀ MẸ NUÔI CON NHỎ TẠI XÃ MINH KHAI,
HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Dinh dưỡng học trẻ em
Người hướng dẫn khoa học ThS BÙI NGÂN TÂM
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai đề tài “Kiến thức và thực hành phòng chống bệnh thiếu máu do thiếu sắt của các bà mẹ nuôi con nhỏ tại xã Minh Khai, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình”, tôi đã thường xuyên nhận sự giúp đỡ tận tình,
tạo điều kiện giúp đỡ của các thầy cô giáo khoa Sinh – KTNN, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non và đặc biệt là cô giáo hướng dẫn trực tiếp – Ths Bùi Ngân Tâm
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất của mình tới Ths Bùi Ngân Tâm – người thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ và định hướng cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới UBND xã Minh Khai, trạm y tế
xã, các cộng tác viên và các bà mẹ nuôi con nhỏ tại xã Minh Khai, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi tiến hành nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng ân tình tới gia đình tôi, là nguồn động viên và truyền nhiệt huyết để tôi hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vĩnh Phúc, ngày 20 tháng 4 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thu Trang
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của Ths Bùi Ngân Tâm Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào
Vĩnh Phúc, ngày 20 tháng 4 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thu Trang
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Địa điểm nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2: NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm 4
1.2 Bệnh thiếu máu do thiếu sắt 5
1.2.1 Nguyên nhân TMDTS 5
1.2.1.1 Khẩu phần ăn không hợp lý 5
1.2.1.2 Nhu cầu sắt của cơ thể tăng cao 6
1.2.1.3 Mắc một số bệnh 6
1.2.2 Đối tượng có nguy cơ cao thiếu sắt 7
1.2.3 Hậu quả của TMDTS 8
1.2.3.1 Ảnh hưởng tới khả năng lao động 8
1.2.3.2 Ảnh hưởng tới năng lực trí tuệ 8
1.2.3.3 Ảnh hưởng tới thai sản và trẻ sau sinh 8
1.2.3.3 Giảm sức đề kháng của cơ thể 9
1.2.4 Biện pháp phòng chống bệnh TMDTS 9
Trang 51.3 Tình hình thiếu máu do thiếu sắt trên thế giới và Việt Nam 10
1.3.1 Tình hình TMDTS trên thế giới 10
1.3.2 Tình hình TMDTS tại Việt Nam 11
1.4 Các hoạt động phòng chống TMDTS trên thế giới và ở Việt Nam 13
1.4.1 Các hoạt động phòng chống TMDTS trên thế giới 13
1.4.1.1 Can thiệp dựa vào thực phẩm 13
1.4.1.2 Can thiệp dựa vào bổ sung sắt 15
1.4.1.3 Phòng chống nhiễm ký sinh trùng 15
1.4.2 Các hoạt động phòng chống TMDTS ở Việt Nam 16
1.5 Một số nghiên cứu về kiến thức, thực hành phòng chống bệnh thiếu máu do thiếu sắt của phụ nữ mang thai, nuôi con nhỏ 18
CHƯƠNG 2.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 20
2.2 Nội dung nghiên cứu 20
2.3 Phương pháp nghiên cứu 20
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
3.1 Kiến thức phòng chống bệnh thiếu máu do thiếu sắt của các BMNCN tại xã Minh Khai, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình 22
3.1.1 Thông tin chung về các BMNCN tham gia khảo sát 22
3.1.2 Kiến thức của các BMNCN về nguyên nhân, biểu hiện và ảnh hưởng
của bệnh TMDTS
3.1.3 Kiến thức của các bà mẹ nuôi con nhỏ về phòng chống bệnh thiếu máu do thiếu sắt 3.2 Thực hành phòng chống bệnh TMDTS của BMNCN tại xã Minh Khai, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình 28
Trang 63.2.1 Thực hành sử dụng sắt dược phẩm trong thời gian mang thai của các
bà mẹ nuôi con nhỏ
3.2.2 Thực hành dinh dưỡng của các BMNCN
Phần 3: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 37TÀI LIỆU THAM KHẢO 38PHỤ LỤC 40
Trang 7TMDTS Thiếu máu do thiếu sắt
WHO World Health Orgnization (Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Quy định hàm lượng vi chất bổ sung vào thực phẩm 17 Bảng 2 Thông tin chung về các BMNCN tham gia khảo sát 22 Bảng 3 Kiến thức của các BMNCN về nguyên nhân, biểu hiện và ảnh
hưởng của bệnh TMDTS 24 Bảng 4 Kiến thức của các bà mẹ nuôi con nhỏ về phòng chống bệnh
thiếu máu do thiếu sắt 26 Bảng 5 Thực hành sử dụng sắt dược phẩm trong thời gian mang thai
của các BMNCN 28 Bảng 6 Thực hành dinh dưỡng của các BMNCN 32
Trang 9Phần 1: MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Thiếu máu do thiếu sắt (TMDTS) là loại thiếu máu dinh dưỡng hay gặp nhất ở tất cả các quốc gia trên thế giới Mặc dù bệnh gây hậu quả xấu đối với sức khỏe nhưng triệu chứng lâm sàng của TMDTS tiềm ẩn, không nổi bật nên
ít gây chú ý với mọi người Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới WHO, trên toàn thế giới có khoảng 2 tỷ người bị thiếu máu do thiếu sắt [1] Thiếu máu hay gặp ở các nước đang phát triển, tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở Châu Phi, Nam Á rồi đến Mỹ La tinh trong khi các nước ở vùng khác tỷ lệ thấp hơn [2].Thiếu máu hay gặp nhất ở phụ nữ có thai, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (ĐTSĐ), phụ nữ nuôi con nhỏ và trẻ nhỏ
Hậu quả do thiếu máu, thiếu sắt rất lớn, nó dẫn đến tình trạng thiếu ôxy
ở các mô, đặc biệt là ở một số cơ quan như tim, não, ảnh hưởng tới các hoạt động cần tiêu hao năng lượng Nhiều nghiên cứu cho thấy năng suất lao động của những người thiếu máu thấp hơn hẳn người bình thường, thậm chí kể cả khi bị thiếu sắt mà chưa bộc lộ thiếu máu Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng tới năng lực trí tuệ, các biểu hiện mất ngủ, mệt mỏi, kém chú ý, kém tập trung, dễ
bị kích thích hay gặp ở những người thiếu máu Kết quả học tập của trẻ bị thiếu máu cũng thấp hơn hẳn so với trẻ không bị thiếu máu Đặc biệt với phụ
nữ mang thai, tình trạng này làm tăng nguy cơ đẻ non, dễ sảy thai, đẻ con nhỏ yếu, dễ bị băng huyết khi sinh, thậm chí có thể dẫn tới tử vong cả mẹ và con
Năm 1995 cuộc điều tra toàn quốc cho thấy tỷ lệ thiếu máu phổ biến ở tất cả các vùng trong cả nước, tỷ lệ thiếu máu cao ở cả phụ nữ mang thai (PNMT) (53%), phụ nữ không mang thai (45%) và trẻ em đặc biệt trẻ dưới 2 tuổi (60%) Khẩu phần ăn nghèo chất sắt và tình trạng nhiễm giun móc cao ở nhiều vùng là nguyên nhân quan trọng của TMDTS ở nước ta [2]
Trang 10Điều tra của Viện Dinh dưỡng Quốc gia giai đoạn 2014 - 2015 cho thấy
ở Việt Nam, tác động của các can thiệp dinh dưỡng, y tế và những cải thiện kinh tế xã hội trong những năm gần đây đã góp phần làm giảm tình trạng thiếu máu Tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi, phụ nữ có thai, phụ nữ không
có thai lần lượt là 27,8%, 32,8% và 25,5% Đối tượng đích của các chương trình, dự án phòng chống TMDTS trên thế giới và ở Việt Nam là PNMT, phụ
nữ nuôi con nhỏ và trẻ nhỏ Theo thống kê hàng năm, tỷ lệ trẻ em, PNMT, phụ nữ không mang thai bị thiếu máu đã giảm nhưng mức độ giảm không đồng đều giữa các đối tượng, các vùng, các khu vực [13] Thiếu máu dinh dưỡng vẫn là một vấn đề dinh dưỡng quan trọng hàng đầu ở nước ta Tỷ lệ thiếu máu dao động nhiều theo địa phương đã nói lên tính phức tạp của các nguyên nhân gây tình trạng thiếu máu
Minh Khai là một xã thuộc huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Minh Khai
có diện tích nhỏ (6,71km2) [11], mật độ dân số đông, kinh tế của người dân phần lớn ở mức trung bình Các hoạt động tại địa phương nhằm cải thiện tình trạng TMDTS cho người dân nói chung và các đối tượng có nguy cơ cao nói riêng còn nghèo nàn, hiệu quả đạt được chưa cao và không bền vững
Trước thực tế này với mục đích tìm hiểu về thực trạng hiểu biết và thực hành phòng chống bệnh TMDTS của các bà mẹ nuôi con nhỏ từ đó đề xuất giải pháp góp phần cải thiện thực trạng này của đối tượng và người dân tại địa
phương, chúng tôi thực hiện đề tài: “Kiến thức và thực hành phòng chống bệnh thiếu máu do thiếu sắt của các bà mẹ nuôi con nhỏ tại xã Minh Khai, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình”
2 Mục đích nghiên cứu
Cải thiện kiến thức và thực hành phòng chống bệnh TMDTS của các bà
mẹ nuôi con nhỏ (BMNCN) nói riêng và người dân nói chung tại xã Minh Khai, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
Trang 113 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành tại xã Minh Khai, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Trang 12Phần 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm
Tình trạng sắt bình thường: Tình trạng sắt bình thường là tình trạng sắt
được dự trữ đầy đủ để đạt được nhu cầu kể cả khi nhu cầu sắt tăng cao như khi có thai và nuôi con nhỏ
Tình trạng thiếu sắt: là tình trạng thiếu hụt dự trữ sắt trong cơ thể, có
thể biểu hiện thiếu máu hoặc chưa có biểu hiện thiếu máu (mức nhẹ) Thiếu sắt thường là kết quả của thiếu sắt có giá trị sinh học cao từ khẩu phần, tăng nhu cầu sắt trong những giai đoạn cơ thể phát triển nhanh (có thai, trẻ em), và tăng hoặc mất máu như bị chảy máu đường tiêu hóa do giun móc hay đường tiết niệu do nhiễm sán máng
Tình trạng sắt cạn kiệt: Tình trạng sắt cạn kiệt xảy ra khi sắt dự trữ
trong cơ thể không còn được biểu hiện bằng nồng độ Ferritin huyết thanh thấp hơn 15µg/L đối với phụ nữ tuổi sinh đẻ
Thiếu máu: là tình trạng mức độ huyết sắc tố lưu hành của một người
nào đó thấp hơn mức độ của một người khoẻ mạnh cùng giới, cùng tuổi, cùng một môi trường sống Bởi vậy, thực chất thiếu máu là sự thiếu hụt lượng huyết sắc tố trong máu lưu hành
Số lượng hồng cầu và hematocrit là một chỉ số phản ánh không trung thành của thiếu máu vì nồng độ huyết sắc tố trung bình của mỗi hồng cầu, thể tích trung bình của hồng cầu dễ thay đổi theo tính chất thiếu máu và do những tác động của những yếu tố khác, ví dụ: tình trạng cô đặc máu (trong mất nước do nôn, bỏng, đi ngoài phân lỏng), hoặc máu bị hoà loãng, Thiếu máu là một hội chứng hay gặp trong nhiều bệnh, nhất là các bệnh về máu Chẩn đoán hội chứng thiếu máu, phân loại và tìm nguyên nhân phải dựa vào các triệu chứng lâm sàng
và xét nghiệm, nhưng chủ yếu và quyết định phải dựa vào các xét nghiệm
Trang 13Thiếu máu dinh dưỡng: là tình trạng bệnh lý xảy ra khi hàm lượng
Hemoglobin trong máu xuống thấp hơn ngưỡng quy định do thiếu một hay nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tạo máu do bất kể lý do gì
Thiếu máu thiếu sắt: là tình trạng xảy ra khi hồng cầu bị giảm cả về số
lượng và chất lượng do thiếu sắt Đây là tình trạng thiếu máu xảy ra do cơ thể không đủ sắt đáp ứng nhu cầu tạo hồng cầu vì những nguyên nhân khác nhau Thiếu máu thiếu sắt là một loại bệnh thiếu máu phổ biến TMDTS có thể kết hợp với thiếu axit folic, thiếu vitamin B12
1.2 Bệnh thiếu máu do thiếu sắt
1.2.1 Nguyên nhân TMDTS
Thiếu máu dinh dưỡng chủ yếu do thiếu sắt vì sắt cần thiết cho quá
trình tạo hemoglobin TMDTS xảy ra khi lượng sắt được hấp thu không đủ để
đáp ứng nhu cầu cơ thể Tình trạng thiếu hụt đó có thể do lượng sắt trong khẩu phần thấp, do giá trị sinh học của sắt trong khẩu phần giảm, do nhu cầu
sắt tăng lên hoặc do mất máu
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thiếu máu do thiếu sắt và được phân loại thành 3 nhóm chính sau:
1.2.1.1 Khẩu phần ăn không hợp lý
- Khẩu phần ăn đơn điệu, nghèo nàn, ít thực phẩm giàu sắt: nội tạng, thịt có màu đỏ (thịt bò, thịt lợn,…),…
- Khẩu phần chứa các chất cản trở hấp thu sắt:
+ Thực phẩm chứa nhiều chất xơ, phytat (ngũ cốc nguyên hạt, )
+ Thực phẩm chứa oxalat (củ cải, khoai lang, húng quế, socola, ) + Thực phẩm chứa tanin (trà, cafe, )
- Khẩu phần có chứa ít thực phẩm hỗ trợ hấp thu sắt: vitamin C, axit lactic,
Trang 14Lượng sắt trong bữa ăn thực tế hiện nay của người Việt Nam chỉ đạt từ
30 - 50% nhu cầu, nhất là ở các vùng nông thôn Bên cạnh đó, lượng sắt từ khẩu phần chỉ được hấp thu từ 1 - 10% do chế độ ăn ít thức ăn động vật, nhiều chất cản trở hấp thu sắt, Chính vì vậy để có được 2,5mg sắt/ người/ ngày thì cần phải có 24 mg sắt/ người/ ngày từ khẩu phần hàng ngày
Có hai loại sắt trong thực phẩm là sắt hem và sắt không hem Hai loại sắt này có cơ chế hấp thu khác nhau Sắt không hem chứa chủ yếu là muối sắt
có nhiều trong thực phẩm nguồn gốc thực vật, sản phẩm của sữa, thực phẩm
bổ sung sắt không hem và chiếm phần lớn lượng sắt khẩu phần, thường trên 85% Sắt hem có chủ yếu từ hemoglobin và myoglobin có trong thực phẩm nguồn gốc động vật như thịt các loại, đặc biệt là thịt có màu đỏ thẫm Mặc dù sắt hem chiếm tỷ lệ thấp trong khẩu phần nhưng tỷ lệ hấp thu lại cao hơn sắt không hem từ 2 - 3 lần và hấp thu sắt hem ít bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ức chế hay cạnh tranh trong khẩu phần [dt 7]
1.2.1.2 Nhu cầu sắt của cơ thể tăng cao
Trong một số giai đoạn phát triển như: trẻ em trong thời kỳ tăng trưởng mạnh, PNMT, phụ nữ nuôi con nhỏ,… cơ thể có nhu cầu cao về sắt Nếu không có chế độ ăn hợp lí và có những biện pháp nhằm bổ sung sắt cho cơ thể
thì có nguy cơ cao bị TMDTS Bên cạnh đó, phụ nữ tuổi sinh đẻ bị mất sắt hàng tháng do kinh nguyệt cũng là đối tượng có nguy cơ cao bị TMDTS
Trang 15khuẩn Helicobacter pylori sống ở hang vị, khu trú và phát triển ở niêm mạc dạ dày kiềm hóa, đồng thời sản sinh chất catalase, protease, lipase dẫn tới việc kém hấp thu các chất dinh dưỡng và vi chất dinh dưỡng
Nhiễm ký sinh trùng đường ruột gây tác hại lớn, vì ký sinh trùng chiếm mất chất dinh dưỡng của cơ thể (giun đũa), hút máu và gây chảy máu thành ruột (giun móc) Hậu quả nghiêm trọng nhất của giun móc là gây mất máu mãn tính từ tá tràng và hỗng tràng, dẫn đến TMDTS Ngoài ra, giun còn tiết
ra chất độc như ascarridol, chất ức chế các men pepsin, cathepsin và chymopypsin của cơ thể dẫn tới chán ăn, rối loạn tiêu hóa Đối với giun tóc,
ký sinh ở đại tràng và hút máu, gây tổn thương niêm mạc đại tràng và gây hội chứng lỵ
- Do bị tan máu trong lòng mạch: bệnh đái huyết sắc tố kịch phát ban đêm
- Do bị rối loạn chuyển hóa sắt bẩm sinh (Hypotransferrinemia): tình trạng này xảy ra khi cơ thể không tổng hợp được transferrin vận chuyển sắt (bệnh rất hiếm gặp)
1.2.2 Đối tượng có nguy cơ cao thiếu sắt
Những đối tượng có nguy cơ cao thiếu sắt bao gồm: PNMT; BMNCN; trẻ đẻ non, nhẹ cân hoặc không được nuôi bằng sữa mẹ; trẻ em bị suy dinh dưỡng; trẻ em ở tuổi vị thành niên, nhất là trẻ gái; những người già, nhất là những người nghèo [dt 7]
Những người bị thiếu sắt, đặc biệt là trẻ em và PNMT, BMNCN chiếm
tỷ lệ cao ở những vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Do điều kiện kinh tế còn khó khăn, bữa ăn nghèo nàn, đơn điệu, thiếu thức ăn giàu chất sắt như thịt, trứng, cá, thủy sản, đậu đỗ; hay nhiễm ký sinh trùng nhất là nhiễm giun móc, sốt rét Bên cạnh đó kiến thức về dinh dưỡng hợp lý của người dân ở những vùng này còn hạn chế, điều đó giải thích nguyên nhân
Trang 16tại sao các trường hợp thiếu máu gặp nhiều hơn ở vùng nông thôn, miền núi
và các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn
1.2.3 Hậu quả của TMDTS
1.2.3.1 Ảnh hưởng tới khả năng lao động
Thiếu máu gây nên tình trạng thiếu ôxy ở các tổ chức, đặc biệt ở não, ở tim và ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ do đó làm giảm khả năng lao động ở những người bị thiếu máu Khi tình trạng thiếu máu được cải thiện thì năng suất lao động cũng tăng theo
1.2.3.2 Ảnh hưởng tới năng lực trí tuệ
Người bị thiếu máu thường dễ bị mất ngủ, mệt mỏi, kém tập trung, dễ
bị kích thích, khi già dễ bị mắc bệnh mất trí nhớ Kết quả học tập của các em học sinh bị thiếu máu thấp hơn hẳn so với trẻ không bị thiếu máu và có thể khắc phục được sau khi bổ sung thêm viên sắt
1.2.3.3 Ảnh hưởng tới thai sản và trẻ sau sinh
Thiếu máu làm tăng tỷ lệ biến chứng trong thai nghén như sảy thai, băng huyết Đồng thời làm tăng tỷ lệ đẻ khó, mổ lấy thai và tăng các biến cố sau đẻ như đờ tử cung, băng huyết Thiếu máu nặng khi mang thai cũng làm chiều dài trẻ sơ sinh giảm, sức đề kháng của con giảm, tỷ lệ trẻ mắc bệnh tăng, ảnh hưởng tới não bộ và sự phát triển của trẻ
Trẻ sinh ra bởi những người mẹ thiếu máu thường bị tổn thương ở các
cơ quan khác như: tiêu hoá (rối loạn hấp thu, rối loạn chức năng); thần kinh (giảm phản xạ, suy yếu tinh thần, tư duy, giảm tập trung, rối loạn dẫn truyền thần kinh),
Thiếu máu khi mang thai cũng làm giảm sự tăng cân sinh lý của người
mẹ Sức khỏe người mẹ giảm sút, sức đề kháng giảm, làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn hậu sản, mắc các bệnh truyền nhiễm, tỷ lệ mắc bệnh tăng và tỷ
lệ người mẹ tử vong tăng Vì vậy người ta coi thiếu máu dinh dưỡng, đặc biệt
là TMDTS trong thời kỳ mang thai là một đe dọa sản khoa [1]
Trang 171.2.3.3 Giảm sức đề kháng của cơ thể
Người bị thiếu máu suy giảm sức đề kháng dễ bị ốm, dễ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn
Tăng cường các thực phẩm hỗ trợ hấp thu sắt như vitamin C: các thực phẩm nảy mầm (giá đỗ); các loại hoa quả (cam, chanh, ), thực phẩm giàu đạm nguồn gốc từ động vật
Hạn chế sử dụng các thực phẩm làm cản trở sự hấp thu sắt như: các thực phẩm chứa phytat (ngũ cốc nguyên hạt, ), thực phẩm chứa chất tanin (trà, cafe), Có thể làm giảm lượng axit phytic trong thực phẩm bằng cách ngâm hoăc làm chúng lên men trước khi nấu Song cách làm này cũng không thể loại trừ hết axit phytic vì thế nên hạn chế sử dụng ngũ cốc nguyên hạt và khi cần sử dụng nên ngâm hoặc làm lên men chúng
Điều trị dứt điểm các bệnh mất máu cấp tính và mất máu mãn tính (chảy máu dạ dày, trĩ, giun sán, )
Các nghiên cứu cho thấy, giun móc có ảnh hưởng khá nhiều đến bệnh TMDTS Chính vì thế cần tẩy giun định kỳ theo đúng phác đồ và đối tượng chỉ định, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường để hạn chế, tránh việc nhiễm giun móc, giun sán, sử dụng nước sạch khi uống, sinh hoạt, không dùng phân tươi bón ruộng,
Trang 18Bổ sung sắt dưới dạng dược phẩm cho đối tượng có nguy cơ cao bị thiếu máu do thiếu sắt (phụ nữ mang thai, phụ nữ nuôi con nhỏ, trẻ nhỏ, trẻ
em lứa tuổi dậy thì,…)
Để sắt được hấp thu tốt nhất, nên uống giữa 2 bữa ăn Sự có mặt của Vitamin C sẽ làm tăng hấp thu sắt, do đó có thể uống viên sắt chung với nước cam hoặc nước trái cây, tránh uống viên sắt với trà, cà phê, rượu vì sẽ làm
giảm hấp thu sắt
Khi sử dụng viên sắt có thể xảy ra một số phản ứng phụ như: đau bụng, buồn nôn, nôn, táo bón, Có thể hạn chế các tác dụng phụ này bằng cách uống liều thấp, sau tăng dần hoặc uống cùng với một ít thức ăn (tuy nhiên khi uống cùng thức ăn sẽ làm giảm hấp thu sắt) [8]; kết hợp thực phẩm giàu vitamin C
1.3 Tình hình thiếu máu do thiếu sắt trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình TMDTS trên thế giới
Thiếu máu làm tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong Thiếu máu gây ra bởi nhiều nguyên nhân: do dinh dưỡng (thiếu vitamin và chất khoáng) và không do dinh dưỡng (nhiễm trùng) Hai nguyên nhân này thường xảy ra đồng thời Một trong những yếu tố đóng góp chính vào tình trạng thiếu máu là
do thiếu sắt và TMDTS là một trong 10 bệnh đóng góp vào gánh nặng bệnh tật trên thế giới [15]
Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 3 năm 1996 tại nông thôn Banglades trên 179 phụ nữ tuổi từ 15 - 49 không có thai cho thấy tỷ lệ thiếu máu là 73% trong đó thiếu máu nhẹ chiếm 52%, thiếu máu vừa chiếm 20% và thiếu máu nặng chỉ chiếm 1%
Có khoảng 468,4 triệu phụ nữ không có thai trên toàn cầu bị thiếu máu, chiếm 30,2% Châu Phi vẫn là châu lục có tỷ lệ thiếu máu cao nhất (47,5%), Đông Nam Á có tỷ lệ thiếu máu thấp hơn (45,7%) Châu Âu và châu Mỹ tỷ lệ thiếu máu gần như thấp nhất (19% và 17,8%)
Trang 19Theo thống kê của WHO trên 192 quốc gia từ năm 1993 đến năm 2005 cho thấy có 56,4 triệu phụ nữ có thai bị thiếu máu là 41,8% và tỷ lệ thiếu máu
ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (ĐTSĐ) là 30,2% Tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở châu Phi: ở PNMT là 57,1% và phụ nữ ở ĐTSĐ là 68%
Thiếu máu thiếu sắt vẫn là một vấn đề quan trọng trong y tế cộng đồng tại Úc, với khoảng 8% trẻ em mẫu giáo, 12% phụ nữ mang thai và 15% phụ
nữ trong độ tuổi sinh đẻ ở Úc bị thiếu máu [dt 7]
1.3.2 Tình hình TMDTS tại Việt Nam
Như nhiều nước đang phát triển khác, ở Việt Nam thiếu máu được coi là vấn đề sức khỏe cộng đồng Mặc dù tình trạng thiếu máu đã được cải thiện trong vài thập kỷ qua nhưng mức giảm còn chậm Theo số liệu gần đây nhất, thiếu máu ở phụ nữ Việt Nam tuổi sinh đẻ là 28,8%, có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng mức trung bình Theo Điều tra của Viện Dinh dưỡng quốc gia cho thấy 36,8% phụ nữ mang thai bị thiếu máu [13]
Năm 2006, theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng tiến hành ở 6 tỉnh đại diện các vùng sinh thái ở Việt Nam: Bắc Cạn, Bắc Ninh, Hà Nội, Huế, Đắk Lắk, An Giang, tỉ lệ thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ là 26,7% và ở mức trung bình về ý nghĩa sức khỏe cộng đồng theo phân loại của WHO [8]
Cùng năm 2006, nghiên cứu của Nguyễn Xuân Ninh và cộng sự tại nội thành Hà Nội cho thấy, ngay tại thành phố, tỷ lệ thiếu máu vẫn ở mức vừa và nặng, 36,3% ở PNMT, 25,5% ở phụ nữ không mang thai Thiếu máu tăng dần theo tuổi thai từ 16,7% đến 53,4% Thiếu máu ở trẻ em cao nhất ở nhóm dưới 12 tháng tuổi 54,3% [dt 3]
Nghiên cứu của Trần Thị Minh Hạnh và cộng sư năm 2007 tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, tỷ lệ thiếu máu ở PNMT là 17,5%, thiếu sắt là 42,7% và TMDTS là 9,9% Tỷ lệ thiếu sắt ở 3 tháng cuối cao gấp 3 lần so với 3 tháng giữa
Trang 20Nghiên cứu của Phan Thị Bích Ngọc vào cùng năm cho thấy, tỷ lệ thiếu máu ở thai phụ đẻ tại Bệnh viện Trung ương năm 2007 là 35,5% Trong đó mức độ thiếu máu nhẹ là 94,5%, thiếu máu trung bình là 5,3%
và thiếu máu nặng là 5,3% Tuổi của thai phụ dưới 20 và trên 40 là một trong những nguy cơ cao gây thiếu máu
Nghiên cứu của Đặng Thị Oanh và cộng sự năm 2008 tại Đắk Lắk cũng chỉ ra tỷ lệ thiếu máu dinh dưởng của PNMT dân tộc thiểu số ở tỉnh này là 50,1% Tỷ lệ năng tăng theo tuổi thai và đến 3 tháng cuối thì có đến 62% phụ nữ bị thiếu máu [dt 7]
Năm 2010, nghiên cứu của Phạm Thị Đan Thanh về tỷ lệ thiếu máu
do thiếu sắt ở thai phụ 3 tháng đầu thai kì và các yếu tố liên quan tại tỉnh Bạc Liêu cho thấy, tỷ lệ thiếu máu là 36,7%, tỷ lệ TMDTS là 64,68% Thai phụ sinh con từ 3 lần trở lên có nguy cơ TMTS cao gấp 12 lần so với thai phụ mang thai lần đầu [15]
Nghiên cứu dịch tễ học trên cả nước và cắt ngang 347 PNMT bao gồm chủ yếu là thai phụ ở độ tuổi trên 18 của Đặng Thị Hà và cộng sự (năm 2011) cho thấy thiếu sắt ở phụ nữ chiếm 31%, nguyên nhân chủ yếu
do chế độ ăn hàng ngày 50% và kém hấp thu là 50,9% [14]
Năm 2012, nghiên cứu của Trương Hồng Sơn về hiệu quả can thiệp cộng đồng bổ sung sớm đa vi chất dinh dưỡng trên phụ nữ tại một số xã thuộc tỉnh Kon Tum và Lai Châu cho thấy, tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng ở nhóm PNMT tồn tại với tỷ lệ thiếu máu là 36,9% và thiếu kết hợp nhiều loại vi chất và các vi chất này có mối liên quan đến nhau và liên quan đến tình trạng thiếu máu [13]
Nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng và thiếu máu của phụ nữ tuổi
từ 20 - 35 tại 3 xã huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình của Hồ Thu Mai năm
2013 cho thấy, tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ 20 - 35 tuổi ở mức cao 26,7%,
Trang 21trong đó thiếu máu ở phụ nữ từ 30-35 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 38,3%, thiếu máu ở phụ nữ từ 20-24 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất 29,4% Nghiên cứu cho thấy kiến thức và thực hành về thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ tuổi sinh đẻ còn kém: không có đối tượng nào có kiến thức tốt về phòng chống thiếu máu dinh dưỡng và đối tượng thực hành tốt về phòng chống thiếu máu dinh dưỡng chiếm 28,9% [14]
Nghiên cứu tình trạng thiếu máu thiếu sắt ở trẻ em và phụ nữ mang thai tại 6 tỉnh (Lạng Sơn, Sơn La, Quảng Trị, Quảng Bình, Kon Tum, Đắc Nông) cho thấy: Tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em và PNMT (Hb < 110g/l) là 29,1% và 34% Tỷ lệ dự trữ sắt thấp (Ferritin < 30mg/ml) tương ứng là 49,1% và 53,2% Tỷ lệ thiếu máu do thiếu sắt (cả Hb và Ferritin thấp) tương tự là 52,9% và 71,8% TMDTS là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đòng ở trẻ em và PNMT tại 6 tỉnh điều tra [dt 7]
Theo điều tra của Viện Dinh dưỡng quốc gia giai đoạn 2012 - 2013, tỷ
lệ thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi là 29%, ở phụ nữ tuổi sinh đẻ gần 29%, và có đến 58% trẻ 13 - 24 tháng tuổi thiếu máu [14]
1.4 Các hoạt động phòng chống TMDTS trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Các hoạt động phòng chống TMDTS trên thế giới
Theo khuyến cáo của WHO, đa dạng hoá bữa ăn được xem là một trong những chiến lược dài hạn, bền vững để thanh toán TMDTS và điều đó đã được khẳng định trong thực tiễn Bổ sung viên sắt là biện pháp cấp bách nhằm cải thiện nhanh tình trạng thiếu vi chất ở cộng đồng Tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm là một giải pháp lựa chọn chiến lược có hiệu quả cao và
an toàn [10]
1.4.1.1 Can thiệp dựa vào thực phẩm
Cải thiện chế độ ăn:
Giải pháp cải thiện tình trạng TMDTS dựa vào thực phẩm là giải pháp
cơ bản, dài hạn và bền vững nhất Giải pháp dựa vào thực phẩm bao gồm:
Trang 22- Các chiến lược cải thiện tính sẵn có trong cả năm của thực phẩm giàu
Tăng cường sắt vào thực phẩm:
Một hướng mới trong can thiệp dựa vào thực phẩm là tăng cường sắt dưới dạng tiêu hóa được vào thực phẩm Nếu thực phẩm tăng cường sắt được
số đông đối tượng có nguy cơ thiếu sắt cao sử dụng thì tăng cường sắt vào thực phẩm sẽ là giải pháp có hiệu quả nhất Nhiều quốc gia đã thực hiện thành công chương trình tăng cường sắt vào thực phẩm như:
- Tăng cường sắt vào gạo ở Philippines với hỗn hợp sắt sulphat
- Tăng cường sắt vào bột mì trong khi xay ở Chi Lê
- Bổ sung sắt metallic (Thụy Điển, Anh và Mỹ) hoặc sắt fumarate (Venezuela) vào lúa mạch hoặc ngô được bảo quản trong thời gian dài 70% gạo ở Mỹ đã được tự nguyện tăng cường theo tiêu chuẩn của Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ (Food and Drug Administration - FDA)
Bên cạnh bổ sung sắt vào gạo và bột mỳ còn có bổ sung sắt vào gia vị, nước mắm, xì dầu
- Sắt EDTA được tăng cường thành công vào nước mắm ở Thái lan, bột
cà ri ở Nam Phi, đường ở Guatemala
Trang 23- Sắt EDTA với I ốt và sắt metallic ở Ấn Độ
- Tăng cường sắt vào xì dầu ở Trung Quốc được thực hiện từ năm 2003
và cho đến nay sản phẩm tăng cường này đã được cộng đồng chấp nhận
Một số nước công nghiệp đã tăng cường sắt vào sữa và bột đậu nành cho trẻ em Chile là nước đã thành công trong việc bổ sung sắt cùng với vitamin C trong phòng chống thiếu máu thiếu sắt ở trẻ em [dt 7]
1.4.1.2 Can thiệp dựa vào bổ sung sắt
Bổ sung sắt là một trong những chiến lược chính hiện nay để phòng chống thiếu sắt ở các nước đang phát triển Giải pháp bổ sung sắt là một can thiệp không thể thiếu ở những cộng đồng có lượng sắt khẩu phần không thể đáp ứng được nhu cầu sắt của các cá thể Bổ sung sắt là giải pháp thường được sử dụng để điều trị TMDTS Giải pháp này cũng được xem là biện pháp
y tế công cộng trong phòng chống TMTS ở những cộng đồng có nguy cơ thiếu sắt và TMTS cao Nhiều nghiên cứu bổ sung sắt đã cho thấy hiệu quả của giải pháp can thiệp dựa vào bổ sung sắt Năm 2001, WHO đã đưa ra phác
đồ bổ sung sắt dự phòng cho các đối tượng có nguy cơ thiếu máu thiếu sắt cao
ở những cộng đồng có tỷ lệ thiếu máu >40% trong đó có phụ nữ tuổi sinh đẻ với liều 60mg Fe, 400 g acid folic và thời gian bổ sung là 3 tháng [dt 7]
1.4.1.3 Phòng chống nhiễm ký sinh trùng
Thiếu máu là một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng khó giải quyết nhất đặc biệt ở những nước kém và đang phát triển.Nhiễm giun móc là một trong những nguyên nhân chính gây TMTS ở những cộng đồng này Thiếu máu có liên quan với cường độ nhiễm giun móc Nhiều nghiên cứu cho thấy nồng độ hemoglobin được cải thiện đáng kể sau khi can thiệp bằng tẩy giun cho trẻ học đường [5], [6]
Khi tình trạng nhiễm giun móc là phổ biến và tỷ lệ thiếu máu cao thì nhiễm giun móc có thể là nguyên nhân quan trọng của thiếu máu, đặc biệt là
Trang 24thiếu máu vừa và nặng Nhiễm giun móc ảnh hưởng đến 44,3 triệu phụ nữ có thai ở các nước đang phát triển
Ở những cộng đồng có tỷ lệ nhiễm giun cao, việc tẩy giun phải được thực hiện cho tất cả những đối tượng bị thiếu máu nặng
- Tẩy giun cho trẻ em đi học mà không cần sàng lọc hiện nay đã được khuyến nghị tại nhà trường
- Tẩy giun phối hợp với bổ sung sắt được khuyến nghị cho PNMT Việc phối hợp này sẽ giúp tăng cường đáp ứng của hemoglobin với sắt được
bổ sung
Loại trừ nhiễm giun móc bằng cách sử dụng hố xí hợp vệ sinh và đi giày dép là cách tốt nhất Tẩy giun là một can thiệp tình thế trong phòng chống TMTS đặc biệt ở những nước nhiệt đới có làm nông nghiệp Menbendazone, Albendazone là các thuốc tẩy giun an toàn và có thể dùng nhắc lại nhiều lần và có thể dùng cho PNMT [dt 7]
1.4.2 Các hoạt động phòng chống TMDTS ở Việt Nam
Tại Việt Nam, thiếu máu thiếu sắt vẫn còn là một vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng trong khi các can thiệp chưa có tính bền vững Do đó, Chính phủ đã có nhiều hoạt động nhằm giảm tỷ lệ thiếu máu ở những nhóm đối tượng có nguy cơ cao
- Bổ sung viên sắt cho phụ nữ mang thai và phụ nữ tuổi sinh đẻ theo phác đồ của WHO được thực hiện từ năm 1990 [8]
- Từ năm 1998, các hoạt động phòng chống thiếu máu dinh dưỡng thông qua tăng cường sắt vào nước mắm bắt đầu khởi động và kéo dài đến năm 2011
- Chiến lược Dinh dưỡng quốc gia giai đoạn 2001 - 2010 đã triển khai hiệu quả và Chiến lược giai đoạn 2011 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong đó mục tiêu phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng và thiếu máu dinh dưỡng là một trong những mục tiêu quan trọng trong giai đoạn tới [2], [3]
Trang 25- Trong nhiều năm qua, các hoạt động tập huấn và đào tạo về kiến thức phòng chống thiếu máu được thực hiện góp phần nâng cao năng lực cho cán
bộ cơ sở trong triển khai chương trình [2]
- Truyền thông giáo dục dinh dưỡng cho cộng đồng cũng chú trọng đến các thông điệp về phòng chống thiếu máu lồng ghép vào các thông điệp chung
về dinh dưỡng [1]
- Ngày 09 tháng 12 năm 2003, Bộ Y tế đã ban hành quy định bổ sung
vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm kèm theo quyết định số BYT
6289/2003/QĐ-Bảng 1 Quy định hàm lượng vi chất bổ sung vào thực phẩm
Thực
Hàm lượng VCDD bổ sung
(mg/100ml) Tối thiểu Tối đa
và kết quả là tỷ lệ thiếu máu của trẻ giảm xuống còn 28,2% [10]
Ngũ cốc là thực phẩm thay thế được sử dụng sớm nhất để chế biến thực phẩm cho trẻ nhỏ do đó cần được bổ sung vi chất dinh dưỡng Sữa công thức
Trang 26và các chế phẩm của sữa dành cho trẻ nhỏ đã được bổ sung đa vi chất trong
đó có sắt Hiện nay, các sản phẩm dinh dưỡng và bánh kẹo, nhiều loại đã được bổ sung vi chất dinh dưỡng và được nhiều người tiêu dùng sử dụng WHO đã khuyến nghị về việc bổ sung vi chất dinh dưỡng và các sản phẩm thực phẩm dành cho trẻ nhỏ cần được khuyến khích tại hộ gia đình và cộng đồng [1]
1.5 Một số nghiên cứu về kiến thức, thực hành phòng chống bệnh thiếu máu do thiếu sắt của phụ nữ mang thai, nuôi con nhỏ
Theo tìm hiểu của chúng tôi, ở Việt Nam những nghiên cứu về kiến thức và thực hành của các bà mẹ nuôi con nhỏ về phòng chống bệnh thiếu
máu do thiếu sắt còn rất ít
Nghiên cứu của Huỳnh Nam Phương và Trần Thị Giáng Hương năm
2013 cho biết phụ nữ có thai dân tộc Mường ở Hoà Bình có những hiểu biết
cơ bản về phòng chống TMDTS (đối tượng hay mắc, triệu chứng, ảnh hưởng, cách phòng chống), tác dụng của viên sắt nhưng chỉ có 62,2% đối tượng uống viên sắt và số uống hàng ngày chỉ chiếm 72,3% [9]
Tác giả Nguyễn Văn Hòa và cộng sự đã phỏng vấn 281 phụ nữ đang mang thai và cho con bú tại phường Hương Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa thiên Huế Kết quả cho thấy: có 95% các bà mẹ đã nghe nói về bệnh thiếu máu; về kiến thức phòng chống thiếu máu tỷ lệ các bà mẹ biết nên uống viên sắt là 80,4%, ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng là 77,9%, ăn thức ăn giàu sắt 25,3%; tỷ lệ các bà mẹ biết tác hại của thiếu máu làm giảm khả năng lao động là 61,2%, gây sẩy thai, sinh non, băng huyết: 49,1%, giảm trí nhớ 17,1% [4]
Trên thế giới người ta rất quan tâm nghiên cứu kiến thức và thực
hành của các bà mẹ về phòng chống thiếu máu Sau đây là một số nghiên cứu về vấn đề này trên thế giới: