Lý do chọn đề tài Hầu hết các nghiên cứu về nuôi dưỡng trẻ trên toàn Thế giới đều cho biết dinh dưỡng không hợp lý trong 1.000 ngày đầu tiên tính từ khi bà mẹ mang thai đến khi trẻ 24 t
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Dinh dưỡng học trẻ em
Người hướng dẫn khoa học: ThS Lưu Thị Uyên
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tôi xin được cảm ơn các thầy cô khoa Giáo dục Mầm non trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, những người đã truyền cho tôi kiến thức
và niềm say mê từ giảng đường Đại học để tôi thực hiện khóa luận
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo khoa Sinh - KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt khóa học Đặc biệt tôi dành lời cảm ơn sâu sắc nhất với sự hướng dẫn nhiệt tình của ThS Lưu Thị Uyên - giảng viên hướng dẫn trực tiếp tôi thực hiện khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu của bạn bè, đồng nghiệp, đặc biệt gia đình người thân đã luôn bên tôi ủng hộ, động viên kịp thời về vật chất và tinh thần để tôi có đủ điều kiện, thời gian hoàn thành khóa luận này
Mặc dù có nhiều cố gắng, tinh thần trách nhiệm cao, nhưng vì khó khăn
về tư liệu, năng lực trong nghiên cứu của bản thân…nên khóa luận không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp!
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2017
Người thực hiện
Nguyễn Thị Thúy
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài khóa luận do tôi trực tiếp thực hiện, các số liệu được sử dụng trong khóa luận là trung thực, chính xác và chưa được công bố trong bất kỳ tài liệu nào khác
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2017
Người thực hiện
Nguyễn Thị Thúy
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
ABS Ăn bổ sung
ATVSTP An toàn vệ sinh thực phẩm
NCBSM Nuôi con bằng sữa mẹ
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
SDD Suy dinh dƣỡng
UNICEF United Nation International Children’s Emergency Fund
(Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc)
WHO World Health Organization
(Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
NỘI DUNG 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tầm quan trọng của nuôi dưỡng trẻ nhỏ 3
1.1.1 Tầm quan trọng của nuôi dưỡng trẻ nhỏ 3
1.1.2 Mục tiêu và nội dung cơ bản của chiến lược toàn cầu về nuôi dưỡng trẻ 4
1.2 Nuôi con bằng sữa mẹ 5
1.2.1 Sữa mẹ 5
1.2.2 Sữa non và cho trẻ bú sớm sau sinh 5
1.2.3 Nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ 7
1.3 Cho trẻ ăn bổ sung 9
1.3.1 Khái niệm ăn bổ sung 9
1.3.2 Thời điểm thích hợp bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung 10
1.3.3 Cho trẻ ăn bổ sung 11
1.4 Một số nghiên cứu về nuôi dưỡng trẻ dưới 24 tháng tuổi 14
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
2.2 Nội dung nghiên cứu 17
2.3 Phương pháp nghiên cứu 17
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18
3.1 Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Thanh Quang 18
3.2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Thanh Qu ang 19
Trang 63.3 Kiến thức và thực hành nuôi trẻ từ 0 - 24 tháng tuổi của các bà mẹ 21
3.3.1 Đặc điểm của các bà mẹ tham gia trong nghiên cứu 21
3.3.2 Kiến thức và thực hành NCBSM của các bà mẹ 22
3.3.2 Kiến thức và thực hành cho trẻ ăn bổ sung của các bà mẹ 28
KẾT LUẬN 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hầu hết các nghiên cứu về nuôi dưỡng trẻ trên toàn Thế giới đều cho biết
dinh dưỡng không hợp lý trong 1.000 ngày đầu tiên (tính từ khi bà mẹ mang thai đến khi trẻ 24 tháng tuổi) là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thấp
còi, béo phì và các bệnh không lây ở tuổi trưởng thành 1000 ngày đầu tiên
được gọi là giai đoạn “cửa sổ cơ hội” để dự phòng suy dinh dưỡng thấp còi
cũng như các hậu quả chậm phát triển về thể chất và tinh thần [1],[4]
Năm 2002, Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc và Tổ chức Y tế Thế giới đã xây dựng Chiến lược toàn cầu về nuôi dưỡng trẻ nhỏ, nhấn mạnh vai trò thực hành nuôi dưỡng đối với tình trạng dinh dưỡng, sự tăng trưởng, phát triển và sự sống còn của trẻ nhỏ Mục tiêu chủ yếu của chiến lược là bảo vệ, khuyến khích và hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, cho trẻ ăn bổ sung an toàn và hợp lý, tiếp tục cho trẻ bú mẹ đến 24 tháng tuổi hoặc lâu hơn [4]
Ở Việt Nam, những năm qua nhờ những tiến bộ về kinh tế - xã hội, các can thiệp về y tế và dinh dưỡng cùng với các chương trình truyền thông hướng dẫn nuôi dưỡng trẻ được tuyên truyền rộng rãi, tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ em dưới 5 tuổi có xu hướng giảm Mặc dù vậy Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia có tỷ lệ trẻ em SDD cao trong khu vực, đặc biệt là SDD thể thấp còi Thông tin giám sát dinh dưỡng năm 2013 do Viện dinh dưỡng kết hợp với UNICEF và Alive& Thrive [10] cho thấy có 11,7% trẻ em
ở Việt Nam thiếu cân; 22,7% trẻ em bị thấp còi và 4,1% bị gầy còm; 4,4% trẻ
em ở Việt Nam bị thừa cân (béo phì); về thực hành nuôi dưỡng trẻ, chỉ có 39,7% trẻ được bú sữa mẹ lần đầu trong vòng 1 giờ sau khi sinh và 17% được
bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu; tiếp tục cho con bú sữa mẹ sau 6 tháng kèm với bổ sung thức ăn dinh dưỡng đầy đủ, an toàn và thích hợp còn nhiều bất cập
Trang 8Tỉ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu thấp và thực hành ăn bổ sung chưa hợp lý được xác định là những nguyên nhân chính dẫn đến suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ dưới hai tuổi tại Việt Nam Vì vậy tư vấn,
hỗ trợ các bà mẹ thay đổi thói quen thực hành dinh dưỡng chưa hợp lý để nuôi dưỡng trẻ khoa học là góp phần thực hiện mục tiêu giảm tỷ lệ SDD thấp còi ở trẻ em dưới năm tuổi trong chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011
- 2020 và tầm nhìn đến năm 2030[5]
Thanh Quang là một xã thuộc huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Trước đây nghề nông là công việc chính của người dân ở đây Hiện nay, do sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Thanh Quang đã có khu công nghiệp với nhiều công ty, nhà máy; người dân vừa làm việc tại các công ty, nhà máy vừa kết hợp việc đồng áng Với sự thay đổi như vậy về kinh tế, xã hội kiến thức, thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ của các bà mẹ như thế nào? Trả lời câu hỏi đó, chúng tôi thực hiện đề tài:
“Kiến thức và thực hành nuôi dưỡng trẻ từ 0 đến 24 tháng tuổi của các
bà mẹ nuôi con nhỏ tại xã Thanh Quang, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương”
2 Mục đích nghiên cứu
- Đề tài góp phần thúc đẩy các thực hành tốt trong nuôi dưỡng trẻ từ 0
đến 24 tháng tuổi tại xã Thanh Quang, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Cung cấp các dữ liệu về nuôi dưỡng trẻ nhỏ tại khu
vực nghiên cứu, là tài liệu tham khảo cho hoạt động học tập, nghiên cứu khoa
học của người học tập và nghiên cứu
- Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần thúc đẩy các bà mẹ ở, gia đình và cộng
đồng thực hiện tốt thực hành dinh dưỡng cho trẻ nhỏ từ 0 - 24 tháng tuổi để
từng bức giảm tỷ lệ SDD trẻ em tại địa phương
Trang 9NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tầm quan trọng của nuôi dưỡng trẻ nhỏ
1.1.1 Tầm quan trọng của nuôi dưỡng trẻ nhỏ [1,][3],[4]
Nuôi dưỡng trẻ nhỏ là cách chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ từ 0 - 24 tháng tuổi Nuôi dưỡng trẻ nhỏ có vai trò rất quan trọng đối với sức khỏe và
sự phát triển của trẻ
Nuôi dưỡng trẻ nhỏ hợp lý Nuôi dưỡng trẻ nhỏ không hợp lý
Trẻ sẽ phát triển toàn diện về thể
chất và tinh thần
Trẻ sẽ chậm phát triển về thể chất và tinh thần
Trẻ sẽ có cân nặng và chiều cao đạt
Trẻ sẽ phát triển trí tuệ tốt hơn,
thông minh hơn
Trẻ sẽ chậm phát triển trí tuệ (trẻ nhận thức kém, khả năng học tập giảm)
Những phát hiện quan trọng về dinh dưỡng bà mẹ - trẻ em được đăng tải trên tạp chí The Lancet năm 2013 [5] cho thấy tình trạng dinh dưỡng của bà
mẹ và trẻ nhỏ là một trong những nguyên nhân dẫn đến 3,1 triệu/6,9 triệu trẻ dưới 5 tuổi tử vong và 165 triệu trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể thấp còi vào năm 2011 Số trẻ bị suy dinh dưỡng thể thấp còi này đã và sẽ chịu ảnh hưởng về sự phát triển thế chất và tinh thần sau này Trên 2/3 trong số trẻ tử vong dưới 5 tuổi là trẻ dưới 1 tuổi và thường liên quan đến thực hành nuôi dưỡng trẻ không hợp lý Suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi ảnh hưởng gián tiếp đến khả năng đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ về giảm tỷ lệ tử vong và bệnh tật ở trẻ em dưới 5 tuổi Ước tính dinh dưỡng không hợp lý sẽ làm giảm
ít nhất 8% khả năng phát triển kinh tế của một quốc gia (do nó gây tổn thất trực tiếp tới năng suất lao động, nhận thức kém và khả năng học tập giảm)
Trang 10Theo Chiến lược toàn cầu về nuôi dưỡng trẻ nhỏ của Tổ chức Y tế Thế giới, tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của bà mẹ và trẻ sơ sinh có mối liên
hệ mật thiết với nhau Dinh dưỡng không hợp lý trong 1.000 ngày đầu tiên
(tính từ khi bà mẹ mang thai đến khi trẻ 24 tháng tuổi) là nguyên nhân chính
dẫn đến tình trạng thấp còi, béo phì và các bệnh không lây ở tuổi trưởng
thành Vì vậy, 1000 ngày đầu tiên được gọi là giai đoạn “cửa sổ cơ hội” để
dự phòng suy dinh dưỡng thấp còi, các hậu quả chậm phát triển về thể chất và tinh thần do nuôi dưỡng trẻ không hợp lý Nghiên cứu cho thấy chiều cao của trẻ 3 tuổi phản ánh chiều cao tương ứng khi trẻ 18 tuổi Nếu trẻ nhỏ được nuôi dưỡng hợp lý thì chiều cao khi trưởng thành sẽ phát triển tối ưu, nhưng nếu trẻ
bị thấp còi nặng khi còn nhỏ, khi trưởng thành trẻ sẽ không thể phát triển được chiều cao như trẻ bình thường Vì vậy, cần phải tập trung cải thiện các thực hành về nuôi dưỡng trẻ nhỏ ngay từ khi bà mẹ mang thai đến khi trẻ được 24 tháng tuổi, góp phần giảm nguy cơ suy dinh dưỡng thấp còi và những tác hại lâu dài đến sức khỏe của trẻ sau này [5]
1.1.2 Mục tiêu và nội dung cơ bản của chiến lược toàn cầu về nuôi dưỡng trẻ [5]
Chiến lược toàn cầu về Nuôi dưỡng trẻ nhỏ được xây dựng năm 2002 trên cơ sở của những văn bản đã có từ trước như: Luật Quốc tế về kinh doanh
và sử dụng các sản phẩm thay thế sữa mẹ (1981); Tuyên bố Innocenti (1990)
và Sáng kiến Bệnh viện bạn hữu trẻ em (1991)
Mục tiêu: Nhấn mạnh vai trò của các thực hành nuôi dưỡng đối với
tình trạng dinh dưỡng, sự tăng trưởng, phát triển và sự sống còn của trẻ nhỏ
Nội dung:
- Đảm bảo các cơ sở y tế thực hiện trách nhiệm bảo vệ, khuyến khích và
hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, tiếp tục cho trẻ bú mẹ đến 2 tuổi hoặc lâu hơn và hướng dẫn các bà mẹ đến các cơ sở y tế khi họ cần
Trang 11- Cho trẻ ăn bổ sung đúng thời gian, đầy đủ, an toàn, phù hợp và tiếp tục cho bú mẹ
- Hướng dẫn nuôi dưỡng trẻ nhỏ trong những trường hợp đặc biệt: Tình
trạng cấp cứu; Trẻ suy dinh dưỡng; Trẻ đẻ nhẹ cân; Trẻ có mẹ nhiễm HIV
1.2 Nuôi con bằng sữa mẹ [1],[3],[4]
1.2.1 Sữa mẹ
Sữa mẹ là nguồn thức ăn bổ dưỡng, an toàn và phù hợp nhất đối với trẻ Thành phần sữa mẹ không phải lúc nào cũng như nhau mà thay đổi theo tuổi của trẻ và thay đổi từ đầu bữa cho đến cuối bữa bú
• Sữa non là loại sữa mẹ đặc biệt, được hình thành từ tuần thứ 14-16 của
thai kì và được tiết ra trong 1-3 ngày đầu sau sinh Sữa non sánh đặc, vàng nhạt hoặc trong Sữa non chứa nhiều protein hơn sữa trưởng thành
• Sau 3- 7 ngày, sữa non chuyển sang sữa trưởng thành (sữa ổn định) Số lượng sữa nhiều hơn làm cho 2 bầu vú của bà mẹ đầy, căng người ta gọi là hiện tượng “xuống sữa” hay sữa “về” Sữa trưởng thành gồm 2 loại:
- Sữa tiết đầu: sữa được tiết ra đầu bữa bú, lượng nhiều, nhìn hơi trong xanh, chứa nhiều nước và các chất dinh dưỡng: protein, lactose
- Sữa tiết cuối: sữa được tiết ra cuối bữa bú, màu trắng đục hơn, chứa nhiều chất béo hơn và giàu năng lượng nên bà mẹ cần phải cho con bú hết từng bên vú để trẻ bú được “sữa cuối”
1.2.2 Sữa non và cho trẻ bú sớm sau sinh
Sữa non, đặc biệt là sữa non trong vòng một giờ đầu sau sinh có lợi cho trẻ nên việc cho trẻ bú ngay trong vòng một giờ đầu đặc biệt quan trọng Trẻ được bú mẹ sớm sẽ sớm nhận được dinh dưỡng cũng như các yếu tố miễn dịch, mặt khác tỷ lệ hấp thu các yếu tố này của cơ thể ở những giờ đầu sau sinh là cao nhất
Trang 12Đặc điểm của sữa non Lợi ích
Giàu kháng thể Là liều vắc xin quí giá đầu tiên trẻ nhận được
giúp phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn Nhiều tế bào bạch cầu Giúp phòng chống nhiễm khuẩn
Có tác dụng xổ nhẹ Đào thải phân su, giúp giảm mức độ vàng da
Có yếu tố tăng trưởng cho
ruột của trẻ
Giúp cho ruột trưởng thành
Phòng chống dị ứng Giàu vitamin A Giảm mức độ nặng khi bị nhiễm khuẩn
Sữa non hoàn toàn đáp ứng đủ nhu cầu cho trẻ cả về chất lượng và số lượng trong vòng 2 ngày đầu sau đẻ Tuy nhiên trong thực tế nhiều bà mẹ khi
đi đẻ mang theo sữa bột để cho trẻ ăn trong ngày đầu khi sữa mẹ chưa “về” Hầu hết các bà mẹ thường lo lắng sợ con bị đói vì nghĩ rằng mình chưa có sữa Đây là một vấn đề không đúng nhưng lại tồn tại trong cộng đồng từ lâu
và khó thay đổi
Các bà mẹ cần hiểu sâu hơn về sữa non và lợi ích của sữa non để yên tâm, tin tưởng là chỉ cần cho con mút vú ngay sau khi đẻ thì không sợ trẻ bị đói và sữa sẽ “về” Cho trẻ bú sớm còn có nhiều lợi ích cho cả bà mẹ, giúp bà
mẹ co hồi tử cung tốt, giảm xuất huyết sau sinh, kích thích tạo sữa và giúp sữa sớm về [1]
Tại cộng đồng, tư vấn NCBSM cần được bắt đầu từ khi bà mẹ mang thai
và thực hiện ngay tại phòng sinh của các cơ sở y tế để nhằm đảm bảo mọi bà
mẹ vừa sinh con trong vòng 1 giờ đầu được hướng dẫn hỗ trợ để trẻ được bú sữa non Ngay sau sinh bầu vú chưa căng sữa, trẻ chưa biết cách bú nên đây là lúc bà mẹ phải kiên trì tập cho con ngậm bắt vú đúng đồng thời phải cho trẻ
bú nhiều lần như vậy vừa đảm bảo nhu cầu của trẻ vừa kích thích tạo sữa, giúp sữa “về” sớm [1]
Trang 131.2.3 Nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ [1],[4]
1.2.3.1.Khái niệm nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ
Nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ là chỉ cho trẻ bú mẹ mà không cho ăn, uống thêm bất cứ thức ăn, đồ uống nào khác kể cả nước trắng (trừ các trường hợp phải uống bổ sung các vitamin, khoáng chất hoặc thuốc theo chỉ định của bác sĩ) [1]
Trong 6 tháng đầu trẻ chỉ cần bú mẹ hoàn toàn, không cần ăn thêm bất
cứ loại thức ăn nào khác kể cả nước Sữa mẹ luôn cung cấp đủ năng lượng và dinh dưỡng cho trẻ trong 6 tháng đầu đời, kể cả trẻ sinh đôi nếu cho trẻ bú đúng cách Đây là kết quả nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới
Sữa mẹ là nguồn thức ăn an toàn, phù hợp với trẻ nhất lại không mất tiền mua, tuy vậy nguồn thức ăn bổ dưỡng này lại không được tận dụng hết Kết quả điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ Việt Nam năm 2011[8] cho thấy chỉ có 17% được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ NCBSM hoàn toàn ở nước ta thấp như vậy vì thói quen cho con uống thêm nước của bà mẹ vẫn còn đang phổ biến rộng rãi
Các bà mẹ cần hiểu rằng không phải cho trẻ uống thêm nước kể cả khi trời nóng nhất vì 88% sữa mẹ là nước, nếu sợ trẻ khát thì hãy cho trẻ bú mẹ nhiều hơn
1.2.3.2.Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ
Đối với con
- Cung cấp cho trẻ nguồn dinh dưỡng cần thiết giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần; phòng ngừa bệnh tật
- Bảo vệ trẻ, tránh các bệnh nhiễm trùng
- Kích thích sự phát triển tối ưu của não bộ
- Dễ tiêu hóa; Sạch sẽ, luôn sẵn sàng và ở nhiệt độ phù hợp
Trang 14Đối với người mẹ và gia đình
- Bú sớm ngay sau sinh giúp mẹ co hồi tử cung, giảm mất máu sau đẻ
- Giảm nguy cơ ung thư vú, ung thư buồng trứng và ung thư cổ tử cung
- Giúp bà mẹ chậm có thai trở lại
- Xây dựng tình cảm mẹ con
- Giúp bà mẹ phòng tránh béo phì sau đẻ
- Bú mẹ có lợi về kinh tế
1.2.3.3.Duy trì nguồn sữa mẹ
Sữa mẹ là nguồn thức ăn bổ dưỡng, an toàn và phù hợp nhất đối với trẻ, nhưng không phải bà mẹ nào cũng thành công trong việc NCBSM Đảm bảo sữa mẹ luôn đáp ứng đủ nhu cầu của trẻ đến khi trẻ được 6 tháng và tiếp tục cho trẻ bú đến 24 tháng, bà mẹ cần phải hiểu rõ những yếu tố tác động đến nguồn sữa mẹ
Một số yếu tố hỗ trợ
- Người mẹ có chế độ dinh dưỡng hợp lí (đa dạng thực phẩm, thức ăn
nhiều nước, giàu dinh dưỡng, dễ tiêu, không kiêng khem trừ một số chất kích thích hoặc gia vị quá cay nóng…)
- Người mẹ có tinh thần và tâm lý thoải mái, lạc quan, vui vẻ, hạnh phúc, được nghỉ ngơi hợp lý
- Con càng bú nhiều sữa càng ra nhiều
- Sự gần gũi với con: được ở gần, ngắm nhìn, âu yếm, vuốt ve
- Cho con bú về đêm sữa được tạo ra nhiều hơn
Một số yếu tố cản trở
- Trẻ ngậm bắt vú không tốt - bú không hiệu quả
- Bà mẹ lo lắng, căng thẳng, không tin là mình có đủ sữa
- Bà mẹ ốm đau, bệnh tật, lao động vất vả v.v
- Mẹ con không được ở cạnh nhau
- Để vú căng sữa lâu
Trang 151.3.3.4 Thực hành NCBSM [1]
- Giúp trẻ ngậm bắt vú tốt ngay từ bữa bú đầu tiên
- Cho trẻ bú bữa đầu tiên ngay trong vòng 1 giờ đầu sau sinh
- Cho trẻ bú theo nhu cầu cả ngày lẫn đêm
- Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời
- Mỗi lần bú, cho bú hết bên này rồi mới chuyển sang bên kia
- Không cho trẻ bú bình, ngậm vú cao su
- Nếu trẻ ốm vẫn tiếp tục cho bú và bú lâu hơn, nhiều lần hơn
- Cho trẻ bú sữa mẹ trước khi ăn thêm các thức ăn khác
- Tiếp tục cho trẻ bú mẹ đến khi trẻ được 24 tháng tuổi
- Khi cai sữa không nên đột ngột, không cai sữa khi trẻ bị ốm, trẻ vừa ốm dậy Nên cai sữa vào mùa có khí hậu mát không cai sữa vào mùa nắng nóng, rét đậm
- Sau khi cai sữa, cần có các chế độ ăn thay thế đảm bảo đủ chất dinh dưỡng cho trẻ, nhất là chất đạm (thịt, cá, trứng, đậu, đỗ ) chất béo (dầu, mỡ)
và các loại rau quả
Trong những trường hợp khó khăn, bà mẹ cần kiên trì cho con bú nhiều hơn hoặc vắt sữa ra cho trẻ ăn bằng cốc Một số trường hợp cần vắt sữa để duy trì nguồn sữa:
- Mẹ đi làm xa không cho con bú được
- Trẻ không thể bú mẹ được do đẻ nhẹ cân
- Trẻ không bú được vì trẻ bệnh,
- Bà mẹ bị bệnh, bác sĩ chỉ định không được cho trẻ bú
- Bầu vú căng đầy, núm vú tụt trẻ không ngậm bắt vú được
1.3 Cho trẻ ăn bổ sung [1],[3],[4]
1.3.1 Khái niệm ăn bổ sung
- Ăn bổ sung (ăn sam; ăn dặm) nghĩa là ngoài bú sữa mẹ, trẻ được ăn
Trang 16Nói cách khác:
- Cho trẻ ăn bổ sung là khi trẻ đã lớn (trên 6 tháng), sữa mẹ không còn đáp ứng đủ nhu cầu của trẻ nữa nên ngoài việc tiếp tục bú mẹ trẻ cần được ăn thêm các loại thức ăn khác để bù đắp sự thiếu hụt này
1.3.2 Thời điểm thích hợp bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung
Khi trẻ 6 tháng tuổi (180 ngày) sữa mẹ không còn đáp ứng đủ năng lượng
và dinh dưỡng cho trẻ, trẻ cần được ăn bổ sung (ABS), tuy nhiên khi cho trẻ ABS vẫn tiếp tục cho trẻ bú đến khi trẻ được 24 tháng
Biểu đồ: Nhu cầu năng lượng theo tuổi của trẻ và năng lượng từ sữa mẹ [1]
Trong biểu đồ này, mỗi cột biểu thị tổng năng lượng cần theo độ tuổi của trẻ Phần màu sẫm biểu thị mức năng lượng do sữa mẹ cung cấp và phần màu sáng biểu thị sự thiếu hụt năng lượng so với nhu cầu của trẻ
- Từ 6 tháng (180 ngày) trở đi sự thiếu hụt bắt đầu xuất hiện và tăng dần theo độ tuổi của trẻ Vì vậy khi trẻ được 6 tháng tuổi là thời gian thích hợp nhất
để bắt đầu ăn bổ sung
- Cho trẻ ăn quá sớm hoặc quá muộn đều không tốt cho trẻ vì:
Quá sớm: Trẻ bú ít đi vừa bỏ phí nguồn dinh dưỡng tốt nhất hơn thế nữa khi ăn thức ăn khác sớm sẽ có hại cho đường tiêu hóa của trẻ Ăn dặm sớm
Trang 17cũng làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, nhất là tiêu chảy vì thức
ăn bổ sung không có những yếu tố kháng khuẩn và không sạch như sữa mẹ Các loại ngũ cốc, rau quả cũng có thể ảnh hưởng đến việc hấp thụ sắt trong sữa mẹ, gây thiếu máu Các tác hại khác là giảm tần suất bú của trẻ gây giảm tiết sữa; mẹ sớm có thai trở lại, tăng nguy cơ đẻ con thấp cân [1]
Quá muộn: Sữa mẹ không còn cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng để phát triển tốt dẫn đến nguy cơ trẻ bị thiếu chất, chậm lớn, tăng nguy cơ mắc bệnh [1]
1.3.3 Cho trẻ ăn bổ sung
1.3.3.1.Các nhóm thức ăn bổ sung cơ bản [1],[6]
- Nhóm thức ăn cung cấp chất tinh bột (lương thực) là nguồn thức ăn cung cấp năng lượng trong khẩu phần ăn; chủ yếu cung cấp tinh bột, chứa ít protein và nghèo các vi chất dinh dưỡng - Gồm các loại gạo, ngô, khoai, củ, các loại đậu, đỗ…
- Nhóm thức ăn cung cấp chất đạm (là nguồn thức ăn xây dựng cơ thể, tham gia vận chuyển các chất dinh dưỡng, kích thích ăn ngon miệng, điều hòa các chuyển hóa và bảo vệ cơ thể - Gồm các thức ăn có nguồn gốc động vật (trứng, sữa, các loại thịt, cá, tôm, cua, lươn, nhộng, phủ tạng ); Thức ăn nguồn gốc thực vật (đậu đen, đậu xanh, đậu nành )
- Nhóm thức ăn cung cấp chất béo: là nguồn thức ăn bổ sung năng lượng cho bữa ăn của trẻ, giúp trẻ hấp thu dễ dàng các loại vitamin tan trong dầu như Vitamin A, E, D, K và làm cho thức ăn dễ ăn hơn - Gồm dầu, bơ, mỡ
- Nhóm thức ăn cung cấp vitamin và chất khoáng - Gồm các loại rau xanh và quả chín)
1.3.3.2 Thực hành cho trẻ ăn bổ sung
1) Ba tiêu chí cơ bản của một bữa ăn bổ sung cho trẻ [1]
- Đủ về số lượng: đảm bảo cung cấp đủ năng lượng trẻ cần, tăng dần theo
độ tuổi của trẻ
Trang 18- Đủ về chất lượng: Đảm bảo sự đa dạng của thức ăn để vừa cung cấp đủ nhu cầu năng lượng, nhu cầu Protein vừa bổ sung các loại vitamin, khoáng chất; mỗi bữa ăn phải đảm bảo ít nhất 4 nhóm thực phẩm
- Phù hợp với sức chứa của dạ dày trẻ Ví dụ: đối với trẻ 6-8 tháng tuổi,
dạ dày của trẻ chỉ chứa được khoảng 200ml tương đương với 2/3 bát ăn cơm Nếu lượng thức ăn đưa vào có nhiều hơn 200ml sẽ làm trẻ bị nôn, trớ và trẻ sẽ
sợ ăn dẫn đến biếng ăn
2) Thực hành cho trẻ ăn bổ sung [6]
- Khi trẻ được sáu tháng cần tập cho trẻ ăn bột loãng trong vài ngày để trẻ làm quen với cách đảo, nuốt thức ăn trong miệng
- Số lượng bữa ăn tăng dần theo tuổi
- Ăn đa dạng các loại thực phẩm
- Mỗi bữa ăn của trẻ phải có đủ 4 nhóm thực phẩm
- Cho trẻ ăn thêm các bữa phụ như hoa quả, sữa chua
- Không nên cho trẻ ăn mỳ chính
- Không cho trẻ ăn bánh kẹo, uống nước ngọt trước bữa ăn
- Ăn từ ít đến nhiều, từ loãng đến đặc Ăn nhiều bữa (vì sức chứa bộ máy tiêu hóa của trẻ còn ít, nhu cầu của trẻ lại cao)
- Tuân thủ nguyên tắc 4 ngày nghỉ (khi ăn một loại thức ăn mới trong 4 ngày liền không sử dụng một loại thức ăn mới nào khác để thăm dò phản ứng
cơ thể trẻ đối với loại thức ăn mới)
- Chú ý tăng đậm độ năng lượng của thức ăn Có thể sử dụng dầu hoặc
mỡ bổ sung vào cháo, bột sau khi khuấy chín, dùng một số loại thực phẩm có thể làm loãng bột, cháo: cà rốt, giá đỗ, mầm hạt…;
- Bên cạnh ăn bổ sung chú ý cho trẻ bú mẹ được càng nhiều càng tốt
3) Bữa ăn bổ sung hợp vệ sinh [1]
+ Tại sao phải đảm bảo vệ sinh khi chế biến thức ăn cho trẻ
- Giai đoạn trẻ ăn bổ sung là giai đoạn trẻ nhận miễn dịch từ mẹ sang giảm
Trang 19- Hệ thống miễn dịch của trẻ chưa phát triển toàn diện nên trẻ dễ bị mắc bệnh đường tiêu hóa
- Khi bắt đầu tập ABS, hệ tiêu hóa của trẻ phải làm quen với thức ăn mới
- Thực phẩm và dụng cụ chế biến thức ăn dễ bị nhiễm khuẩn gây bệnh
+ Thực hành bữa ăn vệ sinh [1]
Nguyên tắc “4 sạch” trong chuẩn bị một bữa ăn bổ sung hợp vệ sinh cho trẻ
- Bàn tay Sạch - Rửa tay bằng xà phòng và nước sạch khi: Cầm thức ăn, chuẩn bị bữa ăn; Sau khi đi vệ sinh hay vệ sinh cho trẻ hoặc tiếp xúc với động vật; Rửa tay mình và tay trẻ khi cho trẻ ăn
- Dụng cụ Sạch: giữ gìn dao thớt, đồ đựng thức ăn và nơi nấu ăn luôn gọn gàng sạch sẽ; Rửa ngay các dụng cụ sau khi chế biến thức ăn; Sử dụng dụng cụ đựng và thớt thái thức ăn sống và chín riêng; phải đậy nắp dụng cụ chứa thức ăn khi bảo quản
- Thực phẩm Sạch: dùng nước sạch và thực phẩm tươi, đảm bảo ATVSTP; Không sử dụng thực phẩm quá hạn; Thức ăn phải nấu chín kỹ; Cho trẻ ăn ngay sau khi chế biến; Nếu ăn thức ăn củ cần đun sôi lại
- Bảo quản Sạch: Đựng thức ăn trong dụng cụ có nắp đậy; Giữ thức ăn ở
nơi sạch sẽ khô mát; Sử dụng thức ăn đã chế biến trong vòng 1 giờ
4) Cho trẻ ăn tích cực
“Cho trẻ ăn tích cực” cũng góp một phần quan trọng trong việc đảm bảo bữa ABS đáp ứng đủ nhu cầu của trẻ Vậy thế nào là “cho trẻ ăn tích cực” ?
- Chú ý đến khẩu vị của trẻ khi chế biến thức ăn
- Kết hợp nhiều loại thức ăn khác nhau giúp trẻ ngon miệng
- Cho trẻ ăn từ từ, kiên nhẫn
- Khuyến khích và hỗ trợ trẻ khi trẻ muốn tự ăn
- Ở bên cạnh và chú ý đến trẻ trong suốt bữa ăn
Trang 201.4 Một số nghiên cứu về nuôi dưỡng trẻ dưới 24 tháng tuổi
Tạp chí Lancet (Lancet, January 2008)[5] đã công bố một loạt bài tổng quan về phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dựa vào phân tích các kết quả nghiên cứu bằng chứng Các kết luận cho thấy thời cơ “vàng” để các can thiệp
có hiệu quả là thời kỳ mang thai và 2 năm đầu tiên của cuộc đời Nếu không can thiệp sớm, suy dinh dưỡng có thể gây ra các tổn thương không hồi phục cho sự phát triển về sau đến tuổi trưởng thành Trước hết người mẹ trong thời gian mang thai và cho con bú cần có chế độ dinh dưỡng hợp lý, uống viên sắt
và acid folic để phòng thiếu máu dinh dưỡng và dị tật ống thần kinh của thai nhi, uống sữa để có thêm calci Sau khi sinh, việc nuôi con hoàn toàn bằng sữa
mẹ đến 6 tháng tuổi có vai trò quan trọng nhất Trẻ được nuôi bằng sữa mẹ phát triển hài hòa cả cân nặng và chiều cao Bên cạnh đó việc ăn bổ sung hợp lý tỏ
ra rất có hiệu quả đối với giảm tỷ lệ thấp còi Thức ăn bổ sung cần cân đối các chất dinh dưỡng sinh năng lượng và đủ các vi chất cần thiết (vitamin và muối khoáng), đặc biệt chú ý tới vai trò của vitamin A, sắt và kẽm
Nghiên cứu của WHO trên nhiều nước cho thấy nếu phụ nữ và trẻ em được nhận những chăm sóc tối ưu (đủ dinh dưỡng, chế độ nuôi dưỡng trẻ nhỏ đầy đủ và phòng chống bệnh tật tốt) thì trẻ em ở nước nào cũng tăng trưởng chiều cao giống nhau Thấp còi là hậu quả của tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe bà mẹ kém dẫn tới sự phát triển của bào thai kém, cân nặng sơ sinh thấp
và kết quả là đứa trẻ khi lớn lên cũng nhỏ bé Cộng thêm vào đó, thấp còi cũng là hậu quả của việc chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng cho trẻ trong giai đoạn sau sinh không tốt Vì thế, để giảm thấp còi, các can thiệp cần tác động vào tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng của cả bà mẹ lẫn của trẻ em, đặc biệt là
bà mẹ trong giai đoạn mang thai và trẻ em từ khi còn trong bào thai cho tới giai đoạn dưới 2 tuổi [5]
Trang 21 Alive & Thrive trong Báo cáo Điều tra ban đầu tại 11 tỉnh của Việt Nam, 2012 [2] cho biết tại Hà Nội 98% trẻ được bú sữa non, 37,9% trẻ được
bú sữa mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh và 82,8% bà mẹ cho trẻ ăn/uống các thức ăn khác ngoài sữa mẹ trong 3 ngày đầu sau sinh Chỉ có 28,4% trẻ được
bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và dưới một nửa trẻ ở độ tuổi này được bú
mẹ là chủ yếu Uống nước, ăn thức ăn bổ sung và sữa bột quá sớm là những cản trở của bú mẹ hoàn toàn Tỷ lệ trẻ tiếp tục bú mẹ đến 1 năm tuổi khá cao (87,1%) nhưng tỷ lệ tiếp tục bú mẹ đến 2 năm tuổi giảm xuống còn 21,9% Các kết quả điều tra cũng cho thấy lỗ hổng trong kiến thức và niềm tin của bà mẹ tại Hà Nội về nuôi dưỡng trẻ nhỏ Mặc dù 77,4% bà mẹ biết trong
6 tháng đầu chỉ cho trẻ bú sữa mẹ sẽ tốt hơn là cho trẻ bú kết hợp cả sữa mẹ
và sữa bột nhưng chỉ có 62,5% cảm thấy trẻ dưới 6 tháng tuổi chỉ bú mẹ là tốt Nhiều bà mẹ cho rằng trẻ dưới 6 tháng nên được cho uống thêm nước; 55,7% tin rằng trẻ sẽ bị khát nếu không được cho uống thêm nước Phần lớn
bà mẹ biết nên cho trẻ bắt đầu ăn bổ sung khi trẻ từ 6 tháng tuổi (59,6%), nhưng một số bà mẹ nghĩ rằng nên cho trẻ ăn bổ sung trước 6 tháng tuổi (12,1%) [2],[8]
Lê Thị Hợp, Trương Tuyết Mai [7] từ 2011 đến 2014 khi “Nghiên cứu thực trạng và các giải pháp can thiệp giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở
trẻ em Việt Nam” đã tổng kết:
- Tại Việt Nam, dù đã có nhiều thành tựu trong công tác phòng chống SDD, nhưng tỷ lệ SDD ở trẻ em nước ta vẫn còn ở mức cao, đặc biệt là SDD thể thấp còi là 29,3% năm 2010 và 26,7% năm 2012 Trong đó, giai đoạn trẻ
có nguy cơ SDD cao nhất là từ 12 tới 24 tháng tuổi và tỷ lệ SDD giữ ở mức cao cho đến 60 tháng tuổi
- Kết quả điều tra cắt ngang với mục đích đánh giá thực trạng và yếu tố nguy cơ của trẻ SDD thấp còi tiến hành trên gần 2000 trẻ dưới 2 tuổi tại 4 tỉnh
Trang 22Lào Cai, Lai Châu, Gia Lai, Kon Tum đã cho thấy tỷ lệ trẻ dưới 2 tuổi SDD thấp còi còn rất cao, 41,3%, tăng dần theo tuổi (từ 22% ở nhóm 0-5 tháng đến 62% ở nhóm 18-23 tháng) Tỷ lệ trẻ dưới 2 tuổi SDD nhẹ cân là 24,8% tăng dần theo tuổi (từ 15% ở nhóm 0-5 tháng đến 32% ở nhóm 18-23 tháng)
- Kết quả điều tra trên 262 bà mẹ có trẻ 7-23 tháng tuổi tại tỉnh Phú Thọ cho thấy tỷ lệ bà mẹ cho con bú sớm trong một giờ đầu là 49,6%, bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 27,8%, bú mẹ đến 1 tuổi là 60,6%, bú mẹ đến 2 tuổi
là 11,1% Tỷ lệ bà mẹ cho con ăn trước 6 tháng tuổi là 76,7%, việc thực hành
ăn bổ sung theo phương pháp đa dạng thực phẩm bổ sung dầu mỡ chỉ đạt 55%
- Từ kết quả đánh giá thực trạng, phân tích thống kê cho thấy một số yếu
tố liên quan đến tình trạng thấp còi đã được xác định trong nghiên cứu này là: Khẩu phần của trẻ không hợp lý, trẻ không ăn đủ số bữa tối thiểu; Trẻ không được tiếp tục cho bú đến 1 tuổi; Trẻ sinh nhẹ cân; khoảng cách sinh ngắn
(năm một); hộ gia đình nghèo; Trẻ bị thiếu máu; Trẻ bị tiêu chảy không được chăm sóc hợp lý
Trang 23
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Kiến thức, thực hành nuôi dưỡng trẻ từ 0 đến
24 tháng tuổi của các bà mẹ
- Phạm vi nghiên cứu: Kiến thức, thực hành nuôi dưỡng trẻ từ 0 đến 24
tháng tuổi của các bà mẹ đang nuôi con nhỏ tại xã Thanh Quang, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 0 đến 24 tháng tuổi tại xã Thanh Quang, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
- Kiến thức và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ đang nuôi con nhỏ tại xã Thanh Quang, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
- Kiến thức và thực hành cho trẻ từ 0 đến 24 tháng tuổi ăn bổ sung của các bà mẹ đang nuôi con nhỏ tại xã Thanh Quang, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
2.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Áp dụng để thu thập và nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp thu thập số liệu: Sử dụng số liệu thứ cấp
- Phương pháp phỏng vấn, điều tra
o Điều tra bằng bảng hỏi - phương pháp phỏng vấn viết - được thực hiện cùng một lúc với nhiều người theo một bảng hỏi in sẵn
o Phỏng vấn trực tiếp đối tượng khảo sát