Với ý nghĩa đó, NCS chọn vấn đề: "Quản lý nhà nước đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa ở Nghệ An" làm đề tài nghiên cứu luận án Tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị.. Nhiệm vụ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở NGHỆ AN
Chuyên ngành: Kinh tế Chính trị
Mã số: 62.31.01.02
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2017
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là một trong những nguồn lực đầu vào vô cùng quan trọng của nền sản xuất xã hội, tạo ra tăng trưởng và phát triển kinh tế Vì thế, quản lý nhà nước
(QLNN) đối với đất đai là vấn đề kinh tế - chính trị lớn, phức tạp và rất nhạy cảm đối
với mỗi quốc gia Việc phân bổ lại nguồn lực đất đai cho các mục đích sử dụng khác nhau, đặc biệt là bổ sung quĩ đất cho phát triển đô thị là tất yếu khách quan trong quá trình phát triển Tuy nhiên, quá trình này cũng đã làm cho quan hệ lợi ích gắn với đất đai do phân phối địa tô giữa nhà nước (NN) và người sử dụng đất (NSDĐ) (bao gồm
cả người đang có quyền sử dụng đất (SDĐ) bị thu hồi và nhà đầu tư (NĐT) có nhu cầu sử dụng đất thông qua hình thức cho thuê đất hay giao đất của NN) ngày càng trở nên phức tạp
Trong quá trình đô thị hóa (ĐTH), công tác quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn Nghệ An phát sinh nhiều hạn chế và vướng mắc Mâu thuẫn về lợi ích giữa chính quyền với người dân, giữa doanh nghiệp với người dân trong quá trình thu hồi đất (THĐ), giao đất, cho thuê đất, bồi thường giải phóng mặt bằng (GPMB) ngày càng gay gắt, đe dọa ổn định xã hội, làm xói mòn lòng tin của người dân với Đảng và NN Công tác quy hoạch, kế hoạch (QH, KH) sử dụng đất chưa làm tốt vai trò định hướng,
dự báo quá trình dịch chuyển đất đai, thường xuyên điều chỉnh QH chạy theo các lợi ích kinh tế, theo nhu cầu của NĐT vẫn còn phổ biến Trong quá trình chuyển đổi hình thái SDĐ, ở nhiều dự án giá trị của đất đem lại quá lớn, nên việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển đổi mục đích SDĐ, THĐ là cả một quy trình khép kín không mang tính công khai, thiếu dân chủ, dẫn tới nhiều vụ tham nhũng đất đai đã xảy ra trên địa bàn tỉnh
Từ những phân tích tình hình đất đai cả nước và cụ thể của tỉnh Nghệ An cho thấy, QLNN về đất đai phải được xem xét một cách toàn diện, đầy đủ ở các mặt kinh
tế, chính trị, xã hội Trong đó, phải bảo đảm hài hòa lợi ích của NN, NĐT và NSDĐ
Với ý nghĩa đó, NCS chọn vấn đề: "Quản lý nhà nước đối với đất đai trong quá
trình đô thị hóa ở Nghệ An" làm đề tài nghiên cứu luận án Tiến sĩ chuyên ngành
Kinh tế chính trị
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn về QLNN đối với đất đai trong quá trình ĐTH
Trang 3- Phân tích và đánh giá thực trạng QLNN đối với đất đai trong quá trình ĐTH ở tỉnh Nghệ An giai đoạn 2005 - 2015
- Đề xuất quan điểm định hướng và các giải pháp đồng bộ để tăng cường quản
lý của NN đối với đất đai trong quá trình ĐTH, đảm bảo lợi ích của NN, NĐT và lợi ích của NSDĐ, để đất đai thực sự là nguồn lực đầu vào quan trọng trong phát triển kinh tế, góp phần hoàn thành mục tiêu ĐTH, CNH tỉnh Nghệ An đến năm 2020
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án này có 4 nhiệm vụ nghiên cứu gồm:
Một là, góp phần làm rõ một số vấn đề về cơ sở lý luận: ĐTH và QLNN đối với đất đai trong quá trình ĐTH, cùng với yêu cầu đẩy mạnh hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN (làm rõ những nội dung, các vấn đề cần thực hiện để tạo ra
sự chuyển biến từ chính phủ chỉ đạo, điều hành, giám sát sang chính phủ kiến tạo, khởi nghiệp)
Hai là, xem xét nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và trong nước về QLNN đối với đất đai trong quá trình ĐTH
Ba là, đánh giá thực trạng QLNN đối với đất đai trong quá trình ĐTH ở Nghệ
An trong giai đoạn 2005 - 2015, làm rõ nguyên nhân của những thành tựu cũng như yếu kém, không hiệu quả
Bốn là, đề xuất các giải pháp đồng bộ nhằm tăng cường quản lý của nhà nước đối với đất đai trong quá trình ĐTH ở tỉnh Nghệ An
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án
QLNN về đất đai trong quá trình ĐTH (bao gồm cả đất đai dành cho CNH) ở Nghệ An, gắn với sự biến đổi hình thái tài sản đất và yêu cầu đẩy mạnh hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án
3.2.1 Phạm vi về nội dung
Luận án nghiên cứu nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN đối với đất đất đai, các tác động của QLNN đối với đất đai trong quá trình ĐTH nói chung Việt Nam, trong đó có tỉnh Nghệ An Luận án còn đề cập đến thực tiễn QLNN về đất đai một số nước trên thế giới và một số địa phương trong nước, góp phần làm rõ hơn thực trạng về QLNN đối với đất đai trong quá trình ĐTH ở Nghệ An Từ đó luận án nghiên cứu những giải pháp đặt ra trong việc tăng cường QLNN đối với đất đai trong quá trình ĐTH ở Nghệ An
3.2.2 Phạm vi về không gian: Luận án lấy phạm vi về không gian nghiên cứu
là địa bàn tỉnh Nghệ An
Trang 44 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu luận án chủ yếu là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của học thuyết Mác - Lênin; Đồng thời luận
án còn vận dụng các qui luật kinh tế và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng
và của Nhà nước làm cơ sở phân tích, đánh giá và xây dựng các giải pháp, kiến nghị
Từ đó, để giải quyết những nội dung nghiên cứu đã đặt ra, Luận án sử dụng phương pháp phân tích so sánh; phương pháp phân tích thống kê; phương pháp diễn giải và qui nạp; phương pháp thu thập số liệu, tư liệu, tài liệu
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án có 3 đóng góp mới về khoa học:
Một là, phân tích, làm rõ nội dung QLNN đối với đất đai trong quá trình ĐTH,
cùng với yêu cầu đẩy mạnh hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN theo tinh thần Nghị quyết TW VI khóa VIII đến Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng Vận dụng để xem xét đối với tỉnh Nghệ An từ 2005 đến nay
Hai là, đánh giá những kết qủa đạt được và những hạn chế về công tác QLNN
đối với đất đai trong quá trình ĐTH, trong bối cảnh đẩy mạnh hoàn thiện KTTT ở Nghệ An
Ba là, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường QLNN đối với đất đai trong
quá trình ĐTH, trong bối cảnh đẩy mạnh hoàn thiện KTTT ở Nghệ An
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Góp phần bổ sung, hoàn thiện luận cứ khoa học về đô thị hóa và quản lý nhà nước đối với đất đai trong quá trình ĐTH trên địa bàn cấp tỉnh ở Việt Nam, theo hướng xây dựng nền KTTT định hướng XHCN
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo bổ ích cho những người hoạt động trong lĩnh vực QLĐĐ, cho sinh viên, học viên cao học và những nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này Đồng thời, kết quả này cũng có thể chuyển giao
Trang 5áp dụng vào thực tiễn tăng cường QLNN đối với đất đai trong quá trình ĐTH ở Nghệ
An khi Luật Đất đai 2013 còn hiệu lực
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận án còn có 4 chương Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với đất đai
trong quá trình đô thị hóa Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với đất đai trong quá trình đô thị
hóa ở Nghệ An Chương 4: Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với đất đai trong quá
trình đô thị hóa ở Nghệ An
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới
- Về kinh nghiệm QLĐĐ: “Kinh nghiệm một số nước trong quản lý đất đai”, Phạm Việt Dũng (2012); “Kinh nghiệm quản lý đất đai của một số nước trên thế giới
và vấn đề đối với Việt Nam”, Nguyễn Trọng Tuấn (2010); “Các mô hình sở hữu đất đai trên thế giới”, Đỗ Sơn Tùng (2013)
- Vấn đề QLNN về đô thị, trong đó có quản lý đất đô thị trong quá trình
ĐTH:“Urbanization, Urban Environment and Land Use: Challenges and
Opportunitie” - đô thị hóa, môi trường đô thị và sử dụng đất: thách thức và cơ hội,
Masakazu Ichimura (2003); Về vấn đề tăng trưởng đô thị và quản lý đô thị hay vấn đề
về quyền THĐ có tác phẩm: “Lý luận về địa chính hiện đại”, Tôn Gia Huyên dịch và
chủ biên (2002)
- Về quyền lợi giữa NSDĐ bị THĐ với quyền lợi của NN trong các chính sách
về bồi thường, hỗ trợ khi THĐ GPMB: “Land valuation and compensation in
Australia, Australian Institute of Valuers and Land Economists” - Định giá đất và đền
bù thiệt hại về đất ở Oxtraylia (1993) của R.O Rost and H.G Collins; “Land
valuation taxation in Ireland: information implementation issues” (2010) của
Elaine Monaghan; “The materialization of protection of property rights through
just compensation - Experiences from Taiwan and California”, Tzu- Chin Lin,
Stephen D Roach (2008)
- Cuốn sách của “The Mystery of Capital - Sự bí ẩn của vốn” của tác giả
Hernando de Soto (2003) đã đề cập đến việc các nước chậm phát triển có thể giải quyết vấn đề nan giải trong phát triển là thiếu vốn thông qua việc giải quyết vấn đề
SH, cụ thể là biến nguồn tài nguyên, trong đó có đất đai, nhà cửa thành nguồn lực và
từ đó thành tài sản và vốn của nền nền kinh tế
- Về vấn đề tăng trưởng đô thị và quản lý đô thị hay vấn đề về quyền THĐ:
“Lý luận về địa chính hiện đại” (2002), do Tôn Gia Huyên dịch và chủ biên
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.2.1 Các nghiên cứu về chính sách, pháp luật đất đai
- Đề tài “Nghiên cứu đặc điểm và tính kế thừa của hệ thống chính sách, pháp
luật đất đai từ năm 1945 đến nay nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai ở Việt Nam”, Nguyễn Thị Song Hiền (2011)
Trang 7- Nghiên cứu “Đổi mới chính sách đất đai ở Việt Nam - Từ lí thuyết đến thực
tiễn”, Nguyễn Văn Sửu (2010)
1.1.2.2 Các nghiên cứu về quan hệ sở hữu đất đai
- Đề tài: “Lý luận địa tô và vận dụng để giải quyết một số vấn đề về đất đai ở
Việt Nam”, Hà Quý Tình (2005); Đề tài“Nghiên cứu cơ sở lý luận và qui định về quyền sở hữu, quyền sử dụng đất đai của một số quốc gia trên thế giới, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Trần Tú Cường (2012) Các bài viết “Nghiên cứu về quyền sở hữu đất đai ở Việt Nam” (2013); “Sở hữu đất đai trong quá trình đổi mới ở Việt Nam: Lịch sử, hiện trạng và giải pháp” (2012); “Về sở hữu, sử dụng và sai phạm trong quản lý đất đai ở Việt Nam từ khi đổi mới” (2007) của các tác giả
Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Văn Sửu;
- Hội thảo khoa học - thực tiễn “Những vấn đề về sở hữu, quản lý và sử dụng
đất đai trong giai đoạn hiện nay” (tháng 4/2013) do Tạp chí Cộng sản và Học viện
Chính trị - Hành chính khu vực IV thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức tại thành phố Cần Thơ
1.1.2.3 Các nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với đất đai với tư cách là nguồn lực phát triển đang trong quá trình chuyển đổi hình thái tài sản
- Đề tài "Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất các giải pháp
tăng cường vốn hóa đất đai ở Việt Nam", Mai Hạnh Nguyên (2011)
- Ngoài ra, trên góc độ quản lý về giá đất có nghiên cứu “Sứ mệnh lịch sử của
luật đất đai sửa đổi”, Vũ Xuân Tiền (2012) Đề tài "Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đấu giá quyền sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa", Phùng Ngọc Phương (2011); Đề tài“Nghiên cứu một số nguyên nhân cơ bản làm biến động giá đất đô thị trên thị trường và đề xuất phương pháp xác định giá đất
đô thị phù hợp với nước ta”, Bùi Ngọc Tuân
1.1.2.4 Các nghiên cứu về xung đột quyền và lợi ích giữa nhà nước và các chủ thể dụng đất
- Đề tài “Vấn đề đất đai và sở hữu đất đai trong phát triển ở Việt Nam giai
đoạn 2011- 2020”, Vũ Tuấn Anh (2012): trong phần đánh giá tác động của thể chế
SH và thực trạng QLĐĐ trong gần mười năm gần đây đã chỉ rõ “xử lý không tốt mâu thuẫn lợi ích giữa CNH, ĐTH và lợi ích của nông dân dẫn đến làm mất lòng tin của nhân dân đối với đường lối của Đảng và NN”
- Đề tài “Nghiên cứu đánh giá thực trạng sử dụng đất đầu tư xây dựng kết cấu
hạ tầng để chuyển nhượng, cho thuê của các tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ quỹ đất do Nhà nước thu hồi - Đề xuất các giải pháp đảm bảo hài hòa
lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi" (2010), của Viện
Trang 8Nghiên cứu Quản lý đất đã nghiên cứu những mâu thuẫn trong quá trình chuyển đổi hình thái SDĐ, đề xuất các giải pháp giải quyết việc phân chia lợi nhuận từ việc chuyển nhượng, cho thuê quyền SDĐ sau khi chuyển mục đích sử dụng nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích của NN, NĐT và người có đất bị thu hồi
- Về tranh chấp, mâu thuẫn trong quản lý và SDĐ cũng được phản ánh trong
“Cơ chế nhà nước thu hồi đất và chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam - Phương
pháp tiếp cận, định giá đất và giải quyết khiếu nại của dân” (2011) là kết quả nghiên
cứu trong nhiều năm của WB ở Việt Nam với chủ đề “Xã hội và các xung đột đất đai“
- Về công khai thông tin trong lĩnh vực đất đai là một trong những yếu tố quan
trọng để giảm tham nhũng trong lĩnh vực này có nghiên cứu“Báo cáo khảo sát tình
hình hình công khai thông tin trong quản lý đất đai” (2010) và “Công khai thông tin quản lý đất đai ở Việt Nam - Báo cáo tổng hợp” (2014) của Trung tâm Nghiên cứu
Chính sách và Phát triển (DePoCen)
- Về tham nhũng trong lĩnh vực QLĐĐ có nghiên cứu “Nhận diện và giảm
thiểu các rủi ro dẫn đến tham nhũng trong quản lý đất đai ở Việt Nam”(2011) do Đại
sứ quán Đan Mạch, Ngân hàng thế giới tại Việt Nam và Đại sứ quán Thủy Điển phối hợp thực hiện
1.1.2.5 Các nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa
- Đề tài “Nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc
quản lý và sử dụng đất”, Đào Thị Thanh Lam (2013); Luận án tiến sĩ “Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa ở thành phố
Hà Nội” (2008) của tác giả Trần Tú Cường
- Đề tài“Môi trường đầu tư bất động sản ở Việt Nam - Cơ sở lý luận, thực
trạng và giải pháp”, Trần Kim Chung (2006); Đề tài“Nghiên cứu mối quan hệ giữa nội dung hoạt động của tổ chức phát triển quỹ đất với thị trường bất động sản nhằm thúc đẩy nguồn lực đất đai - bất động sản", Nguyễn Thị Ngọc Lanh (2010)
- Vấn đề QLNN về đô thị: chuyên đề “Chính sách thu hút đầu tư vào thị
trường bất động sản Việt Nam”, Trần Kim Chung (2008); bài viết “Quản lý sử dụng
đất đô thị - Những vấn đề đặt ra” , Nguyễn Xuân Thu (2006); bài viết “Về quản lý
đất đô thị trong giai đoạn đô thị hóa hiện nay”, Phạm Thị Ánh Nguyệt (2011)
1.1.2.6 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án ở Nghệ An
- Hội thảo khoa học “Quá trình đô thị hóa ở Nghệ An: những vấn đề thực tiến
và giải pháp phát triển” do UBND tỉnh Nghệ An tổ chức (4/2016); Đề tài nghiên cứu
khoa học cấp tỉnh“Khai thác có hiệu quả quỹ đất đầu tư cho cơ sở hạ tầng và chỉnh
trang đô thị trên địa bàn tỉnh Nghệ An”, Thái Minh Tuấn (2014); Luận án tiến sĩ của
Trang 9Thái Văn Nông với đề tài “Nghiên cứu hiện đại hóa hệ thống địa chính trong quản lý
đất đai thành phố Vinh, tỉnh Nghê An” (2015)
1.2 Những kết quả nghiên cứu đạt đƣợc và vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
1.2.1 Những kết quả nghiên cứu đạt được
Các công trình nghiên cứu luận án đã tổng quan ở trên đã góp phần hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về chế độ SHTD đối với đất đai, về công tác quản lý và SDĐ trong thời kỳ quá độ lên CNXH của nước ta Góp phần cung cấp những luận chứng khoa học cũng như thực tiễn cho việc đổi mới chính sách, pháp luật đất đai Các nghiên cứu đã phân tích một cách đầy đủ các nội dung về QLNN đối với đất đai, như: các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó; Quản lý QH, KH SDĐ; Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, THĐ, chuyển mục đích SDĐ; Quản lý tài chính về đất đai; Quản lý và phát triển thị trường quyền SDĐ trong thị trường BĐS
Về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng của QLNN đối với đất đai cũng có rất nhiều nghiên cứu sâu Các nghiên cứu đã đánh giá về hệ thống chính sách đất đai, chỉ ra những lỗ hổng về cơ chế chính sách và sự buông lỏng trong quản lý của NN trong việc QLĐĐ thời gian qua Tuy nhiên các nghiên cứu vẫn còn mang tính chất chung chung, chưa đi sâu phân tích khi áp dụng cụ thể đối với từng địa phương, nhất là đất đai với tư cách là nguồn lực phát triển đang trong quá trình chuyển đổi hình thái tài sản ở một địa bàn cấp tỉnh
Về nội dung nâng cao năng lực QLNN đối với đất đai thông qua xây dựng và phát triển hệ thống QLĐĐ ở địa phương cũng được các nhà khoa học nghiên cứu một cách chi tiết Tuy nhiên, các nghiên cứu vẫn thiếu cơ sở lý luận để so sánh, đánh giá giữa nội hàm của QLNN đối với đất đai theo mô hình kinh tế chuyển đổi với QLNN
về đất đai theo mô hình KTTT, từ đó thiếu cơ sở để đánh giá về ý thức chấp hành luật của các đối tượng chủ thể tham gia vào quan hệ đất đai, trong đó các chủ thể thuộc bộ máy quản lý các cấp và chủ thể SDĐ - một nhân tố quan trọng tác động đến liệu lực QLNN về đất đai trong quá trình ĐTH
1.2.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Chưa có một nghiên cứu sâu nào về QLNN đối với đất đai trong quá trình ĐTH ở Nghệ An kể từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực, với những điểm mới quan trọng: đất đai với tư cách là nguồn lực phát triển đang trong quá trình chuyển đổi, thay đổi
“hình thái tài sản” trong quá trình ĐTH với những xung đột về quyền và lợi ích trong quản lý và SDĐ; cùng với yêu cầu đẩy mạnh hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN theo tinh thần Nghị quyết Trung ương VI khóa VIII đến Nghị quyết Đại hội lần
Trang 10thứ XII của Đảng Đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH trong thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, thể hiện được ý chí, nguyện vọng của đại đa số nhân dân trong Tỉnh
1.3 Khung phân tích của luận án
1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu:
Luận án sẽ trả lời các câu hỏi sau:
(1) Bản chất của vấn đề QLNN về đất đai trong quá trình ĐTH, cùng với yêu cầu đẩy mạnh hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam?
(2) Thực trạng QLNN đối với đất đai trong quá trình ĐTH ở Nghệ An hiện nay? (3) Giải pháp tăng cường QLNN đối với đất đai trong quá trình ĐTH ở Nghệ An?
1.3.2 Giả thuyết nghiên cứu
Luận án dựa trên giả thuyết sau: Quản lý đất đai trong quá trình ĐTH trên địa bàn tỉnh Nghệ An hiện nay còn rất nhiều bất cập, hạn chế thậm chí sai phạm, chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển, chưa phù hợp với các chuẩn mực, nguyên tắc của KTTT phải chăng là do công tác quản lý của NN?
1.3.3 Khung phân tích
Thực tiễn (kinh nghiệm)
về QLNN đối với đất đai trong quá trình ĐTH
- Khái niệm, đặc điểm, công cụ, phương pháp QLNN đối với đất đai
- ĐTH và tác động của ĐTH tới quá trình chuyển đổi hình thái SDĐ
- Khái niệm, bản chất, sự cần thiết và nội dung QLNN đối với đất
đai trong quá trình ĐTH (gắn với yêu cầu hoàn thiện thể chế
Lý luận và thực tiễn về QLNN đối với đất đai trong quá trình ĐTH
(gắn với sự biến đổi hình thái tài sản đất và yêu cầu đẩy mạnh hoàn thiện thể chế KTTT
định hướng XHCN)
Pháp luật
về đất đai
và các chính sách liên quan ở Nghệ An
Tổ chức thực hiện QLNN về đất đai trong quá trình ĐTH ở Nghệ An
Công tác kiểm tra, thanh tra giám sát, chế tài của QLĐĐ trong quá trình ĐTH ở Nghệ An
ở Nghệ An Thực trạng QLNN đối với đất đai trong quá
trình ĐTH ở Nghệ An
Trang 11Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với đất đai
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước đối với đất đai
2.1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với đất đai
QLNN đối với đất đai là hoạt động có ý thức, có tổ chức của NN lên đối tượng SDĐ nhằm hướng tới mục tiêu đảm bảo sự quản lý thống nhất của NN trên cơ sở chế
độ SHTD về đất đai, tham gia vào vận hành thị trường đất đai, đảm bảo quỹ đất được
khai thác, sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý, hiệu quả và bền vững
2.1.1.2 Đặc điểm quản lý nhà nước đối với đất đai
2.1.2 Nội dung quản lý nhà nước về đất đai
So với trước đây, Luật Đất đai 2013 bổ sung thêm hai nội dung đối với QLNN
về đất đai Tuy nhiên, nội dung QLNN về đất đai vẫn mang nặng tính hành chính, quyền lực, NN vẫn giành quyền kiểm soát chặt chẽ đất đai (NN làm tất cả, định đoạt tuyệt đối), quyền của NSDĐ chỉ mang tính hình thức và rất dễ dàng bị NN vô hiệu hóa bằng quyết định THĐ Quyền của các chủ thể SDĐ trên thực tế chỉ là hư quyền, thị trường đất đai lúc nóng, lúc lạnh chịu sự chi phối của nhóm lợi ích
2.1.3 Công cụ quản lý nhà nước về đất đai
2.1.4.2 Phương pháp kinh tế
Mặt mạnh của phương pháp kinh tế là ở chỗ nó tác động vào lợi ích của NSDĐ Trong nền KTTT, sự chênh lệch về địa tô do sự thay đổi mục đích SDĐ từ đất nông nghiệp sang đất đô thị ngày càng cao Do vậy, trong THĐ, bồi thường, GPMB phải đảm bảo hài hòa giữa lợi ích của NN, lợi ích của người bị THĐ và lợi ích của NĐT Để thực hiện được yêu cầu này NN cần đảm bảo nguyên tắc mỗi chủ thể
Trang 12đều được hưởng lợi ích từ phần địa tô chênh lệch phát sinh đó, thông qua việc điều tiết thu về địa tô chênh lệch
2.1.4.3 Phương pháp tuyên truyền, giáo dục
2.2 Quản lý nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa
2.2.1 Đô thị hóa và tác động của đô thị hóa tới quá trình chuyển đổi hình thái sử dụng đất
2.2.1.1 Tính tất yếu khách quan của quá trình đô thị hóa
Quá trình ĐTH là tất yếu không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với các quốc gia trên thế giới Nền kinh tế càng phát triển thì ĐTH diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh hơn Quá trình ĐTH đã góp phần thúc đẩy KT-XH phát triển, hoàn thiện kết cấu hạ tầng và nâng cao đời sống của người dân Đối với Việt Nam, ĐTH gắn liền với quá trình CNH, HĐH đất nước
2.2.1.2 Tác động của đô thị hóa tới quá trình chuyển đổi hình thái sử dụng đất Thứ nhất, quá trình ĐTH dẫn đến thay đổi về hình thái SDĐ theo hướng giảm
mạnh về diện tích đất nông nghiệp, đất chưa sử dụng và đồng thời tăng nhanh về diện tích đất chuyên dùng, đất đô thị
Thứ hai ĐTH là nhân tố tác động làm tăng giá cả của quyền SDĐ, và vì vậy nó
tác động đến cơ chế thực hiện lợi ích của các thành viên trong xã hội đối với đất đai
Thứ ba, quá trình chuyển đổi, thay đổi hình thái SDĐ dưới tác động của ĐTH
đã làm tăng sự chênh lệch về địa tô ngày càng cao Tuy nhiên, cả chủ SH đất đai về hình thức là NN và chủ SH thực tế là nông dân đã không được hưởng lợi ích từ địa tô chênh lệch khi chuyển đổi mục đích sử dụng Phần địa tô tăng thêm từ đất đai do quá trình chuyển đổi hình thái SDĐ rơi vào túi một bộ phận nhỏ dân cư trong xã hội
2.2.2 Khái niệm, bản chất và sự cần thiết quản lý nhà nước đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa
2.2.2.1 Khái niệm và bản chất quản lý nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa
QLNN về đất đai trong quá trình ĐTH là QLNN đối với đất đai trong quá trình chuyển đổi hình thái, mục đích SDĐ dưới tác động của CNH, ĐTH, nhằm phân bổ tài nguyên đất đai theo QH, KH SDĐ đồng thời đảm bảo hài hòa lợi ích giữa NN, doanh nghiệp SDĐ và người dân bị THĐ; đảm bảo hài hòa giữa các mục tiêu KT - XH và môi trường trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
2.2.2.2 Sự cần thiết phải tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với đất đai trong quá trình ĐTH
* Việc thực hiện quyền lợi về kinh tế của chủ thể SH đất đai trong quá trình ĐTH đòi hỏi phải tăng cường vai trò quản lý của NN
Trang 13* ĐTH làm chuyển dịch cơ cấu sử dụng các loại đất, tạo ra sự phân bố lại lao động và dân cư làm phát sinh những thách thức mới về cung - cầu đất đai
* Tình trạng SDĐ mất cân đối, sai mục đích trong quá trình chuyển đổi hình thái SDĐ đòi hỏi phải tăng cường vai trò quản lý của NN đối với đất đai
* Tình trạng lãng phí trong SDĐ trong quá trình ĐTH đòi hỏi phải tăng cường vai trò quản lý của NN đối với đất đai
* Lợi ích của người dân sau khi bị THĐ chưa được quan tâm đúng mức, gây
khó khăn trong ổn định cuộc sống đòi hỏi phải tăng cường vai trò QLNN
2.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa
2.2.3.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật và các chính sách về đất đai
Về chế độ SH, từ Hiến pháp năm 1980 cho tới Hiến pháp năm 2013 ở Việt Nam, chế độ SHTD về đất đai vẫn được xác lập, nhưng nội dung về quyền đã có những thay đổi thực sự đáng kể Sự thay đổi này có xuất phát từ nhu cầu của KTTT Từng bước, hệ thống pháp luật đã thu hẹp quyền định đoạt của NN và mở rộng quyền định đoạt của hộ gia đình, cá nhân và tổ chức kinh tế Tuy nhiên, hệ thống pháp luật
về đất đai hiện nay còn nặng về tính chất hành chính, chưa tiếp cận kịp thời những biến động có tính chất thị trường, chưa theo kịp với quá trình CNH, ĐTH với nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh trong quá trình chuyển đổi hình thái SDĐ, đặt NN phải đối mặt trước nhiều vấn đề bất cập trong quản lý Vì vậy, công tác xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách pháp luật đất đai theo hướng hoàn thiện thể chế KTTT là rất cần thiết và cấp bách
2.2.3.2 Tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về đất đai
- Một là, công tác kỹ thuật và nghiệp vụ địa chính
- Hai là, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
+ Điểm quan trọng nhất trong xây dựng và thực hiện QH, KH SDĐ là dự báo
chính xác quá trình chuyển dịch đất đai, làm cơ sở cho việc tạo quỹ đất để thực hiện các dự án đầu tư trong quá trình CNH, ĐTH Quá trình này bắt buộc phải diễn ra, nhưng luôn là nguồn gốc của các bất đồng thuận xã hội khi không bảo đảm được nguyên tắc chia sẽ lợi ích hợp lý
+ QH SDĐ không chỉ mang ý nghĩa điều tiết về sử dụng quỹ đất, mà còn mang đặc trưng của bài toán kinh tế về giá trị của đất
+ Về chính trị - xã hội thì QH SDĐ là phương cách đảm bảo cân bằng nhu cầu đất đai cho các nhóm lợi ích, cân bằng giữa nhu cầu sản xuất và đời sống của các cộng đồng dân cư, thoả mãn nhu cầu đa dạng đối với đất đai của toàn xã hội
- Ba là, quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi và chuyển mục đích SDĐ
Trang 14- Bốn là, công tác bồi thường GPMB, hỗ trợ, TĐC khi nhà nước THĐ
- Năm là, công tác quản lý tài chính về đất đai
2.2.3.3 Công tác kiểm tra, thanh tra giám sát, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về đất đai
2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa
2.2.4.1 Điều kiện tự nhiên
2.3.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
2.3.1.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
2.3.2 Kinh nghiệm một số địa phương trong nước
2.3.2.1 Kinh nghiệm của Thành phố Hồ Chí Minh
2.3.2.3 Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Ninh
2.3.3 Bài học kinh nghiệm
2.3.3.1 Bài học về hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật về đất đai
2.3.3.2 Bài học về cải cách công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 2.3.3.3 Bài học về nâng cao chất lượng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
2.3.3.4 Bài học về đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra trong quản lý đất đai