Việt Nam là một dân tộc có nền văn hiến lâu đời, có truyền thống hiếu học từ xa xưa. Truyền thống đó được nối tiếp từ đời này sang đời khác. Để trở thành hiền tài, mỗi cá nhân đã không ngừng học tập và rèn luyện. Lịch sử đã vạch ra một con đường chung cho mọi kẻ sĩ Việt Nam thời xưa, đó là con đường học giỏi để đỗ đạt, được bổ dụng làm quan, đem tài năng ra phò vua, giúp nước, làm tròn trách nhiệm của kẻ sĩ theo đạo thánh hiền.
Trang 146 VỊ TRẠNG NGUYÊN VIỆT NAM
Việt Nam là một dân tộc có nền văn hiến lâu đời, có truyền thống hiếu học từ xa xưa
Truyền thống đó được nối tiếp từ đời này sang đời khác Để trở thành hiền tài, mỗi cá nhân đã không ngừng học tập và rèn luyện Lịch sử đã vạch ra một con đường chung cho mọi kẻ sĩ Việt Nam thời xưa, đó là con đường học giỏi để đỗ đạt, được bổ dụng làm quan, đem tài năng ra phò vua, giúp nước, làm tròn trách nhiệm của kẻ sĩ theo đạo thánh hiền
Trải qua thăng trầm của các thời đại, các Trạng nguyên Đại Việt liên tục xuất hiện, tạo dựng nên một nền học vấn Đại Việt huy hoàng Mặc dù nền khoa bảng hoàn toàn dựa vào kinh sách của Nho gia nhưng ở mỗi vị Trạng nguyên, ý chí độc lập về tinh thần, về tri thức luôn thức tỉnh mạnh mẽ
Tuy xuất thân từ những hoàn cảnh, thời đại khác nhau nhưng ở họ đều có một điểm chung vượt lên trên nghèo khó là sự ham học hỏi Họ là những người hiền tài, muốn đem hết tài năng và đức hạnh của mình phục vụ cho Tổ quốc Cũng nhờ
đó, họ đã để lại cho nước nhà một nền học vấn uyên thâm, đã và đang được các thế hệ sau tiếp nối và phát triển.
"46 vị Trạng nguyên Việt Nam" là những cậu học trò nghèo nỗ lực học hành
trở thành Trạng nguyên như Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư, Trạng nguyên Nguyễn Trực ; Chuyện về Trạng nguyên Nguyễn Hiền tiêu biểu cho những người trẻ tuổi trong lịch sử Việt Nam có tài cao, danh vọng lớn đỗ trạng ở tuổi 13; chuyện về thiên tài toán học Lương Thế Vinh với Khải minh toán học và Đại thành toán pháp; Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi với những giai thoại về tài ứng đối ngoại giao; Trạng nguyên Trần Tất Văn viết văn đuổi được giặc; Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm với những giai thoại sấm Trạng Trình Và trên hết là mong muốn gửi gắm cùng bạn đọc một thông điệp: Tinh thần hiếu học được thắp lên từ tinh thần dân tộc của người Việt từ ngàn xưa.
Trang 2Phần 1
VÀI NÉT VỀ THI CỬ THỜI PHONG KIẾN
Ngày xưa, qua con đường thi cử, nhà vua chọn những người tài đức để phòvua giúp nước Sĩ tử lúc mới đầu là con cái nhà quý tộc, sau đó đến thứ dân, ai aicũng có quyền ứng thí Người đi học ai cũng mong có ngày đỗ đạt, để có cơ hộigóp phần vào việc chung của đất nước Cũng có những người thi đậu nhưng không
ra làm quan Có những người sau thời gian tham gia vào quan trường, tỏ ra ngaongán lui về quê nhà làm nghề dạy học hoặc bốc thuốc chữa bệnh cho dân
Thời Bắc thuộc, các trường học bấy giờ chủ yếu dành cho con cháu quan lạiphương Bắc sang cai trị và con cháu một số quan lại quyền quý người Việt Đếnthời kỳ nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê (939 - 1009) gọi là tự chủ nhưng không lúc nàođược yên trước áp lực của phong kiến phương Bắc, nên nhà vua chưa có điều kiện
tổ chức thi cử chọn người ra giúp nước
Thời kỳ đầu nhà Lý, vua Lý Thái Tổ (1010-1028), đạo Phật lúc đó được coi quốcđạo nên việc học chỉ tổ chức trong phạm vi nhà chùa, thời kỳ này chưa tổ chức thi cửtuyển chọn nhân tài Tới thời vua Lý Thánh Tông (1054-1072), việc học được mởrộng ra toàn xã hội và Nho giáo cũng được xem trọng
Thi cử được bắt đầu từ năm 1075 khi vua Lý Nhân Tông (1072-1128) cho mởkhoa thi Nho học đầu tiên gọi là khoa Tam trường để tuyển chọn những người họcrộng, thông hiểu kinh sử Vì vậy khoa thi này còn được gọi là khoa thi Minh kinhbác học Người đậu năm này là Lê Văn Thịnh Năm 1076, nhà vua cho lập TrườngQuốc Tử Giám để dạy cho con cái của nhà vua, hoàng thân, quốc thích và quan lại
Có thể coi đây là trường đại học đầu tiên của nước ta Sau đó triều đình mở nămkhoa thi nữa vào các năm 1086, 1152, 1165, 1185, 1195
Vương triều Lý được coi là triều đại đã đặt nền móng cho việc học, thi cử ởnước ta
Tới thời nhà Trần (1225-1400), việc học hành được mở mang và tổ chức thi cửcũng hoàn chỉnh hơn, được xem như kiểu mẫu cho các đời sau Thời Trần TháiTông (1225-1258), năm 1253, Quốc Tử Giám được tu sửa lại, được gọi là viện Quốchọc, dành cho con em quý tộc, quan lại và sau mở rộng cho nho sĩ vào nghe giảng
Tứ thư, Ngũ kinh
Trang 3Năm 1246, Trần Thái Tông cho mở Khoa thi Thái học sinh lấy đậu theo Tam giáp
(Nhất giáp, Nhị giáp, Tam giáp) Năm 1247, nhà vua cho đặt lại thứ bậc trong Tam
giáp: bậc Nhất giáp có Tam khôi: (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa).
Trạng nguyên là học vị cao quý nhất phong cho người đỗ đầu trong Tam khôibậc Nhất giáp Có hai học vị Trạng nguyên: Để khuyến khích việc học ở nhữngvùng xa kinh đô, nơi có nhiều khó khăn, trong khoa thi năm Bính Thìn (1256), vuaTrần Thái Tông cho lấy Kinh Trạng nguyên và Trại Trạng nguyên Kinh Trạngnguyên là học vị phong cho những người ở kinh đô và khu vực phía Bắc đỗ đầutrong kỳ thi Đình Trại Trạng nguyên là học vị cho người ở các vùng từ Thanh Hoátrở vào Nam đỗ đầu trong kỳ thi Đình Đến khoa thi năm Bính Dần (1266), đờiTrần Thánh Tông cũng lấy đỗ Kinh Trạng nguyên và Trại Trạng nguyên
Để đạt được học vị Trạng nguyên, người đi học phải qua ba kỳ thi lớn (không
kể những cuộc sát hạch) gồm có: thi Hương, thi Hội và thi Đình
1 Thi Hương là kỳ thi ở các trấn, các tỉnh Không phải tỉnh nào cũng được tổchức thi Hương Người ta chia ra làm nhiều vùng, gọi là các trường Ba bốn (hoặcnhiều hơn) trấn hoặc tỉnh cùng thi ở một nơi, thí dụ Trường Nam là tập trung thísinh ở các tỉnh chung quanh Nam Định, Trường Hà là tập trung thí sinh ở các tỉnhchung quanh Hà Nội v.v Tùy theo quy định của các triều đại, các trường thi gồmcác kỳ: đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ Đỗ được tất cả các kỳ thi là đỗ thi Hương.Những người đỗ thi Hương đạt học vị Cử nhân và Tú tài (xưa gọi là Hươngcống, Sinh đồ) Những người đỗ Cử nhân sẽ được bổ dụng ra làm quan, đầu tiên cóthể được làm việc ở các cơ quan cấp tỉnh, cấp trung ương hoặc được đi làm quancác huyện, sau dần dần mới lên các chức vụ cao hơn Những người đỗ Tú tài thìchưa được sử dụng đến, do đó mà có nhiều người loay hoay thi cử nhiều lần để cốđạt cho được học vị Cử nhân Lần thứ nhất đỗ gọi là ông Tú, lần thứ hai vẫn đỗ Tútài thì gọi là ông Kép, lần thứ ba vẫn thế thì gọi là ông Mền (có nơi gọi ngược lại)v.v cũng vẫn chưa được nhận chức vụ gì cả (trừ một vài trường hợp được tiến cửhay được nhà vua biết đến, nhưng cũng chỉ tuyển dụng vào các cơ quan chuyênmôn chứ không vào chính ngạch quan cai trị )
2 Thi Hội là kỳ thi ở cấp nhà nước Số lượng thi Hội cũng rất đông, tất cảnhững người đã đỗ Cử nhân đều được dự thi Có người đã ra làm quan cũng đượcthi để giành học vị cao và được bổ dụng cao hơn Những người đỗ thi Hội đều vàothi một kỳ thi cuối cùng rồi mới chính thức nhận học vị Kỳ thi ấy gọi là thi Đình
3 Thi Đình có nghĩa là thi ở sân đình nhà vua Nơi thi là một cái nghè lớn, nênsau này người ta thường gọi các vị vào thi là các ông nghè Nhà vua trực tiếp rađầu đề, và sau khi hội đồng giám khảo hoàn thành việc chấm bài, cân nhắc điểm
số, chính nhà vua tự tay phê lấy đỗ Có ba loại học vị trong kết quả thi Đình, đượcxếp vào ba cái bảng gọi là giáp (chữ khoa giáp hay khoa bảng từ đây mà ra)
a Đệ nhất giáp: Những người giỏi nhất được ghi tên vào bảng này, gọi là cácông Tiến sĩ cập đệ Bảng này chỉ lấy có ba người đệ nhất giáp: đệ nhất danh, đệ nhị
Trang 4danh và đệ tam danh Người đứng đầu là Trạng nguyên, người thứ hai là Bảngnhãn, thứ ba là Thám hoa Tên gọi ông Trạng, ông Bảng, ông Thám là từ đây màcó.
Đỗ Trạng nguyên là một vinh dự rất lớn Các ông nghè, từ đời nhà Lê đã đượctôn vinh Có những lễ xướng danh, lễ vinh quy (vua ban cờ biển cho rước về huyệnlàng) và được ghi tên vào bia đá đặt ở Văn Miếu Đỗ Tiến sĩ, được bổ dụng làmquan, tối thiểu cũng làm quan tri phủ Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám Hoa thì ở
ở triều Nguyễn, còn có thêm học vị Phó bảng để ghi tên những người mà học lựcxứng đáng là Tiến sĩ, nhưng vì có một thiếu sót nào đó nên không được ghi tên vàobảng chính, mà chỉ ở bảng thứ Tuy vậy, đây vẫn là những người đã đỗ đại khoa,cũng vào hàng ngũ các ông nghè
ở những kỳ thi Đình, có những năm Nhà nước không lấy Trạng nguyên Đó làvào những trường hợp, khi chấm bài, người ta thấy những người đi thi không đạtđược điểm số nhất định Không đạt điểm để có học vị Trạng nguyên, nhưng điểm
số vẫn cao hơn tất cả những người thi Đình, nên vẫn là đỗ đầu, gọi là Đình nguyên.Người đỗ đầu các kỳ thi Hội (đỗ đầu trong các Cử nhân) gọi là Hội nguyên Do đó,
có người là Bảng nhãn, Thám hoa hay Tiến sĩ mà số điểm cao nhất trong kỳ thiĐình, thì được gọi là Đình nguyên Bảng nhãn, Đình nguyên Thám Hoa, Đìnhnguyên Hoàng giáp, Đình nguyên Tiến sĩ Họ không phải là Trạng nguyên, nhưngvẫn có vinh dự là người đỗ đầu, là bậc nhất trong tất cả các ông nghè ở kỳ thi đó.Vinh dự của họ cũng lớn và thật ra họ cũng đáng là Trạng nguyên trong kỳ thikhông có Trạng Những người như Lê Quý Đôn (Đình nguyên Bảng nhãn) hay một
số vị Đình nguyên dưới triều Nguyễn (triều này không lấy trạng mà chỉ lấy Bảngnhãn, Thám hoa) thực chất cũng xứng đáng là Trạng nguyên
Trong số những người đỗ đầu, có người có học lực rất xuất sắc ở các kỳ đều đỗđầu (thi Hương, thi Hội, thi Đình) Nếu đỗ đầu hai kỳ thi gọi là Song nguyên, đỗđầu ba kỳ thi gọi là Tam nguyên Chẳng hạn như ông Vũ Dương (1493), ôngNguyễn Khuyến (Hoàng giáp, 1871) đều được gọi là Tam nguyên
Năm 1261, thời Trần Thánh Tông (1258-1278), nhà vua cho mở khoa thi Thái y
để tuyển người tinh thông Y học
Trang 5Năm 1305, thời Trần Anh Tông (1293-1314), nhà vua tổ chức thi Thái học sinh,
nhưng theo thể lệ mới: Thí sinh phải qua bốn trường, mỗi trường thi một số môn:
- Trường nhất: thi ám tả
- Trường hai: thi kinh nghĩa, thơ, phú
- Trường ba: thi chiếu, chế, biểu
- Trường tư: thi văn sách
Thí sinh đỗ Nhất giáp, theo thứ tự Tam khôi như cũ, nhưng Nhị giáp gọi là
Hoàng giáp, Tam giáp gọi là Thái học sinh.
Thời Trần Duệ Tông (1372-1377), khoa thi Thái học sinh năm 1374, ai đỗ Tháihọc sinh thì gọi là Tiến sĩ, sau đó tổ chức thi ở điện đình để lấy đậu Trạng nguyên,Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, Tiến sĩ
Nhà vua còn quy định lại, thi Hương qua bốn trường, nhưng trường thứ nhất bỏ
ám tả thay bằng hai bài kinh nghĩa; trường thứ hai thi chiếu, chế, biểu; trường thứ
ba thi thơ phú; trường thứ tư thi văn sách Ai đỗ cả bốn trường mới được gọi là Cử
nhân.
Năm 1396, vua Trần Thuận Tông (1388-1398) định việc thi cử Năm trước thiHương, năm sau thi Hội Ai đậu thi Hội, vua mới ra văn sách thi Đình để định thứbậc
Bắt đầu từ năm 1396 (quy định thi Hương do các đạo (vùng) tổ chức; thi Hội,thi Đình do triều đình tổ chức, ai đỗ thi Hội mới được vào thi Đình để xếp loại đỗ.Trường thi Hương thường là một bãi rộng, có rào xung quanh để ngăn cách vớibên ngoài, thí sinh phải mang lều chõng để tự lo lấy chỗ viết bài cho mình
Dự thi Hội, thi Đình, thí sinh tới kinh đô và không phải lo chuyện dựng lều, kêchõng
Hai kỳ thi Hội, thi Đình thường tổ chức liền nhau
Đến triều Hồ (1400-1407), tháng 8 năm 1400, Hồ Quý Ly tổ chức kỳ thi Tháihọc sinh chọn được 20 người, Nguyễn Trãi đỗ Đệ nhị giáp khoa thi này Năm GiápThân (1404), Hồ Hán Thương định lại phép thi Cử nhân: ngoài bốn trường thi nhưtriều Trần, triều Hồ còn tổ chức một kỳ thi viết chữ Hán và môn Toán pháp, tổngcộng thành ra năm kỳ thi
Cứ 3 năm mở một khoa: tháng 8 năm nay thi Hương, người nào trúng tuyển ược miễn lao dịch; đến tháng 8 năm sau dự thi ở bộ Lễ, người nào trúng tuyển mớiđược lựa chọn bổ dụng; lại tháng 8 năm sau nữa thi Hội, người nào trúng tuyển
đ-được gọi là Thái học sinh (tức Tiến sĩ).
Triều Hồ tuy ngắn ngủi, nhưng đã chấn chỉnh lại chế độ thi cử và đưa vào
kỷ XV môn Toán pháp, một việc mà mấy trăm năm sau, trước khi Pháp xâm lượcnước ta cũng không có triều đại nào nghĩ tới việc thi Toán đối với người sắp được
bổ nhiệm làm quan
Trang 6Đến triều đại Lê Sơ (1428-1527), vua Lê Thái Tổ (1428-1433) đã cho tổ chứclại việc học, việc thi một cách chính quy hơn Trường Quốc Tử Giám hay Thái Họcviện được mở tại kinh đô Đông Đô là cơ quan giáo dục cao nhất trong nước ở các
lộ, châu, phủ, trường công cũng như trường tư đều được mở mang Vua định ương trình học
ch-Năm 1429, mở khoa thi Minh Kinh chọn người tinh thông kinh sử.
Năm 1431 lại mở khoa thi Hoành từ để chọn người văn hay, học rộng để bổ
Năm 1438, mở thi Hương Năm 1439 mở thi Hội Từ đó cứ 3 năm mở một khoathi Thi Hương cũng phải qua trường, bài thi như triều Trần Ai trúng tuyển thi Hội
đều gọi là Tiến sĩ xuất thân theo thứ bậc khác nhau.
Năm 1442, mở khoa thi Đình cho những người thi Hội đỗ bốn trường, làm mộtbài thi do vua ra đề Đỗ thi Đình gọi là Tiến sĩ chia làm ba bậc:
Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ gồm ba người đỗ đầu: Trạng nguyên, Bảng nhãn,Thám hoa (Tam khôi) Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân gọi là Hoàng giáp Đệ tamgiáp đồng Tiến sĩ xuất thân, gọi là Tiến sĩ
Những người đậu đều được ghi danh vào bia đá, gọi là bia Tiến sĩ.
Thời Lê Thánh Tông (1460-1497), năm 1489, nhà vua cho mở rộng và phát
triển Trường Quốc Tử Giám, gọi là Nhà Thái học, có nơi cho sĩ tử học tập, lập kho
Bí thư để tàng trữ sách và ván in sách, có dãy nhà cho ba hạng xá sinh (học sinh
nội trú) mỗi dãy 25 gian Các quan lại không phải khoa bảng xuất thân cũng bị bắtbuộc học để thi cho tăng thêm kiến thức, trình độ, tài năng cai trị
Năm 1462, vua Lê Thánh Tông định lại điều kiện cho những người được thi
Hương, đặt ra lệ "Bảo kết hương thi" bắt các xã phải chịu trách nhiệm về tư cách đạo đức của người đi thi và lệ "Cung khai tam đại" kê khai ba đời Con cháu nhà x-
ướng ca, hay có tội với triều đình không được dự thi Mục đích các lệ này là để bảođảm sự chặt chẽ trong việc tuyển chọn quan lại Phép thi cũng có đổi: trước khivào trường nhất thi, sĩ tử phải trước tác một bài ám tả để loại bớt người kém Nhàvua cũng chia làm hai hạng cho những người trúng tuyển thi Hương: đậu bốn
Trang 7trường gọi là Hương cống (Cử nhân), ai chỉ đậu có ba trường gọi là Sinh đồ (Tú
tài)
Năm 1466, nhà Lê có sáng kiến đặt ra lệ Xướng danh Những người thi đậuTiến sĩ được đọc tên, ban áo mão, đãi yến, vinh quy bái tổ về làng Nhà Lê lần đầutiên định hàm cho người thi đậu Tiến sĩ từ chánh-tòng lục phẩm đến chánh-tòng bátphẩm
Ngày xướng danh gọi là ngày truyền lô Hôm đó bày nghi lễ đại triều ở điệnThái Hòa, các quan mặc đồ triều phục, chia ban đứng chầu phụng Hoàng thượng rangự điện Rồi quan Khâm mạng tâu lại việc thi, quan Giám thị thì triệu các tânkhoa Tiến sĩ vào nhà công văn, phụng mệnh vua mà ban thưởng mỗi người một bộ
áo mũ Các tiến sĩ quỳ lãnh, quan Lễ bộ dẫn vào quỳ sắp hàng trước sân rồng, rồiquan Truyền lô cầm sổ theo thứ tự mà xướng danh, sau đó mới treo bảng ở trướclầu Phú Vân ba ngày
Sau khi ra bảng, ban ăn yến tại dinh Lễ bộ và ban cho mỗi người một cành kimtrâm Sáng hôm ấy các quan trường và các tân khoa Tiến sĩ mặc đồ triều phục, lễvọng tạ ơn ban yến Ăn yến xong, mỗi ông tân khoa phải dâng một bài biểu tạ ơn.Quan Lễ bộ lại dẫn các quan Giám thị và các ông tân khoa vào vườn Ngự uyểnxem hoa, mọi người đều mặc đồ triều phục, cưỡi ngựa che lọng Xem hoa xong thì
ra từ cửa thành Đông đi diễu xem các phố xá
Nhìn chung, việc học, việc thi ở triều Lê Sơ có phần rộng rãi hơn trước Vềnguyên tắc, con em quý tộc lẫn con em bình dân đều được đi học, đi thi, nhằm đàotạo những quan lại trung thành với chế độ phong kiến
Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, lập ra triều Mạc (1527-1592).Thời nhà Mạc với cuộc nội chiến ác liệt giữa Nam - Bắc triều kéo dài nửa thế kỷ,nên việc học, việc thi có phần sút kém Năm 1529, Mạc Đăng Dung mở khoa thiHội và đến năm 1532 lại mở tiếp khoa thi Hội Tiếp đó, nhà Mạc vẫn theo lệ 3 năm
mở một khoa thi, mặc dù có nội chiến Kể từ năm 1529 đời Mạc Đăng Dung đếnnăm 1592 đời Mạc Mậu Hợp, nhà Mạc đã tổ chức được 21 khoa thi, lấy đỗ 460Tiến sĩ
Đầu thời Lê Trung Hưng, do điều kiện chiến tranh loạn lạc triền miên, việc họchành thi cử trên địa bàn nhà Lê quản lý bị gián đoạn Khoa thi đầu tiên nhà LêTrung Hưng tổ chức là khoa Chế khoa năm Giáp Dần, niên hiệu Thuận Bình thứsáu (1554) ở hành cung Yên Trường lấy đỗ 13 người, có học vị tương đương nhưTiến sĩ Tiếp đó năm 1558, khoa thi Hương cũng được mở nhưng chưa đặt thành lệ.Thời Lê Thế Tông (1573-1599), việc học hành thi cử mới bắt đầu đi vào quy củ.Năm Quang Hưng thứ ba (1580), khoa thi Hội được khôi phục lại Khoa này lấy đỗsáu Tiến sĩ, có những người sau này trở thành những bậc danh nho như PhùngKhắc Khoan, Nguyễn Văn Giai Từ đó, các kỳ thi Hương, thi Hội được quy địnhthành thể lệ 3 năm một lần, năm trước tổ chức thi Hương ở các trấn, ai đỗ Tamtrường gọi là Sính đồ, đỗ Tứ trường gọi là Hương cống Những người đỗ Hươngcống được dự kỳ thi Hội vào năm sau Trong kỳ thi Hội, ai đỗ Tứ trường trúngcách được tham dự kỳ thi Đình (Đình thí hay còn gọi là Điện thí) để phân biệt thứ
Trang 8hạng cao thấp trong hàng Tiến sĩ Những người đỗ đầu kỳ thi Đình chia làm bagiáp: đệ nhất giáp, đệ nhị giáp và đệ tam giáp Đệ nhất giáp lại chia làm ba bậc: đệnhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên), đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ
đệ nhị danh (Bảng nhãn) và đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa).Người đỗ đệ nhị giáp gọi là Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp), còn những người đỗ đệtam giáp đều gọi chung là đồng Tiến sĩ xuất thân
Ngoài các khoa thi Tiến sĩ, nhà nước Lê Trung Hưng còn thường xuyên tổ chứccác khoa thi Hoành từ, Sĩ vọng, Tuyển cử cống sĩ trúng tuyển đều được bổ dụng.Theo sử gia Lê Quý Đôn thì "Bản triều từ Trung Hưng đến nay, những người đỗ Tiến
sĩ được Nhà nước đãi ngộ rất hậu, bổ dụng rất cao: Một là, ban cho mũ áo và cân đaitriều phục, cho vinh quy về quê hương, có đủ các hạng cờ quạt, nghi trượng, phườngcống và phường nhạc đón rước; Hai là, viên quan có trách nhiệm trước hết bắt dânlàng phải dựng phủ đệ cho Tiến sĩ; Ba là, không chỉ những người đỗ Tam khôi hoặcứng thí Chế khoa trúng cách được bổ vào Hàn lâm mà cả những người đỗ đồng Tiến
sĩ cũng được bổ giữ chức quan trong các khoa, các đạo, không phải bổ làm quan ởphủ, ở huyện; Bốn là, trong mỗi khoa, một người đỗ trẻ tuổi được bổ giữ chức Hiệuthảo; Năm là, người nào bổ quan ở ngoài các trấn, thì bổ vào hai ty Thừa chính hoặcHiến sát, đều trao cho Chưởng ấn chính thức, không phải giữ chức Tá nhị "
Nhìn chung, phần lớn các điều lệ thể chế khoa cử thời Lê Trung Hưng khôngthay đổi nhiều so với trước Năm 1678, Trịnh Tạc ban bố 16 điều quy định vềhương thí và từ đấy trở đi lấy làm lệ thường
Tính từ khoa thi Chế khoa năm Giáp Dần, niên hiệu Thuận Bình thứ 6 (1554)đến khoa thi Hội năm Đinh Mùi, niên hiệu Chiêu Thống thứ nhất (1787), nhà nước
Lê Trung Hưng tổ chức tổng cộng được 72 kỳ thi, trong đó có bốn khoa Chế khoa
và 62 khoa thi Hội, lấy đỗ 740 người và các học vị tương đương (Chế khoa lấy đỗ
30 người; thi Hội lấy đỗ 710 người) Năm lấy đỗ nhiều nhất là khoa Canh Tuất, đờivua Cảnh Trị thứ 8 (1670): 31 người; ít nhất là khoa Tân Sửu, đời vua Cảnh Hưng
42 (1781) và khoa Chế khoa Đinh Mùi, đời vua Chiêu Thống thứ nhất (1878) cùnglấy đỗ hai người Trong các niên hiệu Chính Hoà (1680-1705); Vĩnh Thịnh (1705-1719) và Bảo Thái (1720-1729) từ khoa Canh Thân (1680) đến khoa Đinh Mùi(1727) có tất cả 17 khoa thi Hội, lấy đỗ 220 Tiến sĩ, trung bình 13 Tiến sĩ trong một khoa
Vào cuối đời Lê, việc học, việc thi bị suy sụp vì đất nước có chiến tranh, việcthi cử không chặt chẽ Nhưng triều đại Lê Trung Hưng vẫn được coi là triều đạitoàn thịnh về văn học, đã xuất hiện những học giả như: Lê Quý Đôn, Phan Huyích, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm v.v…
Thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong (1558-1777) không đứng ra lập trường mà
để cho nhân dân tự lập trường tư Triều đình chỉ đứng ra tổ chức các kỳ thi đểtuyển chọn người tài
Triều đại Tây Sơn (1778-1802) tuy ngắn ngủi nhưng vua Quang Trung 1792) cũng đã ra sức xây dựng và phát triển nền văn hoá dân tộc Việc học được
Trang 9(1788-mở rộng Vua Quang Trung ban bố Chiếu lập học, khuyến khích các xã (1788-mở trườnghọc: xã lập Nhà xã học, chọn Xã giảng dụ (Thầy dạy học ở xã) Nhà vua đưa chữNôm lên địa vị chữ viết chính thức của quốc gia Cho lập viện Sùng Chính (La Sơnphu tử Nguyễn Thiếp - một học giả nổi tiếng của Bắc Hà làm Viện trưởng) để dịchsách chữ Hán ra chữ Nôm (chữ Hán không còn địa vị độc tôn) và phụ trách vănhóa, giáo dục dưới triều Tây Sơn.
Việc thi cử cũng được chấn chỉnh lại nhằm đào tạo một tầng lớp nho sĩ, quanlại mới có năng lực phục vụ cho chính quyền Những sinh đồ trúng tuyển trong các
kỳ thi cần phải thi lại, những kẻ dùng tiền mua bằng cấp đều bị thải hồi
Vương triều Nguyễn (1802-1945), việc tổ chức học hành thi cử phỏng theo nhà
Lê Có Quốc Tử Giám ở Huế (lúc đầu gọi là Nhà Quốc Học), ở huyện có Giáo thụ,
ở phủ có Huấn đạo, trông coi việc học, ở làng xã người dân tự lo lấy
Về thi cử, triều Nguyễn vẫn tổ chức theo phép thi của triều Lê Năm 1807, vuaGia Long cho mở thi Hội Đến 1825, triều đình định lệ 3 năm mở một khoa thi Hộivào những năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi
ở kỳ thi Hương, người thi đậu qua bốn kỳ gọi là Cử nhân, đậu ba trường gọi là
Tú tài (người qua hai kỳ gọi là Nhị trường, một kỳ gọi là Nhất trường không cóhọc vị) Có những người đậu Tú tài hai lần (Tú kép), ba lần (Tú mền) mà khôngđậu được Cử nhân
Năm 1832, triều đình sửa lại phép thi Hương, thi Hội, bốn trường rút bớt đi mộttrường, còn ba trường: Trường nhất: thi kinh nghĩa; Trường nhì: thi thơ, phú;Trường ba: thi văn sách
Năm 1829, thời Minh Mạng tùy theo số điểm thi trong kỳ thi Hội mà lấy đỗ làmhai hạng: Trúng cách (Chính bảng) được tiếp tục thi Đình để lấy học vị Tiến sĩ trởlên và Phó bảng (Tiến sĩ hạng 2)
Đến thời Tự Đức (1842-1883), vào năm 1851, triều đình tổ chức thi lại bốntrường và bỏ lệ chấm thi hết bốn trường mới cho đỗ
Năm 1844, thời Thiệu Trị (1841-1847), nhà vua cho phép các Giáo thụ, Huấnđạo đã đỗ cử nhân, tú tài cũng được dự kỳ thi Hội
Cả nước bấy giờ có bảy trường thi tại các tỉnh: Thừa Thiên, Bình Định, GiaĐịnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Nam Định và Hà Nội
Sau khi đậu Cử nhân, sĩ tử ra Huế thi Hội Nhà Nguyễn có lệ "Tứ bất lập" nênkhông có Trạng nguyên, chỉ có Bảng nhãn, Thám hoa "Tứ bất lập" là không lậpTrạng nguyên, không lập Hoàng hậu khi vua còn sống, không có Tể tướng (nhưThủ tướng ngày nay) và không phong Vương cho người trong hoàng tộc Do đó,người đỗ cao nhất là Bảng nhãn Triều Nguyễn lại đặt nhiều điều cấm kỵ khắt khe(trường quy) nên nhiều người học vấn cao mà vẫn rớt
Ngày 1 tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp tấn công vào Đà Nẵng bắt đầu cuộcxâm lược nước ta Với Hoà ước 1862 và Hoà ước Patơnốt 1884, triều đình Huế
Trang 10công nhận sự bảo hộ của Pháp, chia nước ta ra làm ba khu vực: Nam Kỳ, Bắc Kỳ
và Trung Kỳ
Từ thế kỷ XVII, qua mấy thế kỷ, chữ Quốc ngữ (chữ cái Latinh) dần dần thaythế cho chữ Hán và chữ Nôm, đã trở thành văn tự phổ biến và chính thống của ViệtNam Bên cạnh chữ Hán, việc học và việc thi đều do chính quyền Pháp tổ chức Từnăm 1905, Pháp đã lập ra Hội đồng cải cách giáo dục toàn Liên bang Đông Dương.Năm 1906, lập Nha học chính Đông Dương
Năm 1906, vua Thành Thái (1889-1907) ra sắc lệnh cải cách giáo dục theođường lối giáo dục của Pháp Việc cải cách này chú trọng dạy chữ Quốc ngữ, chữPháp, chấm dứt sự độc tôn của chữ Hán ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ nhưng không bỏhẳn chữ Hán ở Nam Kỳ Việc học từ đó chia ra làm ba bậc: ấu học, tiểu học vàtrung học Chữ Pháp bắt buộc phải học Hết bậc này, thi lấy bằng thí sinh, được dự
kỳ thi Hương
Lịch sử học hành và thi cử chữ Nho bắt đầu từ nhà Lý (1075) và chấm dứt năm
1919 thời vua Khải Định (1916-1925) Năm 1918, khoa thi Hương cuối cùng tổchức ở hai nơi là Nghệ An cho miền Bắc và ở Bình Định cho miền Trung
Năm 1919, khoa thi Hội cuối cùng tổ chức ở Huế, chấm dứt chế độ học và thichữ Nho trong lịch sử khoa cử Việt Nam
Tính từ khóa thi đầu tiên năm 1075 đời vua Lý Nhân Tông đến khóa thi cuốicùng vào đời vua Khải Định năm 1919, có tất cả 185 khóa thi 2.898 người đậu đạikhoa, trong đó có 46 Trạng nguyên, 48 Bảng nhãn, 76 Thám hoa, 2.462 Tiến sĩ,
266 Phó bảng (năm vị thủ khoa đời Lý và đầu đời Trần chưa đạt định chế Tam khôinên chưa gọi các vị thủ khoa là Trạng nguyên) Các nhà khoa bảng Việt Nam thực
sự là những người đã góp phần xây dựng nền văn hiến vẻ vang lâu đời của dân tộcta
Trang 11Phần 2
5 VỊ ĐỖ ĐẦU CÁC ĐẠI KHOA ĐẦU TIÊN Ở VIỆT NAM
Thái sư Lê Văn Thịnh
(Vị khai khoa Nho học đầu tiên)
Theo thần phả ở đền Thượng, Bảo Tháp, xã Đông Cứu do Đông các đại học sĩNguyễn Bính Phụng soạn, truyện kể dân gian và sử sách nhiều đời thì Lê VănThịnh sinh ngày 11 tháng 2 năm Canh Dần (1050) ở khu Bảo Tháp, trang ĐôngCứu, huyện Gia Định (nay là làng Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnhBắc Ninh) Bố là cụ Lê Thành, dạy học và làm thuốc; mẹ là cụ Trần Thị Tín ởtrang Ngô Xá (nay là làng Thi Xá, xã Cách Bi, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh).Lên 7 tuổi, Lê Văn Thịnh đi học, 13 tuổi kinh, sử, thi, thư đều biết, thiên văn địa
lý tỏ tường, học trò thời ấy thán phục, gọi Văn Thịnh là thần đồng Đến năm 18tuổi, bố mẹ mất, ông lo an táng cho bố mẹ chu đáo và ở nhà hương khói thờphụng Sau ngày đoạn tang, Văn Thịnh đến Chi Nhị trang (nay là làng Chi Nhị,
xã Song Giang, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh), thấy dân nơi đây quê mùa, thậtthà và ít học vấn, ông bèn vận động dựng trường để ông dạy dân học Về sau dânnơi đây biết chữ, lễ, nghĩa là do công ông truyền dạy
Thời Lý Nhân Tông nối nghiệp trị vì đất nước, năm ất Mão (1075) mở khoa thiMinh kinh bác học và Nho học Tam trường, Lê Văn Thịnh đỗ đầu, ông trở thànhbậc khai khoa của các nhà khoa bảng nước ta Năm ấy vua mới 9 tuổi, ông đượcphong Thị độc chi chức (hầu vua học) và làm đến chức Thái sư - một chức quan tovào bậc nhất trong triều
Nhưng ai có thể ngờ rằng, vị Tiến sĩ - Thái sư này hơn 20 năm sau bị mắc tội
"mưu làm phản", suýt nữa bị chém Nhưng ông được vua ban ân nên chỉ bị nhốtvào cũi, đi đày ở miền sơn cước
Các sách chính sử thời đó và nhiều triều đại sau đều chép chính thức sự kiệnnày và cho rằng Lê Văn Thịnh mắc tội phản nghịch là có thực, lẽ ra phải khép vàotội chết Nhà sử học Ngô Sĩ Liên (thi đậu Tiến sĩ năm Nhâm Tuất - 1442, đời vua
Lê Thái Tông) có lời bàn: "Người làm tôi định cướp ngôi, giết vua mà được miễn
tội chết, thế là sai trong việc hình, lỗi ở vua tin sùng Phật giáo" (theo Đại Việt sử
ký toàn thư).
Lý Tế Xuyên, tác giả "Việt điện u linh" cũng than thở: "Lê Văn Thịnh tội nên xử
trảm, vua lại tha mà chỉ phạt lưu, chính hình như thế thật là lầm lỗi".
Vụ án Thái sư Lê Văn Thịnh được các nhà chép sử ghi lại như sau:
"Tháng 3 năm Bính Tý (1096), nhân dịp ngày xuân, vua Lý Nhân Tông ra ngự
hồ Dâm Đàm (Hồ Tây) trên chiếc thuyền nhỏ xem đánh cá Chợt có mây mù nổi
Trang 12lên, trong đám mây mù nghe có tiếng thuyền bơi đến, tiếng mái chèo rào rào, vua lấy giáo ném Chốc lát mây mù tan, thấy trong thuyền có con hổ, mọi người sợ tái mặt đi, nói rằng: "Nguy lắm rồi!" Người đánh cá tên là Mục Thận quăng cái lưới trùm lên trên con hổ, thì ra là Thái sư Lê Văn Thịnh Vua nghĩ Văn Thịnh là đại thần có công giúp nước, không nỡ giết chết, đày lên trại đầu ở sông Thao Thưởng cho Mục Thận quan chức và tài vật, lại cho đất Tây Hồ làm thực ấp Trước đây, Văn Thịnh có gia nô người nước Đại Lý (Vân Nam) có phép thuật kỳ
dị, cho nên làm ra như thế để định cướp ngôi, giết vua" (theo Đại Việt sử ký toàn thư).
Sách "Việt điện u linh" lại giải thích thêm: "Quan Thái sư Lê Văn Thịnh nuôi
được một tên gia nô người Đại Lý (Vân Nam) có thuật lạ: Đọc thần chú xong biến thành hổ báo Văn Thịnh cố dỗ để dạy mình thuật ấy, học được thuật rồi, liền lập mưu giết tên gia nô và dùng thuật hại vua để cướp ngôi" Sau khi "quăng
lưới chụp vào thuyền kia, bắt được hổ và nhận ra là Lê Văn Thịnh Nhà vua cảgiận, sai lấy dây sắt xích lại, bỏ vào cũi, rồi đày lên miền Thao Giang (nay thuộchuyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ - ĐVT) Vua khen Mục Công (Mục Thận) đã cócông cứu vua, cất làm Đô úy và sau thăng tới Phụ quốc tướng quân Khi mất, tặngchức Thái úy Vua sai dựng đền tạc tượng thờ"
Các sách khác như "Việt sử lược", "Cương mục"… đều chép tương tự như vậy
Lý do nào để xảy ra vụ án Thái sư Lê Văn Thịnh âm mưu phản nghịch định giếtvua, cướp ngôi?
Nhiều nhà nghiên cứu sau này cho rằng câu chuyện Lê Văn Thịnh đầy tính chấthoang đường, tại sao vị tể tướng thông thái này lại có phép thần thông để đổi trờitrong sáng thành sương mù, biến người thành cọp?
Giáo sư Hoàng Xuân Hãn cho rằng vụ án Lê Văn Thịnh chỉ là một sự hiểu lầmđáng tiếc và giải thích như sau: "Chuyện trên đây tiêu biểu cho sự mê tín có ảnhhưởng lớn đến chính trị ở triều Lý Sử còn cho biết nhiều chuyện nói rằng vuaNhân Tông cũng như các vua đời Lý sau rất tin ảo thuật và dễ cảm xúc Cho nên,chỉ vì một việc xảy ra thất thường, mà Văn Thịnh suýt bị chết Về thời tiết lúc đó,một trận mây mù thình lình tới bên hồ là một sự thường gặp Nhưng với tâm thầnhay bị xúc cảm của vua Lý khi thấy trời tối mà mình còn ở trên mặt nước thì vuađâm ra hoảng hốt Có lẽ Lê Văn Thịnh cũng vì thấy trời tối mà vội vã sai chèothuyền gấp tới để hộ vua về Ngồi trên thuyền bị tròng trành không vững, VănThịnh phải ngồi khom mình, tay chống vào thuyền cho vững Hình dáng trông nhưcon hổ Một mặt khác, có lẽ Văn Thịnh cũng tin vào các thuật và có tiếng sẵn là đãhọc được phép hóa hổ Cho nên, kẻ trông thấy hình dáng con hổ trong thuyền lạicàng nghi cho y muốn hại vua"
Người ta đặt vấn đề nghi vấn, câu chuyện Lê Văn Thịnh là một sự hiểu lầm haychỉ là một mưu mô loại bỏ công thần của vua Lý, một hành vi thường có của cácvua chúa triều đại phong kiến?
Trang 13Lần trang sử cũ, ta thấy có nhiều bản án "huyễn hoặc" tương tự, không biết baonhiêu nhân tài quốc gia bị triều đình phong kiến hủy diệt Bản thân chế độ vuachúa vì muốn giữ độc quyền thống trị thường hay thù địch và hoảng sợ trước tàinăng Tầng lớp phong kiến chỉ có thể lợi dụng những kẻ có tài trong những thờigian nhất định mà không tận dụng được tài năng đó Trong các triều đại phong kiếnlịch sử cổ kim thế giới, những đại công thần bị lưu đày, tàn sát như Lê Văn Thịnhkhông hiếm Hàn Tín, trước khi bị Hán Cao Tổ là Lưu Bang giết ở Vị vương cung,
đã biết rằng kẻ dùng mình sẽ không tha mình khi đế nghiệp hoàn thành, nên từngthan thở: "Giảo thỏ chết, chó săn bị thịt, chim hết, cung bị xếp xó"
Đại thi hào Nguyễn Du không phải ngẫu nhiên khi mở đầu Truyện Kiều, ông đãthan thở:
"Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau".
Và khi sắp kết thúc tác phẩm, ông lại thở than:
"Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần".
Nguyễn Du đã nhìn thấy những "tai oan" của các nhân tài trong xã hội phongkiến, nhưng ông đã kín đáo đổ thừa cho số mệnh Dưới chế độ phong kiến, một khi
"tài" đó vượt lên "tài" của quân vương hoặc nếu "sáng hơn chúa" là có khi gặp hạn.Trở lại vụ án Thái sư Lê Văn Thịnh Từ khi Lê Văn Thịnh thi đỗ thủ khoa vàđược bổ dụng làm quan, ông đã đem hết trí tuệ và tài năng của mình để phụng sựtriều đình Ngay sau khi đậu thủ khoa năm 1075, Lê Văn Thịnh được vào hầu vuahọc (thực chất là dạy vua) Bởi vì lúc này vua Lý Nhân Tông mới 9 tuổi Lý NhânTông là con Thái hậu ỷ Lan, lên ngôi vua năm 1072 khi mới 7 tuổi, quan Thái sư
Lý Đạo Thành làm Phụ chính
Năm Giáp Tý (1084), Lê Văn Thịnh lúc này đã làm Thị lang bộ Binh được vuagiao đến trại Vĩnh Bình để cùng với người Tống bàn việc cương giới Trong việchoạch định biên giới, nhà Tống trả cho nhà Lý sáu huyện và ba động Người Tống
có thơ rằng:
"Nhân tham Giao Chỉ tượng, khước thất Quảng Nguyên kim".
Nghĩa là: Vì tham voi Giao Chỉ, bỏ mất vàng Quảng Nguyên.
Việc hoạch định biên giới này, có công lao rất lớn của Lê Văn Thịnh qua nhữnglần hội đàm với nhà Tống
Năm ất Sửu (1085), Lê Văn Thịnh được phong chức Thái sư - chức quan đạithần to nhất trong triều Trong thời gian làm Thái sư, Lê Văn Thịnh đã thi hành mộtloạt chính sách tiến bộ: Năm 1086, đặt lệ thi tuyển người vào Hàn lâm viện Năm
ấy, Mạc Hiển Tích trúng tuyển là Hàn lâm viện học sĩ Năm 1088, định các chùa
Trang 14trong nước làm ba hạng: đại, trung và tiểu danh lam, cho quan văn chức cao kiêmlàm Đề cử vì bấy giờ nhà chùa có điền nô và đồ vật chứa trong kho Năm 1089,định các chức quan văn võ, quan hầu vua và các chức tạp lưu Năm 1092, định sốruộng thu tô mỗi mây 3 thăng để cấp lương cho quân.
Với những sự kiện trên, chúng ta thấy rõ, ở cương vị tể tướng, Lê Văn Thịnhquả là một nhà cải cách dũng cảm, đưa dần các thiết chế chính trị của Nho giáo vàomột phương triều Phật giáo Cải cách của Lê Văn Thịnh về ruộng đất cho thấy cáchđây hơn 900 năm ông đã đặt cơ sở cho một cuộc cải cách điền địa rất có hiệu quả
và trọng quyền lợi nông dân Bởi thế quyền của tầng lớp hữu sản, chủ yếu là quanlại hào phú bị tổn thương, ắt họ có phản ứng Mặt khác, vua Lý đặc biệt là LýThánh Tông (cha Lý Nhân Tông) lúc ấy đã tìm thấy trong Phật giáo triết lý sinhthành dưỡng tục theo nghĩa dài lâu nối tiếp, lấy ý chí tự cường để thắng số mệnh,phụng sự cho sự bền vững của quốc gia ở một nước mà vua, Thái hậu ỷ Lan vàtriều thần chịu ảnh hưởng sâu nặng của tư tưởng Phật giáo như thế thì việc thi thốtài năng của Lê Văn Thịnh thật khó phát huy Cho nên, năm 1070 với việc lập VănMiếu; năm 1075 với việc mở khoa thi để tuyển chọn người tài giao cho trọng tráchgiúp vua trị nước, thật sự là cú sốc đối với giới tu hành có tham vọng chính trị, do
đó mạng sống của Lê Văn Thịnh thật khó bảo toàn
Bởi vậy, hiện tượng Lê Văn Thịnh và sự kiện hóa hổ được dàn dựng hết sức ấutrĩ tại hồ Dâm Đàm năm 1096 chỉ là phản ánh cuộc đấu tranh giữa ý thức hệ Nhogiáo và Phật giáo mà Lê Văn Thịnh chính là Nho gia đầu tiên đã làm vật hy sinhcho cuộc đấu tranh đó
Việc Lê Văn Thịnh mưu phản mà không bị giết chính vì sự không mưu phản mà
mưu phản, vì ông đã đi ngược lại quyền lợi của Phật giáo Đấu tranh tư tưởng nhằm
xây dựng một quốc gia theo thể chế phi Phật giáo để phát triển, theo một xu hướngchính trị tiến bộ thì không phải là mưu phản Do vậy, chỉ có thể loại bỏ Lê VănThịnh ra khỏi vũ đài chính trị chứ không thể loại bỏ sinh mạng của ông
Phải chăng vì thế đã dẫn đến "Vụ án Thái sư Lê Văn Thịnh"?
MẠC HIỂN TÍCH
Mạc Hiển Tích - người làng Lũng Động, huyện Chí Linh, nay là xã Nam Tân,huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Anh của Mạc Hiển Tích là Mạc Kiến Quangcũng làm quan đến Thượng thư); viễn tổ của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đờiTrần
Ông đỗ đầu khoa chọn người giỏi văn học năm Bính Dần, niên hiệu Quảng Hựuthứ 2 (1086) đời Lý Nhân Tông, được bổ chức Hàn lâm viện học sĩ, thăng đếnchức Thượng thư; từng vâng mệnh đi sứ Chiêm Thành
Trang 15BÙI QUỐC KHÁI
Bùi Quốc Khái - người xã Bình Lãng, huyện Cẩm Giàng, nay là thôn Thu Lãng,
xã Ngọc Liên, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
Ông đỗ đầu khoa thi chọn người giỏi thi thư năm ất Tỵ, niên hiệu Trinh Phù thứ
10 (1185) đời Lý Cao Tông
Trạng nguyên NGUYỄN QUAN QUANG
(Trạng nguyên duy nhất được ban quốc tính - họ vua)
Nguyễn Quan Quang - người xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn, nay là xã TamSơn, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Ông đỗ Trạng nguyên khoa thi Đại tỷ thủ sĩ năm Bính Ngọ, niên hiệu Thiên ứngChính Bình 15 (1246), đời Trần Thái Tông Ông chính là vị trạng nguyên đầu tiêncủa nước ta Ông vốn là người thông tuệ, uyên bác, thuộc làu kinh sử, đỗ đầu ba kỳthi nên người đời gọi ông là "Tam nguyên" Làm quan đến chức Bộc xạ Khi mấtđược tặng Đại tư không
Nguyễn Quan Quang có những giai thoại sau:
Ông sinh trong một gia đình nghèo, không có tiền gạo theo học, cậu bé thườngphải lân la ngấp nghé ngoài cửa lớp, lúc thầy dạy bọn học trò trong làng sách Tam
tự kinh, cậu ngồi ngay giữa sân gạch, lấy gạch non viết chữ xuống nền gạch Một
Trang 16hôm tan học, thầy chợt để ý thấy sân nhà có nhiều chữ, nét viết như phượng múarồng bay.
Thầy kinh ngạc nói rằng:
- Đây mới chính là trò giỏi
Nói rồi, thầy gọi Quan Quang đến và cho vào học Quan Quang nổi tiếng thôngminh, học một biết mười Chẳng bao lâu, cậu đã làu thông kinh sử, ứng khẩu thànhthơ, luận bàn việc đời thông thái, uyên thâm Gặp khoa thi Hương, ông ứng thi đậuGiải nguyên Đến thi Hội lại đậu Hội nguyên, khi vua Trần Thái Tông mở khoa thiĐại tỷ thủ sĩ, ông đậu Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên).Sau khi vinh quy bái tổ, ông vào chầu vua để được đăng quan Nhà vua thấyông cao to, khí phách hơn người, vua tỏ lòng quý mến, ban cho quốc tính Từ đấy,trong triều ngoài nội đều gọi ông là Trần Quan Quang
Lúc bấy giờ quân xâm lược Mông Cổ tiến tới biên giới rất đông, lăm le đợi ngàyxâm chiếm nước ta Vua ra chiếu cử Nguyễn Quan Quang sang thương nghị vớigiặc Tên tướng giặc nổi tiếng là kiêu hùng và thâm thúy, cho rằng Quan Quang đến
là để mang ba tấc lưỡi thuyết khách, hắn bèn nghĩ cách dùng uy để chế áp ông Nhân
đi qua ao bèo, hắn vớt một cây bèo lên, cầm gọn trong lòng bàn tay rồi bóp chặt Látsau, hắn mở ra chìa cho Quan Quang xem, cây bèo đã nát vụn, rồi hắn cười sằng sặc
ra chiều đắc ý lắm Quan Quang hiểu rằng tướng giặc tỏ ý coi nước Việt như nhữngcánh bèo non yếu, chỉ cần khẽ đánh là tan, khẽ bóp là nát Nghĩ vậy, ông liền nhặtmột hòn đá rất to rồi ném xuống giữa ao Bèo dạt ra một khoảng trống, nhưng chỉgiây lát sau những cánh bèo lại sát vào nhau Tướng giặc tái mặt hiểu rằng ngườiViệt đoàn kết toàn dân để bảo vệ giang sơn, không một sức mạnh nào có thể khuấtphục được Chính vì thế, hắn phải hoãn binh không dám tiến quân sang xâm lượcnước ta
Trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông Nguyên lần nhứ nhất (1258),Nguyễn Quan Quang có nhiều cống hiến nên được nhà vua thăng đến chức Bộc xạ.Khi làm quan, ông hết lòng vì dân vì nước, thanh liêm, trung thực, được trong triềungoài nội mến phục về cả tài lẫn đức Khi già, ông về quê hương mở trường dạyhọc, sống một cuộc đời thanh đạm và công đức, lấy việc dạy trò làm nguồn vui.Người dân Tam Sơn cho rằng ông là người khai sáng nền Hán học của quê hương,
mở đường cho đất "Ba Gò" sau này có "một kho nhân tài"
Nơi Nguyễn Quan Quang dạy học về sau dân dựng lên một ngôi chùa có tên là
Linh Khánh để tưởng nhớ đến người "sống như tu" Ngôi chùa ấy qua thời gian
nay không còn nữa, nhưng vẫn còn một cây hương đá tạc vào năm Chính Hòa 18(1697), trong đó ghi công đức của Nguyễn Quan Quang với dân làng
Sau khi Nguyễn Quan Quang mất, dân làng lập đền thờ trên núi Viềng, gọi làđền Viềng để thờ ông làm thần Thành hoàng, gọi là Bản thổ Thành hoàng, Đạivương phúc thần Triều đình cũng truy phong cho ông là Đại tư không
Trang 17Hàng năm, cứ vào dịp 22 tháng Chạp âm lịch, dân làng lại tổ chức "Tế phong
mã" để tưởng nhớ tới vị trạng nguyên tài năng và đầy ân đức, cũng là để nhắc nhở
các thế hệ con cháu nối tiếp truyền thống hiếu học, yêu dân, yêu nước của tổ tiên
TRẠNG NGUYÊN NGUYỄN HIỀN
(Trạng nguyên trẻ nhất và có tuổi thọ ngắn nhất)
Nguyễn Hiền - người xã Dương A, huyện Thượng Hiền, nay là thôn Dương A,
xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
Nguyễn Hiền đỗ Trạng nguyên khoa thi Thái học sinh năm Đinh Mùi, niên hiệuThiên ứng Chính Bình 16 (1247), đời Trần Thái Tông Năm ấy ông mới 13 tuổi, do
có nhiều đóng góp trong việc đối ngoại nên tuy còn ít tuổi đã được vua cử giữ chứcNgự sử đài, Đô ngự sử rồi thăng làm Thượng thư bộ Công Tiếc rằng Nguyễn Hiềnmất quá sớm, năm ất Mão (1255), ông lâm bệnh rồi qua đời ở tuổi 21 Triều đìnhthương tiếc cấp cho dân quê ông năm mẫu ruộng lấy hoa lợi dùng vào việc thờcúng, lại lệnh cho dân bản xã lập đền thờ ông Vua Trần còn đổi tên huyện ThượngHiền thành Thượng Nguyên để tỏ lòng tôn kính và kiêng tên húy của ông
Trạng nguyên Nguyễn Hiền là Trạng nguyên trẻ tuổi nhất trong lịch sử nước ta,
do đó, dân gian gọi thân mật là "Trạng non"
Trạng nguyên Nguyễn Hiền có những giai thoại sau:
Nguyễn Hiền nổi tiếng thần đồng từ nhỏ Năm Đinh Mùi (1247), ông đỗ Trạngnguyên ở tuổi 13 Cùng khoa thi này, Lê Văn Hưu đỗ Bảng nhãn
Khi Nguyễn Hiền vào bái yết trước sân rồng Vua thấy Trạng bé loắt choắt trong
bộ mũ áo Trạng nguyên quá khổ bèn hỏi:
- Trạng học với ai?
Trạng Hiền liền đáp ngay:
- Tâu bệ hạ, thần lúc nhỏ ở chùa, không học với ai cả, chỉ khi nào không hiểumới hỏi sư vài chữ thôi ạ
Vua thấy Trạng nói năng cộc lốc, cho là trẻ con chưa biết gì lễ nghĩa, bèn bắt vềnhà học lễ phép trong 3 năm, rồi mới cho làm quan
Sau đó ít lâu, sứ nhà Nguyên đưa sang ta quốc thư có một câu đối để thử xemnước Nam có nhân tài không Triều đình mở ra xem chỉ thấy bốn câu thơ chữ Hán:
Lưỡng nhật bình đầu nhật,
Tứ sơn điên đảo sơn,
Lưỡng vương tranh nhất quốc,
Tứ khẩu tung hoành gian.
Cả triều đình đều không hiểu ý sâu xa của những câu thơ trên là gì Mấy vị quantrong viện Hàn lâm nổi tiếng có cả một rừng chữ cũng không giải thích được, mấythầy trong Trường Quốc Tử Giám đã từng đào tạo ra biết bao nhiêu Tiến sĩ cũng
Trang 18chịu Sau có người nhớ tới Trạng nguyên Nguyễn Hiền bấy giờ vẫn còn trong thờigian ở quê học lễ, bèn tâu vua cho triệu Trạng về kinh hỏi thử xem sao, biết đâuTrạng giải được Không còn cách nào hơn, vua bèn cho người đi triệu Trạng Hiền.Viên quan không kể ngày đêm, phi ngựa nước đại tìm về làng Trạng Hỏi thămđến nhà, thấy một cậu bé đang đun bếp, quan liền đọc một vế đối thử:
- Ngô văn quân tử viễn bào trù, hà tu mỵ Táo (Tôi nghe người quân tử xa chỗ
bếp, sao lại nịnh ông Táo?)
Cậu bé đối lại ngay: - Ngã bản hữu quan cư đỉnh nại, khả tạm điều canh (Ta
vốn ở ngôi khanh tướng, nhưng nay tạm nếm canh)
Biết đích xác là Trạng, viên quan liền đưa chiếu chỉ của nhà vua mời Trạng vềtriều để hỏi một việc Nhưng Trạng Hiền lắc đầu nói:
- Trước đây, vua bảo ta không biết lễ phép, nhưng chính vua cũng không biết lễphép
Trạng nhất định không đi Sau đó, nhà vua phải cho quan quân mang quạt,vọng, lõng đến đón, Trạng mới chịu đi vào triều
Trước mặt sứ thần nhà Nguyên, sau khi xem xong bốn câu thơ kia Trạng Hiềnliền cười lớn, thưa với vua:
- Đây là chữ "điền".
Thì ra hai chữ "nhật" ghép lại sao cho trên dưới bằng nhau thì là chữ "điền"; bốn chữ "sơn" sấp ngửa đảo ngược nhau cũng là chữ "điền"; hai chữ vương giao nhau cũng là chữ "điền", cuối cùng bốn chữ "khẩu" đặt ngang dọc liền nhau cũng
"Trần triều Ngự sử đài, Đô ngự sử".
Nguyễn Hiền là người tài cao, thông minh, mẫn tiệp Sau khi ông mất, nhà vuacho xây đền thờ trên nền nhà cũ của Nguyễn Hiền Hiện nay đền thờ ông còn ởthôn Dương A, xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Đền thờ Nguyễn
Hiền được các triều đại phong kiến Việt Nam sắc phong là "Trác vĩ Thượng đẳng
thần".
Trạng nguyên Nguyễn Hiền tiêu biểu cho những người tuổi trẻ trong lịch sử
Việt Nam có tài cao, danh vọng lớn Nguyễn Hiền tựa như "ngôi sao băng" trên
bầu trời Việt Nam Ngôi sao băng ấy mất đi, nhưng không phải là mất hẳn Tàinăng của Trạng Hiền còn được truyền lại cho con cháu ông Các thế hệ hậu duệ
Trang 19qua bốn đời kế tiếp của Nguyễn Hiền đều làm quan to dưới triều Trần với cácchức Đại tư đồ, Thái bảo… Về khoa bảng, mạch thư hương của Trạng nguyênNguyễn Hiền dài mãi không bao giờ dứt:
+ Nguyễn Oanh, hậu duệ đời thứ 12 của ông, đỗ Tiến sĩ khoa Tân Sửu niên hiệuHồng Đức 27 (1496) làm quan đến chức Lễ bộ Thượng thư, kiêm Đông các đại học
sĩ, Nhập thị Kinh diên, tước Văn Đàm bá
+ Nguyễn Minh Dương, hậu duệ đời thứ 15 của ông, đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩcập đệ Đệ tam danh (Thám hoa) khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Lịch thứ ba(1550) đời Mạc Phúc Nguyên làm quan đến chức Hiến sát sứ, tước Mạc Khê bá.Tài năng và đức độ của Trạng nguyên Nguyễn Hiền còn được ghi mãi mãi tronglòng người dân đất Việt Để giúp cho các thế hệ học trò Việt Nam noi theo tấmgương hiếu học của ông, hiện nay nhiều trường học mang tên Nguyễn Hiền
Kinh Trạng nguyên TRẦN QUỐC LẶC
(Trạng nguyên có lệ học đặc biệt nhất)
Trần Quốc Lặc - người xã Giang Hạ, huyện Thanh Lâm, nay là thôn Uông Hạ,
xã Minh Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
Trần Quốc Lặc đỗ Kinh Trạng nguyên khoa thi Thái học, sinh năm Bính Thìn1,niên hiệu Nguyên Phong thứ 6 (1256) đời Trần Thái Tông Là người chăm chỉ họchành, ông tự đặt cho mình một cái lệ là đêm nào cũng thắp cạn ba đĩa dầu lạc đểhọc, sau đó mới ngủ Khi đỗ đạt ra làm quan, Trần Quốc Lặc nổi tiếng là ngườithanh liêm, tận tụy, được vua yêu quý gả công chúa cho và phong tới chức Thượngthư Sau khi mất được phong Phúc thần
1 Khoa này danh hiệu Trạng nguyên lấy hai người: Kinh Trạng nguyên (để ban cho thí sinh ở bốn
trấn gần kinh đô Thăng Long) Trại Trạng nguyên (để ban cho thí sinh quê ở Thanh Hóa, Nghệ An Lúc
bấy giờ, ngoài tứ trấn, miền Thanh, Nghệ An gọi là Trại).
Trang 20Trại Trạng nguyên TRƯƠNG XÁN
Trương Xán là người xã Hoành Bồ, huyện Hoành Sơn, sau đổi là châu BốChính, nay thuộc huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
Năm 29 tuổi, Trương Xán đỗ Trại Trạng nguyên khoa thi Thái học sinh nămBính Thìn, niên hiệu Nguyên Phong thứ 6 (1256) đời Trần Thái Tông
Ông làm quan đến chức Thị lang, hàm Tự Khanh
Kinh Trạng nguyên TRẦN CỐ
Trần Cố là người xã Phạm Triền, huyện Thanh Miện, nay là thôn Phạm Lý, xãNgô Quyền, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Trú quán xã Phù Chẩn, huyệnĐông Ngàn, nay là thôn Phù Chẩn, xã Phù Chẩn, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh.Ông đỗ Kinh Trạng nguyên khoa thi Thái học sinh năm Bính Dần1 niên hiệuThiệu Long thứ 9 (1266) đời Trần Thái Tông
Ông làm quan đến chức Thiên Chương các Đại học sĩ
Trại Trạng nguyên Bạch liêu
(Trạng nguyên duy nhất không ra làm quan)
Bạch Liêu - người làng Nguyễn Xá, huyện Đông Thành, nay là xã Diễn Ninh,huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Trú quán làng Nghĩa Lư, huyện Thanh Lân, naythuộc xã An Lâm, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
Bạch Liêu đỗ Trại Trạng nguyên năm Bính Dần (1266) đời Trần Thánh Tông.Sau khi đỗ đạt, Bạch Liêu không nhận bất kỳ một chức vụ gì mà xin về quê phụngdưỡng cha mẹ và giúp việc cho làng xóm Biết tiếng, lại trọng tài mến đức của ông,khi ấy trấn thủ Nghệ An là Chiêu Minh vương Trần Quang Khải đã mời Bạch Liêulàm môn khách Ông đã bày kế sách "Tam chương biến pháp" giúp Trần QuangKhải biến Nghệ An và toàn bộ vùng Hoan Diễn thành vùng đất trù phú Bạch Liêucũng có đóng góp nhất định vào cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên xâmlược… Sau khi ông mất, dân lập đền thờ phụng, triều đình phong làm Phúc thần,hiệu là Dương Cảnh Thành hoàng đại vương Mộ của ông hiện nay thuộc xã ThiênLộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh và đã được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng Ditích lịch sử văn hoá cấp quốc gia
Do có công với đất nước, ông đã được các triều Lê, Nguyễn sắc phong thần mộ.Hiện đền thờ Trạng nguyên Bạch Liêu tại xã Hưng Phú, huyện Hưng Nguyên, tỉnh
1 Khoa thi này (1266) lấy đỗ 47 người.
Trang 21Nghệ An đã được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá cấpquốc gia.
Trạng nguyên ĐÀO TIÊU
Đào Tiêu là người xã Phủ Lý, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa Nay là xã Yên
Hồ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
Đào Tiêu đỗ Trạng nguyên khoa thi Thái học năm ất Hợi1, niên hiệu Bảo Phù thứ 3(1275) đời Trần Thánh Tông
Sau khi ông mất được phong Phúc thần
Lưỡng quốc Trạng nguyên MẠC ĐĨNH CHI (1272-1346)
(Trạng nguyên có dung mạo xấu nhất
và có nhiều giai thoại ứng đối ngoại giao nhất)
Mạc Đĩnh Chi là người xã Lũng Động, huyện Chí Linh, nay là thôn Lũng Động,
xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Cháu xa đời Mạc Hiển Tích, viễn
tổ của Mạc Đăng Dung
Ông đỗ Trạng nguyên khoa thi Thái học sinh năm Giáp Thìn (1304) đời TrầnAnh Tông Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng với nghị lực phi thường và tư chất thông minh,trác việt Mạc Đĩnh Chi làm quan nổi tiếng liêm khiết, trong sạch, sống thanh bạch,giản dị Trí tuệ và tài năng của ông thể hiện xuất sắc, hết lòng vì việc nước khiếnngười phương Bắc cũng phải khâm phục
Mạc Đĩnh Chi không những là Trạng nguyên có dung mạo xấu xí nhất mà ôngcòn là Trạng nguyên có nhiều giai thoại ứng đối ngoại giao nhất Do các Trạngnguyên đều là người thông minh, tài giỏi, ứng đối mau lẹ nên phần lớn đều được
cử đi sứ phương Bắc hoặc đảm trách công việc công văn thư từ ngoại giao Trong
số các Trạng nguyên thì Mạc Đĩnh Chi là người có nhiều giai thoại nhất khi đi sứnước Nguyên, tài văn thơ và đối đáp của ông làm người Nguyên phải khâm phục,
1 Khoa thi này (1275) lấy đỗ Tiến sĩ 24 người nhưng chỉ ghi được tên hai người.
Trang 22nể trọng, được vua Nguyên khen ngợi, gọi là Lưỡng quốc Trạng nguyên (Trạng nguyên hai nước).
Mạc Đĩnh Chi tự Triết Phu, tác phẩm hiện còn 4 bài thơ và 1 bài phú chép trong
Việt âm thi tập.
Thuở hàn vi, Mạc Đĩnh Chi mồ côi cha từ nhỏ, nhà nghèo, hai mẹ con phải đivào rừng sâu hái củi để kiếm sống hàng ngày Mẹ ông đã hy sinh tất cả để cốnuôi cho con đi học Trong những năm tháng nhọc nhằn, tủi nhục, mẹ vẫn cắnrăng chịu đựng Mẹ chỉ ao ước con mình sẽ có ngày đỗ đạt để giúp ích cho đời,thoát khỏi cảnh nghèo, niềm tin ấy đã giúp mẹ vượt qua mọi gian khổ Hiểuđược lòng mẹ, Mạc Đĩnh Chi càng ra sức học tập Vốn là cậu bé có tư chấtthông minh lại phải sống trong cảnh mồ côi nghèo khổ, bị người đời khinh rẻ,Mạc Đĩnh Chi sớm nhận ra rằng chỉ có học tập, học tập thành tài mới là conđường đưa cậu bé thoát khỏi cảnh nghèo khổ và cũng là để thể hiện phẩm giáthanh cao của con người từ sự đỗ đạt mà đi lên Vì vậy, không mấy lúc, MạcĐĩnh Chi ngơi đọc sách, nghiền ngẫm nghĩa sách, kể cả lúc vai gánh củi đi bán.Không có sách học thì mượn thầy, mượn bạn Mạc Đĩnh Chi cố học thuộc lòngnhiều cuốn sách quý Không có tiền mua nến để đọc sách thì Mạc Đĩnh Chi đốtcủi, hết củi thì lấy lá rừng đốt lên mà học Cậu còn bắt nhiều đom đóm cho vào
vỏ trứng để có ánh sáng mà đọc sách, thật là vô cùng gian khổ, nhưng chú békhông hề nản chí Do có nghị lực phi thường, cộng với tính thông minh, trácviệt, chẳng bao lâu, Mạc Đĩnh Chi đã nổi tiếng thần đồng Nho học xứ Hải Dương
Khoa thi Giáp Thìn (1304), thi Hội, Mạc Đĩnh Chi đỗ Hội nguyên; thi Đình ôngđược chấm đỗ Trạng nguyên, nhưng khi vào ra mắt nhà vua, vua Trần Anh Tôngthấy ông tướng mạo xấu xí, có ý không muốn cho ông đỗ đầu Biết ý, ông đã làm
bài thơ Ngọc tỉnh liên phú - là bài phú bằng chữ Hán để gửi gắm chí khí của mình.
Bài phú đề cao được phẩm chất trác việt và phong thái cao quý của một người khácthường, vượt qua người khác về mọi mặt, song không muốn a dua với người tầmthường để mong cho đời biết đến Ông dùng hình tượng một bông sen sinh ra tronggiếng ngọc ở núi Hoa Sơn do một vị đạo sĩ kỳ dị hái mang xuống cõi trần Ôngmượn nhiều mệnh đề thi ca có sẵn trong văn chương cổ điển phương Đông để bày
tỏ ý chí của mình Vua Trần Anh Tông xem xong khen đúng là thiên tài mới chođậu Trạng nguyên, ban cờ biển vinh quy bái Tổ
Sau khi trở về kinh đô, nhà vua cho vời Trạng vào bệ kiến, hỏi việc chính trị,Trạng nói đâu ra đấy, Vua rất hài lòng, ban cho Trạng chức Hàn lâm học sĩ, sauthăng dần đến chức Thượng thư, rồi Đại liêu ban Tả bộc xạ (tương đương Tểtướng)
Trang 23Năm Đại Khánh, thời vua Trần Minh Tông (1314-1329), vua nhà Nguyên sai sứsang phong vương cho nhà vua, Mạc Đĩnh Chi được cử làm Chánh sứ sang nhàNguyên đáp lễ Trong quá trình đi sứ, ông đã biểu hiện xuất sắc tài năng ngoại giao
và tầm trí tuệ vĩ đại của mình, khiến cho vua tôi nhà Nguyên vô cùng kính phục.Trên đường đi sứ, ngay ở biên giới hai nước, ông đã chứng tỏ tài ứng đối Khiđoàn sứ giả tới ải Pha Lũy (tức mục Nam Quan), cửa ải đóng chặt, có một vế đốidán sẵn ở cửa ải:
Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan.
Nghĩa là: Qua cửa quan chậm, cửa quan đóng, mời khách qua đường qua cửa
quan.
Mạc Đĩnh Chi và đoàn sứ giả biết rằng đây là mưu kế của bọn quan lại nhàNguyên ra điều kiện để được mở cửa quan Nếu đoàn sứ giả không đối được thì sẽkhông
vào được biên giới Trung Hoa, như vậy sẽ ảnh hưởng đến quốc thể
Sau khi suy nghĩ một chút, Mạc Đĩnh Chi đã đối lại:
- Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối.
Nghĩa là: Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, xin tiên sinh đối trước
Tình thế đổi khác, tưởng đã bí thế mà lại hóa ra một câu đối hay khiến viênquan nhà Nguyên chịu vị Trạng nguyên đất Việt có tài ứng biến đã chuyển bạithành thắng nên lập tức xuống mở cửa ải, ân cần đón đoàn sứ giả
Ngay lần gặp mặt đầu tiên, vua quan nhà Nguyên muốn làm nhụt ý chí của đoàn
sứ giả, tự cho mình như mặt trời đỏ, ra vế đối ý kiêu căng:
- Nhận hỏa, vân yên, bạch đản thiêu tàn thỏ ngọc.
Nghĩa là: "Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày thiêu cháy vầng trăng".
Vế đối còn có ý ám chỉ đối phương yếu và nhát như thỏ
Nghe xong, Mạc Đĩnh Chi đối lại:
- Nguyệt cung, tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô.
Nghĩa là: "Trăng là cung, sao là đạn, chiều tối bắn rụng mặt trời".
Vế đối rất chỉnh và tài tình, đã nêu cao được ý chí và sức mạnh của Đại Việt Vếđối còn rất đẹp về hình ảnh mặt trăng lưỡi liềm giống như cây cung, muôn vàn vìsao lấp lánh giống như những viên đạn Hơn nữa, vế đối còn có ý ám chỉ đối
phương là con quạ vì "Kim Ô" vừa nghĩa là "Mặt trời", lại vừa có nghĩa là "con
quạ sắt" Vua Nguyên thấy mình bị trả miếng rất đau, nhưng hết sức phục tài viên
sứ nước Đại Việt Vì vậy, vua tỏ ra rất vui vẻ:
- Quả là danh bất hư truyền, lời đồn đại về tài năng của ngươi thật chẳng ngoa Nói rồi, vua Nguyên sai ban rượu ngon và sai viên nội giám xuất nhiều vàngbạc trong kho để tặng thưởng Mạc Đĩnh Chi
Trong kỳ đi sứ này của Mạc Đĩnh Chi có một phiên chầu, sứ giả nước ngoàidâng vua Nguyên một chiếc quạt quý Vua sai sứ Cao Ly và sứ Đại Việt làm bài
Trang 24vịnh chiếc quạt Sứ Việt đã nhanh chóng làm một bài thơ rất hay, có khí phách lớn
và chữ nghĩa đối nhau rất tài tình
Bài thơ có những câu:
Lưu kim thước thạch, thiên địa vi lô, nhĩ ư tư thời hề Y, Chu cự nho.
Bắc Phong kỳ lương, tuyết vũ tái đồ, nhĩ ư tư thời hề Di, Tề nga phu
Y! Dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng, duy ngã dữ nhĩ hữu thị phù.
Nghĩa là: Nóng chảy vàng tan đá, trời đất là lò, bấy giờ người ta là bậc cư nho
như Y Doãn, Chu Công.
Gió bắc rợn người, mưa tuyết đầy đường, khi đó người là kẻ trượng phu chết đói như Bá Di, Thúc Tề.
Ôi! Được dùng thì làm, bị bỏ thì ở ẩn, chỉ riêng với người là làm được việc đó
thôi.
Bài thơ của Mạc Đĩnh Chi làm xong trước sứ Cao Ly Nguyên Thành Tổ xemxong nức nở khen mãi Vua Nguyên thực sự khâm phục tài năng viên sứ nước ĐạiViệt Chính Nguyên Thành Tổ biết rằng mình thiếu một bề tôi có tài, có khí phách
và lanh lợi như thế Nguyên Thành Tổ đã phê vào bài thơ bốn chữ "Lưỡng quốc
Trạng nguyên" và tự tay trao văn bằng cho Mạc Đĩnh Chi Vua trìu mến nói:
- Tài năng của nhà ngươi, bản triều ta không dễ có người sánh được Cũng chỉ ởnước Đại Việt mới có được những viên sứ như nhà ngươi
Có lần Mạc Đĩnh Chi cưỡi lừa rong chơi trên đường phố Bắc Kinh, vô ý đụngphải ngựa một viên quan Viên quan này vênh mặt hỏi bằng một câu đối:
"Xúc ngã kỵ mã, Đông di chi nhân dã, Tây di chi nhân dã?" (Đụng vào ngựa ta
cưỡi, ấy là rợ phương Đông hay rợ phương Tây?) Viên quan dùng chữ trong sáchMạnh Tử, có ý khinh rẻ, cho người nước ta là mọi rợ
Mạc Đĩnh Chi thấy viên quan giở giọng kẻ cả, bực lắm bèn đọc luôn: "át dư
thừa lư, Nam phương chi cường dư, Bắc phương chi cường dư?" (Húc vào đầu lừa,
hỏi phương Nam mạnh hay phương Bắc mạnh?)
Trong vế đối, Mạc Đĩnh Chi cũng dùng chữ trong sách Trung Dung và ngụ ý đểviên quan kiêu ngạo thấy "Chưa biết mèo nào cắn mỉu nào!"
Một hôm, nhân việc quan rỗi rãi, Mạc Đĩnh Chi vào thăm phủ thừa tướng nhàNguyên Trong phủ trang hoàng lộng lẫy, có treo một bức trướng to tướng, trênthêu một con chim sẻ đậu cành trúc, trông tựa như chim thật Ông lại gần xem,thừa tướng và các quan quân nhà Nguyên cười:
- A, sứ thần "An Nam" thấy lạ lắm phải không? Ha ha!
Mạc Đĩnh Chi vội thẳng thay kéo soạt, bức trướng rách toang, tiện tay xé luônmấy cái nữa, bức trướng rách tung ra từng mảnh rơi lả tả
- Sao ngài lại xé bức trướng quý này?
Một viên quan hốt hoảng kêu lên
Mạc Đĩnh Chi nghiêm nét mặt lại, bảo:
Trang 25- Tôi thấy người xưa chỉ vẽ cây mai và chim sẻ thôi Vì trúc là quân tử, chim sẻ
là tiểu nhân, nay thừa tướng lấy trúc với chim sẻ thêu vào trướng, như vậy là tiểunhân ở trên quân tử Tôi sợ đạo tiểu nhân lớn hơn, đạo quân tử mòn đi, nên vìthánh triều trừ bỏ nó đi, chứ thứ ấy quý giá nỗi gì
Quan thừa tướng nọ ức quá, song không có cớ gì để quở trách hoặc bắt đềnđược Bấy lâu nay, ông ta đã từng tự hào có bức trướng đẹp và sang trọng này, bứctrướng từng tô điểm căn phòng thêm lịch sự, nay bỗng dưng rách tan tành, thật làtai bay vạ gió Ông ta tiếc rẻ mãi, nhưng chỉ dám xuýt xoa trong lòng
Tối hôm ấy, quan thừa tướng mời Mạc Đĩnh Chi đến uống trà và ngâm vịnh.Ông ta cho bày tiệc trà ở giữa sân để tiếp khách và hóng mát
Dưới ánh trăng rằm sáng vằng vặc, chủ và khách ngồi uống trà thân mật, thỉnhthoảng Mạc Đĩnh Chi lại ngâm một câu thơ, chủ cũng ngâm thơ họa lại Hai ngườicân tài cân sức, chẳng ai chịu kém Đêm càng khuya, cả chủ lẫn khách càng say mêgửi gắm lời thơ của mình vào cảnh thiên nhiên Chủ đôi lúc lại nhớ đến bức trướngrách trong lòng ấm ức, bực vì gặp phải ông khách quá thô bạo Đêm đã khuya, khitiệc sắp tan, ông ta định trả miếng lại chuyện ban chiều, liền cầm một chiếc chén,
lý sự với Mạc Đĩnh Chi rằng:
- Cây kỷ là gỗ, cái chén không phải là gỗ, tại sao lại lấy gỗ làm chén?
Mạc Đĩnh Chi thấy câu hỏi thật phi lý, dớ dẩn, lý sự, ông bèn cười mà hỏi lạirằng:
- Thưa ngài thừa tướng! Ngài hãy giải thích: Phật không phải là người, thầytăng là người, vậy cái gì đã khiến cho thầy tăng thờ Phật?
Thừa tướng cười to xí xóa Hai người dắt tay nhau đi vào trong nhà Vừa bướcchân lên bậc cửa, thừa tướng lại ra đối:
- An khử nữ dĩ thỉ vi gia (Chữ an bỏ chữ nữ đi, thêm chữ thỉ vào thành chữ gia
(nhà))
Mạc Đĩnh Chi thấy đây là một lối chơi chữ rất thâm hiểm của người ra đối Nóinhư vậy có nghĩa là nhà Nguyên cần phải xóa bỏ nước An Nam, nhập thành châuhuyện của họ Ông lập tức đối lại rất sắc bén:
- Tù xuất nhân, lập vương thành quốc (Chữ tù bỏ chữ nhân đi, thêm chữ vương
- Thưa tiên sinh, hôm nay đại bất hạnh cho hoàng tộc, bà công chúa đã mất,Thánh thượng biết ngài là người có giọng đọc tốt, hơn nữa tiên sinh lại là ngườingoài nên triều đình có ý muốn nhờ tiên sinh đọc bài điếu văn cho thêm phần trangtrọng
Trang 26Mạc Đĩnh Chi nhận lời:
- Tôi cũng muốn đến để viếng công chúa và chia buồn với nhà vua, nhưngchẳng hay bài điếu văn này, triều đình muốn tôi phải viết ý tứ gì?
Sứ giả nhà Nguyên nói:
- Bài điếu văn đã được viết sẵn rồi Chỉ dám phiền tiên sinh đọc mà thôi
Tang lễ được cử hành rất linh đình để khoe sự giàu sang và truyền thống nghi lễcủa nước lớn Đến ngày cuối cùng là ngày an táng công chúa, Mạc Đĩnh Chi đượcmời vào cung để đọc điếu văn
Ông được một viên quan long trọng nâng hai tay ngang đầu chuyển cho bài điếuvăn Một sự kiện cổ kim không tiền khoáng hậu có một không hai đã xảy ra Bài
điếu văn chỉ có một chữ, đó là chữ "nhất" rất to.
Trước sự việc như vậy, Mạc Đĩnh Chi không hề bối rối vì ông biết chắc chắn thếnào người Nguyên cũng thử tài mình bằng những cách thức vô cùng hiểm hóc.Sau một thoáng nghĩ, ông lấy giọng đọc sang sảng, lâm ly bài điếu sau:
Thanh thiên nhất đóa vân,
Hồng lô nhất điểm tuyết,
Thượng uyển nhất chi hoa,
Quảng Hàn nhất phiến nguyệt.
Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết.
Nghĩa là:
Trời xanh có một đám mây,
Trong bầu vũ trụ có một điểm tuyết,
Trong vườn Thượng uyển có một cành hoa,
Cung Quảng Hàn có một vầng trăng.
Than ôi! Mây đã tan, tuyết đã tan, hoa đã tàn Vầng trăng đã khuyết.
Đọc xong với vẻ mặt buồn rầu, ông nghiêm trang bước ra trước sự xúc độngnghẹn ngào của những cung phi mỹ nữ và trước vẻ tưng hửng của vua nhà Nguyên
vì họ đã giương bẫy để sứ nước Đại Việt chui vào Nhưng do tài trí tuyệt vời mà sứgiả nước Đại Việt lại ung dung đi ra trước sự khâm phục của mọi người
Mạc Đĩnh Chi lại tạo ra một kỳ tích có một không hai trong lịch sử văn chươngchữ nghĩa ở thời đại của ông
Hôm sau, Mạc Đĩnh Chi khăn mũ chỉnh tề vội vàng vào chầu lần cuối để tạ biệtvua Nguyên về nước Trong lòng ông mừng lắm, suốt đêm qua ông không saochợp mắt được, cứ nghĩ đến lúc gặp gỡ người thân, gặp bạn bè, lòng lại rộn lên xaoxuyến
Vào tới công đường, ông đã thấy các quan văn võ tề tựu đông đủ Ông rảo bướclên hàng đầu tâu lớn:
- Dạ, muôn tâu bệ hạ! Thần có lời từ biệt, xin chúc bệ hạ vạn thọ vô cương
Trang 27Suy nghĩ giây lát, từ trên ngai vàng, vua Nguyên phán xuống:
- Bấy lâu nay, nhà ngươi lưu lại Yên Kinh, thăm phong cảnh, xem xét kỹ lưỡngmọi nơi, ngày nào cũng cưỡi ngựa đi trên đường cái quan, thế ngươi có biết mỗingày có bao nhiêu người qua lại trên đường cái quan không?
Trên đường phố ở kinh đô Yên Kinh rộng lớn này hàng ngày có biết bao nhiêungười qua lại, làm sao có thể biết được? Thật là một câu hỏi oái oăm, nan giải, MạcĐĩnh Chi nghĩ vậy
Thấy Mạc Đĩnh Chi ngập ngừng, vua Nguyên và quần thần ra vẻ hí hửng, tưởngrằng phen này, Mạc Đĩnh Chi phải chịu bí
Nhưng Mạc Đĩnh Chi cười nói:
- Thưa bệ hạ, có hai người chứ mấy?
Vua Nguyên ngạc nhiên hỏi:
- Người nói sai rồi Sao lại chỉ có hai người thôi?
- Có một chiếc thuyền, trong đó chỉ có vua, thầy học và cha mình (quân, sư,phụ) bơi đến giữa sông chẳng may bị sóng lớn làm đắm thuyền Khi ấy, ngươi ởtrên bờ nhảy xuống bơi ra cứu, nhưng chỉ có thể cứu được một người thì ngươi cứuai?
Với câu hỏi hóc búa này, vua Nguyên cho rằng nhất định Mạc Đĩnh Chi sẽ mắctội lớn Vì rằng nếu Mạc Đĩnh Chi chỉ cứu vua, ắt mắc tội bất hiếu với cha, bấtnghĩa với thầy học Nếu nói chỉ cứu thầy thì mắc tội bất trung với vua, bất hiếu vớicha Tội ấy quả đáng phải chém đầu Nếu chỉ cứu cha thì lại mắc tội bất trung, bấtnghĩa Nếu không nói gì tức là không cứu ai, tội ấy càng nặng
Quần thần nhà Nguyên đắc ý đưa mắt nhìn nhau, thầm thì bàn tán, cho rằngphen này họ Mạc nhất định mắc tội chém đầu chứ chẳng chơi
Nhưng Mạc Đĩnh Chi không hề tỏ ra lúng lúng, mà ông dõng dạc trả lời:
- Thần đứng trên bờ, thấy thuyền bị đắm tất phải vội vã nhảy xuống sông bơi racứu, hễ gặp ai trước thì cứu người ấy, bất kể người ấy là vua, thầy hay cha mình
Cả triều đình trố mắt thán phục trước câu trả lời ấy
Vua quan nhà Nguyên đành phải để Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi
và đoàn sứ thần về nước
Mạc Đĩnh Chi làm quan trải ba triều vua: Trần Anh Tông (1293-1314), TrầnMinh Tông (1314-1329), Trần Hiến Tông (1329-1341) Khi làm quan, ông nổitiếng trung thực và thanh liêm, hết lòng vì dân vì nước Đến lúc già về hưu chỉ cóxếp từ đường (thờ tổ tiên) nhỏ bé mà thôi, thường ngày ông vẫn ra ngồi nơi quán lá
Trang 28ngoài đồng uống bát nước vối, chuyện trò thân mật với dân làng Ông sống thanhbạch, giản dị như người dân quê…
Ngày nay, để tưởng nhớ công lao của Mạc Đĩnh Chi ở Hà Nội, Thành phố HồChí Minh và một số địa phương đều có đường phố, trường học mang tên ông
Bài phú Hoa sen giếng ngọc nổi tiếng của Mạc Đĩnh Chi:
Ngọc tỉnh liên phú
Khách hữu:
ẩn kỹ cao trai: hạ nhật chính ngọ.
Lâm bích thủy chi thanh trì; vịnh phù dung chi Nhạc phủ.
Hốt hữu nhân yên:
Dã ký phục; hoàng ký quan.
Quýnh xuất thần chi tiên cốt; lầm tịch cốc chi cù nhan.
Vấn: "Chi hà lai", viết: tòng Họa san.
Nãi thụ chi kỷ; nải sử chi tạo.
Phá Đông lăng - chi qua; tiến Dao trì - chi quả.
Tái ngón chi lang; tái tiếu chi thả.
Ký nhi mục khách viết:
"Tử phi ái liên chi quân tử da?"
Ngã hữu di chủng, tàng chi tụ gian.
Phi đào lý chi thô tục; phí mai trúc chi cô hàn.
Phi tăng phòng chi câu kỷ; phi Lạc thổ chi mẫu đan.
Phi Đào lệnh đông ly chi cúc; phi Linh Quân cửu uyển chi lan!
Nãi Thái họa phong đầu Ngọc tỉnh chi liên"
Khách viết:
Dị tai! Khởi sở vị ngẫu như: "Thuyền hề hoa thập trượng, lãnh tỉ sương hề cam
tỉ mật giả da?"
Tích văn ký danh, kinh đắc kỳ thực.
Đạo sĩ hàn hiên, nãi tụ trung xuất.
Khách nhất kiến chi, tâm trung uất uất.
Nãi phất thập dạng chi tiên, tri ngũ sắc chi bút.
Dĩ vi ca viết:
Giá thủy tinh hề vi cung, tạc lu li hề vi hộ.
Toái pha lê hề vi nê, sái minh châu hề vi lộ.
Hương phức úc hề tằng tiêu, Đế văn phong hề như mộ.
Quế tử lãnh hề vô hương, Tố Nga phân hề nhữ đố.
Trang 29Thái dao thảo hề phương châu vọng mỹ nhân hề Tương phố.
Kiển hà vi hề trung lưu, hạp tương phan hề cố vũ.
Khởi bộ lạc hề vô dung, thán thuyền quyên hề đa ngộ.
Cẩu dư bính chi bất a, quả hà thương hồ phong vũ.
Khưng phương hồng hề dao lac, mỹ nhân lai hề tuế mộ".
Đạo sĩ văn nhi thán viết:
Tử hà vi ai thả oán dã?
Độc bất kiến Phượng hoàng trì thượng chi tử vì, Bạch Ngọc đường tiền chi hồng dược?
Quýnh địa vị chi thanh cao, ái thanh danh chi chiêu chước.
Bỉ giai kiến quý ư thánh minh chi triều, tử độc hà chi hồ tao nhân chi quốc?
ư thị hữu cảm tư khôn, khởi kính khởi mộ.
Nga thành Trai đình thượng chi thi, canh Xương Lê phong đầu chi cú.
Khiếu xương hạp, dĩ phi tâm Kính hiến "Ngọc tỉnh liên chí phú".
Dịch nghĩa:
Phú hoa sen giếng ngọc
Khách có kẻ:
Nhà cao tựa ghé: trưa hạ nắng nồng.
Ao trong ngắm làn nước biếc; Nhạc phủ vịnh khúc phú dung.
Chợt có người:
Mặc áo quê; đội mũ vàng.
Tiên phong đạo cốt; khác xa trần gian.
Hỏi: "ở đâu lại?", rằng: "Tôi Họa san"
Bèn bắc ghế; bèn mời ngồi.
Dưa Đông lăng - đem cắt; quả Dao trì - đem mời
Bèn sang sảng nói; bèn ha hả cười.
Đoạn rồi, trông khách mà rằng:
"Anh cũng như người quân tử ưu hoa sen đó chăng?"
Ta có giống lạ, trong ống áo này.
Chẳng phải như đào trần lý tục; chẳng phải như trúc cỗi mai gầy.
Câu kỷ phòng tăng khó sánh; mẫu đơn đất Lạc nào Tây.
Giậu Dào lệnh cúc sao ví dược; vườn Linh Quân lan khó sánh thay!
ấy là giống sen giếng Ngọc ở đầu núi Thái hoa đây".
Khách rằng:
"Lạ thay! Có phải người xưa từng bảo: "Ngó như thuyền mà hoa mười trượng,
lạnh như sương mà ngọt như mật" đó ư?
Trang 30Trước vẫn nghe tiếng, nay mới thấy thật.
Đạo sĩ lòng vui hớn hở, lấy trong ống áo trưng bày.
Khách vừa trông thấy, lòng ngậm ngùi thay.
Giấy mười thức xếp sẵn, bút năm sắc thấm ngay.
Làm bài ca rằng:
Thủy tinh gác để làm cung,
Cửa ngoài lóng lánh bao vòng lưu ly
Bùn thời tán bột pha lê,
Hạt trai làn móc dầm dề tưới cây.
Mùi hương thơm ngát tầng mây,
Ngọc hoàng nghe cũng rủ đầy tình thương.
Lạnh lùng hạt quế không hương.
Tố Nga lại nổi ghen tuông bời bời.
Bãi sông hái cỏ dạo chơi,
Bến Tương luống nhưng trông vời Tương phi.
Giữa dòng lơ lửng làm chi,
Nhà xưa sao chẳng về đi cho rồi.
Há rằng trông rỗng bất tài,
Thuyền quyên lắm kẻ lỡ thời thương thay.
Nếu ta giữ mực thẳng ngay,
Mưa sa gió táp xem nay cũng thường.
Sợ khi lạt thắm phai hương;
Mỹ nhân đến lúc muộn màng hết xuân".
Đạo sĩ nghe than mà rằng:
Sao anh lại ai oán như thế?
Anh không thấy hoa tử vi trên ao Phượng hoàng,
Hoa hồng dược trước thềm Bạch Ngọc đường đó sao?
Đại vị cao cả; danh tiếng vẻ vang.
Triều minh thánh chúng ta đều được quý; cõi tao nhân anh đi mãi sao đang?
Khách bấy giờ:
Nghe lọt mấy lời, đem lòng kính mộ.
Ngâm thơ đình thượng của thành Trai,
Họa câu phong đầu của Hàn Dũ.
Gõ cửa thiên môn, giãi tấc lòng.
Kính dâng bài "Ngọc tỉnh liên phú".
Phan Võ dịch
Trang 31Trạng nguyên Đào sư tích
Đào Sư Tích là người xã Cổ Lễ, huyện Tây Chân, nay là thị trấn Cổ Lễ, huyệnTrực Ninh, tỉnh Nam Định Có tài liệu nói ông người xã Song Khê, huyện YênDũng, tỉnh Bắc Giang Cha là Đào Toàn Mân, giữ chức Tri thẩm hình viện sự(1381)
Đào Sư Tích đỗ Trạng nguyên khoa Giáp Dần, niên hiệu Long Khánh thứ 2(1374) đời Trần Duệ Tông Từ thi Hương đến thi Đình ông đều đỗ thủ khoa
Đào Sư Tích làm quan trải ba đời vua: Trần Duệ Tông (1372-1377), Trần Phế
Đế (1377-1388) và Trần Thuận Tông (1388-1398) Nguyên quán ông là làng Cổ
Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, nhưng sau này, ông dời nhà lên ở xã Lý Hải,huyện An Lãng, phủ Tam Đái thuộc Sơn Tây (nay là thôn Lý Hải, xã Phú Xuân,huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc) Ông mất tại quê hương thứ hai là xã Lý Hải
Mộ ông hiện còn ở xứ Đồng Đống, xã Lý Hải
Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Tháng 2, mùa xuân, Thượng hoàng ở cung TrùngHoa tại Thiên Trường, thi Đình chọn tiến sĩ, cho Đào Sư Tích đỗ Trạng nguyên, LêHiến Phủ đỗ Bảng nhãn, Trần Đình Thâm đỗ Thám hoa" Tất cả các vị đỗ khoa nàygồm 50 người đều được ban yến, áo, xếp cho quan chức theo thứ bậc khác nhau.Riêng ba vị đỗ Tam khôi, được ân vinh đi chơi phố 3 ngày"
Đào Sư Tích là con nhà dòng dõi khoa bảng Phụ thân ông là Đào Toàn Mân đỗTiến sĩ chính bảng làm quan chức tri Thẩm hình viện sự - cha con đều làm quancùng triều Tháng 5 năm Tân Dậu (1381), ông được bổ nhiệm chức Nhập nội hànhkhiển hữu ti Lang trung Tháng 12 năm Nhâm Tuất (1382), Thượng hoàng NghệTông ngự ở điện Bảo Hoà cho triệu tập các quan viên trong triều là Thiêm tri nộimật viện sự Nguyễn Mậu Tiên, Lang trung bộ Lễ Phan Nghĩa và gia thần Vũ Hiến
hầu (không rõ tên) để hỏi các việc cũ, sai biên chép, làm thành bộ Bảo Hoà điện
dư bút gồm tám quyển, ghi chép theo ngày tháng để dạy vua Phế Đế Ông Đào Sư
Tích được Thượng hoàng sai viết bài tựa, tài năng văn học của ông được gặp thời
là như thế Tháng 12 năm Nhâm Thìn (1392), Hồ Quý Ly bắt đầu chuyên quyền
Họ Hồ viết 14 thiên Minh Đạo dâng lên vua Trần Thuận Tông, tự ý muốn sắp xếplại bài vị Khổng Tử thờ ở Văn Miếu vì theo Hồ Quý Ly, Khổng Tử chưa phải làThiên tử, Khổng Tử chưa phải là Tiên thánh nên không được ngồi chính giữa, vì đó
là vị trí của Thiên tử; nghi ngờ Khổng Tử, phê phán một số nhà hiền triết củaTrung Quốc cổ đại
Những việc làm mang hàm ý xúc phạm đến Nho giáo bị viên quan Trung thưThị lang hoàng môn 13 là Tiến sĩ Đoàn Xuân Lôi dâng thư can Thượng hoàng có
Trang 32câu "không nên như thế", có nghĩa không thể khen và tin việc làm của Hồ Quý Ly.
Hồ Quý Ly dùng uy quyền phát vãng Đoàn Xuân Lôi đi cận châu (châu gần), cònĐào Sư Tích vì có liên quan đến việc: ông xem bức thư của Đoàn Xuân Lôi dânglên Thượng hoàng, nên bị coi là đồng mưu bác lại ý kiến của Hồ Quý Ly và bịgiáng truất làm Trung thư thị lang đồng Tri thẩm hình viện sự Đó cũng là do khi
kẻ nghịch thần cầm quyền bính mà ông thì giữ mình không cẩn thận, nên cuối cùng
sự nghiệp thất bại, rồi chết để giữ trọn khí tiết
Văn phẩm của ông để lại hiện còn bài văn Đình đối của ông trong kỳ thi khoaGiáp Dần năm 1374 Đây là bài văn thi Đình duy nhất của các khoa thi Đình đời
Trần còn được ghi chép lại Bài phú sao Cảnh (Cảnh tinh phú) chép trong "Quần
hiền phú tập" là tập phú của các danh sĩ các đời từ Trần - Hồ đến Lê, do ông Nguyễn
Thiên Túng viết bài tựa biên năm Diên Ninh Đinh Sửu (1459) Bài này được công
bố trên tập tuyển "Thơ văn Lý - Trần" Theo quan niệm của các nhà Nho, mỗi khitrong nước mà âm dương hài hoà, gió mưa đúng thời thì có sao Cảnh ứng nghiệm.Trong bài, ông miêu tả cảnh sắc khi "Cảnh tinh" xuất hiện:
Mà xem: Màu sắc huy hoàng, anh hoá bát ngát, Rọi vầng trăng bạc trắng ngần, choán dòng sông Ngân xanh ngắt Cạnh ngôi Đế tọa rõ ràng, phản chiếu mặt trời vằng vặc Long lanh Tích Mộc bến trời, phụ lộ
nổi sắc.
Sáng ngời Chu Bá, ánh dọi nghiêng nghiêng Hàm dự chiếu soi tia giao rừng rực Này sắc nghiêm trang mà bóng lạng lùng, chính đó là sao cát trạch theo bên sao đức Đời vua Đường Nghiêu, thiên hạ sáng ngời, bầu trời chói lọi, rực rỡ khắp nơi Sao đến cuối đời Hán, Đường, luôn tối tăm mờ mịt đất trời?
Trong cảnh nước nhà, ông ca ngợi: "Nay nhân gặp buổi thịnh thời, bầu trời lại
rạng, người người xem thấy sướng vui, đủ nghiệm phép trời toả sáng Điềm tốt lạ lùng rất mực, làm cho thiên hạ thái bình Âm dương hoà hợp, trời đất yên minh Mưa hoà gió thuận, lúa tốt cây xanh Khói lửa ba bề yên tĩnh, gió mưa tám cõi vây quanh, lễ nhạc sáng tỏ, phép tắc phân minh Người yên vật thịnh, chính tốt hình thanh Âu ca muôn phương rộn tiếng, ngợi khen bốn bể lừng danh Thật đủ để nêu cao nước nhà thịnh trị và dâng lên một đấng 23 điều hành".
Cuối bài, ông dâng lời cầu chúc, khẳng định:
"Thần kính cẩn chắp tay cúi đầu và dâng lời rằng:
Kìa xem điềm báu
Rực rỡ trời cao
Điềm của thái bình
Phúc biết dường bao
Với Thánh hoàng ta,
Tại đức không tại sao"
Trang 33Sau khi mất, ông được dân xã Cổ Lễ lập đền thờ tại nguyên quán, gọi là "Đào
Sư Tích Từ" Ngày nay, tại chùa Cổ Lễ có tấm bia "Nhị Đào công từ bi" (bia vềđền thờ hai cha con ông họ Đào)
Tại làng Lý Hải, ông được cũng thờ "Miếu quốc tế" và được xếp là bậc danhhiền, phong Phúc thần
Trạng nguyên Đào Sư Tích còn có một giai thoại sau:
Ông đi thi Hội, khi xuất hành, ra đến cổng gặp người con gái, ông quay mặt nhổnước miếng Người con gái ấy nói lại:
- Gặp tôi có can gì đến việc đi thi của ông? Gặp con gái là tốt vì chữ "nữ" ghépvới chử "tử" là chữ "hảo", ông đi chuyến này ắt đỗ Tiến sĩ
Đào Sư Tích trả lời:
- Tiến sĩ đâu vừa ý ta
Người con gái lại nói:
Trang 34Triều lê
Lưỡng quốc Trạng nguyên NGUYỄN TRỰC
(1417-1474)
(Trạng nguyên được vua yêu quý nhất)
Nguyễn Trực nguyên quán xã Bối Khê, huyện Thanh Oai, nay là thôn Bối Khê,
xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội Trú quán xã Nghĩa Bang,huyện Yên Sơn, nay thuộc huyện Quốc Oai, Hà Nội
Năm 25 tuổi, ông đỗ Trạng nguyên khoa Nhâm Tuất1 (1442) đời Lê Thái Tông,làm quan đến chức Trung thư lệnh, Tri tam quán sự, Đại liêu ban, Đặc thụ Hàn lâmviện thừa chỉ kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám Ông chính là người đầu tiên được ban
mũ áo vinh quy và cũng là người có tên đứng đầu trong bia tiến sĩ đầu tiên ở VănMiếu - Quốc Tử Giám Nguyễn Trực là văn thần được các vua Lê mến yêu, quýtrọng Vua Lê Nhân Tông rất quý ông, sai người vẽ chân dung của ông rồi treo bênchỗ ngồi của mình để tỏ ý vua yêu dấu không lúc nào quên được Khi Lê Nghi Dângiành được ngôi báu, biết tài của ông nên ra sắc dụ nhiều lần vời Nguyễn Trực ralàm quan nhưng ông không nhận Đời Lê Thánh Tông, Nguyễn Trực càng đượcyêu quý, thơ văn vua sáng tác phần nhiều đều đưa đến cho ông xem để nhận xét,
bình luận Bộ sách nổi tiếng "Thiên Nam dư hạ tập", vua cũng cho người mang đến
tận nhà để ông đọc, bình phẩm, đủ thấy vua quý trọng ông đặc biệt như thế nào
Tác phẩm của ông có Bối khê thi tập nay chỉ còn sáu bài thơ chữ Hán chép trong
Toàn Việt thi tập Đến khi ông mất, vua thương tiếc vô hạn, truy tặng hàm Thái
bảo, ban tiền bạc để làm lễ viếng; vua còn sai các đại thần hộ tống linh cữuNguyễn Trực về tận quê hương rồi sai dân bản quán lập đền thờ phụng
Trạng nguyên Nguyễn Trực có những giai thoại sau:
Cha của Nguyễn Trực là Nguyễn Thì Trung, là người có học vấn cao, làm Giáothụ Quốc Tử Giám dưới triều vua Lê Thái Tông Nguyễn Trực đã phát huy đượctruyền thống của gia đình, nên hiếu học từ bé Gia đình tuy làm quan trong triềunhưng rất thanh bạch Nhà nghèo, Nguyễn Trực thường phải chăn trâu, giúp đỡ giađình Lúc bé thông minh, học giỏi, xem rộng các sách Nhiều khi ngồi trên mình trâu
mà tay không rời cuốn sách Vừa chăn trâu vừa treo sách lên sừng trâu học, khôngbiết mệt mỏi Mười hai tuổi, ông giỏi văn, thơ Năm Thiệu Bình thứ nhất (1434), ởtuổi 17, Nguyễn Trực dự kỳ thi Hương và đỗ đầu (Giải nguyên) Năm Nhâm Tuất
1 Khoa thi này (1442) lấy đỗ 33 Tiến sĩ.
Trang 35niên hiệu Đại Bảo thứ ba (1442), 25 tuổi, ông dự thi Đình, đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ
cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên) Ông được nhà vua ban sắc "Quốc Tử Giám Thi
thư" và ban thưởng á Liệt Khanh, đứng đầu trong số 33 vị Tiến sĩ cùng khoa Lần
đầu tiên trong lịch sử nước ta, vua Lê ban mũ áo Trạng nguyên vinh quy về làng.Tên tuổi Nguyễn Trực được đứng đầu trong bia Tiến sĩ đầu tiên ở Văn Miếu - Quốc
Tử Giám, Hà Nội
Năm 1442, cha ông qua đời, Nguyễn Trực về quê chịu tang Năm Giáp Tý niênhiệu Thái Hòa (1444) dưới triều Lê Nhân Tông, ông được nhà vua ban chức Triềunghi đại phu Hàn lâm viện học sĩ Năm ất Sửu niên hiệu Thái Hòa (1445) được banchức Thiếu trung khanh đại phu, Ngự sử đài ngự sử thị Đô úy nhưng Nguyễn Trực
đã dâng biểu từ chối, khiến vua Lê phải ra sắc dụ tới ba lần ông mới chịu nhận.Sau đó, ông được vua cử làm Chánh sứ sang nhà Minh, gặp kỳ thi Đình, Trạngnguyên Nguyễn Trực cùng với Phó sứ là Trịnh Thiết Trường muốn cho nhà Minhbiết đến tài học của dân ta, nên xin dự thi Kết quả chấm thi: Nguyễn Trực đậuTrạng nguyên, Trịnh Thiết Trường đậu Bảng nhãn Vua nhà Minh phải khen ngợi:
"Đất nào cũng có nhân tài" và phong cho Nguyễn Trực là "Lưỡng quốc Trạng
nguyên" Trở về nước, cả hai ông đều được nhà vua phong chức Thượng thư vàban thưởng tám chữ vàng: "Thành công danh Nam Bắc triều biên ngã" (Công danh
cả hai nước đều hoàn thành)
Năm Giáp Tuất (1454), mẹ ông qua đời, ông xin cáo quan về quê chịu tang Hàngngày đọc sách và làm thuốc không biết mệt mỏi, ông còn mở trường dạy học, các học
sĩ bốn phương đến theo học rất đông, có tới hàng nghìn Nhiều bậc cự nho, danh sĩkhoa bảng từng là học trò của Trạng nguyên Nguyễn Trực trong thời gian ông ở quêchịu tang mẹ
Năm Đinh Sửu niên hiệu Diên Ninh thứ ba (1457), tháng 6 mãn tang mẹ, sứ nhàMinh sang, vua vời ông về kinh giữ việc tờ bồi qua lại với sứ nhà Minh Ông họathơ lưu biệt sứ Minh 50 vận, làm vẻ vang cho quốc thể
Sứ nhà Minh là Hoàng Gián rất mực thán phục văn chương uyên bác, tài trí hơnngười của Nguyễn Trực
Khi vua Lê Nhân Tông bị bọn Nghi Dân giết chết, Nguyễn Trực thảo văn tế, lời
lẽ thống thiết, kể hết công đức của các tiên đế đã từng chiến thắng quân Minhgiành nền độc lập cho xã tắc Vua Lê Thánh Tông lên ngôi vua năm 1460, NguyễnTrực càng được vua yêu quý Vua Lê Thánh Tông là ông vua chuộng văn chương,
đứng đầu "Tao đàn nhị thập bát tú", tự xưng là Tao đàn Đô Nguyên súy Thân
Nhân Trung, Đông các Đại học sĩ là Tao đàn phó Nguyên súy đã từng ca ngợiNguyễn Trực: "Lấy văn chương được các triều trí ngộ mà khiêm tốn mà kính cẩngiữ vẹn trước sau" Năm Quang Thuận (1460), Nguyễn Trực được bổ Tuyên phụngđại phu, Trung thư lệnh, ở hàng văn quan rất to
Trang 36Nguyễn Trực là người đỗ đại khoa mà coi thường công danh Mấy lần ông xin
về quê, nhà vua không cho về Ông rất muốn về sống với mảnh ruộng, góc vườn,dạy học, làm thuốc cứu giúp nhân dân Cho đến khi mất, ông vẫn giữ được tấmlòng trong sạch Nguyễn Trực thọ 57 tuổi, ông mất vào năm Hồng Đức thứ 4(1474) Tên tuổi của Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực mãi mãi là dấu sontrong lịch sử văn hiến Việt Nam
Chuyện quanh phần mộ Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực:
Ngày 28 tháng 12 năm Quý Tỵ (1473), ông bị bệnh và mất tại phường ThịnhQuang, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên (tháng 7 năm 1473, vua lại vời ôngvào kinh, giao giữ chức Gia khanh đại phu Hàn lâm viện thừa chỉ) Ngày 3 tháng 3năm Giáp Ngọ (1474), thi hài ông được vua cho đưa về quê an táng tại xứ ĐồngMuội (Nghĩa Bang) và ngày 13 tháng 7 năm Giáp Thìn (1484) được vua Lê ThánhTông cho cải táng, đưa về khu Ao Đế, trang Tây Tựu, thảo đường núi Thịnh Mỹ,thôn Đại Lại, xã Bạch Thạch, huyện Mỹ Lương, phủ Quảng Oai (nay thuộc xã HòaThạch, huyện Quốc Oai) Hàng năm, vào ngày 16 tháng 5 âm lịch, tế yết Lưỡngquốc Trạng nguyên có xôi gà; ngày 28 tháng 12 âm lịch tế chạ có thịt lợn; xuân thunhị tế vào 12 tháng 3 âm lịch và 12 tháng 9 âm lịch, do chức sắc, kỳ cựu, hươnglão, hương trưởng đến lễ Việc tế lễ kéo dài cho đến năm 1954 thì chấm dứt
Cái tên Ao Đế trước đây gây khó khăn cho con cháu đi tìm mộ ông vì trong vùng
có đến hai nơi cùng gọi là Ao Đế Việc phát hiện ra mộ ông hoàn toàn tình cờ và donhững người khác họ, đó là cụ Đỗ Đình An và con là Đỗ Đình Xuyên phát hiện tạivườn nhà mình ở Bạch Thạch Theo lời bà Đinh Thị Nạp (năm 2007 vào tuổi thượngthọ 81) là vợ cụ Đỗ Đình An thì gia đình nhà ông An đã nhiều đời định cư ở Ao Đế,đến năm 2007 là khoảng trên dưới 150 năm
Anh Đỗ Đình Xuyên kể: Cho đến năm 1971, gia đình anh vẫn sống ở ĐồiPhủ, còn nơi ở hiện nay (cách không xa Đồi Phủ) chỉ là vườn trồng cây lấylương thực chống đói khi giáp hạt, rộng trên một sào Sự việc xảy ra vào năm
1971, khi anh 12 tuổi, trong một lần bố anh bảo cùng lên vườn đào củ cái về ăn vì
đã đến kỳ thu hoạch Hai bố con chọn gốc to nhất, đào sâu để lấy được toàn bộ củlên đã vô tình chạm phải gạch đá ở dưới hố Sau khi lấy được củ cái, hai bố conđào tiếp, sâu đến khoảng 1 mét thì chạm nền gạch bát, đào rộng ra thấy quyvuông chừng 6 mét vuông Trên nền gạch đó, hai bố con anh Xuyên thu đượcmột số di vật quý như bốn viên đá hoa, bộ ấm sứ màu vàng xanh (theo phánđoán có thể là đồ gốm sứ thời nhà Lý, Trần), bên trong ấm có tờ giấy viết chữNho ghi việc con rể của Trạng nguyên Nguyễn Trực là Đô đốc Hoàng Bá Dươngxây lăng mộ cho bố vợ trên đất nhà họ Đỗ Ngoài ra, hai bố con anh không tìmthấy xương hay dấu tích gì khác của ngôi mộ (hòm gỗ hay tiểu sành dùng đựngxương khi cải táng - những chi tiết này đặt ra vấn đề: vậy thì phần mộ của cụthực sự có phải ở đây?) Khi bố anh và một vài người giúp đắp lại mộ và xây đài
mộ (cao hơn mặt đất chừng 1 mét) thì các di vật đó đều được đặt lại vào mộ và
Trang 37xây kín Ông An mất năm 1972 khi mới 59 tuổi và ông Chánh Hùng, người cùngxóm đã dịch giúp nội dung tờ giấy viết chữ Nho kia cũng mất đã lâu.
Khi cháu chắt Trạng nguyên Nguyễn Trực ở Bối Khê lên thăm mộ ông cho biếtthêm ở phía ngoài tường bao khu lăng mộ hiện nay, bên phải còn có ngôi mộ củamột người con gái ông (chưa rõ danh tính vì ông có nhiều con gái); ở bên trái, giápcổng lăng, có ngôi mộ của con rể (cũng chưa xác định có phải là Hoàng Bá Dươnghay người con rể khác) Hai ngôi mộ này cách đều mộ Trạng nguyên Nguyễn Trực5m về hai phía
Năm 1999, anh Xuyên cung tiến bốn thước đất (100m2) cho họ Đỗ bên ngoạiTrạng nguyên Nguyễn Trực xây lăng mộ cho ông ngay tại chỗ mà năm 1971 bốcon anh Xuyên tìm được những di vật quý Lăng mộ của ông được xây xong
ngày 10 tháng 2 năm 2001; bên phải, có những chữ ghi hàng dọc: Sinh Đinh Dậu
(1417), ở giữa có hàng chữ: Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực, bên trái có
những chữ: Mất năm Quý Tỵ (1473) Còn hai ngôi mộ kia hiện nằm trên đất
vườn nhà anh Xuyên (không có nấm mộ mà chỉ là phỏng đoán nơi đặt mộ)nhưng anh Xuyên không đồng ý bán, đổi hay cho khai quật nữa Vì trước đây,khi anh hiến đất xây lăng mộ Trạng nguyên Nguyễn Trực thì họ Đỗ đã một lầnthất tín (không cho nhà anh một chìa khóa để một tháng hai lần vào hương khóitại mộ Trạng nguyên Nguyễn Trực theo tâm thành với ông, mặc dù trước đó haibên đã có giao kèo) Do đó, mấy chục năm nay, khu lăng mộ này chỉ có hai bêngia tộc Trạng nguyên Nguyễn Trực (họ Nguyễn và hộ Đỗ, không phải họ ĐỗĐình nhà anh) thăm nom, bảo vệ, xây dựng; còn các cấp, các ngành chức năngchưa thấy có việc làm gì cụ thể
Mộ Trạng nguyên Nguyễn Trực ở Bạch Thạch là một trong những di tích hiếmhoi còn lại đến nay, cùng với đình và văn chỉ làng Thế Trụ, những nơi liên quanđến cuộc đời ông (trong khi từ đường, nhà riêng của ông ở Văn Khê thì không cònnữa) Đây là một hạng mục cần được hoàn thiện hồ sơ để công nhận, từ đó có thểbảo vệ lâu dài Đó là một cách để tưởng nhớ công ơn và tôn vinh Lưỡng quốcTrạng nguyên Nguyễn Trực
Trang 38Trạng nguyên nguyễn nghiêu tư
Nguyễn Nghiêu Tư - người xã Phù Lương, huyện Võ Giàng, nay là thôn PhùLương, xã Phù Lương, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Nguyễn Nghiêu Tư đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên)khoa Mậu Thìn, niên hiệu Thái Hòa thứ 6 (1448) đời Lê Nhân Tông Sau khi thi
đỗ, ông được bổ chức Hàn lâm Trực học sĩ, rồi đổi làm Tân Hưng lộ An phủ sứ LêNghi Dân tiếm ngôi, triều đình cử ông làm Phó sứ sang nhà Minh cầu phong (1-1460), sau thăng đến chức Thượng thư Chưởng lục bộ
Nguyễn Nghiêu Tư tự Quân Trù, hiệu Tùng Khê, tác phẩm còn hai bài thơ chữ
Hán chép trong Toàn Việt thi lục.
Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư có những giai thoại như sau:
Cậu bé Nguyễn Văn Trư (tên hồi nhỏ của Nguyễn Nghiêu Tư) sinh trưởngtrong một gia đình nghèo khó, mồ côi cha mẹ từ sớm, cậu phải "tha phương tầmthực", đi ở cho một gia đình giàu có ở Đông Sơn, huyện Đông Ngàn, trấn KinhBắc (nay là làng Đông Sơn, xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) làmnghề chăn lợn để kiếm sống
Vốn hiếu học, ham hiểu biết, thường ngày thả lợn quanh khu nhà học của thầy
đồ Vũ Mộng Nguyên, để tranh thủ thời gian đứng ngoài lớp học lỏm, không có đủgiấy bút, cậu dùng que viết xuống đất để nhập tâm Chữ nghĩa thầy MộngNguyên truyền dạy cho học trò, cậu đều thuộc lòng cả, dần dần cậu tinh thôngkinh sử Nhân một lần thầy Mộng Nguyên ra bài khó, hầu hết học trò đều cắn bút,thì cậu Trư đứng ngoài mách bảo, thấy vậy thầy cho gọi Văn Trư vào ứng đáp.Văn Trư khiêm tốn bước vào phòng học, không những cậu giải đáp trôi chảy màcòn ứng đối lưu loát khi thầy hỏi những câu ở trình độ cao hơn
Thầy Vũ Mộng Nguyên thấy cậu bé ăn mặc rách rưới, nhưng mặt mũi khôi ngô,tuấn tú mà lại ham học, thầy cho rằng đây chính là một tài năng hiếm có Thầy đãđến nhà giàu xin cho về làm con nuôi thầy, để sớm hôm có thì giờ nuôi dạy
Chẳng phụ công rèn cặp của thầy Mộng Nguyên, vốn sẵn tính thông minh trácviệt, Văn Trư ra sức dùi mài kinh sử, nên chẳng bao lâu cậu nổi tiếng thần đồnghay chữ cả vùng Kinh Bắc
Kỳ thi Hương, Nguyễn Văn Trư đậu Hương cống, được dự thi Hội và thi Đình
Trang 39Đến khoa thi Đình năm Mậu Thìn (1448) niên hiệu Thái Hòa thứ 6, đời vua LêNhân Tông lấy đậu 27 Tiến sĩ Nguyễn Văn Trư đậu Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệnhất danh (Trạng nguyên); Trịnh Thiết Trường đậu Bảng nhãn; Chu Thiêm Uy đậuThám hoa (toàn bộ danh sách 27 Tiến sĩ được khắc tên vào Văn bia số 2 đặt tạiVăn Miếu Quốc Tử Giám).
Truyện kể rằng, năm ấy Lê Nhân Tông nằm mơ lấy lợn đỗ đầu
Đến kỳ thi Đình, vua Lê Nhân Tông đích thân ra đề thi và đọc quyển của bangười đậu cao nhất Khi đọc quyển của Nguyễn Văn Trư, thấy đây quả là văn tàixuất chúng, bèn lấy Nguyễn Văn Trư đậu Đình nguyên Trạng nguyên và cho đổitên là Nguyễn Nghiêu Tư
Ngày vinh quy bái tổ, tân khoa Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư muốn về quêbái yết tổ đường, hiềm nỗi cha mẹ đã mất, nhà cửa không có, nhà vua bèn cho xâyNghè1 để cho họ hàng, dân làng đón quan tân khoa Trạng nguyên Từ đó, cái tênthân quen Trạng Lợn để thương, để nhớ trong nhân gian được bắt nguồn từ thuởhàn vi quan Trạng vốn nghèo khó phải lam lũ đi ở chăn lợn, nhưng đã nêu tấmgương sáng hiếu học vượt khó thành tài
Sau khi đại đăng khoa, quan Dương Thái sư ngỏ ý gả con gái là Hương Nươngcho Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư, nhưng bị Trạng nguyên khước từ, vì đã ướchẹn cùng nàng Phấn Khanh
Khi nghe tin tân khoa Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư đã kết nghĩa lươngduyên cùng Phấn Khanh - con gái Bùi Tướng công nên Dương Thái sư thù cả bố
vợ lẫn chàng rể Căm tức đến tột đỉnh, nhưng chưa có cơ hội báo thù
Khi nghe tin giặc dữ ở hai xứ Nghệ An - Thuận Hóa nổi lên, Dương Thái sư bènnghĩ kế báo thù Thái sư lập tức họp với triều thần phiếm tấu: Nghệ - Hóa là hai xứbiên cực Nam, giặc cướp ra vào, rất là xung yếu, duy có Bùi Tướng công là lãotướng cũ am hiểu quân vụ biết việc biên cương, Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tưvăn võ song toàn, hai người ấy cầm quân đi trấn an, thì triều đình mới có thể yênlòng Vua nghe thấy có lý, thuận lòng chuẩn tấu, lập tức giáng chỉ, sai Bùi Tướngcông và Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư đi dẹp giặc Biết rõ thâm kế của DươngThái sư muốn đẩy mình vào nơi binh lửa để mưu hại, nhưng vâng mệnh triều đình,Nguyễn Nghiêu Tư đã cùng bố vợ đem hết tài năng ra dẹp tan được giặc dữ, đemlại hòa yên cho hai xứ Nghệ An - Thuận Hóa
Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư còn là một trong số những nhà ngoại giao kiệtxuất của nước ta, nhất là việc giao tiếp, ứng đối với sứ giả nhà Minh Một lần đượcvua cử đi sứ Khi đến ải Nam Quan, sứ nhà Minh ngạo mạn quen ỷ thế nước lớn,không chịu mở cửa nghênh tiếp, mà đưa ra một thữ "thập" (+) bằng gỗ rồi hoa tay,
nói xì xồ một hồi, nghĩa là chữ "tung hoành vũ trụ" để thách đố, đối được mới chịu
1 Nghè xây ở khu đất thuộc thôn Phả Ninh Thị, bị phá trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nay
vẫn còn dấu tích.
Trang 40mở cửa Hiểu thâm ý của chữ "thập" (+), với lòng tự tôn dân tộc, Trạng nguyênNguyễn Nghiêu Tư sai người làm cái vòng tròn đặt vào đó Quân giữ ải hiểu rằng:
Vòng tròn buộc cả trời đất, nghĩa là "bao quát càn khôn" Kính phục quan Trạng
hay chữ, lập tức sứ nhà Minh mở cửa nghênh tiếp linh đình
Đến Yên Kinh, vào yết kiến vua Minh, nhà vua muốn thử tài sứ thần, ngầm sai
trang hoàng cung quán lịch sự, đề hai chữ "kính thiên" treo ở giữa, bày đôi sập thất
bảo rất cao, xung quanh bày nghi vệ sang trọng, như chỗ giường ngự của thiên tử
để xem Trạng có dám ngồi vào đó không? Khi sắp đến yến tiệc, họ đưa Trạng vàphó sứ dạo thăm cung điện rồi mới đưa đến đấy Trạng bèn bảo phó sứ cùng ngồilên sập thất bảo Thấy vậy, một viên quan nhà Minh ra hạch rằng:
- Cớ sao sứ lại ngạo ngược vô lễ đến như vậy? Không trông lên trên kia xem,chỗ này là chỗ nào, mà dám nhảy lên ngồi chễm chệ ở đấy?
- Dám thưa, lấy tội gì mà lại cho sứ thần là ngạo? Tôi thấy biển đề ba chữ "kính
nhị nhân" thực hẳn là ý bản quốc muốn đem cái ngôi này mà hậu đãi sứ thần xa lại.
Ngài dạy thế chúng tôi quyết không chịu Vả nghe cổ nhân nói: Đãi người phương
xa cốt lấy bụng thực Tôi nghe thánh hiền lấy thành tín đãi người ngoại quốc Thế
mà người phương xa lại đem cái bụng trí thuật làm oai Tôi sợ người ta nghe tiếng,dẫu có lòng thực hướng mộ, cũng sinh nghi mà không lại nữa
Viên quan nhà Minh thấy Trạng nói chẻ hoe như đã rõ gan ruột từ trước, vộivàng lạy tạ mà rằng:
- Xin quý ngài xá lỗi! Nghĩ là buổi ban đầu, thử xem có phải bậc tài giỏi khôngthôi Nhưng quý ngài quả là bậc thông minh Đã giỏi mà biết trước được như thếcòn hề chi?
Truyện kể về Trạng Lợn sử sách ghi chép không nhiều nhưng truyền miệngtrong dân gian lại rất nhiều, nghe chuyện ai ai cũng phải thán phục trí thông minh,hiếu học, ham hiểu biết, tài ứng đối linh hoạt của ông Xin chép thêm vài giai thoạilưu truyền trong dân gian như sau:
Tương truyền, hai nước giao hảo, qua lại lẫn nhau, vua nhà Minh phái sứ thầnsang thăm Tới nơi, sứ nhà Minh muốn đọ trí cao thấp, bèn xin với vua Lê, cho mởhội đánh cờ Vua Lê lấy làm lo ngại, bèn cho vời Trạng đến để hỏi mẹo Trạngthưa: "Cứ phúc thư nhận lời, định ngày hội đấu, hạ thần xin dâng người cao cờ.Người ấy họ Nguyễn hiện đang giữ chức Thị lang"
- Thế Trạng làm mẹo gì?
- Muôn tâu, bệ hạ cứ yên lòng!
Đến ngày hội đấu, Trạng xin đem bàn cờ để trong sân rồng, để vua Lê đọ trí với
sứ nhà Minh Rồi Trạng đem lọng dùi thủng một lỗ, sai quan Thị lang đứng chelọng cho vua Đến lúc thi đấu, Thị lang xoay lọng, bóng nắng chiếu vào chỗ nào thì