Thực trạng của việc dạy học theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua dạy học nội dung hình học lớp 3 .... Nguyên nhân dẫn đến thực trạng của việc dạy học theo hướng p
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học
Th.S LÊ THU PHƯƠNG
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em trong quá trình tìm tòi và nghiên cứu đề tài Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng cảm ơn
sâu sắc đến cô giáo Lê Thu Phương, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo
tận tình để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Trong khi thực hiện đề tài, do thời gian và năng lực có hạn nên khóa luận không tránh khỏi thiếu sót và hạn chế Vì vậy, em rất mong nhận được sự tham gia đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Xuân hòa, ngày 27 tháng 4 năm 2017 Sinh viên thực hiện
Trần Thị Thu Phương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận là kết quả nghiên cứu của riêng em, đồng thời
có sự hướng dẫn, giúp đỡ của Th.S Lê Thu Phương và tham khảo qua các tài
liệu có liên quan
Em xin cam đoan kết quả nghiên cứu của mình không trùng với kết quả của tác giả nào khác
Xuân Hòa, ngày 27 tháng 4 năm 2017 Sinh viên thực hiện
Trần Thị Thu Phương
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa CNH –HĐH
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Cấu trúc khóa luận 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC NỘI DUNG HÌNH HỌC LỚP 3 5
1.1 Cơ sở lí luận của việc phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua dạy học nội dung hình học lớp 3 5
1.1.1 Đặc điểm của học sinh lớp 3 5
1.1.2 Năng lực tự học của học sinh 7
1.1.3 Chương trình hình học lớp 3 16
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc phát triển năng lực tự học cho học sinh Tiểu học thông qua dạy học chủ đề hình học lớp 3 19
1.2.1 Thực trạng của việc dạy học theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua dạy học nội dung hình học lớp 3 19
1.2.2 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng của việc dạy học theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua dạy học nội dung hình học lớp 3 20
Kết luận chương 1 22
Trang 6CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP GIÚP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC NỘI DUNG
HÌNH HỌC LỚP 3 23
2.1 Các nguyên tắc của việc đề xuất các biện pháp phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua dạy học nội dung hình học lớp 3 23
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 23
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 23
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh lớp 3 23
2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với chương trình hình học lớp 3 24
2.2 Các giải pháp giúp phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua dạy học nội dung hình học lớp 3 24
2.2.1 Phát triển những năng lực chung làm nền tảng 24
2.2.2 Phát triển năng lực tự học nội dung hình học lớp 3 28
Kết luận chương 2 44
KẾT LUẬN 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ nhu cầu, xu hướng chung của xã hội, giáo dục
Đất nước ta đang trong thời kì hội nhập kinh tế, quá trình CNH-HĐH ngày càng được đẩy mạnh, sự tiến bộ không ngừng của khoa học – công nghệ với những bước nhảy vượt bậc Để không tụt hậu với thời đại, kịp thời nắm bắt những tri thức khoa học kĩ thuật tiên tiến, mỗi con người phải không ngừng học hỏi, vươn lên tự hoàn thiện mình Trước nhu cầu tất yếu của xã hội, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục là mối quan tâm hàng đầu, đặc biệt là giáo dục Tiểu học Tiểu học là bậc học nền tảng, hình thành ở học sinh những
cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thẩm
mĩ và kĩ năng đặt nền móng vững chắc cho các bậc học cao hơn Vì vậy, ta cần phải tiến hành đồng bộ những vấn đề ở bậc Tiểu học, phải có nội dung và phương pháp thích hợp, trong đó việc đổi mới phương pháp dạy học là xu thế tất yếu để nâng cao chất lượng dạy học hiện nay
Đổi mới phương pháp dạy học là thay đổi lối truyền thụ một chiều sang dạy học theo “Phương pháp dạy học tích cực” nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập
“Học” sẽ là quá trình kiến tạo; học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất Giáo viên đóng vai trò tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh, dạy học sinh cách tìm ra chân lý, chú trọng hình thành các năng lực để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai Một trong những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực là phát huy tính tự tin, tích cực, chủ động, sáng tạo phát huy năng lực tự học của học sinh
Trang 81.2 Xuất phát từ tầm quan trọng của việc tự học trong học tập môn Toán của học sinh
Trong các môn học ở trường Tiểu học, môn Toán chiếm thời gian đáng kể trong kế hoạch đào tạo của nhà trường Kiến thức của môn Toán rộng, mang tích khái quát, logic đòi hỏi học sinh phải tư duy, suy nghĩ, tìm tòi để tiếp thu kiến thức bài học Ngoài việc giáo viên giảng dạy trên lớp thì học sinh cần phải tự tìm hiểu, nghiên cứu, ôn tập ở nhà để nắm được bài và hiểu sâu bài học Do đó, việc phát triển năng lực tự học cho học sinh là quan trọng để việc học tập được hiệu quả hơn
1.3 Xuất phát từ thực tiễn dạy và học ở trường Tiểu học
Trong thực tế, việc dạy và học môn toán ở trường Tiểu học, đặc biệt là môn toán ở lớp 3 với nội dung hình học còn kém hiệu quả Chương trình nội dung hình học ở lớp 3 được phân chia, sắp xếp đan xen rất hay và thú vị Tuy nhiên, giáo viên vẫn chưa khai thác được điều đó để đưa ra những biện pháp dạy học hiệu quả, phát huy năng lực tự học, tự tìm tòi, khám phá của học sinh Thực tế, các em rất lười suy nghĩ, động não, từ việc tiếp cận kiến thức đến kĩ năng làm bài, trình bày bài đều lệ thuộc vào thầy cô Đồng thời với đó là khả năng nhận thức của các em còn nhiều hạn chế, việc tự học của học sinh đang diễn ra chưa tốt hoặc chưa có hiệu quả, chủ yếu các em đều không ý thức được tầm quan trọng của việc tự học hoặc ý thức được nhưng việc tự học không tốt do năng lực tự học không được hình thành từ nhỏ Từ những lý do
trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua dạy học nội dung hình học lớp 3” để giúp việc dạy và học nội
dung hình học lớp 3 đạt hiệu quả cao hơn
Trang 92 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất những biện pháp cần thiết nhằm rèn luyện và phát triển năng lực
tự học của học sinh thông qua dạy học nội dung hình học lớp 3 từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực tự học của học sinh thông qua nội dung hình học lớp 3
- Phạm vi nghiên cứu: Chủ đề hình học ở lớp 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề lí luận của việc dạy học theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh tiểu học thông qua nội dung hình học lớp 3;
- Tìm hiểu thực trạng của việc dạy học theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh tiểu học thông qua nội dung hình học lớp 3 và nguyên nhân của thực trạng;
- Đề xuất những biện pháp phát triển năng lực tự học của học sinh trong quá trình giảng dạy nội dung hình học lớp 3
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận:
Nghiên cứu các tài liệu, sách, báo có liên quan đến mục đích, nội dung phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học yếu tố hình học lớp
3 nói riêng Nghiên cứu tài liệu (triết học, giáo dục học, tâm lý học, lý luận dạy học môn toán,…) có liên quan đến đề tài nghiên cứu Nghiên cứu các tạp chí Toán tuổi thơ, giúp em vui học Toán,…
- Phương pháp quan sát - điều tra:
Quan sát, dự giờ, điều tra hoạt động thiết kế và thực hiện thiết kế bài học của GV, các hoạt động học của học sinh, quan sát trực tiếp… để tìm hiểu thực
Trang 10trạng của việc dạy học theo hướng phát triển năng lực tự học thông qua dạy học nội dung hình học lớp 3
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Qua việc nghiên cứu lí luận, nghiên cứu thực tiễn thì tiến hành thu thập và
xử lý số liệu để có những thông tin chính xác và hiệu quả
6 Giả thuyết khoa học
Nếu khóa luận đề xuất được các biện pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh một cách sâu sắc để vận dụng vào môn toán hình học ở lớp 3 thì chắc chắn hiệu quả dạy học sẽ được nâng cao
7 Cấu trúc khóa luận
- Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo khóa luận gồm 2 chương:
+ Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua dạy học nội dung hình học lớp 3
+ Chương 2: Đề xuất các giải pháp giúp phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua dạy học nội dung hình học lớp 3
Trang 11CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH THÔNG QUA DẠY
HỌC NỘI DUNG HÌNH HỌC LỚP 3 1.1 Cơ sở lí luận của việc phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua dạy học nội dung hình học lớp 3
1.1.1 Đặc điểm của học sinh lớp 3
1.1.1.1 Tri giác
Cảm giác, tri giác là khâu đầu tiên của nhận thức cảm tính, nhưng cảm giác chỉ đem lại những mặt tương đối rời rạc, chỉ có tri giác mới đạt tới nhận thức của sự vật trực tiếp Như vậy, tri giác quan trọng với nhận thức của trẻ
Ở các lớp đầu bậc Tiểu học, do chưa biết phân tích tổng hợp nên tri giác của học sinh thường gắn với hoạt động thực tiễn của trẻ Các em tri giác trên tổng thể, khó phân biệt được những đối tượng gần giống nhau Việc phân biệt các đối tượng đó dễ mắc sai lầm, lẫn lộn
1.1.1.2 Chú ý
Chú ý của học sinh Tiểu học là điều quan trọng để các em tiến hành hoạt động học tập Chú ý là trạng thái tâm lí của học sinh giúp các em tập trung một hoặc một số đối tượng để tiếp thu các đối tượng này một cách tốt nhất
Ở học sinh đầu bậc Tiểu học thì chú ý không chủ định chiếm ưu thế Sự chú ý của học sinh Tiểu học còn phân tán, dễ bị lôi cuốn vào cái trực quan, gợi cảm, thường hướng ra bên ngoài, vào hành động, chưa có khả năng hướng vào bên trong, vào tư duy Vì thế, giáo viên Tiểu học cần chú ý khi sử dụng
đồ dùng trực quan
Về cuối bậc Tiểu học, cấp độ chú ý của học sinh ngày càng hoàn thiện
1.1.1.3 Trí nhớ
Trang 12Trí nhớ là quá trình các em ghi lại thông tin và cần thiết có thể tái hiện lại
Ở học sinh Tiểu học, có hai loại trí nhớ: trí nhớ có chủ định và trí nhớ không
Trí tưởng tượng của học sinh còn chịu nhiều tác động của hứng thú, kinh nghiệm sống, mẫu vật đã biết
Tưởng tượng của học sinh Tiểu học phát triển ngày càng phong phú, song nhìn chung tưởng tượng của các em còn rất tản mạn, ít có tổ chức và còn chịu tác động của hứng thú, kinh nghiệm sống và mẫu hình đã biết
1.1.1.5 Tư duy
Tư duy của học sinh Tiểu học là một quá trình nhận thức giúp các em phản ứng được bản chất của đối tượng nghĩa là giúp các em tiếp thu được các khái niệm ở các môn học
Tư duy của học sinh Tiểu học được chia làm hai giai đoạn: giai đoạn đầu Tiểu học và giai đoạn cuối Tiểu học
Tư duy của học sinh Tiểu học là tư duy cụ thể mang tính hình thức dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể Học sinh Tiểu học xác định mối quan hệ từ nguyên nhân đến kết quả tốt hơn từ kết quả đến nguyên nhận
1.1.1.6 Hoạt động học
Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh Tiểu học Đây là hoạt động có đối tượng mới là tri thức khoa học của các lĩnh vực tương ứng Hoạt
Trang 13động quy định sự hình thành cấu tạo tâm lí đặc trưng ở lứa tuổi Tiểu học đó là
sự phát triển trí tuệ
Hoạt động học là hoạt động do học sinh thực hiện nhằm tiếp thu tri thức,
kĩ năng, kĩ xảo của các môn học để hình thành và phát triển nhân cách của người học theo mục tiêu giáo dục của nhà trường
Hoạt động học bao giờ cũng có chủ thể và đối tượng Đối tượng của hoạt động học là tri thức khoa học mà loài người đã phát hiện ra, còn chủ thể của hoạt động học là mọi học sinh đang tiến hành hoạt động học
1.1.2 Năng lực tự học của học sinh
tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ động vạch kế hoạch học tập cho mình, rồi tự mình triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra đánh giá việc học của mình”
Theo Nguyễn Kỳ cho rằng: “Tự học là đặt mình vào tình huống học, vào
vị trí của người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra: nhận biết vấn đề xử lý thông tin, tái hiện kiến thức, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề…”
Nhà tâm lý học N.ARubakin coi: Tự tìm lấy kiến thức – có nghĩa là tự học
Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến
Trang 14tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo của chủ thể
Theo GS Đặng Vũ Hoạt và PGS Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy học đại học” thì “Tự học là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp học, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa
đã được quy định Tự học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học nhưng nó
có tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân [4]
Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn [8]: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…)
và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi v.v…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành
sở hữu của mình”
Tóm lại, tổng hợp các quan niệm về tự học của các tác giả có thể đưa ra
khái niệm về tự học như sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác,
tích cực, độc lập, chủ động chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định
* Các cấp độ tự học
Cấp độ 1: Tự học hoàn toàn (học với sách, không có thầy bên cạnh)
Sách là sản phẩm của các tác giả viết ra, cùng một quyển sách nhưng sự tiếp thu và kiến thức mỗi người thu nhận được sau khi đọc xong là không giống nhau Cụ thể, những em chịu khó đọc, tìm hiểu, thực hiện các bước học tập đầy đủ như hướng dẫn sẽ có hiệu quả, kết quả tốt hơn những em không
Trang 15tập trung, không tuân thủ nghiêm túc quá trình hoạt động Học với sách thì khó khăn hơn học với thầy và nếu có thắc mắc, vấn đề không hiểu thì không
có người để hỏi Nhưng có như vậy, thì người học mới cố gắng động não để tìm hiểu, giải đáp những thắc mắc của mình, thậm chí tra cứu thêm những tài liệu khác có liên quan Cách làm việc này có thể mất thời gian hơn, song phải động não nhiều và người học quen dần với tác phong “làm việc độc lập với sách” Từ đó, người học mới rèn luyện cho mình được năng lực tự học, tự học suốt đời vì không phải lúc nào cũng có thầy bên cạnh
Cấp độ 2: Tự học có hướng dẫn
Tự học có hướng dẫn là hình thức hoạt động tự lực của người học để chiếm lĩnh tri thức và hình ảnh kĩ năng tương ứng dưới sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo của giáo viên thông qua tài liệu hướng dẫn tự học
Có 2 mức độ tự học có hướng dẫn:
Mức độ 1: Người học có sự hỗ trợ trực tiếp của thầy và sách giáo khoa, có thể thông qua các phương tiện, công cụ hỗ trợ việc dạy học như máy tính, máy chiếu…
Mức độ 2: Người học có sách giáo khoa và có giáo viên ở xa hướng dẫn tự học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin viễn thông khác Hướng dẫn tự học chủ yếu là hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh kiến thức, hướng dẫn tự phê bình về tính cách trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.
* Chu trình tự học của HS là một chu trình 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Tự nghiên cứu
Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân
+ Giai đoạn 2: Tự thể hiện
Trang 16Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính xã hội của cộng đồng lớp học
+ Giai đoạn 3: Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức)
Chu trình tự nghiên cứu - tự thể hiện - tự kiểm tra, tự điều chỉnh “thực chất cũng là con đường phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết, và giải quyết vấn
đề của nghiên cứu khoa học
1.1.2.2 Năng lực tự học
Theo Nguyễn Kì [8], trong bất cứ con người Việt Nam nào trừ những người bị khuyết tật, tâm thần đều tiềm ẩn một tiềm lực, một tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá đó là năng lực tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn
đề thực tiễn, tự đổi mới, tự sáng tạo trong công việc hàng ngày gọi chung là năng lực tự học sáng tạo
Theo Nguyễn Cảnh Toàn [9]: “Năng lực tự học là tổng thể các năng lực cá thể, năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp và năng lực xã hội của người học tác động đến nội dung học trong những tình huống cụ thể nhằm đạt mục tiêu (bằng khả năng trí tuệ và vật chất, thái độ, động cơ, ý chí của người học) chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng”
Từ những quan niệm trên của các tác giả ta có thể khái niệm năng lực tự học như sau: năng lực tự học là khả năng tự thực hiện một hệ thống các hành
vi để nhận thức vấn đề, bao gồm: tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức trên cơ sở vận dụng các kinh nghiệm có liên quan đến hoạt động đó Các nhà nghiên cứu đã phân chia các năng lực tự học theo nhiều cách khác nhau
Trang 17Nhiều tác giả cho rằng năng lực tự học hợp thành bởi bốn nhóm: năng lực nhận thức, năng lực thực hành, năng lực tổ chức, năng lực kiểm tra đánh giá
* Các mức độ đánh giá năng lực tự học
0 Không biết lập kế hoạch tự học, không biết xác định vấn đề đã
đặt ra, không biết cách thức tiếp cận và nghiên cứu vấn đề
1 Biết lập kế hoạch tự học, biết làm theo kế hoạch, biết xác định
vấn đề, kiến thức cần nghiên cứu ở mức độ đơn giản, nghiên cứu vấn đề dưới sự hỗ trợ trự tiếp từ GV, chưa đánh giá được kết quả thực hiện theo kế hoạch
2 Lập được kế hoạch tự học, thực hiện được theo kế hoạch, xác
định được vấn đề, kiến thức cần nghiên cứu, nghiên cứu được vấn đề dựa vào những câu hỏi gợi ý, gợi mở của GV, đưa ra được cách thức nghiên cứu vấn đề ở những tình huống đơn giản,
tự đánh giá kết quả thực hiện theo kế hoạch
3 Lập được kế hoạch tự học một cách chi tiết, thực hiện được theo
kế hoạch một cách hiệu quả, chủ động xác định được vấn đề, kiến thức cần nghiên cứu, biết đưa ra các bước, các câu hỏi, sử dụng vốn kiến thức đã có để lĩnh hội kiến thức trong các tình huống, tự kiểm tra, đánh giá được kết quả thực hiện theo kế hoạch
Bảng 1: Các mức độ đánh giá năng lực tự học
1.1.2.3 Năng lực tự học của học sinh lớp 3
Học sinh lớp 3 là giai đoạn chuyển giao giữa giai đoạn đầu Tiểu học và giai đoạn cuối Tiểu học, đây là giai đoạn mà các đặc điểm về nhận thức, tâm
lí vẫn chưa được hoàn thiện Đối với học sinh lớp 3, trí nhớ máy móc phát
Trang 18triển và chiếm ưu thế hơn so với trí nhớ có ý thức, học sinh chưa biết dựa vào điểm tựa, chưa biết khái quát hóa xây dựng bài để ghi nhớ Đồng thời với đó
là chú ý của học sinh ở giai đoạn này không cao, thường chỉ tập trung được một thời gian ngắn, mà đặc tính của nội dung hình học lớp 3 đòi hỏi phải có
sự tập trung cao độ, thường xuyên phải tưởng tượng và liên hệ kiến thức có liên quan nên việc tự học diễn ra khó khăn Chính vì vậy, việc tự học của học sinh còn hạn chế, năng lực tự học của học sinh chưa cao, các em vẫn chưa thể
tự học một mình, mà cần có sự hướng dẫn của thầy cô, cha mẹ, cần có sự giám sát, thúc đẩy từ phía thầy cô, cha mẹ không thì trẻ sẽ không thể thực hiện được năng lực này
1.1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tự học
- Điều kiện trang thiết bị phục vụ hoạt động và cơ sở vật chất
Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học thuộc hệ thống phương tiện của quá trình dạy học và học tập, là cơ sở thực hiện các mục tiêu đào tạo Đối với hoạt động tự học thì yếu tố cơ sở vật chất có ảnh hưởng rất lớn Người lãnh đạo cần nhận thức đúng đắn về ý nghĩa của cơ sở vật chất đến hoạt động tự học và
có sự đầu tư, quản lý tốt các trang thiết bị, cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động tự học thì sẽ đạt hiệu quả cao
- Yếu tố nhận thức và thái độ học tập của học sinh
Để biến quá trình học tập thành quá trình tự học cần phải chú trọng phát triển đặc điểm tự ý thức, tự giáo dục của lứa tuổi học sinh Tiểu học Học sinh cần nhận thức đúng về việc tự học, về tầm quan trọng của việc tự học, để từ
đó có một thái độ tự học tốt
- Yếu tố thuộc về giáo viên
Giáo viên đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong việc định hướng và kích thích ý thức tự học cho học sinh Vì vậy, giáo viên cần nhận thức được vai trò của mình trong quá trình tổ chức hoạt động tự học của học sinh, cần thực hiện
Trang 19hướng dẫn học sinh xác định kế hoạch môn học, xây dựng phương pháp, hình thức tự học phù hợp và sử dụng cách kiểm tra, đánh giá học sinh phát huy tinh thần tự hoc của học sinh
1.1.2.5 Ưu, nhược điểm của tự học
Có thể thấy, quá trình tự học là sự kết hợp của quá trình dạy của thầy và quá trình học của trò thành một quá trình thống nhất biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau Trong việc ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm, còn thầy giáo chỉ là người hướng dẫn Vấn đề tự học và tư tưởng lấy việc học của trò làm gốc là một quá trình lâu dài không phải một sớm một chiều và của riêng ai
Việc tự học của học sinh Tiểu học là một việc cần thiết, trong việc tích lũy kiến thức cho bản thân học sinh Mặc dù vậy, tự học của học sinh có ưu, nhược điểm như sau:
- Giúp học sinh học tập ở nhà và học tập theo nhóm có hiệu quả
- Tự học giúp cho con người có khả năng học tập suốt đời, điều này vô cùng quan trọng bởi tri thức thì rộng lớn mà những năm tháng học ở nhà trường có hạn
- Tự học giúp người học tranh thủ mọi thời gian, mọi nơi mọi lúc
- Tự học giúp con người có thể học tập với khả năng, tốc độ, phong cách
sở thích riêng của mình
Trang 20- Tự học giúp người học làm quen với hoạt động nghiên cứu.Vì vậy nó tạo nên nền móng cho sự hình thành nên các nhà khoa học
- Tạo điều kiện cho học sinh học tập với nhịp độ cá nhân, luyện tập việc tự đánh giá kết quả học tập, học tập theo cách giải quyết vấn đề, từ đó nâng cao chất lượng dạy học thực tế
- Phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh
- Trong trường, lớp, giáo viên chỉ là người đóng vai trò hướng dẫn, định hướng cho học sinh, còn lại học sinh sẽ phải tự lực vận động trí óc tìm tòi, tổng kết, phân tích, so sánh, đánh giá tri thức, kiến thức một cách chủ động, đây đều là những kĩ năng cần thiết có mặt trong quá trình tự học của học sinh
- Tự học của học sinh Tiểu học còn có vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục bậc Tiểu học
Nhược điểm
- Có thể nảy sinh tâm lý buồn chán do tính đơn điệu của việc tự học
- Đòi hỏi học sinh phải có động cơ học tập tốt, có năng lực học tập nhất định (vì tự học đòi hỏi người học có trình độ và sự nỗ lực cao hơn các phương pháp học tập khác)
- Khó xác định trọng tâm của bài
- Việc tự học diễn ra thầm lặng, không sôi nổi, thiếu khí thế thi đua vì không có sự giao lưu, trao đổi giữa người học với bạn bè và thầy cô Tuy nhiên, nhược điểm này không tác động nhiều đến học sinh, vì bên cạnh thời gian học ở nhà, họ vẫn có thời gian hoạt động ở trên lớp
Với rất nhiều ưu điểm trên, tự học không chỉ là một phương pháp mà còn đang trở thành mục tiêu quan trọng của quá trình dạy học
1.1.2.6 Mối quan hệ giữa dạy học và tự học
Ở mỗi mô hình dạy học thường có 3 thành tố trọng tâm, quan trọng nhất
đó là THẦY- TRI THỨC- TRÒ (ngoài 3 thành tố này còn có các thành tố
Trang 21khác như cơ sở vật chất, cộng đồng, môi trường,…) Trong mối quan hệ này, thầy thực hiện việc dạy, trò thực hiện việc học để chiếm lĩnh tri thức Ba thành tố này có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, chúng kết hợp với nhau để tạo thành một hoạt động dạy và học hoàn chỉnh Ở mỗi giai đoạn, mỗi quan điểm giáo dục khác nhau thì vai trò của chúng cũng khác nhau Theo quan điểm trước đây hay là quan điểm dạy học truyền thống thì thầy đóng vai trò trung tâm, truyền thụ tri thức cho trò Với cách dạy này giáo viên là người rót kiến thức vào đầu học sinh và người dạy giữ vai trò trung tâm Nhưng kiến thức từ thầy có thể trở thành kiến thức của trò không? Chắc chắn là không nhiều Theo nhiều nghiên cứu về khoa học giáo thì cách dạy này chỉ giúp người học tiếp thu được 10-20% kiến thức Còn theo quan điểm dạy học ngày nay hay là quan điểm dạy học hiện đại, đặc biệt coi trọng và phát triển tự học thì trò trở thành trung tâm Như vậy, lúc này mối quan hệ giữa THẦY- TRI THỨC- TRÒ là mối quan hệ theo quan điểm lấy trò (việc học của trò) là trung tâm
Như đã nói ở trên tự học thực chất là một quá trình mà ở đó trò tự nghiên cứu, tự tìm ra kiến thức bằng hành động, hoạt động của chính mình Như vậy,
tự học nhấn mạnh đến vai trò nội lực của trò
Trang 22(Xem bảng 1.1)
Thầy hướng dẫn, định hướng Trò tự đọc, tự nghiên cứu, tự tìm hiểu
sách vở, tài liệu, đồ dùng dạy học Thầy tổ chức hoạt động học Trò tự thể hiện hoạt động học, tự lĩnh hội
kiến thức, tự trao đổi, hợp tác, đối thoại với bạn, với thầy
Thầy hỗ trợ trò cách tự học, cách giải
quyết vấn đề, cách xử lý tình huống
Trò tự giải quyết vấn đề, tự xử lý tình huống
Thầy là chuyên gia về việc học Trò là người tự học
Thầy đánh giá trò trong suốt quá trình và
cuối quá trình học theo quan điểm động
viên, khích lệ Kết quả đánh giá là một
trong những căn cứ để điều chỉnh quá
trình dạy học cho phù hợp với trò
Trò tự đánh giá mình, tham giá đánh giá bạn cùng vói thầy
Bảng 1.1: Mối quan hệ giữa thầy (dạy) và trò (tự học)
1.1.3 Chương trình hình học lớp 3
1.1.3.1 Mục tiêu của chương trình hình học lớp 3
Mục tiêu dạy học yếu tố hình học ở Toán lớp 3 là giúp học sinh:
- Nhận biết một số yếu tố của các hình đã học: Góc, đỉnh, cạnh
- Biết một số đặc điểm của hình vuông, hình chữ nhật
- Biết thêm về tâm, bán kính, đường kính của hình tròn, biết vẽ hình tròn bằng compa
- Biết tính chu vi, diện tích của hình chữ nhật, hình vuông
1.1.3.2 Nội dung chương trình hình học lớp 3
Trang 23Trong sách Toán 3 nội dung dạy học chủ yếu các yếu tố hình học bao gồm các vấn đề sau:
- Góc vuông, góc không vuông, thực hành nhận biết và vẽ góc vuông bằng êke
- Điểm ở giữa, trung điểm của đoạn thẳng
- Hình tròn, tâm, đường kính, bán kính của hình tròn Vẽ trang trí hình tròn
- Hình chữ nhật, hình vuông
- Chu vi hình chữ nhật, chu vi hình vuông
- Diện tích của một hình, diện tích hình chữ nhật, diện tích hình vuông
1.1.3.3 Đặc điểm nội dung chương trình hình học lớp 3
- Cấu trúc, sắp xếp nội dung dạy học các yếu tố hình học trong Toán 3 có tính chất đan xen với các mạch kiến thức khác nhằm làm nổi rõ “hạt nhân” kiến thức số học và hỗ trợ các mạch kiến thức khác (đại lượng, giải bài toán
có lời văn)
- SGK Toán 3 đã tăng cường các bài tập về luyện tập thực hành như gấp hình, xếp ghép hình, vẽ hình, vẽ trang trí hình tròn, tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông,…Qua đó, HS chẳng những được củng cố các kiến thức
đã học mà còn được rèn luyện kĩ năng hình học cần thiết, được phát triển tư duy trí tưởng tượng không gian
- Các yếu tố hình học ở lớp 3 đã kế thừa và phát triển các yếu tố hình học
đã được học ở lớp 1, lớp 2
Chẳng hạn:
+ Lớp 1 HS học điểm, đoạn thẳng Lên lớp 2 HS tiếp tục học đường thẳng trên cơ sở kéo dài đoạn thẳng về hai phía của đoạn thẳng đó Đến lớp 3 HS biết về ba điểm thẳng hàng, điểm ở giữa, trung điểm của đoạn thẳng HS được biết thêm về tính chất “đặc biệt” của trung điểm để chuẩn bị học về hình tròn
Trang 24(với tâm là trung điểm của đường kính) hoặc chuẩn bị làm quen với các hình
“đối xứng” sau này
+ Một số kiến thức hình học ở lớp 1, lớp 2 đến lớp 3 đã có tính chất khái quát hơn như tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông HS được vận dụng “quy tắc khái quát” để tính
+ Lớp 1, lớp 2 HS nhận biết các hình (hình tròn, hình tam giác, hình vuông, hình chữ nhật, hình tứ giác) dưới dạng “tổng thể” (chủ yếu quan sát
“toàn thể” hình dạng của hình rồi nêu tên hình Chưa yêu cầu xét đến các yếu
tố của hình hoặc xét mối liên hệ giữa hình dạng các hình) Đến lớp 3, khi
“nhận dạng” các hình ngoài việc xét “tổng thể” HS đã biết dựa vào các đặc điểm về yếu tố cạnh, góc, đỉnh của hình để “nhận dạng” hình Chẳng hạn:
“hình chữ nhật có bốn góc vuông, hai cạnh dài bằng nhau, hai cạnh ngắn bằng nhau Hình vuông có bốn góc vuông và bốn cạnh bằng nhau”
+ Về hình tròn: ở lớp 1, lớp 2 HS biết “hình tròn” dưới dạng tổng thể (qua hình ảnh mặt đồng hồ, cái đĩa, cái bánh xe…HS có biểu tượng được về hình tròn) Đến lớp 3 HS biết “hình tròn” như một hình với đặc điểm về các yếu tố: tâm, đường kính, bán kính của hình tròn (tâm là trung điểm của đường kính, bán kính bằng một phần hai đường kính)
+ Các bài tập về xếp ghép hình phát triển dần từ lớp 1 (ghép các hình đơn giản từ một hình vuông và hai hình tam giác vuông cân bằng nhau) Đến lớp 2 (ghép các hình từ bốn hình tam giác vuông cân bằng nhau) Đến lớp 3 (ghép các hình từ tám hình tam giác vuông cân bằng nhau) Đây là loại bài tập gây được hứng thú cho HS khi học về các yếu tố hình học Qua đó HS phát triển được năng lực tư duy (phân tích, tổng hợp) và rèn luyện trí tượng không gian, góp phần phát triển tư duy, độc lập, sáng tạo trong quá trình học toán ở lớp 3
So với lớp 1, lớp 2 Các bài tập “vẽ hình” ở lớp 3 phong phú đa dạng hơn, các
Trang 25công cụ dùng để vẽ hình cũng nhiều hơn (ngoài thước kẻ còn có compa, êke dùng để vẽ)
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc phát triển năng lực tự học của học sinh Tiểu học thông qua dạy học chủ đề hình học lớp 3
1.2.1 Thực trạng của việc dạy học theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua dạy học nội dung hình học lớp 3
Dạy nội dung các yếu tố hình học lớp 3 theo hướng phát triển năng lực tự học ở các trường Tiểu học cũng đã có những bước tiến nhất định Giáo viên bước đầu đã có nhận thức đúng về việc dạy học lấy người học làm trung tâm, việc tự học của học sinh, đã biết cách thiết kế, tổ chức hoạt động học tập để phát triển năng lực tự học của học sinh, một số học sinh đã biết cách tự học và đạt được những hiệu quả nhất định Bên cạnh đó còn có những vấn đề bất cập
và hạn chế như:
- Việc học tập nội dung hình học lớp 3 mặc dù đã được học sinh đầu tư nhưng học sinh chưa biết cách tự học Nhiều học sinh vẫn học một cách thụ động, máy móc tái hiện kiến thức, ít vẫn dụng vào các tình huống, trường hợp khác nhau do đó hiệu quả lĩnh hội còn thấp dẫn đến làm giảm chất lượng bộ môn Học sinh còn khá bị động trong việc nghiên cứu, lĩnh hội tri thức bài học, vẫn dập khuôn theo lối học cũ
- Giáo viên còn coi nhẹ kiến thức, chưa nghiên cứu thật kĩ bài dạy, chưa xác định rõ mục tiêu bài dạy ở mức độ cần truyền đạt tới đâu, giới hạn kiến thức ở mức độ nào? Đâu là kiến thức trọng tâm của bài dạy…Đôi lúc còn yêu cầu cao với học sinh (vượt ra ngoài trình độ chuẩn) Khi dạy giáo viên còn phụ thuộc nhiều vào sách giáo viên và sách học sinh ở các tiết học mà thực tế cho ta thấy sách giáo viên chỉ là cái sườn chung gợi ý chính giúp giáo viên không truyền thụ sai mục đích tiết dạy mà thôi Giáo viên còn coi nhẹ việc
Trang 26cho học sinh được tự hoạt động (tự vẽ, xếp, ghép hình, tính toán, suy luận tìm
ra kết quả…), đôi khi vẫn còn áp đặt và làm thay học sinh
1.2.2 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng của việc dạy học theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua dạy học nội dung hình học lớp 3
Việc dạy học nội dung hình học theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh bên cạnh mặt tích cực thì còn nhiều hạn chế nguyên nhân là do:
- Trong quá trình dạy học, có thể thấy rằng một số giáo viên chưa thực sự chú ý đúng mức tới việc làm thế nào để học sinh nắm vững được lượng kiến thức, đặc biệt tự học Nguyên nhân là do giáo viên phải dạy nhiều môn, không
có nhiều thời gian nghiên cứu, tìm hiểu những phương pháp dạy học phù hợp với các đối tượng học sinh Do vậy, chưa lôi cuốn được sự tập trung chú ý nghe giảng của học sinh Bên cạnh đó, nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của giáo viên về các bài toán hình học chưa thực sự đầy đủ Từ đó dẫn đến tình trạng dạy học chưa trọng tâm, kiến thức còn dàn trải
- Do điều kiện cơ sở vật chất của một số trường chưa đầy đủ, nên việc áp dụng theo phương pháp tích cực chưa cao
- Giáo viên cũng như học sinh chưa khắc phục được nhận thức, thói quen dạy học truyền thống, nặng về lí thuyết, coi nhẹ thực hành ứng dụng
- Học sinh chưa ý thức được nhiệm vụ của mình, lười suy nghĩ, khám phá kiến thức nên sau bài học kiến thức tồn đọng khâu sâu, nhanh quên, đặc biệt các kĩ năng tự đọc, tự học, tự làm bài tập sẽ hạn chế, kém phát triển
- Chưa gợi được trí tò mò của học sinh để học sinh tự khám phá kiến thức Quá trình rèn luyện thực hành cho học sinh đôi khi còn dừng lại ở một vài dạng quen thuộc, chưa đa dạng, phong phú, chưa chú ý tới rèn luyện trí tưởng tượng, phát triển vốn từ vựng về hình học cho học sinh
- Phương pháp dạy học tích cực cho học sinh chỉ mới dừng lại ở mức độ hình thức Chưa phát huy tính sáng tạo của học sinh Chẳng hạn với một số