TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN =====o0o===== ĐÀM QUỐC CHUNG TỪ, NGỮ THUỘC PHONG CÁCH HỘI THOẠI TRONG THƠ NGUYỄN VĨNH TIẾN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: N
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=====o0o=====
ĐÀM QUỐC CHUNG
TỪ, NGỮ THUỘC PHONG CÁCH HỘI THOẠI
TRONG THƠ NGUYỄN VĨNH TIẾN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
Người hướng dẫn khoa học:
ThS GVC LÊ KIM NHUNG
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình và chu đáo của cô giáo Lê Kim Nhung - giảng viên tổ Ngôn ngữ, các thầy cô trong tổ Ngôn ngữ, các thầy cô trong khoa Ngữ văn trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
Khóa luận được hoàn thành vào ngày…/…/ 2017
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Lê Kim Nhung cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa đã giúp em hoàn thành khóa luận này
Trong khuôn khổ thời gian có hạn nên đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, em mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo và các bạn để có thể tiếp tục hoàn thiện trong quá trình học tập và giảng dạy sau này
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017
Người thực hiện
Đàm Quốc Chung
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, không trùng lặp với bất cứ công trình nghiên cứu nào
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017
Người thực hiện
Đàm Quốc Chung
Trang 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Cấu trúc của khóa luận 6
NỘI DUNG 8
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 8
1.1 Phong cách hội thoại 8
1.1.1 Những vấn đề lí thuyết về phong cách hội thoại 8
1.1.2 Từ khẩu ngữ 15
1.2 Biện pháp dẫn ngữ 18
1.2.1 Khái niệm 18
1.2.2 Các cách dẫn thành ngữ, tục ngữ, ca dao 19
1.3 Đặc trưng ngôn ngữ thơ 22
1.3.1 Khái niệm “Thơ” 22
1.3.2 Đặc trưng ngôn ngữ thơ 23
1.4 Vài nét về tác giả Nguyễn Vĩnh Tiến 25
Trang 51.4.1 Con người và sự nghiệp 25
1.4.2 Phong cách thơ Nguyễn Vĩnh Tiến 26
Chương 2 HIỆU QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG TỪ, NGỮ THUỘC PHONG CÁCH HỘI THOẠI TRONG THƠ NGUYỄN VĨNH TIẾN 28
2.1 Kết quả thống kê, phân loại 28
2.1.1 Kết quả 28
2.1.2 Nhận xét 28
2.2 Phân tích kết quả thống kê 30
2.2.1 Sử dụng từ khẩu ngữ 30
2.2.2 Sử dụng tình thái từ 42
2.2.3 Sử dụng lớp từ, ngữ thuộc trường nghĩa dân gian 46
KẾT LUẬN 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 61.2 Nguyễn Vĩnh Tiến là một hiện tượng thơ độc đáo của nền văn học đương đại Việt Nam Thơ của Nguyễn Vĩnh Tiến vừa cách tân mới mẻ vừa mang đậm màu sắc dân gian Nhà thơ Đỗ Bạch Mai nhận xét thơ Nguyễn Vĩnh Tiến “là một dòng suối chảy âm thầm, trong sáng và lặng lẽ” Việc đi sâu nghiên cứu thơ của Nguyễn Vĩnh Tiến sẽ đem lại cái nhìn sâu sắc hơn, đa chiều hơn về ngôn ngữ tiếng Việt Đồng thời còn góp một phần quan trọng vào việc giảng dạy và nghiên cứu tác phẩm văn học
1.3 Bản thân là một sinh viên Sư phạm Ngữ văn, một nhà giáo tương lai, người mà sẽ truyền cái hay cái đẹp của các tác phẩm văn học cho học sinh Chính vì vậy mà mỗi sinh viên khi còn ngồi trên ghế nhà trường cần phải trau dồi thêm kiến thức, kĩ năng, hoàn thiện hành trang của bản thân phục vụ cho việc giảng dạy sau này Để làm được điều đó thì chúng ta cần phải nắm chắc
và sử dụng một cách nhuần nhuyễn ngôn ngữ tiếng Việt
Xuất phát từ những cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến.”
Trang 72 Lịch sử vấn đề
Ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng bậc nhất đối với một tác phẩm văn học nghệ thuật Thơ của Nguyễn Vĩnh Tiến được xây dựng từ một hệ thống ngôn ngữ đa dạng, phong phú và mang đậm màu sắc của phong cách hội thoại Tác phẩm của ông đã dần tạo được dấu ấn trong lòng độc giả Vì vậy mà việc tiếp cận và nghiên cứu thơ Nguyễn Vĩnh Tiến đã bước đầu được nhiều người quan tâm Tuy nhiên, các vấn đề được người nghiên cứu đề cập tới chỉ ở một vài khía cạnh nhỏ mà chưa thực sự thực hiện như quy mô của một đề tài khoa học hay khóa luận tốt nghiệp
2.1 Việc nghiên cứu thơ Nguyễn Vĩnh Tiến
Cho đến thời điểm hiện tại, từ những tài liệu mà chúng tôi tham khảo
như sách, báo, tạp chí hay phương tiện thông tin đại chúng (internet) đều
không tồn tại một đề tài nào cùng tên với đề tài mà chúng tôi lựa chọn Tuy nhiên, qua quá trình tìm hiểu và khảo sát, chúng tôi đã tìm thấy được một số bài viết tiêu biểu như sau:
Tác giả Bùi Công Thuấn với bài viết 10 khuôn mặt thơ trẻ đương đại
đã chỉ ra những cây bút tiêu biểu đó là: Nguyễn Vĩnh Tiến, Phan Huyền Thư,
Vi Thùy Linh, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Văn Cầm Hải, Nguyễn Thúy Hằng, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Trần Ngọc Tuấn, Ly Hoàng Ly Trong đó, phần viết về tác giả Nguyễn Vĩnh Tiến, tác giả đã nhận xét Nguyễn Vĩnh Tiến
là một con người “bay giữa thơ, nhạc và kiến trúc” Nhà thơ tự cho rằng: “Tôi thấy trong kiến trúc có nhạc tính, có nhịp điệu, có thi ca của vật liệu, có cảm xúc của không gian và ngược lại trong âm nhạc và thi ca có những kết cấu và biểu hiện của kiến trúc” Với những am hiểu sâu xa về âm nhạc và kiến trúc của mình, Nguyễn Vĩnh Tiến đã kết hợp hài hòa, tinh tế và khéo léo để tạo ra những tác phẩm thơ vừa mềm mại lại vừa góc cạnh, ngôn ngữ sắc bén, nhiều tác phẩm mang tính triết lí cao
Trang 8Về nghệ thuật, Nguyễn Vĩnh Tiến thường nghiêng về tinh thần hậu hiện đại Tác giả cho rằng tinh thần hậu hiện đại là những mảnh ghép rời rạc không liên kết, không bị ràng buộc, vô cùng tự do Cuộc sống được tạo nên từ những lát cắt khác nhau, những lát cắt này bị những lát cắt khác cắt ngang làm đổi hướng, đó là hậu hiện đại, nó là thứ tổng hợp và nhiều cảm xúc
Bài viết còn cho biết cảm hứng sáng tác của Nguyễn Vĩnh Tiến chính là quê hương và gia đình Ở Nguyễn Vĩnh Tiến chất dân gian rất tự nhiên, nó thấm vào con người ông qua đài radio, qua những chương trình lưu diễn Nhà thơ sinh ra ở quê hương hát xoan Phú Thọ, có chú làm nhạc sĩ và từ nhỏ đã được chú dạy rất nhiều làn điệu cổ Tuổi thơ phải xa mẹ nhiều, Nguyễn Vĩnh Tiến sống với bà ngoại và bố, chính vì vậy mà hình tượng người bà luôn được tác giả đưa vào trong thơ ca của mình Tất cả những điều đó đã ăn sâu vào con người Nguyễn Vĩnh Tiến và tạo nên những nét riêng cho phong cách thơ của tác giả
Thơ Nguyễn Vĩnh Tiến được viết với ngôn ngữ biểu cảm, thể thơ truyền thống, diễn đạt tinh tế và mới lạ Các bài thơ của Nguyễn Vĩnh Tiến khơi được nhiều tình tự trong lòng người đọc, nó gần gũi như ca dao, đồng dao Mặt khác, tác giả bài viết chỉ ra những hạn chế trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến Những bài thơ được viết bằng ngôn ngữ ẩn dụ chưa định hình một cách viết, một khuôn mặt tư tưởng và một cốt cách nghệ thuật Nhiều ẩn dụ trở thành siêu thực khiến cho người đọc khó hiểu Ông còn lúng túng giữa hoang tưởng và hiện thực, giữa nghệ thuật và tư tưởng
Nhà thơ Du Tử Lê với bài viết “Nguyễn Vĩnh Tiến, tài hoa và lục bát”
cũng đã đưa ra một số đánh giá về thơ của Nguyễn Vĩnh Tiến Tác giả nhận thấy thơ lục bát của Nguyễn Vĩnh Tiến mang mang hồn tính dân tộc, của đất nước nghìn năm trước Nó không phải là cái “mang mang thiên cổ sầu” của Huy Cận vì thơ Huy Cận vẫn đậm chất Đường thi, không gian bất định và
Trang 9không cá tính Thơ lục bát của Nguyễn Vĩnh Tiến lại là những vần thơ có được cái không gian, quá khứ Việt gần như đã mất hẳn trong thi ca, âm nhạc của chúng ta sau nhiều thế kỷ
Thơ Nguyễn Vĩnh Tiến mang tính hài hước, thể hiện rất Việt Nam Tính hài hước của Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung là tính ý nhị, tinh tế Nó đòi hỏi người đọc giây phút lắng đọng, suy nghĩ Sau đó mới gật gù cùng nụ cười thâm trầm, nó như một thứ duyên ngầm của người phụ
nữ Việt Nam
Cuối bài viết tác giả đã giới thiệu một số bài thơ của Nguyễn Vĩnh Tiến
viết theo thể lục bát do Nguyễn Đăng Khoa sưu tập lại như: Đáy xuân, Tuổi
tôi, Chồn hoang, Canh tư, Đáy mùa đông, Trung du, Mưa mùa thu…
Đó là những bài viết tiêu biểu bàn về thơ Nguyễn Vĩnh Tiến, chủ yếu đi sâu phân tích những giá trị về nội dung và nghệ thuật Ngoài ra, còn một số bài viết nhỏ nhưng chỉ mang tính chất giới thiệu tác giả, tác phẩm Ta thấy chưa có tác giả nào đi sâu vào tìm hiểu và nghiên cứu về ngôn ngữ trong thơ của Nguyễn Vĩnh Tiến Đó cũng là một lí do hướng chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến”
2.2 Việc nghiên cứu hiệu quả của các yếu tố ngôn ngữ thuộc phong cách hội thoại trong các đề tài, khoá luận
Qua tìm hiểu, chúng tôi thống kê được các công trình nghiên cứu sau:
Đề tài khoa học cấp trường của ThS.GVC Lê Kim Nhung, trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2: “Tìm hiểu màu sắc dân gian trong thơ Nguyễn Bính
từ góc độ ngôn ngữ”, năm 2003
Luận văn tốt nghiệp của Phạm Thị Hậu, sinh viên K24H Văn, trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2: “Tìm hiểu sự vận dụng thành ngữ và ca dao
trong thơ Nguyễn Bính”
Trang 10Khóa luận tốt nghiệp của Hà Thị Kim Thoa, sinh viên K35B Sư phạm
Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2: “Hiệu quả sử dụng lớp từ, ngữ
thuộc phong cách hội thoại trong thơ nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương”
Khóa luận tốt nghiệp của Đoàn Thị Hà Chung, sinh viên K30A Văn,
trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2: “Hiệu quả của biện pháp dẫn ngữ trong
thơ Việt Nam hiện đại”
Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Mai, sinh viên K33B Ngữ văn,
trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2: “Biện pháp dẫn ngữ trong thơ Đồng Đức
Bốn”
Như vậy, đã có các công trình nghiên cứu được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Mỗi người có một hướng tiếp cận và cách đánh giá riêng nhưng đều lấy ngôn ngữ làm cơ sở cho việc nghiên cứu
Ở một số đề tài nghiên cứu của các tác giả khóa luận, những yếu tố ngôn ngữ thuộc phong cách hội thoại đã được nghiên cứu trong sáng tác của các tác giả khác nhau Trên cơ sở những công trình nghiên cứu đi trước, chúng tôi sẽ đi sâu vào nghiên cứu các từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến
- Đề tài là tư liệu phục vụ chúng tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu thơ ca đương đại Đồng thời nó còn đóng góp một tài liệu thiết thực phục
Trang 11vụ cho quá trình học tập, giảng dạy văn học và tiếng Việt ở nhà trường Trung học phổ thông sau này
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi thực hiện một vài nhiệm vụ sau:
- Tập hợp những vấn đề lí thuyết có liên quan tới đề tài nghiên cứu
- Khảo sát, thống kê, phân loại, nhận xét những từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến
- Phân tích, nhận xét, đánh giá kết quả nghiên cứu và rút ra kết luận về việc sử dụng từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến
Từ đó rút ra được kết luận về phong cách của nhà thơ
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu: Từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ
Nguyễn Vĩnh Tiến
5.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Chúng tôi khảo sát ở tập thơ “Những bình minh khác”, “Tuổi 1827” và
một số tác phẩm được lấy từ trang Facebook cá nhân của chính tác giả
- Do giới hạn về đề tài nên chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu vào việc sử dụng từ khẩu ngữ, ngữ dân gian và từ thuộc trường nghĩa dân gian trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục tài liệu tham khảo thì nội dung chính trong khóa luận của chúng tôi có các phần như sau:
Trang 12Chương 1 Cơ sở lí luận
Chương 2 Hiệu quả của việc sử dụng từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến
Trang 13NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Phong cách hội thoại
1.1.1 Những vấn đề lí thuyết về phong cách hội thoại
1.1.1.1 Khái niệm “phong cách hội thoại”
Trong cuốn Phong cách học tiếng Việt, tác giả Đinh Trọng Lạc đã đưa
ra định nghĩa về phong cách hội thoại như sau: “Phong cách hội thoại (hay còn có tên gọi khác là phong cách sinh hoạt hàng ngày, phong cách khẩu ngữ)
là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp phát ngôn (văn bản) trong đó thể hiện “vai” của nhân vật tham gia giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày” [7, 122]
1.1.1.2 Đặc trưng của phong cách hội thoại
Muốn thực hiện được chức năng trao đổi - cảm xúc – giao tiếp hàng ngày, phong cách hội thoại phải có những đặc trưng như: Tính cá thể, tính cụ thể, tính cảm xúc Phong cách hội thoại thường thiên về những chi tiết riêng,
cụ thể, sinh động, bộc lộ rõ rệt tình cảm, thái độ hơn là những chi tiết chung chung, trừu tượng, trung lập
a Tính cá thể
Ðặc trưng này thể hiện ở chỗ khi giao tiếp, người nói bao giờ cũng thể hiện vẻ riêng về thói quen ngôn ngữ của mình khi trao đổi, chuyện trò, tâm sự với người khác Người này thường nói từ tốn, khoan thai, nghiêm túc, người kia thường hay nói hấp tấp, vội vàng, đại khái, qua loa Người thích nói thẳng, người lại hay nói vòng vo, bóng bẩy Trong giao tiếp, lời nói tự nhiên, sinh động là lời nói đẹp Trong thực tế không ai là nói giống ai, mỗi người có cách nói riêng của mình Ngôn ngữ là công cụ chung dùng để giao tiếp trong một cộng đồng nhưng ở mọi người có sự vận dụng và thể hiện không giống nhau
do nhiều nguyên nhân như: nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính, tâm lí, tính cách,
Trang 14trình độ học vấn, văn hoá Tính cá thể đã giúp cho phong cách này thêm phong phú và đa dạng
b Tính cụ thể
Tính cụ thể là một đặc điểm nổi bật của phong cách hội thoại Tính cụ thể là một đặc trưng nổi bật được thể hiện ở chỗ “Phong cách sinh hoạt hàng ngày tránh lối nói trừu tượng, chung chung, thích lối nói cụ thể, nổi bật làm cho sự vật không phải chỉ được gọi tên mà còn được hiện lên với những hình ảnh âm thanh rõ nét Tính cụ thể đã làm cho sự giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày trở nên dễ dàng, nhanh chóng ngay trong trường hợp phải đề cập đến những vấn đề trừu tượng” [7, 128]
c Tính cảm xúc
Ðặc trưng này gắn chặt với tính cụ thể Phong cách hội thoại được sử dụng trong cuộc sống cụ thể, sinh động, truyền đạt được những tư tưởng, tình cảm của con người Lời nói phát ra cũng đến từ cảm xúc tự nhiên Khi giao tiếp ở phong cách hội thoại người ta luôn luôn bộc lộ thái độ tư tưởng, tình cảm của mình đối với đối tượng được nói đến Những cách diễn đạt đầy màu sắc tình cảm đã nảy sinh trực tiếp từ những tình huống cụ thể trong thực tế đời sống muôn màu muôn vẻ Chính thái độ, tình cảm, cảm xúc làm thành nội dung biểu hiện bổ sung của lời nói, giúp người nghe có thể hiểu nhanh chóng, hiểu sâu sắc nội dung cơ bản và nhất là mục đích, ý nghĩa của lời nói Những điều đó đã đem lại cho phong cách sinh hoạt sự duyên dáng, sâu xa, hấp dẫn,
đó vốn là nét đẹp trong những cách cảm, cách nghĩ của con người Từ những phương tiện và biện pháp tu từ của phong cách hội thoại, nhân dân ta đã tạo nên một kho tàng thành ngữ, tục ngữ, ca dao, hò vè giàu đẹp, đa dạng và phong phú
Trang 15Trên đây là ba đặc điểm của phong cách hội thoại, nó được biểu hiện trong những đặc điểm ngôn ngữ của phong cách này, sự biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau
1.1.1.3 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của phong cách hội thoại
a Cách thức sử dụng ngữ âm
Trong phong cách hội thoại, dạng biểu hiện chủ yếu là dạng nói Khi nói người ta có thể thấy được tất cả các biến thể ngữ âm
Ví dụ 1:
“Hải Đường đỏ mặt, trợn mắt, hỏi nặng lời rằng:
- Té ra bây giờ cô cũng không ưng nữa sao?
- Em đã nói em không thể làm vợ anh được
- Tại sao vậy?
- Anh không biết hay sao?
- Cô nói cho tôi nghe thử coi Cô phải nói đi
- Thân em như đóa hoa tàn, còn phận anh như cái lục bình quí Hoa tàn
mà cặm trên cái lục bình quí thì uổng lục bình, mà cũng thẹn cho hoa quá Tại vậy mà em không vưng lời anh được, chớ nào phải em làm khó cho anh đâu Anh thương em, xin anh trọng giùm em, đừng làm cho em hổ với cái tiết
của em mới phải.”
(Đóa hoa tàn – Hồ Biểu Chánh)
Đây là sự thể hiện phong cách hội thoại ở Nam Bộ Ta thấy các biến thể ngữ âm như là: té ra (hóa ra), vưng lời ( vâng lời), chớ (chứ)
Trang 16- Thôi ông để cho đến hôm khác”
(Vợ nhặt – Kim Lân)
Đây là sự thể hiện của phong cách hội thoại ở vùng đồng bằng Bắc Bộ
Ta thấy các biến thể ngữ âm như: mấy (thế), hẵng (hãy)
Ví dụ 3:
“Ngoài vách kia, tiếng nhạc sinh tiền cúng ma rập rờn nhảy múa
A Sử đến nhà bố Mỵ
A Sử nói:
- Tôi đã đem con gái bố về cúng trình ma nhà tôi Bây giờ tôi đến cho
bố biết Tiền bạc để cưới, bố tôi bảo đã đưa cả cho bố rồi
Rồi A Sử về Ông lão nhớ câu nói của thống lý dạo trước: cho con gái
về nhà thống lý thì trừ được nợ Thế là cha mẹ ăn bạc nhà giàu kiếp trước,
bây giờ người ta bắt con trừ nợ Không làm thế nào khác được rồi”
(Vợ chồng A phủ - Tô Hoài)
Đây là sự thể hiện của phong cách hội thoại ở vùng đồng bào dân tộc Tây Bắc Ta thấy cách dùng từ tiếng Việt chịu ảnh hưởng của từ vựng dân tộc
như cách xưng hô tôi – bố, cúng trình ma, ăn bạc nhà giàu…
Những ví dụ trên chứng tỏ phong cách hội thoại, khi nói năng người ta phát âm thoải mái theo một tập quán địa phương không theo chuẩn mực chung của âm đầu, âm cuối hay thanh điệu Cách phát âm này cũng là một cách để giữ gìn bản sắc văn hóa của vùng miền, thể hiện tình cảm đối với quê hương Ngày nay do nhiều yếu tố khách quan mà nhiều người đã có ý thức khắc phục tập quán phát âm của địa phương và đi theo các phát âm chuẩn mực chung của cả nước
Trang 17b Cách thức sử dụng từ ngữ
Phong cách hội thoại ưa dùng những từ ngữ mang tính cụ thể, giàu hình ảnh và màu sắc cảm xúc Ví dụ ở một số câu nói sau:
- Đừng động vào thằng cha ấy, nó thượng cẳng chân hạ cẳng tay
luôn đấy ( So sánh với: nó đánh nhau luôn đấy)
- Cứ thế này thì nó sẽ xé xác tao ra mất thôi (So sánh với: nó sẽ
đánh chết tao mất thôi)
- Nó là một đứa vắt cổ chày ra nước chứ có tốt đẹp gì (So sánh với:
Nó là một đứa keo kiệt chứ có tốt đẹp gì)
Phong cách hội thoại sử dùng nhiều ngữ khí từ với nhiều màu sắc
tình cảm khác nhau để thực hiện chức năng giao tiếp Ví dụ:
Mẹ đi ngoại về đấy à ? ( để hỏi người đang ở trước mặt mình)
Em nên tránh xa loại người đó đi nhé ! ( để khuyên răn, dạy bảo)
Muộn rồi, nhanh lên thôi ! ( để thúc giục)
Anh đưa đây em cầm giúp nào ( để yêu cầu được giúp đỡ)
Em đã bảo rồi mà chị không nghe cơ ( để trách mắng, đay nghiến)
Dạ, cháo chào bác ạ ! ( để tỏ thái độ kính cẩn với người trên)
Phong cách hội thoại sử dụng nhiều cảm thán từ chỉ những màu sắc tình cảm, cảm xúc, thái độ khác nhau vốn làm thành nội dung biểu hiện bổ sung của lời nói mang lại sự ý nhị, duyên dáng, sâu xa, hấp dẫn Ví dụ như:
A ! Bố về ! ( dùng khi reo mừng)
Than ôi ! Thời oanh liệt nay còn đâu ( dùng để bày tỏ sự nuối tiếc,
chán nản)
Eo ơi ! Khắp vùng này chẳng khác gì một bãi rác khổng lồ ( chỉ thái độ
ngạc nhiên, cường điệu hóa)
Rõ khổ ! Người đâu mà chịu lắm tai ương vậy chứ ( bày tỏ sự cảm
thông với người khác)
Trang 18Ừ nhỉ ! Thôi coi như xí xóa chuyện này ( dùng khi sực nhớ ra một điều
gì đó)
Phong cách hội thoại ưa dùng từ láy, vì vậy đã sinh ra những từ láy
giàu sắc thái cụ thể, gợi hình, gợi cảm Láy vần có tác dụng gợi cảm: hấp tấp,
lủng củng, lảm nhảm Láy âm hoàn toàn có giá trị gợi cảm, nhấn mạnh ý: đo
đỏ, tim tím, trăng trắng, nao nao, bươm bướm, châu chấu Láy bốn âm tiết
thường là nhấn mạnh hoặc châm biếm: Hớt ha hớt hải, đỏng đà đỏng đảnh,
nhí nha nhí nhảnh, ngớ nga ngớ ngẩn Ví dụ:
Đi đâu mà hớt ha hớt hải thế không biết
Người đâu mà đỏng đà đỏng đảnh
Phong cách hội thoại thích dùng thành ngữ, tục ngữ, ca dao, quán ngữ:
Tre già măng mọc, gà mọc đuôi tôm, gắp lửa bỏ tay người, đen như cột nhà cháy, khí không phải, ai đời Ví dụ:
Nó là một đứa hay gắp lửa bỏ tay người đấy, nên đề phòng
Ôi dào ! Tre già thì măng mọc
Tôi hỏi khí không phải chứ làm sao mà bác lại biết được chuyện này ?
Phong cách hội thoại ưa dùng lối nói tắt ví dụ như : Hợp tác xã nông
nghiệp – hợp tác xã, kích thích nhu cầu – kích cầu, Việt Nam Độc lập Đồng minh – Việt Minh, thương binh và bệnh binh – thương bệnh binh
c Cách thức sử dụng câu
Đặc điểm nổi bật của phong cách hội thoại là hay dùng câu hỏi, câu cảm thán, câu đưa đẩy, câu trực tiếp Ví dụ như:
- Đã tối rồi mà sao còn không thấy chị hai mày về nhỉ ? ( câu hỏi )
- Trời ơi là trời ! Cái số tôi nó khổ (câu cảm thán)
- Vào ăn cơm cái đã nào (câu trực tiếp, mời gọi )
- Ai muốn ăn oản thời năng lên chùa đấy chị em (câu đưa đẩy)
Trang 19Phong cách hội thoại có kết cấu cú pháp riêng mà những phong cách khác rất ít khi sử dụng:
- Dùng đã lại thay cho không những mà còn: Đã trời mưa rồi lại
còn kèm theo giông bão
- Dùng kết cấu “động từ - gì mà – động từ”: Học hành gì mà chỉ thấy
ăn với chơi
- Dùng kết cấu có – thì để nhấn mạnh: Có vất vả thì mới có thành công
- Dùng câu hỏi để phủ nhận: Mày làm như thế thì liệu còn ai nó thèm
giúp đỡ mình nữa không ?
- Chọn cách nói cụ thể trong cách nói đồng nghĩa: Hơn một nửa dân
làng đã theo cách mạng ( So sánh với: Quá bán người dân đã theo cách mạng)
Ngược lại, ở những phong cách khác có những hình thức cú pháp riêng
mà phong cách hội thoại không dùng Tiêu biểu như cấu trúc bị động thường được dùng trong phong cách khoa học hay phong cách chính luận
d Tu từ trong phong cách hội thoại
Phong cách hội thoại hay dùng cách nói ví von, so sánh hình ảnh gợi ra những đặc điểm riêng biệt của đối tượng được nói tới Ví dụ như trong cách
gọi tên: Thành thúng, Lan mít, Vân cà chua, Hoàng giáo sư, Huấn râu
ngô
Ta có thể hiểu: Thành thúng là chỉ Thành có thân hình mập mạp, Vân
cà chua là chỉ Vân có đôi má hồng hào, Hoàng giáo sư là chỉ Hoàng học rất
giỏi, Huấn râu ngô là chỉ Huấn có mái tóc màu râu ngô
Phong cách hội thoại thích dùng cách diễn tả khoa trương, nói giảm để
tô đậm hình ảnh khiến người nghe chú ý: Nóng như thổi lửa, ngoan như cún
con, đẹp như tiên, xấu như ma, vắng như chùa bà đanh run như cầy sấy
Ví dụ:
Chỉ có vậy thôi mà cũng run như cầy sấy rồi
Trang 20Thời tiết hôm nay nóng như thổi lửa
Người đâu mà đẹp như tiên vậy trời !
1.1.2 Từ khẩu ngữ
1.1.2.1 Khái niệm “từ khẩu ngữ”
Trong cuốn “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt”, tác giả Cù
Đình Tú đã nhận định: “Trong vốn từ của bất kì người dân Việt Nam bình thường nào, bên cạnh vốn từ ngữ đa phong cách, mỗi con người đều có vốn từ ngữ rất quen thuộc, rất gắn bó, đó là vốn từ khẩu ngữ (gọi tắt là từ khẩu ngữ)
Từ khẩu ngữ được dùng chủ yếu cho phong cách khẩu ngữ tự nhiên tiếng Việt
và là công cụ riêng của phong cách này Do chúng phục vụ cho nhu cầu nói năng hàng ngày cho nên người ta còn gọi chúng là từ khẩu ngữ hàng ngày, từ khẩu ngữ sinh hoạt”
1.1.2.2 Đặc điểm của từ khẩu ngữ
Từ khẩu ngữ mang “tính miêu tả chi tiết và cụ thể Chúng biểu thị một cách cụ thể và chi tiết những sự vật, tính chất hành động… từ khẩu ngữ tiếng Việt rất giàu hình ảnh, giàu sắc thái biểu cảm” [1, 133]
Ta thấy sự khác biệt rõ rệt giữa từ khẩu ngữ và ngôn ngữ bình thường
Ví dụ:
Từ khẩu ngữ Từ ngữ khác Dẻo miệng
Con gái con đứa
Trang 211.1.2.3 Cách cấu tạo từ khẩu ngữ
Theo Cù Đình Tú, Khảo sát từ vựng tiếng Việt theo bình diện phong
cách ngôn ngữ (trong Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt tu từ, H,
1982), từ khẩu ngữ được cấu tạo theo bốn cách sau:
a Thêm yếu tố
Nguyên tắc cấu tạo chung của cách này là thêm yếu tố vào đơn vị nguyên là từ đa phong cách để tạo nên đơn vị mới là từ khẩu ngữ Nguyên tắc này có bố kiểu:
Kiểu 1:
Trắng thêm xóa thành trắng xóa
Xanh thêm rì thành xanh rì
Kiểu 2:
Xe thêm cộ thành xe cộ
Điện thêm đóm thành điện đóm
Kiểu 3: Lặp lại bộ phận
Đàn ông lặp lại bộ phận thành đàn ông đàn ang
Con gái lặp lại bộ phận thành con gái con đứa
Kiểu 4:
Đắt thêm như tôm tươi thành đắt như tôm tươi
Nhẹ thêm tựa lông hồng thành nhẹ tựa lông hồng
Các yếu tố như trắng, xanh, xe, điện, đàn ông, con gái, đắt, nhẹ nguyên
là từ đa phong cách không mang tính miêu tả cụ thể
Các từ như trăng xóa, xanh rì, xe cộ, điện đóm, đàn ông đàn ang, con
gái con đứa, đắt như tôm tươi, nhẹ tựa lông hồng vốn không có nghĩa khi
đứng riêng, vốn không phải là từ độc lập nhưng khi thêm vào thì làm cho đơn
vị mới trở thành từ khẩu ngữ, mang sắc thái biểu cảm cao
Trang 22b Bớt yếu tố
Nguyên tắc cấu tạo của cách này là rút bớt yếu tố ở đơn vị nguyên là từ
đa phong cách để tạo thành đơn vị khẩu ngữ
Mẫu: Nhân khẩu rút bớt nhân thành khẩu
c Biến yếu tố
Nguyên tắc cấu tạo chung của cách này là biến yếu tố ở các đơn vị nguyên là từ đa phong cách để tạo nên đơn vị mới là từ khẩu ngữ Cách này tồn tại ba kiểu sau:
Kiểu 1: Biến âm
Năm ba thành dăm ba
Vâng lời thành vưng lời
Kiểu 2: Biến nghĩa
Ăn ( cơm, bánh) biến nghĩa thành ăn (một quả lớn )
Tay ( tay chân) biến nghĩa thành tay ( đua cừ khôi )
Kiểu này có sức sinh sản lớn so với các kiêu khác Hiện nay các từ khẩu ngữ mới thường được cấu tạo chủ yếu theo cách này
Kiểu 3: Chuyển nghĩa
Đầu bạc biểu thị cho người già ( chuyển nghĩa theo cách hoán dụ) Níu áo biểu thị cho cản trở ( chuyển nghĩa theo cách ẩn dụ)
Trang 23d Dùng yếu tố không lí do
Ta thấy có một số từ được mặc nhiên xem như là từ khẩu ngữ, không cắt nghĩa được nguyên nhân cấu tạo:
Các từ khẩu ngữ: vớ, quăng, béng, chuồn…
Các quán ngữ khẩu ngữ: Khí không phải, của đáng tội, buồn nỗi…
Khi xác định cụ thể được các cách cấu tạo của từ khẩu ngữ tiếng Việt
sẽ giúp cho chúng ta có căn cứ để xác định từ khẩu ngữ trong thực tế
1.1.2.4 Hiệu quả sử dụng của từ khẩu ngữ
Trong giao tiếp “Con người luôn tiếp xúc thẳng với mọi mặt cụ thể, sinh động của cuộc sống Con người muốn bày tỏ tức khắc những phản ứng ít nhiều ở dạng cảm tính của mình … từ khẩu ngữ tiếng Việt giàu hình ảnh và sắc thái biểu cảm xuất hiện chính là để đáp ứng nhu cầu diễn đạt nói trên Nói năng sinh hoạt hàng ngày mà thiếu từ khẩu ngữ thì sự diễn đạt sẽ trở nên sơ lược, tẻ nhạt, sẽ chỉ còn lại một hoạt động đưa tin nhận tin thuần túy…”
1.2 Biện pháp dẫn ngữ
1.2.1 Khái niệm
Trang 24Trong cuốn Phong cách học tiếng Việt, tác giả Nguyễn Thái Hòa đã đưa ra định nghĩa về biện pháp dẫn ngữ như sau: “Dẫn ngữ là phương thức
vay mượn danh ngôn, tục ngữ, điển cố, thơ văn… để làm cho lí lẽ thêm vững chắc, màu sắc thêm phong phú.” [8, 223] Trong các sáng tạo văn học, việc
vận dụng những danh ngôn, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, điển tích, điển cố… cũng có thể được xem là một biện pháp tu từ
1.2.2 Các cách dẫn thành ngữ, tục ngữ, ca dao
Trong các tác phẩm văn học, việc dẫn ngữ là một phương thức rất phổ biến Có hai cách dẫn ngữ thường dùng đó là dẫn nguyên văn và dẫn có biến đổi ( chủ yếu là dẫn thành ngữ, tục ngữ, ca dao )
1.2.2.1 Dẫn nguyên văn một câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao
Ví dụ 1:
“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương mới quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá, bạc như vôi”
(Mời trầu – Hồ Xuân Hương)
Có hai câu thành ngữ đó là “Xanh như lá” và “Bạc như vôi” được nhà
thơ Hồ Xuân Hương trích dẫn một cách nguyên văn để đưa vào bài thơ này Nhà thơ đã rất tài tình khi đi khai thác ý nghĩa tượng trưng của màu sắc Lá trầu và vôi, ăn chung với nhau sẽ thành sắc thắm Nhưng tách riêng thì ta chỉ còn thấy màu xanh của lá, màu bạc của vôi và trong tình yêu nó tượng trưng cho sự bội bạc, gian dối
Ví dụ 2:
“Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công”
(Thương vợ - Tú Xương)
Trang 25Nhà thơ Tú Xương đã sử dụng nguyên văn hai câu thành ngữ để đưa
vào ý thơ của mình “Một duyên hai nợ” là câu thành ngữ chỉ duyên nợ vợ chồng Gặp nhau là do chữ duyên, kết nghĩa vợ chồng là còn thêm chữ nợ, đó chính là trách nhiệm gia đình “Năm nắng mười mưa” là một thành ngữ chỉ
sự dãi dầu mưa nắng, chịu đựng nhiều nỗi vất vả, nhọc nhằn của cuộc đời Bằng cách sáng tạo dẫn hai thành ngữ trên vào thơ, nhà thơ Tú Xương một phần đã nói lên được sự chịu thương, chịu khó, yêu chồng thương con của người vợ Đồng thời, qua đó thể hiện sự chịu ơn và lòng thương yêu sâu sắc người vợ của chính mình
1.2.2.2 Dẫn có biến đổi một câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao
a Mượn một phần hoặc một vế của thành ngữ, tục ngữ, ca dao
Ví dụ:
Quê chợ bao nhiêu khách đẩy xe
Phú quý treo sương ngọn cỏ
(Tự thán 3 – Nguyễn Trãi)
Nguyễn Trãi đã tách câu thành ngữ “Công danh phú quý” ra làm hai vế
và đưa vào hai câu thơ thất ngôn trong bài thơ “Tự thán” của mình Ông đã
“treo”, “gửi” công danh, phú quý trên ngọn cỏ, cành cây Qua đó thể hiện
được thái độ thờ ơ, không màng tới công danh, lợi lộc của Nguyễn Trãi Ông quyết tâm đỗ đạt để ra làm quan không vì quyền thế mà vì muốn đem công sức của mình ra để giúp dân, giúp nước
b Mượn ý của câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao
Trang 26Ví dụ :
“Đắc thời thân thích chen chân đến Thất sở láng giềng ngoảnh mặt đi”
(Bài số 57, Quốc âm thi tập – Nguyễn Trãi)
Trong dân gian ta thường có những câu ca dao sau:
“Đói rách thì chẳng ai nhìn Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em”
Hay:
“Giàu sang lắm kẻ đón chào Khó khăn dẫu có kêu gào ai thương”
(Ca dao) Phải chăng Nguyễn Trãi đã mượn ý của những câu ca dao trên để viết những câu thơ mang đầy hàm ý mỉa mai sự giả dối, bất lương của những con người sống trong thời đại của đồng tiền? Họ quý trọng kẻ giàu sang, khinh chê người nghèo khó Qua đó Nguyễn Trãi muốn lên án, phê phán những con người đểu giả ấy
Ý nghĩa của việc dẫn thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân gian vào trong thơ
Trong giáo trình Văn học dân gian đã từng nhận xét: “Văn học dân gian
là cội nguồn, là bầu sữa mẹ nuôi dưỡng nền văn học dân tộc Việt Nam Nhiều thể loại văn học viết được xây dựng và phát triển dựa trên sự kế thừa các thể loại văn học dân gian Nhiều tác phẩm, nhiều hình tượng do văn học dân gian tạo nên là nguồn cảm hứng, là thi liệu, văn liệu của văn học viết Nhiều nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc( Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du,
Hồ Xuân Hương, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh….) đã tiếp thu có kết quả văn
Trang 27học dân gian để sáng tạo nên những tác phẩm văn chương ưu tú” Như vậy ta
thấy, văn học dân gian đóng một vai trò rất quan trọng, nó làm nền tảng, cơ sở tiền đề cho văn học viết Văn học viết từ những tinh hoa của văn học dân tộc
mà có những bước đệm vững chắc để ngày một phát triển hơn
Thành ngữ, tục ngữ, ca dao, hò vè… là một trong những yếu tố nổi bật của văn học dân gian Việc dẫn thành ngữ, tục ngữ, ca dao… vào trong thơ ca
nó tạo được một số hiệu quả nghệ thuật nhất định:
Dẫn ngữ giúp tác phẩm trở nên gần gũi, quen thuộc, dễ tiếp thu với tất
cả mọi người Nguyên nhân chính là do văn học dân gian vốn là nền văn học miêu tả chân thực nhất đời sống nhân dân lao động
Hình thành nên tính hình tượng cho câu thơ, làm cho câu thơ đặc sắc, lôi cuốn hơn
Dẫn ngữ tạo nên hàm ý cho câu thơ, hướng người đọc tới nhiều cách tư duy logic và sự đồng sáng tạo trong văn học…
1.3 Đặc trƣng ngôn ngữ thơ
1.3.1 Khái niệm “Thơ”
Có nhiều quan niệm và cách định nghĩa khác nhau về thơ Từ rất lâu, nhiều người đã đi tìm cho thơ một định nghĩa nhưng có vẻ như vẫn chưa thực
sự thỏa đáng Nữ nhà thơ Emily Dickinson – một cây bút thơ đặc sắc nhất của
Mỹ thế kỉ XIX đã từng nói rằng: “Nếu một cuốn sách làm cho tôi cảm thấy
giá lạnh mà không một ngọn lửa nào có thể sưởi ấm, tôi biết đó là thơ Nếu tôi cảm thấy mình đang cất cánh, tôi cũng biết đó là thơ.”
William Wordsworth – một nhà thơ lãng mạn người Anh cũng đã từng
định nghĩa về thơ như sau: “Thi ca là một chuỗi cảm nghĩ thanh thản trào ra
và thoát đi từ cửa ngõ tâm hồn với những cảm xúc được hồi tưởng lại trong
sự tĩnh lặng Những xúc động đó ngừng lại bởi những nguyên tố phản ứng
Trang 28khiến cho sự tĩnh lặng dần dần tan biến và nguồn thơ được dâng lên từ tâm thức.”
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đưa ra định nghĩa về thơ như sau: “Thơ là hình
thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu”
1.3.2 Đặc trưng ngôn ngữ thơ
1.3.2.1 Tính đa nghĩa
Thơ luôn mang tính đa nghĩa Mỗi từ ngữ trong thơ không đơn thuần được hiểu theo nghĩa gốc mà còn có nhiều cách hiểu khác nhau Đặc điểm của thơ là “ý tại ngôn ngoại”, lời thơ ít nhưng ý nghĩa trong thơ thì nhiều Để tìm
ra được ý nghĩa của một văn bản thơ thì người đọc phải có sự tưởng tượng phong phú, vận dụng hết những sự hiểu biết của mình vào phân tích từng câu chữ trong thơ
“Thân em như quả mít trên cây
Da nó xù xì múi nó dày Quân tử có thương thì đóng cọc Xin đừng mân mó nhựa ra tay”
(Quả mít – Hồ Xuân Hương) Nhà thơ Hồ Xuân Hương rất tài tình khi lấy hình tượng quả mít để nói
về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ Qủa mít tuy vỏ ngoài xù xì nhưng múi dày thơm ngọt Người phụ nữ thôn quê tuy lam lũ, vất vả nhưng lại mang trong mình vẻ đẹp thanh cao,chung thủy, dịu hiền Trân trọng người phụ nữ cũng như trân trọng cái thanh cao, đẹp đẽ trên đời
Trang 291.3.2.2 Tính cảm xúc
Đỗ Hữu Châu, trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt đã viết rằng:
“Ngôn ngữ thơ không phải là ngôn ngữ khách quan, yên tĩnh của tác phẩm tự
sự Lời thơ thường là lời đánh giá, trực tiếp thể hiện mối quan hệ của chủ thể với cuộc đời.” [2]
Mỗi bài thơ đều là một sáng tác tinh thần của nhà thơ Mỗi câu thơ đều
ẩn chứa trong đó những thông điệp, những cảm xúc riêng Thơ là một con đường nhanh nhất đưa tác giả và tâm tư của mình đến gần hơn với người đọc
“Ôi Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta, như vợ như chồng
Ôi Tổ quốc, nếu cần, ta chết Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông”
(Sao chiến thắng – Chế Lan Viên)
1.3.2.3 Tính nhạc
“Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động tình cảm Như nhịp đập của trái tim khi xúc động, ngôn ngữ thơ có nhịp điệu riêng của nó.”
[2, 367]
Tính nhịp điệu được xem như là một đặc trưng cơ bản của tác phẩm trữ tình
(Thuyền và biển – Xuân Quỳnh) Phối thanh, hiệp vần, ngắt nhịp… là những yếu tố cốt lõi giúp ngôn ngữ thơ có nhạc tính Nhạc tính của ngôn ngữ thơ thể hiện rõ nhất ở ba phương diện đó là sự cân đối, sự trùng điệp và sự trầm bổng Sự cân đối là sự tương xứng hài hòa giữa các dong thơ Sự trùng điệp thể hiện ở việc dùng vần, điệp
Trang 30câu, điệp ngữ Trầm bổng là sự thay đổi những âm thanh cao thấp khác nhau giữa thanh bằng và thanh trắc
1.4 Vài nét về tác giả Nguyễn Vĩnh Tiến
1.4.1 Con người và sự nghiệp
Nguyễn Vĩnh Tiến sinh ngày 28 tháng 12 năm 1974 Quê ở Phú Thọ Năm 1996, ông tốt nghiệp Đại học Kiến trúc Hà Nội Năm 2003, Nguyễn Vĩnh Tiến nhận được học bổng Bộ văn hóa Pháp và theo học cao học Pháp ngữ chuyên ngành “Thiết kế đô thị với di sản và phát triển bền vững”
Nguyễn Vĩnh Tiến là thành viên của nhóm sáng tác M6, từng đoạt nhiều giải thưởng văn học, kiến trúc và nổi tiếng với tư cách là người sáng tác ca khúc
Ngoài đời, ông là một người giản dị, vui tính, dễ gần, từ tốn, yêu ca hát
và đặc biệt rất nhiệt huyết với công việc
* Sự nghiệp văn học:
Năm 1992, Nguyễn Vĩnh Tiến là người sáng lập ra nhóm thơ “Hoa lạ” với chủ trương đổi mới, đi sâu vào những “tiềm thức thơ” và phân tích “logic của những phi lí”
- Đã xuất bản:
+ Những giấc mộng kín [Tập truyện ngắn], Nhà xuất bản Trẻ, 1999 + Những bình minh khác [Tập thơ], Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, 2001
- Các Giải thưởng văn học đã được nhận:
+ Giải thưởng Truyện ngắn và Thơ "TPTX" - Báo Tiền Phong,
1991-1993 Tác phẩm: "Con Chó Hư", " Lá Rụng"
+ Giải thưởng Thơ "Thanh Xuân", 1992 Tác phẩm: “Mùa Gặt"
+ Giải thưởng Thơ Hay - Báo Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh,
1993.Tác phẩm:" Những Ngón Tay Của Tôi"
Trang 31+ Giải thưởng Truyện Ngắn và Thơ"Hoa Học Trò" 1994 Tác phẩm:
"Một Cánh Chuồn Chuồn", "Bốn con chào mào"
+ Giải thưởng Thơ Tuổi Hoa (Hội nhà văn VN và Tạp chí Tuổi Xanh)
1994 Tác phẩm:" Cái Roi Tre"
+ Giải thưởng Thơ Cho Thiếu Nhi - Nhà xuất bản Thanh Niên, 1997
Tác phẩm: “Thấy Một Mùa Quen Quen"
+ Giải thưởng Truyện ngắn - Báo Văn Nghệ Trẻ, 1997 Tác phẩm: “Sự
ra đời của Buổi Tối"
Hội viên Hội nhà văn Việt Nam năm 2006
1.4.2 Phong cách thơ Nguyễn Vĩnh Tiến
Nguyễn Vĩnh Tiến từ nhỏ đã yêu thích văn chương và đến với thơ ca từ năm tám tuổi Hiện nay ông hoạt động trên nhiều lĩnh vực như kiến trúc, văn chương, âm nhạc Ông có một sức sáng tạo mạnh mẽ và rất mực tài hoa
Trong cuốn Chút tình tri âm, Nxb Hội nhà văn 2009, tác giả Bùi Công
Thuấn đã viết rằng: “Nguyễn Vĩnh Tiến được mệnh danh là người “bay giữa thơ, nhạc và kiến trúc Anh cho biết: “Tôi thấy trong kiến trúc có nhạc tính, có nhịp điệu, có thi ca của vật liệu, có cảm xúc của không gian và ngược lại trong âm nhạc và thi ca có những kết cấu và biểu hiện của kiến trúc” Nguyễn Vĩnh Tiến không chỉ đơn thuần là một nhà thơ mà ông còn là một nghệ sĩ tài năng có thể tạo hình cho âm thanh và câu chữ Bản thân ông là một kiến trúc
sư, chính vì vậy mà nét đặc biệt trong thơ ông càng thể hiện đậm nét hơn, thơ như có hình khối, lớp lang, mỗi bài thơ là một cấu trúc độc đáo của của ngôn ngữ Trong thế giới của Nguyễn Vĩnh Tiến, người ta có thể nhìn ra một bức tranh đa sắc màu với những bậc thềm, mái ngói, tam quan, chiếu sờn, đồng rạ, cây đa, bến nước, triền đê…
Trang 32Tác giả Nguyễn Hữu Hồng Minh trong bài viết “Thơ Nguyễn Vĩnh Tiến: Câu chuyện lôi thôi của con chồn hoang” đã nhận xét rằng:
“Trong những nhà thơ trẻ Hà Nội, Nguyễn Vĩnh Tiến được biết đến như một người làm thơ già và cũ” Thơ Nguyễn Vĩnh Tiến mang đậm màu sắc dân gian, đó là thơ của một làng quê trung du Người ta nói ông như một người của những chuyến viễn du nhưng lại chưa bao giờ quên đi bóng hình quê nhà
và mùi vị xứ sở Nguyễn Hữu Hồng Minh một lần nữa lại cho rằng: “Dường như, Nguyễn Vĩnh Tiến không thể thoát ra khỏi những làng quê bé nhỏ Bắc
Bộ thì phải Anh như đứa trẻ con ngơ ngác giữa chốn thị thành, đôi mắt lay láy vẫn còn vương lại nhưng đồng chiều, cuống rạ, bỏ sau lưng…” Gắn bó với quê hương và có một tình yêu đất nước đậm sâu, chính vì vậy mà thơ ông man mác buồn, gợi chút cô đơn, đưa người yêu thơ tới mọi ngóc ngách của tuổi thơ và tình yêu làng quê, đất nước Nguyễn Vĩnh Tiến chính là một người giữ lửa đại tài mà vùng quê Bắc Bộ đã sinh ra
Trang 33Chương 2 HIỆU QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG TỪ, NGỮ THUỘC PHONG CÁCH HỘI THOẠI TRONG THƠ NGUYỄN VĨNH TIẾN 2.1 Kết quả thống kê, phân loại
2.1.1 Kết quả
Qua khảo sát 95 bài thơ của Nguyễn Vĩnh Tiến trong tập thơ “Những
bình minh khác”, “Tuổi 1827” và một số tác phẩm được lấy từ trang
Facebook cá nhân của chính tác giả, chúng ta thấy tần số xuất hiện của từ ngữ thuộc phong cách hội thoại trong các bài thơ là lớn (1426 phiếu) và được chia làm các tiểu loại khác nhau Số liệu cụ thể được miêu tả ở bảng thống kê dưới đây:
Trang 34Từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến
Sử dụng từ khẩu ngữ Sử dụng từ
tình thái
Sử dụng từ ngữ thuộc trường nghĩa dân gian
Sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao T
T
ừ ghép sắc thái hóa
T
ừ láy mang màu sắc khẩu ngữ
Thán từ
T
rợ từ tình thái
Trường nghĩa gia đình
Trường nghĩa nông thôn
Trường nghĩa không gian làng quê
S
ử dụng
y nguyên
S
ử dụng
có biến đổi
48 (3,36%)
34 (2,4%)
49 (3,43%)
31 (2,17%)
58 ( 4,06%)
914 ( 64%)
51 ( 3,57%)
3 (0,2%)
34 (2,38%)
1426 phiếu ( 95 tác phẩm )
Trang 352.1.2 Nhận xét
Qua bảng miêu tả kết quả thống kê phân loại, chúng tôi nhận thấy tỉ lệ
và mức độ sử dụng các từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến là rất đa dạng
2.1.2.1 Sử dụng từ khẩu ngữ, từ tình thái và từ thuộc trường nghĩa dân gian
Thơ Nguyễn Vĩnh Tiến gần gũi, giản dị, thân thuộc và đặc biệt là mang đậm màu sắc dân gian Chính vì vậy mà các yếu tố ngôn ngữ đời thường được ông đưa vào trong thơ của mình có tỉ lệ vô cùng lớn Theo thống kê của chúng tôi, trong tổng số 1426 phiếu thì có tới 1389 phiếu thuộc loại này Có ba tiểu loại như sau: Sử dụng từ khẩu ngữ, sử dụng từ tình thái và sử dụng các từ ngữ thuộc trường nghĩa dân gian
Việc sử dụng các từ ngữ thuộc trường nghĩa dân gian chiếm số lượng lớn nhất trong tổng số phiếu (1023 phiếu), chiếm 71,7 % Từ khẩu ngữ cũng đóng một vai trò rất quan trọng với số phiếu thống kê là 286 phiếu, chiếm 20,05 % Việc sử dụng từ tình thái để đưa vào trong thơ cũng được Nguyễn Vĩnh Tiến đặc biệt lưu ý (80 phiếu), chiếm 5,6 %
Từ khẩu ngữ là một yếu tố rất quan trọng trong việc thể hiện thái độ, tâm tư, tình cảm, nhận xét, phê bình, đánh giá của hoạt động giao tiếp hàng ngày Khi đưa vào văn chương, các từ khẩu ngữ được biến đổi linh hoạt và tạo nên nét độc đáo, hấp dẫn cho tác phẩm Nhiều từ khẩu ngữ được biến âm
đã tạo ra những sắc thái biểu cảm khác nhau Trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến, những từ ngữ thuộc trường nghĩa dân gian và từ tình thái cũng xuất hiện một cách dày đặc Việc đưa các yếu tố phi nghệ thuật vào đúng lúc, đúng chỗ một cách khéo léo làm cho bài thơ trở nên nghệ thuật và thêm gần gũi hơn với người đọc
Trang 362.1.2.2 Sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân gian
Trong cuốn Phong cách học tiếng Việt, tác giả Đinh Trọng Lạc đã viết
rằng: “Phong cách sinh hoạt hàng ngày thích dùng thành ngữ, tục ngữ, ca dao, quán ngữ…: Vẽ đường cho hươu chạy, mượn gió bẻ măng, cá lớn nuốt cá bé…” Thơ Nguyễn Vĩnh Tiến cũng không nằm ngoài nhận đinh này Trong rất nhiều bài thơ của ông, thành ngữ, tục ngữ, ca dao đã được vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt vừa tạo ra sự mới mẻ vừa mang lại cảm giác gần gũi, thân thuộc với cuộc sống hàng ngày
Qua việc khảo sát, chúng tôi đã thống kê được 37 phiếu trên tổng số
1426 phiếu là có vận dụng các câu thành ngữ, tục ngữ và ca dao dân gian, chiếm 2,58 % Tuy không phải là con số quá lớn nhưng biện pháp dẫn ngữ lại
là một yếu tố cơ bản giúp thơ Nguyễn Vĩnh Tiến có tính hội thoại và mang đậm màu sắc thơ ca dân gian Sử dụng ca dao và thành ngữ là hai yếu tố chiếm tỉ lệ nhiều hơn, chủ yếu là dẫn một cách có biến đổi Tục ngữ cũng xuất hiện trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến nhưng số lượng không nhiều
Trong tổng số 37 phiếu thuộc về dẫn ngữ, việc dẫn ca dao chiếm 20 phiếu, chiếm 1,4% Hoàn toàn là dẫn có biến đổi một câu ca dao Đây là con
số không quá lớn xét trên tổng thể, song nó cũng đóng vai trò nhất định trong việc đem màu sắc dân gian vào trong thơ Ca dao là một tấm gương phản chiếu chân thực hiện thực đời sống xã hội Ca dao là kết tinh vẻ đẹp của dân tộc Việc đưa ca dao vào trong thơ là góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và hướng người đọc tới một cách tiếp cận tác phẩm văn học gần gũi hơn,
Trang 37nhưng lại đúc kết được nhiều kinh nghiệm, chứa đựng nhiều tâm trạng, tư tưởng của tác giả dân gian Việc dẫn tục ngữ vào trong thơ của Nguyễn Vĩnh Tiến không nhiều Qua khảo sát 97 tác phẩm chúng tôi thống kê được 2 phiếu dẫn tục ngữ, trong đó cả hai phiếu đều dẫn có biến đổi
Tiểu kết: Như vậy, Nguyễn Vĩnh Tiến đã sử dụng nhiều từ ngữ thuộc
trường nghĩa dân gian, đưa các từ khẩu ngữ, từ tình thái vào trong từng câu thơ theo cách riêng của mình Chính điều đó đã làm nên một hồn thơ Nguyễn Vĩnh Tiến thật đặc biệt, không trộn lẫn với bất kì nhà thơ nào Bên cạnh đó, việc vận dụng các ngữ liệu dân gian như thành ngữ, tục ngữ, hò vè, ca dao …
để sáng tác thơ ca là một hướng sáng tạo chưa bao giờ là cũ Bản sắc văn hóa dân tộc sẽ được lưu giữ và được thế hệ trẻ tiếp bước kế thừa, phát triển theo chiều hướng tích cực hơn Điều đó chứng tỏ rằng, văn hóa dân gian trong cuộc sống của chúng ta cho tới ngày nay vẫn giữ nguyên được giá trị của nó
2.2 Phân tích kết quả thống kê
2.2.1 Sử dụng từ khẩu ngữ
Lớp từ khẩu ngữ được xem như một phương tiện quan trọng để tạo nên một hoạt động giao tiếp Nếu như trong giao tiếp, từ khẩu ngữ mang sắc thái thông tục, thân mật, suồng sã thì khi đưa vào thơ ca nó đưa người đọc bước tới một thế giới văn chương đầy tính nghệ thuật Hệ thống từ khẩu ngữ tạo nên những nét cá tính, riêng biệt và phản ánh lại chân thực cuộc sống đời thường Trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến, từ khẩu ngữ chiếm một số lượng không hề nhỏ Chúng ta có thể thấy xuất hiện trong thơ ông một số các tiểu loại sau đây:
2.2.1.1 Từ biến âm
Biến âm là một hiện tượng thường gặp trong ngôn ngữ dân gian Người dân ở các địa phương khác nhau khi nói thường phát âm theo các cách khác nhau, phát âm thoải mái theo một tập quán phát âm địa phương với sự thể