Những nghiên cứu về các loài thực vật có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh .... Để chuẩn bị đánh giá toàn diện giá trị làm thuốc c a hệ thực vật nơi đây, chuẩ
Trang 1ĐA DẠNG SINH HỌC MÊ LINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐA DẠNG SINH HỌC MÊ LINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và
sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Văn Dư và TS Hà Minh Tâm là những người
đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thiện khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Trạm đa dạng sinh học Mê
Linh - Vĩnh Phúc, Ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN – Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc nghiên cứu, thu
thập số liệu
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn ở bên động viên, giúp đỡ và khích lệ tôi trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 3 tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Nhƣ Quỳnh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Để đảm báo tính trung thực c a khóa luận, tôi xin cam đoan:
Khóa luận tốt nghiệp: “Xây dựng danh lục các loài thực vật có tác dụng
chữa bệnh đau dạ dày ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh” là công trình
nghiên cứu c a cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn c a TS Nguyễn Văn
Dư, TS Hà Minh Tâm Các kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực
và các thông tin trích dẫn trong khóa luận này đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 3 tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Nhƣ Quỳnh
Trang 5DANH MỤC VIẾT TẮT
1 ĐDSH : Đa dạng sinh học
2 SCN : Sau Công nguyên
3 PRA : Participatory Rural Appraisal (Cùng tham gia đánh giá nông thôn)
4 RRA : Rural Rapid Appraisal (Đánh giá nhanh nông thôn)
5 TCN : Trước Công nguyên
6 VQG : Vườn quốc gia
7 WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
4 Điểm mới c a đề tài 3
5 Bố cục c a khóa luận 3
Chương 1 Tổng quan tài liệu 4
1.1 Trên thế giới 4
1.2 Ở Việt Nam 6
1.3 Những nghiên cứu về các loài thực vật có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh 11
Chương 2 Đối tượng, phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu 12
2.1 Đối tượng nghiên cứu 12
2.2 Phạm vi nghiên cứu 12
2.2.1 Vị trí địa lý 12
2.2.2 Địa hình 13
2.2.3 Địa chất - Thổ nhưỡng 14
2.2.3.1 Địa chất 14
2.2.3.2 Thổ nhưỡng 14
2.2.4 Khí hậu - thuỷ văn 15
2.2.5 Hiện trạng thảm thực vật 15
2.2.6 Tình hình dân sinh kinh tế 17
2.3 Thời gian nghiên cứu 18
2.4 Nội dung nghiên cứu 18
2.5 Phương pháp nghiên cứu 18
Chương 3 Kết quả nghiên cứu 23
Trang 73.1 Danh lục các loài thực vật có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày ở Trạm đa
dạng sinh học Mê Linh 23
3.2 Cách sử dụng các loài có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh 45
3.3 Giới thiệu một số bài thuốc có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày 49
3.4 Đặc điểm, hình thái c a những loài quý hiếm có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh 50
3.4.1 Trám đen (Canarium pimela K D Koening) 50
3.4.2 Đảng sâm (Codonopsis javanica (Blume) Hook f.) 52
3.4.3 C dòm (Stephania dielsiana Y C Wu) 53
3.4.4 Lá khôi (Ardisia silvestris Pitard) 54
3.4.5 Cỏ râu hùm (Tacca integrifolia Ker-Gawl.) 55
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong các bộ phận bên trong cơ thể người, dạ dày có vai trò quan trọng rất lớn trong vấn đề về dinh dưỡng Ngoài việc dự trữ thức ăn đưa vào để tiêu hóa dần, dạ dày còn là cơ quan nghiền nhuyễn thức ăn và tạo điều kiện thuận lợi cho tiêu hóa, hấp thu thức ăn ở ruột non
Đau dạ dày, viêm loét dạ dày là bệnh phổ biến hàng đầu trong các bệnh đường tiêu hóa, bệnh xuất hiện ở nhiều quốc gia và ở mọi lứa tuổi Nếu không được điều trị sớm và đúng cách bệnh có thể gây ung thư dạ dày Đặc biệt ở các nước đang phát triển, tỷ lệ người bệnh ước tính khoảng 10%, hàng năm tăng khoảng 0,2% Ở Việt Nam, theo điều tra trong những năm gần đây, bệnh chiếm khoảng 26% và thường đứng đầu trong các bệnh ở đường tiêu hóa và
có chiều hướng ngày càng gia tăng Theo Hội Khoa học Tiêu hóa Việt Nam, 70% người Việt có nguy cơ bị đau dạ dày
Đó thực sự là một con số đáng báo động và góp phần làm gánh nặng xã hội tăng lên Bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, khả năng lao động và sinh hoạt hàng ngày c a người bệnh, thậm chí nhiều trường hợp bệnh nặng hoặc biến chứng, sẽ gây tử vong Vì vậy việc phòng ngừa và điều trị bệnh đau
dạ dày là rất quan trọng
Người dân trên thế giới hiện nay có xu hướng tìm đến các loại thảo mộc thiên nhiên, có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày để chữa bệnh Chúng không những chữa khỏi bệnh mà lại không gây hại cho cơ thể mà còn rất dễ chế biến
và sử dụng hàng ngày Cho nên, việc nghiên cứu tài nguyên thực vật để khai thác và sử dụng hợp lý các cây cỏ có ích vào việc chữa trị bệnh này là hết sức cần thiết
Vốn là một đất nước được thiên nhiên ưu đãi, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, Việt Nam có một thảm thực vật vô cùng phong phú và đa dạng với
Trang 9hơn 12.000 loài thực vật bậc cao khác nhau Hiện đã tìm thấy được hơn 2.000 loại thảo mộc có khả năng chữa bệnh, trong đó, có rất nhiều loài thực vật có tác dụng chữa bệnh đay dạ dày Trạm đa dạng sinh học Mê Linh có diện tích khoảng gần 200 ha với hơn 1.126 loài thực vật, trong đó nhiều loài đã và đang được sử dụng làm thuốc trong dân gian Để chuẩn bị đánh giá toàn diện giá trị làm thuốc c a hệ thực vật nơi đây, chuẩn bị cho việc nghiên cứu toàn diện về các loài thực vật có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày ở Việt Nam, góp phần cung cấp dữ liệu cho việc nhận biết và sử dụng các loài thực vật có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày ở Việt Nam, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Xây dựng danh lục các loài thực vật có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh”
2 Mục đích nghiên cứu
Hoàn thành công trình khoa học về xác định thành phần các loài thực vật
có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh một cách
hệ thống, làm cơ sở cho việc nghiên cứu các loài thảo mộc có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày ở Việt Nam và cho những nghiên cứu có liên quan
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học
Kết quả c a đề tài phục vụ cho các ngành ứng dụng, y - dược, sinh thái, tài nguyên sinh vật, đa dạng sinh học, bảo tồn các loài thuốc và chuẩn bị cho việc đánh giá toàn diện về giá trị làm thuốc c a hệ thực vật tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh Góp phần nâng cao chất lượng sử dụng các phương pháp trong nghiên cứu và giảng dạy môn phân loại thực vật nói chung, trong đó, có các loài thực có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày nói riêng
- Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả c a đề tài phục vụ cho việc khai thác và sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên cây thuốc xung quanh khu vực con người sinh sống, mang lại lợi ích
Trang 10chung cho cộng đồng, sử dụng các bài thuốc góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống
4 Điểm mới của đề tài
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu xác định danh lục các loài thực vật
có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh
5 Bố cục của khóa luận
Gồm 60 trang, 4 hình, 5 ảnh, 2 bảng được chia thành các phần chính như sau: Mở đầu (3 trang), chương 1 (Tổng quan tài liệu: 8 trang), chương 2 (Đối tượng, phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu: 11 trang), chương 3 (Kết quả nghiên cứu: 34 trang), kết luận và kiến nghị (1 trang), tài liệu tham khảo: 27 tài liệu
Trang 11Chương 1 Tổng quan tài liệu 1.1 Trên thế giới
Trên thế giới từ thời thượng cổ đến nay con người vẫn luôn coi trọng cây
cỏ như là một nguồn thuốc chính để chữa bệnh và bảo vệ sức khoẻ Theo thống kê c a WHO, đến năm 1985 trên thế giới có khoảng 20.000 loài thực vật (bao gồm cả bậc cao và bậc thấp) trong số các loài đã biết, được sử dụng trực tiếp làm thuốc hoặc làm nguyên liệu để cung cấp hoạt chất tự nhiên dùng làm thuốc Hiện nay, số loài cây thuốc được sử dụng trên thế giới ước tính từ 30.000 đến 70.000 loài [1] Lịch sử nghiên cứu cây thuốc và vị thuốc đã xuất hiện cách đây hàng nghìn năm Các kinh nghiệm dân gian về sử dụng cây thuốc chữa bệnh được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển c a từng quốc gia
G.M.Ebers và E.Smith đã tìm được một số bản papyrus c a người Ai Cập cổ đại có niên đại 1700 năm trước Công nguyên liệt kê 700 phương thuốc
từ thảo mộc được người Ai Cập sử dụng như lô hội, dầu thầu dầu, rễ lựu, thuốc phiện, [15]
Nền y học Hy Lạp cũng đã có nhiều thành tựu rực rỡ mà không thể không nhắc tới Hyppocrate (460-370 TCN), ông được xem như ông tổ c a ngành y học hiện đại, thầy thuốc vĩ đại nhất thời cổ đại Bên cạnh những công trình nghiên cứu về giải phẫu, sinh lí, nhi khoa, sản khoa,… Hyppocrate còn đưa vào sử dụng hơn 200 loài thực vật làm thuốc [15]
Năm 384-322 (TCN), Aistote người Hy Lạp đã ghi chép và lưu giữ sớm nhất kiến thức về cây cỏ nước này [14] Sau đó Théophraste, một nhà thực vật học người Hy Lạp (372-286 TCN), bác sĩ quân đội La Mã, đã thống kê và miêu tả 500 loài thực vật trong cuốn sách “Lịch sử thực vật”, trong đó có 40 loài vẫn còn được sử dụng làm thuốc đến ngày nay
Năm 79-24 (TCN), nhà tự nhiên học người La Mã Plinus soạn thảo bộ
Trang 12sách “Vạn vật học” gồm 37 tập giới thiệu 1000 loài cây cỏ có ích [14]
Tại châu Á, Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia có nền y học cổ truyền
từ rất lâu đời với nhiều thành tựu rực rỡ Ngoài ra, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và một số nước Đông Nam Á cũng có truyền thống chữa bệnh theo lối y học cổ truyền
Ấn Độ cổ đại có một nền y dược học phát triển và có ảnh hưởng đến nhiều nước trong khu vực Các kiến thức về y học và sử dụng cây thuốc c a người Ấn Độ được đề cập đến trong kinh Vệ đà (Ayurveda – Khoa học c a đời sống) xuất hiện khoảng 4000-1000 năm TCN Nhiều tri thức bản địa đã được nghiên cứu, đánh giá và ứng dụng có hiệu quả; theo thống kê có khoảng 2.000 loài cây cỏ có công dụng làm thuốc [15]
Trung Quốc là một trong những quốc gia có nền Y học cổ truyền rất phát triển Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, Y học Trung Quốc dựa trên nền tảng có sẵn c a các dân tộc trên đất nước Trung Hoa cổ đại chịu ảnh hưởng c a y học Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, Ấn Độ đồng thời cũng kế thừa những kinh nghiệm về y học dân tộc c a các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam,… Cuốn “Kinh Thần Nông” thế kỷ I sau Công nguyên (SCN) đã ghi chép 364 vị thuốc Đây là cuốn sách tạo nền tảng cho sự phát triển liên tục c a nền y học dược thảo Trung Quốc cho đến nay [14]
Năm 1595, Lý Thời Trân (1519-1593) người Trung Quốc, sống ở đời nhà Minh, đã tổng kết tất cả các kinh nghiệm về cây thuốc và dược liệu để soạn thành quyển “Bản thảo cương mục”, đây là bộ sách quan trọng và đầy đ nhất về các dược liệu và công dụng c a chúng Để viết cuốn sách này, ông đã tìm đọc hơn 800 cuốn sách tổ, kết hợp sự thu thập c a mình và viết cuốn dược điển qua 3 lần sửa đổi Trải qua gần 30 năm nỗ lực, năm 1578 ông đã hoàn thành Bản Thảo cương mục gồm hơn 90 vạn từ, chia làm 16 bộ, 60 loại gồm
50 cuốn, thống kê được 12000 vị thuốc với hơn 11 nghìn bài thuốc Ông còn
Trang 13có tranh minh họa, để mọi người dễ nhận biết Bản Thảo cương mục đã hiệu đính và làm rõ nhiều sai lầm trước đây c a tiền nhân, tăng thêm các loại thuốc mới phát hiện cũng như công hiệu c a thuốc Lý Thời Trân đã dốc cả cuộc đời cho việc tổng kết những kinh nghiệm y dược trong nhân dân Trung Quốc mấy nghìn năm qua, biên soạn lên cuốn “Bản thảo cương mục” nổi tiếng, đưa nền y học cổ đại Trung Quốc lên tới đỉnh cao, bởi vậy ông là nhà dược học vĩ đại nhất trong thời cổ đại Trung Quốc [15]
Năm 1952, tác giả người Pháp A.Pétélot có công trình “Les phantes de médicinalea du Cambodye, du Laos et du Viet Nam” gồm 4 tập nghiên cứu về cây thuốc và sản phẩm làm thuốc từ thực vật ở Đông Dương [14]
Như vậy, những công trình nghiên cứu về dược liệu đã có từ lâu đời Hiện nay, với sự giúp đỡ c a khoa học công nghệ, việc nghiên cứu không chỉ dừng ở mô tả, nêu công dụng c a các loài theo kinh nghiệm dân gian mà đã
có những dẫn chứng về khả năng chữa bệnh c a chúng bằng việc nghiên cứu thành phần hóa học, tính chất dược lý trong tế bào Công nghệ chiết xuất các hoạt tính sinh học trong cây để sản xuất dược phẩm cũng được chú trọng rất nhiều
1.2 Ở Việt Nam
Việt Nam được đánh giá là nước đứng thứ 16 trên thế giới về sự phong phú và đa dạng sinh vật, trong đó, hệ thực vật cũng rất phong phú và đa dạng Với lợi thế về khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật phong phú, vì vậy mà tập quán sử dụng cây thuốc đã có từ lâu Lịch sử Y học cổ truyền Việt Nam đã được hình thành cùng với tiến trình phát triển c a dân tộc Việt Nam Trong quá trình tìm kiếm thức ăn, tổ tiên ta
đã ngẫu nhiên phát hiện ra công dụng và tác hại c a nhiều loại cây Với các kinh nghiệm chữa bệnh c a cộng đồng gồm 54 dân tộc Việt Nam, cùng với kinh nghiệm sử dụng các nguồn dược liệu phong phú c a đất nước trong vùng
Trang 14nhiệt đới, trải qua nhiều thế hệ, các thầy thuốc Y học cổ truyền Việt Nam đã xây dựng nền Y học cổ truyền vững mạnh phục vụ sự nghiệp chăm sóc, bảo
vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân
Những nghiên cứu về cây thuốc đã được tiến hành từ rất sớm, gắn liền với tên tuổi c a các danh y nổi tiếng như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông –
Lê Hữu Trác,
Tuệ Tĩnh hay Nguyễn Bá Tĩnh là một thầy thuốc giỏi sống ở thời nhà Trần thế kỷ XIV Tuệ Tĩnh đã nghiên cứu những cây cỏ Việt Nam dùng để chữa bệnh, sưu tầm ý nghĩa các bài thuốc thường dùng trong dân gian, đúc kết các kinh nghiệm trị bệnh c a Trung y nên đã xây dựng được một sự nghiệp y dược có tính chất dân tộc, đại chúng Tuệ Tĩnh để lại hai tác phẩm có giá trị lớn cho nền y học dân tộc Việt nam là bộ “Nam dược thần hiệu” và “Hồng nghĩa giác tư y thư” [20]
+ Bộ “Nam dược thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam, trong
đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật Đây là tập sách thứ hai xuất hiện trong lịch sử nghiên cứu cây thuốc ở nước ta sau tập “Bản thảo thực vật toàn yếu” do Phan Chu Tiên biên soạn (1492) là tập cây thuốc và dược liệu đầu tiên c a Việt Nam [14]
+ Bộ “Hồng nghĩa giác tư y thư” gồm hai quyển Thượng và Hạ vừa viết bằng chữ Hán, vừa bằng chữ Nôm mô tả về dược tính cây thuốc, ch trị c a cây thuốc và các bài thuốc cụ thể, được triều hậu Lê in lại (1727 và 1723) và được lưu truyền đến nay [14]
Thế kỷ XVIII, Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác (1720-1791) là nhà y học uyên bác, nhà dược học nổi tiếng c a Việt Nam Trên tinh thần kế thừa và phát huy truyền thống c a Tuệ Tĩnh, tổng kết kinh nghiệm c a Trung y và Y học cổ truyền dân tộc, ông đã biên soạn bộ “Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển bao gồm lý, pháp, phương, dược và biện chứng luận trị
Trang 15về nội khoa và ngoại khoa, sản phụ khoa, khoa nhi, cấp cứu đạo đức y học,
vệ sinh phòng bệnh Trong đó, quyển 12 và 13 - “Lĩnh Nam bản thảo” Lê Hữu Trác đã sưu tầm, mô tả thêm 300 vị thuốc nam, tổng hợp được 2854 phương thuốc chữa bệnh bằng kinh nghiệm dân gian [21] Bộ sách c a ông được đánh giá cao trong và ngoài nước, góp phần phát triển nền y học dân tộc
c a đất nước
Ngoài bộ sách trên còn kể đến tập “Vạn phương thập nghiệm” c a Nguyễn Nho và Ngô Văn Tĩnh gồm 8 tập, xuất bản năm 1763 Tập “Nam bang thảo mộc” c a Trần Nguyệt Phương mô tả 100 loài cây thuốc Nam, xuất bản năm 1858 [14]
Triều Tây Sơn (1788-1808), Nguyễn Hoành đã để lại tập “Nam dược” với 620 vị thuốc, các phương thuốc kinh nghiệm gia truyền [14]
Triều Nguyễn (1802-1845) có quyển “Nam dược tập quốc âm” c a Nguyễn Quang Lượng về phương thuốc dân gian [14]
Nguồn tài nguyên cây thuốc vô cùng phong phú c a nước ta còn thu hút sự quan tâm c a các nhà nghiên cứu nước ngoài Thời kỳ Pháp thuộc, một
số tác giả người Pháp đã có những cố gắng để tìm hiểu những cây thuốc và vị thuốc ở Việt Nam Có hai bộ sách được nhiều người biết đến:
+ Bộ thứ nhất mang tên “Dược liệu học và dược điển Trung Việt” (Matière médicale et pharmacopée sinoannamite) c a hai tác giả E.M Perrot
và Paul Hurrier xuất bản tại Pari năm 1907 Trong bộ sách này, các tác giả chia thành hai phần lớn, phần thứ nhất có một số nhận xét chung về y học Á Đông, việc hành nghề Đông Y ở Việt Nam và Trung Quốc; phần thứ hai kê danh mục những vị thuốc có nguồn gốc thực vật, động vật và khoáng vật dùng trong y học Trung Quốc và Việt Nam
+ Bộ sách thứ hai mang tên “Danh mục những sản phẩm ở Đông Dương – Phần cây thuốc” (Catalogue des produits de L’lndochine – Produits
Trang 16médicinaux) do hai tác giả Ch.Crévost và A.Pételot biên soạn thành hai tập: tập I năm 1928, tập II năm 1935 Bộ sách này chỉ thống kê những vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc dùng trong y học dân tộc ở ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia Đến năm 1952, A.Pételot có sửa chữa lại, bổ sung thêm, đặt cho
bộ sách tên mới là “Những cây thuốc c a Campuchia, Lào và Việt Nam” (Les plantes de médicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam) và cho in thành
4 tập: tập I (1952), tập II (1953), tập III và IV (1954) Trong bộ sách này, tác giả đã thống kê 1482 vị thuốc thảo mộc trên ba nước Đông Dương, so với bộ
cũ chỉ có 1340 vị [12]
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 và chiến thắng Điện Biên Ph năm
1945 đã mở ra một con đường mới cho ngành Y học cổ truyền dân tộc phát triển Đảng và nhà nước ch trương xây dựng nền Y học dân tộc “đại chúng”,
“kết hợp Đông y và Tây y” với phương châm “tự lực cánh sinh” (Đỗ Tất Lợi, 2005) Vì vậy các nhà khoa học Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc sưu tầm,điều tra, phát hiện, thống kê và nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc, với nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Năm 1965, GS.TS Đỗ Tất Lợi cho xuất bản bộ sách “Những cây thuốc
và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập, giới thiệu trên 600 vị thuốc Công trình này sau đó được tái bản nhiều lần, không ngừng được tác giả bổ sung thêm các kết quả nghiên cứu mới trong nước và quốc tế, đến năm 1995 lên đến 792 loài [15]
Trương Công Quyền, Đỗ Tất Lợi và cộng sự với cuốn “Dược liệu Việt Nam” (1978) đã giới thiệu 415 loài thực vật làm thuốc Các tác giả cũng đã miêu tả khá chi tiết cách thu hái, bảo quản [14]
Năm 1990, tập thể các nhà khoa học Viện dược liệu đã giới thiệu tổng số
399 loài trong cuốn “Cây thuốc Việt Nam” có kèm theo hình vẽ minh họa rất
rõ ràng [14]
Trang 17Năm 1993, Viện Dược liệu đã cho giới thiệu “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam” cho chương trình tạo nguồn nguyên liệu làm thuốc (KY – 02 ), trong đó giới thiệu 721 loài cây có khả năng làm thuốc [22]
Trần Đình Lý năm 1993 đã xuất bản cuốn “1900 loài cây cỏ có ích ở Việt Nam” cho biết trong số các loài thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam có
76 loài cho nhựa thơm, 160 loài cho tinh dầu, 260 loài cho dầu béo, 600 loài chứa tanin, 50 loài cây gỗ có giá trị, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây [14] Nhà khoa học Võ Văn Chi là người có tâm huyết, năm 1976, ông đã thống kê 1.360 loài cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành hạt kín ở miền Bắc Sau nhiều năm miệt mài nghiên cứu, năm 1997, ông đã cho ra mắt cuốn sách
“Từ điển cây thuốc Việt Nam”, trong đó có đề cập tới 3.165 loài Tác giả đã
mô tả chi tiết từng cây có kèm theo hình vẽ minh họa, nơi phân bố, thành phần hóa học, công dụng và liều dùng Đặc biệt ông đã tham khảo kinh nghiệm sử dụng cây thuốc c a nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc, Ấn
Độ, Philippin, Pháp… nên đã bổ sung được công dụng c a rất nhiều loài mà các nghiên cứu tại Việt Nam trước đây chưa đề cập tới [5] Đến năm 2012, trong cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (bộ mới), tác giả đã giới thiệu 4.472 loài cây làm thuốc thuộc 1.862 chi, trong 338 họ, c a 9 nhóm ngành từ sinh vật tiền nhân đến ngành Ngọc lan và 1500 ảnh màu, rất thuận tiện cho việc tra cứu Có thể nói, tài liệu này đã giới thiệu một số lượng cây thuốc lớn nhất và đầy đ nhất c a nước ta cho tới nay [15]
Ngoài những công trình nghiên cứu thuốc trên toàn lãnh thổ Việt Nam còn có những công trình nghiên cứu cây thuốc c a từng vùng, từng địa phương
Mỗi cuốn sách, mỗi công trình nghiên cứu là kết quả c a những chuyến
đi thực tế, tìm hiểu nguồn cây thuốc và bài thuốc cổ truyền trong cộng đồng
54 dân tộc Việt Nam, kết hợp với sự nghiên cứu lâu dài cũng như sưu tầm tài
Trang 18liệu trong và ngoài nước c a các tác giả hoặc một nhóm tác giả Từ đó cho thấy, Việt Nam là 1 đất nước có nguồn tài nguyên cây thuốc vô cùng phong phú và quý giá tạo nên một nền Y học cổ truyền không chỉ phong phú về tài nguyên cây thuốc mà còn phong phú về các phương thuốc trị bệnh Việc điều tra, nghiên cứu, thống kê những loài có giá trị làm thuốc, tìm hiểu kinh nghiệm trị bệnh c a các đồng bào dân tộc sinh sống trên khắp đất nước ta vẫn
là một vấn đề cần được quan tâm hơn nữa Nó không chỉ góp phần làm phong phú thêm kho tàng y học dân tộc nước nhà, bảo tồn và phát huy nền văn hóa dân tộc mà còn giúp bảo tồn đa dạng sinh học đảm bảo cho sự phát triển bền vững
1.3 Những nghiên cứu về các loài thực vật có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh
Trạm đa dạng sinh học Mê Linh có diện tích 170,3 ha (thuộc xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc) là khu vực nằm bên cạnh VQG Tam Đảo và là khu vực đầu nguồn c a con suối Đại Lải, do đó thảm thực vật ở đây hết sức phong phú Theo Vũ Xuân Phương và cộng sự (2001) hệ thực vật tại đây có 171 họ thực vật với 669 chi và 1.226 loài, trong đó có rất nhiều thực vật có tác dụng chữa bệnh cho con người [16] Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về các loài thực vật có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 19Chương 2 Đối tượng, phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài thực vật có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày ở Trạm đa dạng sinh
học Mê Linh, dựa trên cơ sở mẫu vật và tài liệu
Tài liệu: Các tài liệu về các loài thực vật ở Trạm đa dạng sinh học Mê
Linh và các tài liệu về các loài có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày ở Việt Nam
Mẫu vật: Các mẫu thực vật c a các loài có tác dụng chữa bệnh đau dạ
dày phân bố ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh
2.2 Phạm vi nghiên cứu (theo Vũ Xuân Phương & nnk 2001) [16]
Trạm đa dạng sinh học Mê Linh, xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
2.2.1 Vị trí địa lý
Trạm đa dạng sinh học Mê Linh nằm trong địa phận c a xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (trước thuộc huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc) Trạm đa dạng sinh học cách trung tâm thị xã Phúc Yên khoảng 35 km
Phía Bắc giáp huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
Phía Đông và phía Nam giáp hợp tác xã Đồng Trầm, xã Ngọc Thanh, thị
xã Phúc Yên
Phía Tây giáp vùng ngoại vi Vườn Quốc gia Tam Đảo, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 202.2.2 Địa hình
Đây thuộc vùng bán sơn địa phía Bắc huyện Mê linh, là phần kéo dài về phía Đông Nam c a dãy Tam Đảo, có địa hình đồi và núi thấp với xu hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam
Hình 3.1 Bản đồ địa hình Trạm ĐDSH Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc
(Nguồn: Vũ Thị Thúy, 2015)
Trang 21Địa hình khu vực nghiên cứu phần lớn là đất dốc, độ chia cắt sâu với nhiều dông phụ gần như vuông góc với dông chính, độ dốc trung bình từ 15-
30o, nhiều nơi dốc đến 30-35o, điểm cao nhất là 520 m (điểm cực đông thuộc đỉnh núi Đá trắng) Ở khu vực Trạm các bãi bằng rất ít nằm rải rác dọc theo ven suối phía Tây
2.2.3.2 Thổ nhưỡng
Nhìn chung các loại đá mẹ khá cứng, thành phần khoáng có nhiều Thạch anh, Muscovit, khó phong hóa, hình thành nên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, cấp hạt thô, dễ bị rửa trôi và xói mòn, nhất là những nơi dốc cao bị xói mòn mạnh để trơ lại phần đá rất cứng (điển hình là khu vực từ độ cao 300-400 m)
Theo nguồn gốc phát sinh trong vùng có hai loại đất chính sau:
- Ở độ cao trên 300m là đất Feralit mùn đỏ vàng Đất có màu vàng ưu thế do độ ẩm cao, hàm lượng sắt di động và nhôm tích luỹ cao Do đất phát triển trên đá Mácma axit kết tinh chua nên tầng đất mỏng, thành phần cơ giới nhẹ, tầng mùn mỏng, không có tầng thảm mục, đá lộ đầu nhiều trên 75%
- Ở độ cao dưới 300m là đất Feralit vàng đỏ phát triển trên nhiều loại
Trang 22đá khác nhau, đất có khả năng hấp thụ không cao do có nhiều khoáng sét phổ biến là Kaolinit
Ngoài ra còn có đất dốc tụ phù sa ven suối ở độ cao dưới 100 m Thành phần cơ giới c a loại đất này là trung bình, tầng đất dày, độ ẩm cao, màu mỡ,
đã được khai phá để trồng lúa và hoa màu Đất thuộc loại chua với độ pH 5,5, độ dày tầng đất trung bình 30-40 cm
3,5-2.2.4 Khí hậu - thuỷ văn
Đây là vùng nhiệt đới gió mùa, nằm trong vùng khí hậu chung c a đồng bằng Bắc Bộ, nhiệt độ trung bình hàng năm là 22-23o
C, tập trung không đều, tháng có nhiệt độ cao là tháng 6, tháng 7 và tháng 8 Còn mùa lạnh vào các tháng 12, tháng 1 và tháng 2 Nhiệt độ cao điểm trong các tháng nóng nực lên đến 40o
C, nhiệt độ lạnh nhất tới 4oC Nhìn chung nhiệt độ trung bình vào mùa hè từ 27-29oC, trung bình vào mùa đông là 16-17o
C
Lượng mưa từ 1.100-1.600 mm/năm, phân bố không đều, tập trung vào mùa hè từ tháng 6-8 hàng năm, ở đây có 2 mùa gió thổi rõ rệt là gió mùa Đông Bắc (từ tháng 10 đến 3 năm sau) và gió mùa Đông Nam (từ tháng 4 đến tháng 9) Độ ẩm trung bình là 80% Là khu vực đầu nguồn c a nhiều suối nhỏ
đổ vào hồ Đại Lải
2.2.5 Hiện trạng thảm thực vật
Theo kết quả nghiên cứu c a các nhà sinh thái thực vật (Lê Đồng Tấn
và cs., 2003) [17], khi nghiên cứu về thảm thực vật Trạm Đa dạng sinh học
Mê Linh đã khẳng định rằng rừng nguyên sinh trong khu vực nghiên cứu đã
bị phá huỷ hoàn toàn, thay thế vào đó là các trạng thái thảm thực vật thứ sinh nhân tác từ trảng cỏ, trảng cây bụi đến rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên hay rừng trồng nhân tạo
Khu vực rừng trồng (khoảng 100 ha) với phương thức rừng trồng thuần
loại 1 trong 5 loài (không phải là cây bản địa) là: Thông đuôi ngựa (Pinus
Trang 23massoniana Lamb.), Thông nhựa (Pinus merkusii Jungh & Vriese), Keo tai
tượng (Acacia auriculiformis A Cunn ex Benth.), Keo lá tràm (Acacia
confusa Merr.), Bạch đàn (Eucalyptus globulus Labill.)
Rừng trồng: Về kết cấu bao gồm: rừng thuần loại (rừng Bạch đàn, Keo tai tượng, Keo lá tram, Thông nhựa) và rừng hỗn giao (Bạch đàn – Keo tai tượng, Bạch đàn - Keo lá tràm, Thông - Keo lá tràm)
Ở khu vực nghiên cứu thành phần tuổi rừng rất khác nhau từ rừng mới trồng đến rừng trưởng thành Trừ các diện tích mới trồng trong vùng đệm c a Vườn Quốc gia Tam Đảo là thuộc hệ thống rừng phòng hộ hay bảo vệ đầu nguồn, còn phần lớn rừng trồng là nhằm mục đích kinh doanh: Làm bột giấy,
gỗ trụ mỏ, làm vật liệu xây dựng…
Như vậy, rừng trồng ch yếu là cây nhập nội với phương thức trồng thuần loại hay hỗn giao đơn giản Rừng chưa khép tán nên khả năng chống xói mòn bảo vệ đất rất hạn chế Nhiều nơi phần lớn đã khai thác nhưng không được trồng lại hay chăm sóc nên chất lượng rừng rất thấp Trên những diện tích này khả năng phục hồi lại thảm thực vật là rất khó khăn do đất đai bạc màu và đã bị suy thoái nghiêm trọng.
Trang 24Hình 3.2 Bản đồ đa dạng thực vật Trạm ĐDSH Mê Linh
(Nguồn: Vũ Thị Thúy, 2015)
2.2.6 Tình hình dân sinh kinh tế
Khu vực nghiên cứu nằm trên địa bàn xã Ngọc Thanh với diện tích đất lâm nghiệp chiếm 51,8% tổng diện tích tự nhiên c a toàn xã Mật độ dân số
c a xã là 139 người/km2, dân tộc kinh chiếm 53%, dân tộc thiểu số (Sán Dìu) chiếm 47% Thu nhập bình quân đầu người c a xã là 3 triệu đồng/người/năm
Trong khu vực nghiên cứu không có người dân sinh sống, tuy nhiên do tập quán c a người dân quanh vùng nên rừng trong khu vực nghiên cứu vẫn
Trang 25chịu những tác động tiêu cực như: Thả gia súc sau mùa vụ, lấy c i, lấy măng
và khai thác lâm sản ngoài gỗ
Những năm gần đây do có sự đổi mới các chính sách về kinh tế, xã hội
c a Nhà nước nên đã có những tác động tích cực đến đời sống c a nhân dân trong xã; tổng giá trị thu nhập tăng Tuy nhiên, do ảnh hưởng c a tập quán sinh sống c a nhân dân quanh khu vực là nhờ vào việc khai thác các lâm sản trong rừng đã có từ lâu đời nên ý thức bảo vệ rừng c a người dân vẫn chưa cao: rừng bị chặt phá để lấy gỗ, c i, săn bắt thú rừng, đốt rừng làm nương rẫy, Các nguyên nhân này đã làm cho diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng, tính đa dạng c a sinh vật giảm sút, hệ thực vật rừng bị suy thoái (nhiều cây gỗ lớn, quý hiếm không còn) tạo nên nhiều thảm cỏ, thảm cây bụi
2.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 9/2016 đến tháng 5/2017
2.4 Nội dung nghiên cứu
Xây dựng danh mục về các loài thực vật có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh
Tìm hiểu giá trị sử dụng c a các loài có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh (với cách dùng và một số bài thuốc có liên quan)
2.5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu “ Các loài thực vật có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày ở
Trạm đa dạng sinh học Mê Linh” chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu
thực vật học dân tộc học phối hợp các phương pháp nghiên cứu về đa dạng và tài nguyên thực vật phổ biến hiện nay (theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2007) Các bước tiến hành cụ thể gồm:
Bước 1: Nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu tài liệu về thực vật trên thế giới và Việt Nam nhất là các tài
Trang 26liệu về cây thuốc Việt Nam
Trên cơ sở các tài liệu về giá trị sử dụng c a thực vật từ đó nắm vững bản chất taxon cần nghiên cứu như:
+ Hình thái để có thể nhận biết ngoài thực địa (thực tế việc nhận biết ngoài tự nhiên là rất khó nhất là đối với người mới nghiên cứu, cho nên phải dựa vào các chuyên gia)
+ Phân bố (địa diểm, độ cao) để biết được vị trí các loài đang nghiên cứu + Sinh học (thông tin về thời gian ra hoa, quả)
+ Sinh thái (nơi sống, khả năng thích ứng, loại hình sinh thái thích hợp) Trên những cơ sở trên để xác định điểm và tuyến nghiên cứu phù hợp với hướng nghiên cứu
Bước 2: Nghiên cứu thực địa
- Phương pháp điều tra cộng đồng
Trong quá trình nghiên cứu cộng đồng, chúng tôi sử dụng hai phương pháp nghiên cứu là RRA và PRA [6,13]
- Tiến hành thu mẫu
Sau khi đã phỏng vấn xong thì cùng với người được phỏng vấn ra thực địa để thu mẫu
Thu mẫu: Các mẫu vật được thu thập theo kinh nghiệm sử dụng c a người dân địa phương
Các mẫu tiêu bản tốt phải đảm bảo có đầy đ các bộ phận đặc biệt là cành, lá cùng với hoa, quả (đối với cây lớn) hay cả cây (cây thảo nhỏ) Các cây lớn thu từ 3-5 mẫu trên cùng cây; các cây thảo nhỏ thì thu 3-5 cây (mẫu) sống gần nhau Điều này là rất cần thiết để bổ sung cho nhau trong quá trình định mẫu và trao đổi mẫu vật [12,18] Các mẫu được thu thập phải có tỷ lệ tương đối phù hợp với kích thước chuẩn c a mẫu tiêu bản: 41 x 29 cm
Tuy nhiên trong điều tra thực vật dân tộc học, các mẫu tiêu bản thu được
Trang 27thường không đầy đ các tiêu chuẩn trên Trong các trường hợp này, chúng tôi tiến hành thu thập các mẫu vật có thể (cành, lá, hoa, quả, hạt, rễ… ) các mẫu này không đ cơ sở để xác định chính xác tên khoa học nhưng có thể định hướng cho quá trình thu thập thông tin kèm theo và thu mẫu tiêu bản bổ sung sau này
Bên cạnh các mẫu thực vật điển hình thì để mô phỏng cho giá trị sử dụng, chúng tôi còn thu thập các mẫu thực vật dân tộc học - các mẫu thực vật chứa đựng giá trị tri thức dân tộc như: Bộ phận dùng, các bộ phận có đặc điểm để phân biệt bởi tri thức dân tộc, các sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật… [6,9,10,11]
Ghi chép thông tin: Các thông tin liên quan đến mỗi mẫu vật phải được ghi chép ngay tại hiện trường Các thông tin về thực vật cần có như: Dạng sống, đặc điểm thân, cành, lá, hoa, quả trong đó đặc biệt lưu ý đến các thông tin không thể hiện được trên mẫu tiêu bản khô như màu sắc hoa, quả khi chín, màu c a nhựa, dịch, m , mùi, vị c a hoa quả nếu có thể biết được Bên cạnh
đó, các thông tin về thời gian, địa điểm thu mẫu, điều kiện tự nhiên, sinh thái nơi sống, mật độ, người thu mẫu,… cũng nên được ghi cùng [6,19]
Các thông tin về thực vật dân tộc học được ghi chép thông qua tri thức
c a người cung cấp thông tin Có thể phỏng vấn trực tiếp hay quan sát cách thức thực hiện các tri thức đó để thu nhận thông tin Các thông tin cần ghi là: tên dân tộc c a cây, ý nghĩa c a tên, mục đích sử dụng, bộ phận dùng, cách khai thác, bảo quản và sử dụng, nguồn gốc thông tin,… toàn trùng khít với cách mô tả thực vật c a người nghiên cứu Các thông tin có thể được vào phiếu điều tra ngay tại hiện trường hoặc ghi vào sổ tay sau đó đến cuối ngày phải vào phiếu
Xử lý mẫu: Trong khi thực địa, các mẫu được cắt tỉa cho phù hợp sau đó kẹp vào giữa hai tờ báo (kích thước 45 x 30 cm) và được ngâm trong dung
Trang 28dịch cồn 40o- 45ođể mang về Khi về, mẫu được lấy ra khỏi cồn và được đặt giữa hai tờ báo khô, cứ như vậy thành từng tập, kẹp bằng kẹp mắt cáo để mang đi phơi hoặc sấy khô Mẫu có thể được xử lý độc và khâu hay không là
tùy vào yêu cầu cụ thể [19]
Bước 3: Xác định tên cây
Việc định tên được sử dụng theo phương pháp hình thái so sánh Cơ sở
để xác định là dựa vào các đặc điểm phân tích được từ mẫu vật, các thông tin ghi chép ngoài thực địa, từ đó so sánh với các khoá phân loại đã có hay với các bản mô tả, hình vẽ Các tài liệu thường xuyên được dùng là: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam [1], Cây cỏ Việt Nam [9,10,11]
Các mẫu vật phức tạp, không có nhiều đặc điểm nhận dạng sẽ được
chuyển cho các chuyên gia phân loại sâu để giám định
Bước 4: Lập danh lục loài
Từ các mẫu tiêu bản đã có tên, chúng tôi tiến hành lập danh lục thực vật, Tên khoa học c a các loài được kiểm tra và chỉnh lý theo bộ “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” Danh lục cuối cùng được xây dựng theo nguyên tắc: Tên các họ và trong mỗi họ thì tên cây được sắp xếp theo thứ tự abc Trong bảng danh lục có các cột là: Stt, họ thực vật, tên khoa học, tên phổ thông,
dạng sống và giá trị dử dụng
Bước 5: Tổng hợp tài liệu và viết báo cáo
Được tiến hành trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, từ đó lập danh sách các loài, về công dụng chữa bệnh c a thực vật đang nghiên cứu (tùy mục đích nghiên cứu) và cuối cùng hoàn chỉnh các nội dung khoa học theo quy định
Từ các mẫu tiêu bản đã có tên, chúng tôi tiến hành lập danh lục các loài thực vật có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh
Trang 29Danh lục các loài được sắp xếp theo vần alphabet (A-Z) tên khoa học các họ, trong mỗi họ lại sắp xếp theo vần alphabet tên khoa học các loài Để chỉnh lý
tên khoa học, chúng tôi căn cứ vào Danh lục các loài thực vật Việt Nam do
Nguyễn Tiến Bân làm ch biên (2003, 2005) [2,3] và kiểm tra trên trang web http://www.ipni.org/ipni/plantnamesearchpage.do (trang web c a vườn thực vật hoàng gia Anh – Kew, dùng để tra tên khoa học) Các họ được sắp xếp theo Brummitt R.K (1992) [23]
Để đánh giá giá trị tài nguyên và cách sử dụng các loài để làm thuốc
chữa bệnh đau dạ dày, chúng tôi dựa vào tài liệu, như: Sách đỏ Việt Nam [4],
Từ điển cây thuốc Việt Nam [5], Danh lục các loài thực vật Việt nam [2,3], Cẩm nang sử dụng và Phát triển cây thuốc ở Việt Nam [7], Những cây thuốc
và vị thuốc Việt Nam [12], và từ dân địa phương
Trang 30Chương 3 Kết quả nghiên cứu 3.1 Danh lục các loài thực vật có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày ở Trạm
đa dạng sinh học Mê Linh
Bảng 3.1 Danh lục các loài thực vật có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày ở
Trạm đa dạng sinh học Mê Linh
STT
Tên loài
Dạng sống Giá trị sử dụng Khoa học Việt
Nam MAGNOLIOPHYTA – ngành Ngọc lan
Dây leo
Cây làm thuốc Vỏ rễ dùng chữa đòn ngã tổn thương, đụng giập Lá sắc uống dùng
trị đau dạ dày Dây và lá
dùng đắp ngoài trị rắn cắn, đinh nhọt
Gỗ Cây cho nhựa làm sơn Lá và
vỏ chứa nhiều tannin Rễ, lá,
vỏ, quả dùng trị hen khan,
cảm, viêm gan mãn tính, đau
dạ dày, đòn ngã tổn thương;
dùng ngoài trị gẫy xương, vết thương chảy máu
Trang 313 ANNONACEAE – họ Na
3 Fissistigma bicolor
(Roxb.) Merr
Lãnh công lông
Bụi trườn
Thân cây dùng chữa đau dạ dày
Bụi nhỏ
Toàn cây dùng trị gẫy xương, đòn ngã tổn thương, phong thấp đau nhức khớp Rễ trị ho
gà Hoa, quả dùng trị đau dạ dày
5 ASCLEPIADACEAE – họ Thiên lí
5 Marsdenia tinctoria
(Roxb.) R Br
Hàm liên nhuộm, Dây chàm
Dây leo
Cây làm thuốc nhuộm đen (vải hoặc tóc) Lá dùng chữa
đau dạ dày; quả trị đau tâm
Thảo Lá làm thuốc trị nấm ăn da
Cả cây mang hoa dùng trị băng huyết, kinh nguyệt quá
nhiều, chảy máu phổi, dạ dày, ruột, chảy máu cam, đái
ra máu, viêm phế quản, viêm gan, viêm túi mật, viêm bàng quang và tuyến tiết niệu, thấp
Trang 32khớp, sỏi niệu, lị, ỉa chảy Lá nhai ngậm chữa đau răng, sưng lợi
7 Eclipta prostrata
(L.) L
Cỏ nhọ nồi, Cỏ mực, Hạn liên thảo
Thảo Cây làm thuốc cầm máu, bổ
máu, chữa sốt xuất huyết Lá dùng nhuộm đen tóc Cả cây
(trừ rễ) dùng trị nôn ra máu
từ dạ dày, chảy máu cam, đái
ỉa ra máu, tử cung xuất huyết, viêm gan mãn tính, viêm ruột, lị; trẻ em suy dinh dưỡng; ù tai rụng tóc do đẻ non, suy nhược thần kinh,…
8 Gnaphalium
hypoleucum DC ex
Wight
Rau khúc vàng, Hoàng nhung dưới trắng
Thảo Toàn cây dùng trị ho khí
suyễn, viêm nhánh khí quản
mãn tính, đau loét dạ dày,
phong thấp tê đau, kinh nguyệt không đều, bạch đới, huyết áp cao
9 Lactuca indica L Diếp
dại, Bồ công anh mũi mác, Rau mũi cày
Thảo Cây cho rau ăn và làm thuốc
Lá có tác dụng lọc máu, kích thích tiêu hóa; lá giã đắp chữa sưng vú Cả cây dùng làm thuốc tiêu độc và hạ huyết áp Còn dùng chữa tắc tia sữa, áp
xe, tràng nhạc, các vết thương
Trang 33nhiễm trùng, trị đau dạ dày
10 Vernonia villosa
(Blume) W Wight
Nút áo tím,Bạch đầu nhỏ, Cúc bạc đầu
Thảo Toàn cây làm thuốc hạ sốt và
rễ làm thuốc bổ dưỡng Cả cây phơi khô dùng chữa hậu sản và rong kinh Dùng trị
viêm ruột, dạ dày, ỉa chảy;
phong nhiệt cảm mạo, nhức đầu, sốt; cây tươi giã đắp trị mụn nhọt
7 BURSERACEAE – họ Trám
11 Canarium pimela
K D Koening
Trám đen, Bùi, Cà
na
Gỗ Cây cho gỗ, làm thuốc và
được ghi trong sách đỏ Nhựa thơm, dùng làm nhang Quả
ăn ngon Quả tươi giã lấy nước uống giải độc do ăn phải cá nóc, chữa hóc xương
cá Quả khô tán bột, rắc chữa nứt nẻ, lở miệng và trị sâu răng Rễ dùng trị phong thấp
đau lưng mỏi gối, đau dạ dày, bỏng lửa Lá trị cảm
mạo viêm đường hô hấp, ghẻ
lở, xuất huyết tử cung
8 CAESALPINIACEAE – họ Vang
12 Senna siamea
(Lamk.) Irwin &
Muồng đen,
Gỗ Cây cho gỗ tốt và làm thuốc,
được chọn để trồng rừng kinh