22 Chương 2: BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CÁC HÌNH THỨC KỂ CHUYỆN TRONG GIỜ “KỂ CHUYỆN ĐÃ NGHE THẦY CÔ KỂ TRÊN LỚP” CHO HỌC SINH LỚP 5 .... Biện pháp sử dụng các hình thức kể chuyện trong giờ “Kể c
Trang 1THẦY CÔ KỂ TRÊN LỚP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Người hướng dẫn khoa học
ThS VŨ THỊ TUYẾT
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm ơn cô giáo Vũ Thị Tuyết - người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ chúng
em hoàn thành khóa luận này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong Ban Chủ nhiệm Khoa Giáo dục Tiểu học, Thư viện Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 Cảm ơn
sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban Giám hiệu, các thầy, cô giáo và các em học sinh Trường Tiểu học Trưng Nhị - thị xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc trong suốt quá trình chúng em quan sát, tìm hiểu thực tế và thực nghiệm khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên lớp K39A - GDTH đã tạo điều kiện và động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Người thực hiện
Triệu Hải Yến
Trang 3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Cấu trúc của khóa luận 5
NỘI DUNG 6
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Cơ sở tâm sinh lí 6
1.1.2 Vài nét về phân môn Kể chuyện 10
1.2 Cơ sở thực tiễn 16
1.2.1 Khảo sát thực trạng dạy học kể chuyện kiểu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kế trên lớp ” ở trường Tiểu học Trưng Nhị 16
1.2.2 Kết quả điều tra 17
Tiểu kết chương 1 22
Chương 2: BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CÁC HÌNH THỨC KỂ CHUYỆN TRONG GIỜ “KỂ CHUYỆN ĐÃ NGHE THẦY CÔ KỂ TRÊN LỚP” CHO HỌC SINH LỚP 5 23
2.1 Nguyên tắc khi sử dụng các hình thức kể chuyện trong giờ Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp 23
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 23
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo phát huy tính tích cực của người học 24
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với chương trình tiểu học 24
Trang 42.1.4 Nguyên tắc đảm bảo sự hỗ trợ phương tiện kĩ thuật hiện đại trong quá
trình dạy học 25
2.2 Các biện pháp rèn kỹ năng kể chuyện trong giờ Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp 26
2.2.1 Giúp học sinh nghe và ghi nhớ chuyện 26
2.2.2 Quan sát và nhận xét tranh nêu nội dung 27
2.2.3 Kĩ năng kể lại 27
2.2.4 Kết hợp khéo léo cử chỉ điệu bộ và nét mặt 27
2.2.5 Nghe kể, nhận xét và đánh giá 28
2.2.6 Trao đổi cùng bạn sau khi kể 28
2.3 Biện pháp sử dụng các hình thức kể chuyện trong giờ “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp” cho học sinh lớp 5 29
2.3.1 Biện pháp sử dụng hình thức đóng vai 29
2.3.2 Biện pháp sử dụng hình thức kể lại chuyện theo lời nhân vật 31
2.3.3 Biện pháp kể chuyện bằng hình thức kể theo tranh 33
2.3.4 Biện pháp kể chuyện bằng hình thức trò chơi 35
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 41
3.1 Mục đích thực nghiệm 41
3.2 Thời gian, địa điểm thực nghiệm 41
3.3 Đối tượng thực nghiệm 41
3.4 Điều kiện thực nghiệm 41
3.5 Nội dung thực nghiệm và tiêu chí đánh giá thực nghiệm 42
3.5.1 Nội dung thực nghiệm 42
3.5.2 Tiêu chí đánh giá 42
3.6 Giáo án thực nghiệm 43
KẾT LUẬN 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kể chuyện là một phân môn quan trọng trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học Thông qua các giờ học kể chuyện, các em có cơ hội phát triển ngôn ngữ, mở rộng vốn văn học, phát huy trí tưởng tượng cũng như những ước mơ, hoài bão về cuộc sống Kể chuyện rất lí thú, hấp dẫn được trải dài từ lớp 1 đến lớp 5 và thường được các em chờ đón và tiếp thu bằng một tâm trạng hào hứng Bởi nó đã thay đổi bầu không khí của lớp học giúp các em giải toả căng thẳng sau những tiết học khác, để các em có tâm lí tốt hơn cho các giờ học sau nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Phân môn Kể chuyện còn giáo dục cho các em tấm lòng yêu quê hương đất nước, yêu thế giới xung quanh, giáo dục lòng yêu cái tốt, cái đẹp, biết căm thù cái xấu, cái ác, có tấm lòng đầy vị tha, góp phần hình thành nhân cách con người của các em
Phân môn Kể chuyện được dạy từ lớp 1 đến lớp 5 nhưng ở lớp 4 và lớp 5 cần được chú trọng hơn bởi độ khó và sự đa dạng của các kiểu bài kể chuyện, bởi nó củng cố kĩ năng kể chuyện đã hình thành ở lớp 1, 2, 3 Đặc biệt, ở lớp 5 đây là lớp cuối cấp thì phân môn kể chuyện là môn học hết sức quan trọng Nếu
so sánh thì thấy sự khác nhau thế hiện chủ yếu ở độ dài, độ phức tạp của câu chuyện và mức độ tham gia chủ động của HS ở khâu trao đổi, đối thoại về nhân vật, nội dung, ý nghĩa câu chuyện
Trong giờ học Kể chuyện ở TH có nhiều hình thức khác nhau như: hình thức đóng vai, kể nối tiếp, nhập vai nhân vật, kể chuyện theo nhóm mỗi hình lại đem lại cho tiết học một đặc trưng riêng, làm cho tiết học Kể chuyện chở nên hấp dẫn, cuốn hút HS tham gia học tập và đạt kết quả cao
Thực tế, giờ dạy học Kể chuyện ở trường tiểu học hiện nay chưa đem lại nhiều kết quả như mong muốn Theo đánh giá chung, giờ dạy học Kể chuyện thiếu hấp dẫn, không gây được hứng thú và phát triển kĩ năng tiếng Việt cho học sinh Việc tổ chức giờ học lỏng lẻo, “tự phát”, ngẫu hứng như vậy đã làm
Trang 7cho giờ học thiếu sôi nổi, hào hứng Kể chuyện giáo viên chưa biết sử dụng các hình thức kể chuyện phù hợp với câu chuyện
Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu về việc sử dụng các hình thức kể
chuyện trong giờ “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp” nhưng còn khá tản
mạn và chưa thực sự đem lại hiệu quả trong giờ học
Chính vì những lí do trên, tôi xin chọn đề tài: “Sử dụng các hình thức kể cho học sinh lớp 5 trong giờ Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp” nhằm
đưa ra các biện pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả của giờ dạy kể chuyện cho học sinh Tiếu học
2 Lịch sử nghiên cứu
Dạy và học môn Tiếng Việt là một nhiệm vụ khó khăn mà không phải bất
kì nhà giáo dục nào cũng có thể làm được Kể chuyện là một phân môn của Tiếng Việt, do đó việc dạy tốt phân môn này cũng góp phần thực hiện mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt đề ra Tuy nhiên đế giảng dạy tốt môn học, người giáo viên cần có những hiểu biết nhất định về môn học cũng như các phương pháp dạy học phù hợp Đã có rất nhiều tài liệu giáo dục nghiên cứu và chỉ ra vai trò, tầm quan trọng của việc dạy kể chuyện, phương pháp dạy kể chuyện tuy nhiên các tài liệu đó còn mang tính chung chung, chưa chỉ rõ vấn đề cũng như chưa đưa ra các hình thức cụ thể để áp dụng vào thực tiễn
Trong đề tài này, tôi đã sưu tầm, tổng hợp và kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình sau đây:
- Rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt ( Đào Ngọc, Nguyễn Quang Ninh, Nhà
xuất bản Giáo dục) Tài liệu này vừa là cuốn sách thực hành về Tiếng Việt, vừa
là cuốn sách rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm đối với GV Tiểu học Cuốn sách trình bày việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ gắn liền với các kĩ năng nghiệp vụ ở Tiếu học như: kĩ năng đọc thầm, kĩ năng đọc diễn cảm, kĩ năng viết chữ, kĩ năng viết các loại văn bản dạy ở Tiểu học, kĩ năng nghe, kĩ năng nói, kĩ năng kể chuyện
Trang 8- Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiếu học (Tài liệu đào tạo GV -
2007) của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án phát triển GV Tiểu học Cuốn sách đã cập nhật những thông tin đổi mới về nội dung chương trình SGK và phương pháp dạy học theo chương trình mới Cuốn sách đã trình bày một cách chi tiết, cụ thể về cấu trúc, nội dung và phương pháp dạy học cho từng phân môn trong môn Tiếng Việt Ngoài ra, cuốn sách còn giới thiệu được một số phương pháp dạy học tích cực theo hướng đổi mới như: sử dụng bộ đồ dùng học tập trong dạy học, sử dụng máy chiếu, băng hình nhằm phục vụ cho quá trình dạy
- học có thể đạt được hiệu quả cao nhất
- Vui học Tiếng Việt (Trần Mạnh Hưởng, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục -
2002) Tác giả đã đề cập đến những kiến thức Tiếng Việt cơ bản giúp HS luyện tập thành thạo các kĩ năng “nghe, nói, đọc, viết”, giúp các em sẽ có suy nghĩ lạc quan, diễn đạt trong sáng, có khả năng làm chủ được tiếng nói và chữ viết của dân tộc
- Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiếu học theo chương trình mới (Nguyễn
Trí, Nhà xuất bản Giáo dục - 2003) Cuốn sách trình bày những vấn đề cơ bản của phương pháp dạy học mới ở nhà trường Tiểu học nói chung và bộ môn Tiếng Việt 5 nói riêng Đặc biệt, tác giả đã quan tâm đến việc truyền đạt cho
HS bốn kĩ năng: nghe - nói - đọc - viết trong phân môn Kể chuyện Đối với,
dạy kiểu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp” kĩ năng nghe - nói được
phát triển mạnh nhất Dựa trên cơ sở đó, GV biết cách vận dụng linh hoạt các phương pháp vào dạy học phân môn Tiếng Việt
- Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiếu học (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự
án phát triển GV Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội - 2005) Cuốn sách trình bày cụ thể những đổi mới trong nội dung và phương pháp dạy học theo chương trình và SGK mới giúp nhà sư phạm nắm được bản chất của phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS; vận dụng sáng tạo, linh hoạt những hiểu biết đã có vào thiết kế kế hoạch bài học theo hướng phát huy tính tích cực của từng HS Đặc biệtthực hành dạy học các phương pháp
Trang 9như: phương pháp kể, phương pháp trục quan, phương pháp đóng vai, phương pháp gợi mở, vấn đáp trong phân môn Kể chuyện đạt hiệu quả, chất lượng
- Dạy học Tiếng Việt 2 (Nguyễn Trí, Lê Phương Nga, Nhà xuất bản Giáo
dục) đã đề cập đến phương pháp dạy học kể chuyện Viết về phương pháp dạy học kế chuyện các tác giả đã vạch ra mục đích quan trọng và ý nghĩa thiết thực của việc dạy học kể chuyện Đồng thời, các tác giả cũng đã xây dựng cách
tổ chức cũng như các hoạt động chủ yếu trong một tiết kể chuyện Đặc biệt các tác giả đã nhấn mạnh đến việc rèn kĩ năng nghe và kể cho HS
- Trong quyển Dạy Kể chuyện ở Tiểu học, tác giả Chu Huy đã đề cập khá
rõ đến từng thể loại truyện và hướng dẫn HS tỉ mỉ về kể các câu chuyện, các biện pháp hướng dẫn HS kể chuyện Đây là cuốn cẩm nang phong phú dành cho nhiều GV Các biện pháp trình bày trong sách với tiết học kể chuyện kiểu
bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp” phù hợp với phương pháp thầy kể,
trò nghe, ghi nhớ và kể lại
- Khóa luận tốt nghiệp Đại học của Dương Thị Trang “Dạy học kiểu bài nghe - kể lại câu chuyện vừa nghe thầy cô kể trên lớp” cho học sinh lớp 4,
người hướng dẫn Phạm Thị Hòa
Kế thừa kết quả của những công trình nghiên cứu đã trình bày ở
trên, chúng tôi tìm hiểu và nghiên cứu để thực hiện đề tài: “Sử dụng các hình thức kể chuyện trong giờ Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp” cho học sinh
lớp 5
3 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp sử dụng các hình thức kể chuyện trong giờ kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp Qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học nói chung và dạy học phân môn Kể chuyện nói riêng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về các hình thức kể chuyện trong giờ Kể chuyện
đã nghe thầy cô kể trên lớp
Trang 10- Tìm hiểu thực tiễn về các hình thức kể chuyện trong giờ Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp
- Đề xuất một số biện pháp sử dụng các hình thức kể chuyện trong giờ Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp
- Thiết kế một số giáo án có sử dụng các hình thức kể chuyện phù hợp và tiến hành thực nghiệm
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các hình thức kể chuyện trong giờ Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp
- Phạm vi nghiên cứu: trường Tiểu học Trưng Nhị, Phúc Yên, Vĩnh Phúc
6 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài bao gồm:
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp điều tra
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khóa luận có cấu trúc ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Biện pháp sử dụng các hình thức kể chuyện trong giờ “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp” cho học sinh lớp 5
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 11NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Cơ sở tâm sinh lí
1.1.1.1 Cơ sở tâm lí
a, Đặc điểm chú ý
HS ở tiểu học chú ý có chủ định bắt đầu ổn định Các phẩm chất ý chí (độc lập, kiên trì, tự’ chủ) bắt đầu hình thành HS có kĩ năng phân phối chú ý
và hướng chú ý vào nội dung cơ bản của bài học Chính đặc điểm này cho phép
GV rèn luyện HS thực hiện thành thục các thao tác, các kĩ năng nói, kĩ năng nghe trong dạy học kể chuyện Vì vậy, GV có thể phức tạp hóa dần dần nhiệm
vụ nhận thức cho học sinh
b, Đặc điểm tri giác
Các em thường tri giác những gì phù hợp với nhu cầu, những gì thường được gặp, được hướng dẫn Tri giác của các em còn gắn liền với cảm xúc Điều này cho thấy sự cần thiết hướng dẫn HS nghe và kể chuyện thường xuyên Những câu chuyện hay, lời kể hấp dẫn, sinh động được các em tri giác tốt hơn,
HS sẽ hứng thú, yêu thích học Kể chuyện
c, Đặc điểm trí nhớ
Ở giai đoạn này, trí nhớ của các em là trí nhớ không chủ định Nó vẫn hình thành và phát triển mạnh Nhưng ghi nhớ ý nghĩa đang bắt đầu chiếm ưu thế Vì vậy, trong dạy học kể chuyện GV cần chủ động hình thành cho HS phương pháp ghi nhớ nội dung câu chuyện theo điểm tựa, nối liền điểm tựa tạo
ra dàn ý ghi nhớ nội dung câu chuyện hoặc phân chia nội dung câu chuyện thành các đoạn, đặt tên cho các đoạn hoặc đặt ra các câu hỏi về nhân vật, tình huống, cốt truyện đế HS trả lời và ghi nhớ Ớ tuổi này, trí nhớ từ ngữ logic phát triển hơn trí nhớ trục quan Cho nên, các em có thể ghi nhớ được nhiều câu
Trang 12chuyện tự tìm được bằng nhiều hình thức trong đó có hình thức nói thầm để ghi nhớ câu chuyện là chủ yếu
d, Đặc điểm tưởng tượng
Tưởng tượng của HS cuối bậc Tiểu học hoàn chỉnh hơn về kết cấu logic
Sự tạo ra các hình ảnh mới trong tưởng tượng bằng cách cụ thể hóa nhân vật, nhập vai vào nhân vật sẽ giúp các em khắc sâu nhân vật và nội dung câu chuyện
từ đó bộc lộ tình cảm tự nhiên với nhân vật trong truyện, giúp cho việc kể sinh động hơn
e, Đặc điểm tư duy
Tư duy trừu tượng, khái quát hóa đang dần chiếm ưu thế HS biết dựa vào các dấu hiệu bản chất của đối tượng để rút ra nội dung, ý nghĩa của câu chuyện
f, Đặc điểm ngôn ngữ
Lên tiểu học, hầu hết các em có ngôn ngữ nói thành thạo, ngôn ngữ viết đang hoàn thiện và bắt đầu hướng tới hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lí tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được thể hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói
và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá sự phát triển trí tuệ của trẻ
Ngôn ngữ của HSTH đã dần ổn định giúp HS có thể sử dụng ngôn ngữ tham gia vào các hoạt động, các nhiệm vụ học tập mà ít gặp khó khăn trong việc bày tỏ quan điểm, trình bày ý kiến của mình Đặc biệt, việc sử dụng hình thức đóng vai trong dạy học phân môn kể chuyện kiểu bài đã nghe đã đọc là cơ hội
để các em phát triển ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ giao tiếp của HS
Tóm lại, với những đặc điểm về tâm lí của HSTH, thì việc sử dụng các hình thức trong dạy học phân môn Kể chuyện kiểu bài đã nghe thầy cô kể trên
Trang 13lớp là phù hợp, có thể thực hiện để mang lại hiệu quả tốt, giúp các em hình thành được các kĩ năng tương ứng và có khả năng vận dụng vào trong chính cuộc sống của các em
1.1.1.2 Cơ sở sinh lí
Hệ xương: Còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập, Vì thế mà trong các hoạt động học tập, vui chơi của các em cha mẹ
và thầy cô (sau đây xin gọi chung là các nhà giáo dục) cần phải chú ý, quan tâm hướng các em tới các hoạt động học tập, vui chơi lành mạnh, an toàn
Hệ cơ: Đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các hoạt động như chạy, nhảy, nô đùa, Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa các em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn cho trẻ
Hệ thần kinh cấp cao: Đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ, Dựa vào cơ sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em
Ở tuổi này não và hệ thần kinh của trẻ đang phát triển và dần hoàn thiện nên các em dễ bị kích thích Các em thích sự động viên, khen ngợi, khuyến khích Do đó, GV cần tránh nạt nộ, quát mắng, ngắt lời thô bạo khi các em học tập GV cần hướng dẫn tế nhị trong quá trình hướng dẫn HS kể chuyện
Nhìn chung, đặc điểm sinh lý của HSTH nói chung vẫn còn chưa vững chắc, khá non yếu, đang trên đà phát triển Cơ thể các em đã hoàn chỉnh về mặt cấu trúc nhưng chưa hoàn thiện về mặt chức năng Chức năng của các cơ quan đang phát triển, đặc biệt là hệ xương và hệ thần kinh Vì vậy, HSTH đã có thể tham gia học tập các môn học ở tiểu học cũng như học tập sử dụng các hình thức trong dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 4,5 Đối với HS ở giai đoạn này, các em có thể thực hiện kể được những câu chuyện đơn giản, gần gũi và hoàn
Trang 14toàn có thể tham gia các hình thức kể chuyện trong giờ Kể chuyện Đặc biệt với các hình thức trong giờ Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp, các hình thức đó giúp các em có niềm say mê, hăng hái hơn, làm cho việc kể chuyện đạt được hiệu quả cao
Như vậy, việc sử dụng các hình thức trong giờ “Kể chuyện đã nghe thầy
cô kể trên lớp” HS lớp 5 là hoàn toàn có thể thực hiện, là sự kết hợp hợp lý và
mang lại hiệu quả cao
1.1.1.3 Cơ sở văn học
Phân môn Kể chuyện ở Tiểu học sử dụng các tác phẩm của văn học làm chất liệu Các tác phẩm văn học sử dụng trong kể chuyện còn làm thoả mãn nhu cầu và thị hiếu thẩm mĩ của con người Văn học thỏa mãn nhu cầu và thị hiếu thẩm mĩ của con người băng nhiều cách Trước tiên, nó thoả mãn nhu cầu thưởg thức cái đep của người đọc, người nghe qua việc phản ánh cái đep vốn có trong thiên nhiên và trong cuộc sống vào trong nó Hai là, qua lăng kính nghệ thuật, các nhà văn đã gọt giũa , nhào năn làm cho cái đep vốn đã đep lại càng rục rỡ, lóng lánh hơn Nhờ tiếp xúc với tác phẩm văn học HS không chỉ nhận thức được cái đep một cách tinh tế, nhạy bén mà còn biết khám phá cái đẹp
Qua các câu chuyện được nghe, được kể trong chương trình Tiểu học, các
em được nhìn thấy vẻ đẹp của quê hương đất nước, con người Đồng thời, các
em cũng nhận ra được đâu là điều thiện đâu là điều ác, các em sẽ vui thích khi điều thiện bao giờ cũng chiến thắng cái ác, các em cũng vui buồn và khóc cười với nhân vật trong truyện
Ngoài việc cảm nhận vẻ đẹp do nội dung tác phẩm mang lại, người đọc, người nghe còn cảm nhận được vẻ đẹp của nghệ thuật ngôn từ
Ngoài ra, tác phẩm văn học còn đưa ra nội dung giao tiếp cụ thể Những tác phẩm văn học không phải đưa ra một thứ kí hiệu giao tiếp thông thường mà
nó còn chứa đựng nội dung tư tưởng tình cảm và mang tính xã hội rất đậm nét
Do đó, tác phẩm nghệ thuật trở thành phương tiện có hiệu quả nhất đưa con người xích lại gần nhau hơn về tình cảm cũng như về măt tinh thần
Trang 15Như vậy, các tác phẩm văn học được sử dụng trong kế chuyện còn có tác dụng nuôi dưỡng tâm hồn, trí tuệ, tình cảm, đạo đức cho HS Nó giúp con người nhận ra cái đep, cái xấu, cái đúng, cái sai, cái thật, cái giả Đồng thời, nó còn gieo vào lòng ta một sự cảm thông sâu sắc với nỗi đau, sự cô đơn, tủi nhục của người khác
Kể chuyện không chỉ là một phương tiện có hiệu quả mạnh mẽ trong việc giáo dục trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ mà nó còn có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến
sự phát triển ngôn ngữ cho HS Kể chuyện giúp HS rèn kĩ năng nói, phát triển ngôn ngữ mạch lạc Ngôn ngữ mạch lạc là phương tiện vạn năng đăc sắc, trọn vẹn và có hiệu quả cao trong giao tiếp
1.1.2 Vài nét về phân môn Kể chuyện
1.1.2.1 Khái niệm Kể chuyện
Kể là một động từ biểu thị hành động nói Từ điển tiếng Việt (Văn Tân
chủ biên) giải thích kể là nói rõ đầu đuôi, và nêu ví dụ: kể chuyện cổ tích Khi ở
vị trí một thuật ngữ, kể chuyện bao hàm bốn phạm trù ngữ nghĩa sau:
a) Chỉ loại hình tự sự trong văn học (phân biệt với loại hình trữ tình, loại hình kịch) – còn gọi là truyện hoặc tiểu thuyết
b) Chỉ tên một phương pháp nói trong diễn giảng
c) Chỉ tên một loại văn thuật chuyện trong môn Tập làm văn
d) Chỉ tên một phân môn được học ở các lớp trong trường Tiểu học
Kể chuyện là một thuật ngữ bởi nó có một kết cấu âm tiết ổn định, một phạm trù ngữ nghĩa (còn gọi là khái niệm) nhất định Thuật ngữ kể chuyện lâu nay vẫn được dùng với ý nghĩa kể một câu chuyện bằng lời, kể câu chuyện có hình thức hoàn chỉnh, được in trong sách báo hay lưu truyền bằng miệng.Trong phạm vi đề tài này, Kể chuyện chính là tên gọi của một phân môn Tiếng Việt ở tiểu học Có thể hiểu đơn giản kể chuyện nhằm mục đích phát triển lời nói cho
HS, bồi dưỡng cho các em những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh, cung cấp những kiến thức về vốn sống và văn học có tác dụng giáo dục Hoạt động kể chuyện là hình thức trình bày lại câu chuyện với một chuỗi các sự việc có đầu có cuối liên
Trang 16quan đến một hay một số nhân vật bằng lời kể một cách hấp dẫn, sáng tạo, giàu ngữ điệu và có sự phối hợp diễn xuất qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ của người kể một cách tự nhiên nhằm truyền cảm đến người nghe
1.1.2.2 Vị trí của phân môn kể chuyện
Phân môn Kể chuyện được xếp liền ngay sau phân môn Tập đọc của bộ môn Tiếng Việt, sở dĩ như vậy là vì kể chuyện có vị trí đặc biệt trong dạy học tiếng mẹ đẻ, vì hành động kể là một hành động “nói” đặc biệt trong hoạt động giao tiếp Kể chuyện vận dụng một cách tổng hợp sự hiểu biết về đời sống và tạo điều kiện để HS rèn luyện một cách tổng hợp các kĩ năng tiếng Việt như: nghe, nói, đọc, viết trong hoạt động giao tiếp Khi nghe thầy giáo kể chuyện, HS
đã tiếp nhận tác phẩm văn học ở dạng lời nói có âm thanh Khi HS kể chuyện là các em đang tái sản sinh hay sản sinh một tác phẩm nghệ thuật ở dạng lời nói.Vì truyện là một tác phẩm văn học nên kể chuyện có được cả sức mạnh của tác phẩm văn học Truyện có khả năng bồi dưỡng tâm hồn cho trẻ thơ Sự hiểu biết
về cuộc sống, về con người, tâm hồn, tình cảm của các em sẽ nghèo nàn đi biết mấy nếu không có môn học Kể chuyện trong trường học
1.1.2.3 Nhiệm vụ của phân môn kể chuyện
- Phân môn Kể chuyên có liên quan đến nhu cầu nghe kế chuyên của trẻ
em, góp phần hình thành nhân cách, đem lại những cảm xúc thẩm mỹ lành mạnh cho tâm hồn HS Kể chuyện có sức mạnh riêng trong việc giáo dục trẻ Sức mạnh này bắt nguồn từ sức mạnh của công cụ mà phân môn Kể chuyện sử dụng, đó là tác phẩm văn học nghệ thuật GV dùng để kể trong lớp Các tác phẩm văn học có tác dụng lớn đến tâm hồn và cảm xúc của trẻ em, đem lại những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh
- Phân môn Kể chuyện góp phần tích luỹ vốn văn học, mở rộng vốn sống cho trẻ em Giờ Kể chuyện giúp cho trẻ sớm tiếp xúc với tác phẩm văn học Suốt 5 năm ở bậc tiểu học, HS được nghe và tham gia kể hàng trăm câu chuyện với đủ thể loại, gồm tác phẩm có giá trị của Việt Nam và thế giới, từ truyện
Trang 17cổ tích đến hiện đại Do đó vốn văn học của HS được tích luỹ dần Đây là những hành trang quý sẽ theo các em trong suốt cuộc đời mình
- Giờ Kể chuyện còn mở rộng tầm hiểu biết, khơi gợi trí tưởng tượng cho các em Qua từng câu chuyện, thế giới muôn màu sắc mở rộng trước các em Các em gặp trong đó từ phong tục tập quán đến cảnh sắc thiên nhiên, từ cách phục trang đến kiến trúc nhà ở, và đặc biệt là cách cư xử của con người trong muôn vàn trường hợp khác nhau
Nói cách khác, các truyện kể đã làm tăng thêm cho HS vốn hiểu biết về thế giới và xã hội loài người xưa và nay.Các truyện kể còn chắp cánh cho trí tưởng tượng của HS bay bổng Cùng với lí tưởng, óc tưởng tượng là bệ phóng cho những hoài bão, ước mơ cao đẹp khi các em bước vào cuộc sống
- Phân môn Kể chuyện góp phần rèn luyện và phát triền các kĩ năng tiếng Việt cho học sinh.Trước hết, phân môn Kể chuyện phát triển kĩ năng nói cho HS Giờ kể chuyện các em dùng ngôn ngữ nói của mình để kể lại câu chuyện trước đám đông Việc kể lại câu chuyện trước đám đông rèn cho các em khả năng tự tin, mạnh dạn trong các hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Đồng thời, các kĩ năng: nghe, đọc, kĩ năng ghi chép cũng được phát triển trong quá trình kể lại chuyện đã nghe, đã đọc
1.1.2.4 Phân môn kể chuyện lớp 5
a, Các kiểu bài học kể chuyện
Kể chuyện là một trong những phân môn quan trọng của bộ môn Tiếng Việt ở Tiểu học Sự đa dạng của các câu chuyện kể cũng như sự phong phú về nội dung của những câu chuyện đó mà phân môn kể chuyện cũng được chia ra làm ba kiểu bài:
- Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp
- Kể chuyện đã nghe, đã đọc;
- Kể chuyện đã được chứng kiến, tham gia
b, Kiểu bài học “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”
Trang 18Do giới hạn phạm vi đối tượng nghiên cứu là hoạt động dạy học kiểu bài
Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp (kiểu 1) cho nên chúng tôi không trình bày đặc điểm kiểu bài Kể chuyện đã nghe, đã đọc (kiếu 2) và kiểu bài Kể chuyện đã được chứng kiến hoặc tham gia (kiểu 3) mà chỉ đi sâu trình bày đặc điểm của kiểu bài 1
b.1 Đặc điểm kiểu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”
- Trong tiết học này các em phải kể lại câu chuyện trong sách báo hoặc trong đời sống hàng ngày Trong chương trình cũ, kiểu bài này nằm trong phân môn Tập làm văn, nay được chuyển sang phân môn Kể chuyện để thực sự rèn khả năng nói cho HS
- GV kể cho HS nghe trước một hoặc hai lần sau đó hướng dẫn HS trao đổi vắn tắt về cách kể chuyện và ý nghĩa câu chuyện
- Giờ kể chuyện ở tiết này thực sự dành cho HS làm chủ GV chỉ có vai trò điều hành, hướng dẫn nhận xét nhưng thực sự lại khó với GV bởi vì nhiều tình huống bất ngờ xảy ra, nhiều khi khó thành công
- So với các câu chuyện ở lớp 4 thì các chuyện ở lớp 5 có độ dài lớn hơn, tình tiết phức tạp hơn, nội dung sâu sắc hơn Những câu chuyện này nói về những phẩm chất tốt đẹp mà con người cần phải rèn luyện gắn với các chủ điểm học tập
- Trong kiểu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp” có nhiều hình
+ Hình thức kể chuyện theo tranh
+ Hình thức kể chuyện qua trò chơi
Trang 19
Do giới hạn phạm vi nghiên cứu nên chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu về hình thức đóng vai, hình thức kể chuyện qua trò chơi, hình thức kể chuyện theo tranh
và hình thức nhập vai nhân vật
b.2 Quy trình dạy học kiểu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”
- Nội dung: HS nghe thầy cô kể chuyện, kết hợp quan sát tranh minh họa rồi kể lại Truyện không in trong SGK
- Mục đích: Rèn cho HS kĩ năng nói và nghe
- Mức độ yêu cầu: chỉ cần ghi nhớ lời kể của GV và kể lại
Trước khi phân tích quy trình dạy chúng tôi xin trình bày cấu trúc thông
thường của một bài học dạy kiếu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”
trong SGK như sau:
b.2.1 Cấu trúc kiểu bài
STT Cấu trúc thông thường trong SGK
chuyện (thường có kèm các tranh được đánh số 1, 2, 3, 4 ), hoặc gợi
ý về cách kể lại câu chuyện đã nghe, đã đọc
chuyện đã nghe, đã đọc
b.2.2 Quy trình dạy học kể chuyện kiểu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”
Hoạt động Nội dung hoạt động
1 Kiểm tra bài cũ: HS kê lại câu chuyện đã học trong tiêt trước, trả
lời một số câu hỏi về nội dung câu chuyện
2 Giới thịêu bài: GV giới thiệu câu chuyện sắp kể bằng lời họăc
kết hợp lời với tranh ảnh
Trang 203 HS nghe kể chuyện
- GV kể lần 1
- GV kể lần 2, vừa kế vừa chỉ tranh minh họa
- Kể từng đoạn nối tiếp nhau trong nhóm
- Kể toàn bộ câu chuyện trong nhóm
- Kể toàn bộ câu chuyện trước lớp
5 HS tìm hiêu nội dung, ý nghĩa câu chuyện
- Nói về nhân vật chính
- Nói về ý nghĩa câu chuyện
c, Chương trình kiểu bài Nghe kể lại ở lớp 5:
TT Tuần Tên truyện
Trang 211.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Khảo sát thực trạng dạy học kể chuyện kiểu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kế trên lớp ” ở trường Tiểu học Trưng Nhị
Trong đợt khảo sát này chúng tôi khảo sát thông qua 2 tiết dạy ứng với 2
câu chuyện là: Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai và Chiếc đồng hồ
Để khảo sát thực trạng dạy học kể chuyện được chính xác và thuận lợi Trước tiên, chúng tôi xin đưa ra cách thức và nội dung khảo sát phù hợp
1.2.1.1 Cách thức khảo sát và nội dung khảo sát
a) Cách thức khảo sát
Chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu khảo sát GV và HS
b) Nội dung khảo sát
- Nội dung phiếu điều tra
Câu 1 : Thầy (cô) có thích dạy kiểu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp ” không?
Câu 2: Thầy (cô) thường sử dụng hình thức dạy học nào trong dạy học
kiếu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”?
Câu 3: Những khó khăn nào thầy (cô) gặp phải trong dạy học kiểu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”?
Câu 4: Mỗi tiết học, thầy (cô) gọi được bao nhiêu HS kể chuyện trước lớp?
+ Phiếu điều tra HS
Câu 1 : Em có hứng thú khi học kể chuyện kiểu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp” không?
Câu 2: Em có hay sử dụng cử chỉ, điệu bộ thường xuyên không?
Câu 3: Điều gì làm em cảm thấy khó khăn nhất khi học kể chuyện kiểu
bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”?
Câu 4: Em đã sử dụng những hình thức nào trong tiết “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”?
Trang 221.2.1.2 Đối tượng điều tra
Chúng tôi thực hiện điều tra trên hai đối tượng là: 5 GV và 60 HS lớp 2 trường TH Trưng Nhị - Phúc Yên
1.2.2 Kết quả điều tra
Qua quá trình điều tra theo phiếu đối với GV và HS, chúng tôi xin đưa ra
8 bảng kết quả ứng với 8 câu hỏi trong phiếu điều tra
Bảng 1: Thầy (cô) có thích dạy kiểu bài
“Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp ” không?
Qua bảng 1, chúng tôi thấy rằng: Tỉ lệ GV thích dạy kể chuyện kiểu bài
“Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”chỉ chiếm 40%, 60% GV cho rằng bình
thường, không có GV nào không thích dạy Điều này cho thấy GV chưa có một quan niệm thật sự đúng đắn về tầm quan trọng của việc dạy phân môn Kể chuyện Phần lớn GV cho rằng việc dạy kể chuyện ở mức bình thường vì phân môn Kể chuyện không là môn thi học kì như các phân môn: Luyện từ và câu, Chính tả, Tập làm văn , nên GV chưa chú trọng đầu tư cho phân môn Kể chuyện
Bảng 2: Thầy (cô) thường sử dụng hình thức dạy học nào trong dạy học kiếu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”?
Trang 23Qua bảng 2, ta thấy phương pháp kể diễn cảm và phương pháp trực quan được 100% GV sử dụng, phương pháp gợi mở vấn đáp và phương pháp đóng vai chỉ có 60% số lượng GV được hỏi sử dụng
Bảng 3: Những khó khăn nào thầy (cô) gặp phải trong dạy học
kiểu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”?
hành động phi ngôn ngữ vào
kể câu chuyện, 20% GV chưa biết cách sử dụng họp lí đồ dùng trục quan vào trong dạy học Điều này chúng tỏ kĩ năng kể chuyện của GV còn nhiều hạn chế Vậy việc trau dồi kĩ năng kể chuyện cho GV cũng rất cần thiết hiện nay
Trang 24Bảng 4: Mỗi tiết học, thầy (cô) gọi được bao nhiêu HS kể chuyện trước lớp?
Bảng 5: Em có hứng thú khi học kể chuyện kiểu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp” không?
Bảng 6: Em có hay sử dụng cử chỉ, điệu bộ thường xuyên không?
Trang 25Qua bảng 6, ta thấy mức độ HS sử dụng cử chỉ, điệu bộ khi kể chuyện thường xuyên và không bao giờ là như nhau: 5/60 HS, chiếm 8,3 % còn thỉnh thoảng sử dụng thì chiếm nhiều nhất (50%) Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do trong quá trình kế chuyện GV ít khi sử dụng các cử chỉ, điệu bộ để HS học tập hoặc khi GV kể mẫu thì HS không tập trung chú ý
Bảng 7: Điều gì làm em cảm thấy khó khăn nhất khi học kể chuyện kiểu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”?
Bảng 8: Em đã sử dụng những hình thức nào trong tiết “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”?
Qua kết quả điều tra tôi thấy trong tiết học Kể chuyện các thầy cô đã có các phương pháp dạy học, sử dụng nhiều hình thức dạy học làm cho tiết học đạt
Trang 26kết quả cao và 70% số lượng HS đã nhận thức đúng đắn về sự cần thiết của các
hình thức kể chuyện trong tiết học “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”
Tuy nhiên, khi GV sử dụng các hình thức dạy học trong bài dạy còn lúng túng, lớp học chưa sôi nổi, hào hứng và HS còn uể oải và chưa tích cực.Vì vậy ở
chương tiếp theo tôi xin đề xuất các hình thức kể chuyện kiểu bài “Kể chuyện
đã nghe thầy cô kể trên lớp” cho học sinh lớp 5 để tổ chức cho các em có một
tiết học Kể chuyện vui vẻ và đạt kết quả cao
Trang 27Tiểu kết chương 1
Kể chuyện là một phân môn lý thú, hấp dẫn, có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình giáo dục ở trường Tiểu học đặc biệt là đối với HS lớp 5 Phân môn Kể chuyện góp phần bồi dưỡng tâm hồn, đem lại niềm vui, trau dồi đạo đức vốn sống, vốn văn học, phát triển tư duy và ngôn ngữ, hình thành các kĩ năng cơ bản cho HS
HS Tiểu học rất thích nghe và kể chuyện, đó là một nhu cầu không thể thiếu với các em bởi lẽ những câu chuyện sẽ giúp các em phát huy tối đa trí tưởng tượng, khả năng sáng tạo và những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh trong tâm hồn
Qua khảo sát thực trạng của việc dạy học kể chuyện kiểu bài “Kể chuyện
đã nghe thầy cô kể trên lớp” ở lớp 5 trường Tiếu học Trưng Nhị chúng tôi nhận
thấy: Thực tế dạy học tiết học này giáo GV có những thuận lợi sau : Được trang
bị đầy đủ đồ dùng dạy học phục vụ cho tiết dạy , HS có tinh thần hợp tác, ham học hỏi, ý thức tự giác của HS cao Tuy nhiên, GV cũng găp không ít khó khăn
đó là: GV chưa tìm ra biện pháp dạy học họp lý đối với phân môn Việc sử dụng kết hợp các hành động phi ngôn ngữ cũng như đồ dùng trực quan của GV vào
Từ thực trạng trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu và xây dựng một số
biện pháp sử dụng các hình thức kể chuyện qua kiểu bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp” nhằm nâng cao chất lượng kể chuyện cho HS lớp 5, trường
Tiểu học Trưng Nhị nói riêng và HS tiểu học nói chung
Trang 28Chương 2 BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CÁC HÌNH THỨC KỂ CHUYỆN TRONG GIỜ
“KỂ CHUYỆN ĐÃ NGHE THẦY CÔ KỂ TRÊN LỚP” CHO HỌC SINH
LỚP 5 2.1 Nguyên tắc khi sử dụng các hình thức kể chuyện trong giờ Kể chuyện
đã nghe thầy cô kể trên lớp
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn
Những nội dung, chủ đề kể chuyện mà giáo viên đưa ra phải là những chủ đề gần gũi trong cuộc sống, nhằm giúp các em có kiến thức và kĩ năng thực
tế để các em có thể vận dụng vào chính tực tiễn của các em Giáo viên khuyến khích học sinh tìm hiểu các các câu chuyện mang tính gần gũi, thân thuộc mang giá trị nhân văn sâu sắc để các em có cơ hội nghe, tìm hiểu về những câu chuyện hay, bổ ích Khi các câu chuyện đưa ra mà xa vời với cuộc sống của HS thì các em sẽ khó hiểu được câu chuyện cũng như ý nghĩa của câu chuyện và điều quan trọng hơn cả là vấn đề đó không có ý nghĩa gì cho cuộc sống của các
em Như vậy, việc GV lựa chọn và khuyến khích HS lựa chọn các chủ đề kể chuyện để cho HS nghe và đọc là quan trọng, để các câu chuyện các em đưa ra gần gũi, có ý nghĩa Từ đóhọc sinh hiểu nội dung, phát huy khả năng và tính tích cực và sáng tạo ở HS
Bên cạnh đó, giáo viên khuyến khích học sinh lựa chọn hình thức đóng vai trong mỗi câu chuyện kiểu bài đã nghe, đã đọc nên phong phú, nhưng không quá khó để các em có thể hiểu, tích luỹ vốn sống, bồi đắp tâm hồn Việc học sinh tìm hiểu các câu chuyện không nhất thiết phải dài dòng, khó hiểu mà giáo viên có thể động viên, khuyến khích học sinh tìm những câu chuyện sáng tạo, mang ý nghĩa sâu sắc để từ đó học sinh có thể rút ra được những bài học khác nhau Có như vậy, việc sử dụng các hình thức kể chuyện trong dạy học phân môn Kể chuyện kiểu bài đã nghe thầy cô kể trên lớp cho học sinh lớp 3 mới đạt
Trang 292.1.2 Nguyên tắc đảm bảo phát huy tính tích cực của người học
Việc sử dụng các hình thức kể chuyện trong dạy học phân môn kể chuyện kiểu bài đã nghe thầy cô kể trên lớp là các hình thức mới và sáng tạo, phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình học tập Học sinh chính là người trực tiếp tham gia các tình huống, các câu chuyện, để giúp các em tiếp cận được với cuộc sống Phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học trong quá trình học tập, tức là “lấy người học làm trung tâm” Trong quá trình học sinh thực hiện, giáo viên đóng vai trò là người cộng tác, hỗ trợ… và không can thiệp quá nhiều đến vấn đề các em thảo luận Khi sử dụng hình thức đóng vai trong dạy học phân môn kể chuyện kiểu bài đã nghe, đã đọc, giáo viên cần hướng các em tới việc phát triển kĩ năng tư duy phê phán giúp các em học được nhiều điều từ cuộc sống thông qua các câu chuyện kể
Với việc sử dụng các hình thức kể chuyện trong dạy học phân môn kể chuyện kiểu bài đã nghe thầy cô kể trên lớp, tính tự giác tích cực thể hiện ở chỗ
HS tự mình tham gia câu chuyện, được hoá thân thành các nhân vật vì thế các
em hiểu được nội dung câu chuyện một cách cụ thể, có những xúc cảm chân thật nhất về nhân vật từ đó rút ra được nội dung bài học, ý nghĩa câu chuyện, những giá trị nhân văn sâu sắc Tính độc lập nhận thức của HS thể hiện ở quá trình các em tự mình tìm những câu chuyện hay, ý nghĩa Vì trong mỗi HS luôn tồn tại những khả năng tìm tòi, sáng tạo, nên mỗi HS có thể đưa ra những cách
kể các câu chuyện, bài học phù hợp và độc đáo nhất Như vậy, GV không nên
gò bó HS trong những khuôn khổ nhất định, mà ngược lại, luôn khuyến khích
HS mạnh dạn tìm tòi, sưu tầm những câu chuyện ý nghĩa phù hợp với chủ đề của chương trình học
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với chương trình tiểu học
Đảm bảo nguyên tắc này là đảm bảo trước khi học sinh kể lại những câu chuyện đã nghe, đã đọc, giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm những câu chuyện rõ ràng, phù hợp với nội dung, mục tiêu của bài học, chương trình học
Trang 30của các em Như vậy, nội dung bài học đưa ra phải phù hợp với nhận thức và tư duy của học sinh Tuỳ vào độ tuổi và trình độ của học sinh mà các nội dung dạy học kể chuyện đưa ra sao cho phù hợp Điều này, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giúp học sinh thể hiện được hiểu biết của mình, những điều xung quanh các em Độ khó của mỗi nội dung, chủ đề kể chuyện cũng như việc sử dụng hình thức đóng vai được nâng cao dần, theo từng lứa tuổi, dựa vào sự tích lũy kiến thức cũng như kinh nghiệm sống của HS Ở từng lớp học, từng bậc học, độ khó có thể tăng dần, càng ngày càng khó hơn, yêu cầu kĩ năng cao hơn nhưng vẫn hướng về mục tiêu quan trọng đó là việc rút ra những lối sống tốt, những bài học ý nghĩa từ những câu chuyện cho HSTH Đây cũng chính là nguyên tắc dạy học tuân theo tính đồng tâm trong giáo dục
2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo sự hỗ trợ phương tiện kĩ thuật hiện đại trong quá trình dạy học
Việc sử dụng hình thức đóng vai trong dạy học kể chuyện kiểu bài đã nghe,
đã đọc khá đa dạng và phong phú, cho nên có thể là sự kết hợp của nhiều ý tưởng
và các phương tiện kĩ thuật Vì vậy, với sự phát triển của khoa học công nghệ thì việc ứng dụng các công nghệ hiện đại trong quá trình học tập là rất cần thiết Đối với GV, đây là công cụ hỗ trợ để giảng giải cho học sinh, giúp học sinh hiểu thêm
về bài học Còn đối với HS, cần khuyến khích các em biết ứng dụng khoa học công nghệ để hỗ trợ các em trong quá trình sử dụng hình thức đóng vai với mỗi câu chuyện kiểu bài đã nghe, đã đọc, làm cho bài học thêm hấp dẫn, hứng thú, sáng tạo Như vây, việc trang bị phương tiện khoa học kĩ thuật hiện đại cho việc
sử dụng hình thức đóng vai trong dạy học phân môn kể chuyện là rất cần thiết, cần đảm bảo sự đầy đủ về trang thiết bị học tập để quá trình giáo dục trở nên dễ dàng, thuận tiện và đem lại nhiều ứng dụng, lợi ích hơn
Trang 312.2 Các biện pháp rèn kỹ năng kể chuyện trong giờ Kể chuyện đã nghe thầy
cô kể trên lớp
2.2.1 Giúp học sinh nghe và ghi nhớ chuyện
Với dạng bài “Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp”, đây là bước quan trọng của bài Học sinh thông qua lời kể của giáo viên và đồ dùng dạy học để ghi nhớ câu chuyện cũng như hình thành kĩ năng kể chuyện Nếu làm tốt yêu cầu này thì chúng ta đã giải quyết được yêu cầu của bài học cũng như vấn đề của đề bài này
Do đó, nó đặt ra yêu cầu rất cao cho giáo viên trong giờ dạy phải đảm bảo thuộc chuyện Khi kể giáo viên phải thể hiện rõ giữa các vai trong chuyện thông qua lời thoại Phải có giọng kể cũng như các yếu tố phụ không lời thể hiện sự lôi cuốn để đưa các em xâm nhập vào trong nội dung câu chuyện
- Giáo viên kể lần 1 không dùng tranh, nhưng ở lần 2 và 3 dùng tranh, nên
kể chậm lại thể hiện nội dung chuyện của từng tranh
- Khi kể kết hợp ghi các mốc thời gian, tên nhân vật khó nhớ ra bảng
Ví dụ: Khi kể chuyện: “Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai” – Giáo viên kể xong lần
1, cần hỏi học sinh về các nhân vật và ghi nhanh ở bảng các mốc thời gian xảy
- đrê – ốt – ta, Hơ - bớt, Rô - nan
- Trong quá trình kể giáo viên có thể đưa ra những câu hỏi gây tò mò, gây
sự chú ý để cuốn hút học sinh
Ví dụ: Trong câu chuyện “Người đi săn và con nai”: Giáo viên đưa ra câu
hỏi cho học sinh dự đoán kết thúc câu chuyện người đi săn có bắn con nai không? Chuyện gì xẩy ra sau đó?
- Trong lần kể thứ 2 và thứ 3 nếu thấy học sinh đã nhớ truyện cũng có thể cho học sinh kể tiếp lời của mình hoặc một đoạn, sau đó nhận xét
- Không khí của lớp học cũng là yếu tố quan trong để tạo nên thành công Khi dạy tiết kể chuyện giáo viên chú ý tạo không khí thoải mái, ổn định để học sinh tiếp thu tốt câu chuyện
Trang 322.2.2 Quan sát và nhận xét tranh nêu nội dung
Trong mỗi tiết dạy kể chuyện này đều có sử dụng tranh Đây là đồ dùng dạy học hết sức quan trong, các hình ảnh này đã tóm tắt phần nội dung câu chuyện theo mỗi đoạn
Giáo viên yêu cầu học sinh hoạt động nhóm để thuyết minh nội dung tranh cũng như đặt tên cho từng tranh có trong SGK
Các nhóm có thể lên trình bày ở bảng, giáo viên ghi các ý kiến nhận xét,
bổ sung Sau đó, chốt lại ở bảng thuyết minh tranh hợp lý nhất và yêu cầu học sinh đọc lại thuyết minh
2.2.3 Kĩ năng kể lại
Dạng bài" nghe- kể lại chuyện " thông thường là kể trong nhóm sau đó kể trước lớp Trong quá trình dạy thường học sinh kể theo nhóm 4 Giáo viên giao nhiệm vụ cho nhóm trưởng điều hành
- Để đạt được kết quả các hóm làm việc nghiêm túc, không khí vui, tự nhiên có tính giúp đỡ lẫn nhau cao Lắng nghe bạn kể, bổ sung nhận xét
- Giáo viên đến các nhóm hướng dẫn cụ thể giúp đỡ nhóm yếu đưa ra các câu hỏi có tính gợi mở
- Khi học sinh kể trước lớp cần đông viên khích lệ kịp thời và yêu cầu các
em khác nhận xét về lời bạn kể rút ra được điểm mạnh yếu của từng em
2.2.4 Kết hợp khéo léo cử chỉ điệu bộ và nét mặt
Do đặc điểm tâm sinh lý của con người đặc biệt là lứa tuổi học sinh Tiểu học thông thường các em ít mạnh dạn đặc biệt là đứng trước đám đông hay đứng kể ở trước lớp nên kể hay lúng túng, quên chuyện nên nhiều em khi lên kể không kể được , trạng thái tâm lý này ảnh hưởng rất lớn trong quá trình kể chuyện
- Vì vậy giáo viên khi kể chuyện cần phải kết hợp các cử chỉ, điều bộ nét mặt của mình giống với hành động của nhân vật trong chuyện
Ví dụ: Chuyện anh Lý Tự Trọng Đoạn anh rút súng ra bắn tên mật thám, hay đoạn anh về lấy xe đạp của tên lính