Hiện nay có một số phương pháp dạy học đang được áp dụng để phát huy được tính tích cực của học sinh như: phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp dạy học dự án, dạy học
Trang 1THEO LÍ THUYẾT KIẾN TẠO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học TN&XH
Người hướng dẫn khoa học : Th.S NGUYỄN THỊ DUYÊN
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới cô giáo - ThS Nguyễn Thị Duyên giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học - người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình tiến hành thực hiện khoá luận Cô đã mở ra cho em những vấn đề khoa học rất lý thú, hướng em vào nghiên cứu các lĩnh vực hết sức thiết thực và bổ ích, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho cho em học tập và nghiên cứu
Em cũng xin thể hiện sự kính trọng và lòng biết ơn đến quý các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học, Ban Giám hiệu và quý thầy cô giáo và các em học sinh trường Tiểu học Tiền Phong B (Mê Linh - Hà Nội) đã tạo điều kiện giúp đỡ em thực hiện và hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp này
Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để
đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 27 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Trần Thị Hương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng mình Những kết quả và số liệu trong khoá luận chưa được công bố dưới bất kì hình thức nào Tôi xin chịu trách nhiệm về sự cam đoan này
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Trần Thị Hương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc khóa luận 5
NỘI DUNG 6
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Quan điểm của lí thuyết kiến tạo 6
1.1.2 Dạy học theo quan điểm của lí thuyết kiến tạo 8
1.1.3 Chủ đề “Vật chất và năng lượng” trong môn Khoa học ở Tiểu học 16
1.1.4.Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học Khoa học theo quan điểm kiến tạo 18
1.1.5 Đặc điểm của học sinh lớp 4 21
1.1.6 Sử dụng công nghệ thông tin trong việc hỗ trợ dạy học chủ đề “Vật chất và năng lượng” môn Khoa học ở lớp 4 23
1.1.7 Ưu điểm và hạn chế việc dạy học theo quan điểm của lí thuyết kiến tạo 27
1.2 Cơ sở thực tiễn 28
1.2.1 Mục đích khảo sát thực trạng 28
1.2.2 Nội dung khảo sát thực trạng 28
Trang 61.2.3 Đối tượng khảo sát 29 1.2.4 Phương pháp khảo sát 29 1.2.5 Kết quả khảo sát 29 Chương 2 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG” CỦA MÔN KHOA HỌC Ở LỚP 4 THEO QUAN ĐIỂM CỦA LÍ THUYẾT KIẾN TẠO 37 2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp ứng dụng CNTT trong dạy học chủ đề Vật chất và năng lượng môn Khoa học 4 theo quan điểm lý thuyết kiến tạo 37 2.1.1 Nguyên tắc phát huy vai trò thiết kế, định hướng, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi của người thầy 37 2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo khai thác các ưu thế của CNTT hỗ trợ việc dạy học chủ đề “Vật chất và năng lượng” trong môn Khoa học ở lớp 4 theo quan điểm kiến tạo 37
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính mềm dẻo, linh hoạt Error! Bookmark not defined
2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi, thiết thực và hiệu quả 37 2.2 Biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học chủ đề “Vật chất
và năng lượng” trong môn Khoa học ở lớp 4 theo quan điểm kiến tạo 38 2.2.1 Ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế tư liệu dạy học phục vụ dạy học chủ đề “Vật chất và năng lượng” trong môn Khoa học lớp 4 theo
lí thuyết kiến tạo 38 2.2.2 Sưu tầm tư liệu trên máy tính phục vụ dạy học chủ đề “Vật chất và năng lượng” trong môn Khoa học lớp 4 theo lí thuyết kiến tạo 7 2.2.3 Tổ chức dạy học chủ đề “Vật chất và năng lượng” trong môn Khoa học lớp 4 theo lí thuyết kiến tạo với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin 10 Kết luận chương 2: 22 Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 23
Trang 73.1 Mục đích thực nghiệm 23
3.2 Đối tƣợng và phạm vi thể nghiệm 23
3.3 Nội dung thực nghiệm 23
3.4 Tổ chức thực nghiệm 24
3.4.1 Lựa chọn bài học thực nghiệm 24
3.4.2 Công tác chuẩn bị 24
3.4.3 Cách tiến hành thực nghiệm 24
3.4.4 Cách tiến hành thực nghiệm 25
3.5 Kết quả thực nghiệm 25
3.6 Kết luận Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31 PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình xây dựng công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước cùng với sự phát triển vượt bậc về văn hóa và công nghệ yêu cầu phải đào tạo ra nguồn nhân lực dồi dào và chất lượng cao Vì thế ngành giáo dục của nước ta đang tiến hành đổi mới một cách toàn diện để đáp ứng được nhu cầu đó để tạo
ra những con người tích cưc, chủ động hòa nhập và phát triển Vai trò to lớn của giáo dục và con người đã được ghi rõ trong Nghị quyết TW 2 khóa VIII:
“Muốn tiến lên công nghiệp hóa - hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục và đạo tạo, phát huy nguồn lực con người” Trong những năm gần đây, việc đổi mới giáo dục đang thực hiện đổi mới một cách toàn diện từ nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học…để đáp ứng được nhu cầu của xã hội và nhu cầu của người học
Từ xa xưa đến nay, nền giáo dục của nước ta trải qua rất nhiều giai đoạn khác nhau Mỗi giai đoạn đều có sự điều chỉnh sao cho phù hợp với thời đại Tuy nhiên, một số triết lý giáo dục như “Tiên học lễ - hậu học văn”, “Học thầy không tày học bạn”…vẫn được lưu truyền qua nhiều thế kỉ Tư tưởng đó
là đúng nhưng nó sẽ làm cho nền giáo dục bị tụt hậu nếu không tiến hành đổi mới Vì thế vai trò của giáo dục càng quan trọng hơn nữa và là mối quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt giáo dục Tiểu học càng có vai trò quan trọng vì đây
là bậc học bắt đầu, nền tảng, sẽ hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài, là bước tiến vững chắc cho các bậc học tiếp theo Muốn làm được điều này ta phải tiến hành đồng bộ những vấn đề của bậc Tiểu học, đồng thời phải có nội dung và phương pháp thích hợp trong
đó đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoạt động học tập phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh là chủ đạo
Thực tiễn trong thời gian quan bên cạnh những thành tựu đạt được nền giáo dục của nước ta vẫn tồn tại những hạn chế nhất định Thực trạng việc
Trang 9dạy học hiện nay vẫn diễn ra theo lối truyền thống “cô giảng - trò nghe” chưa
có sự tương tác nhiều khiến cho học sinh thụ động trong quá trình tiếp thu kiến thức mới Trong việc dạy các môn học mục tiêu chính vẫn là cung cấp các kiến thức lí thuyết sách vở, học sinh chưa được thực hành và trải nghiệm thực tế nhiều Giáo viên vẫn đóng vai trò chủ đạo trong dạy học chính vì thế dẫn đến chất lượng dạy học còn thấp, chưa hiệu quả Mục tiêu đặt ra đó là phải tiến hành đổi mới, xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp với từng giai đoạn và độ tuổi
Để tiến hành đổi mới nền giáo dục của nước ta hiện nay trọng tâm phải tiến hành đổi mới phương pháp dạy học Phương pháp dạy học chính là cách
mà giáo viên sử dụng để học sinh có thể nắm được nội dung kiến thức một cách nhanh chóng Bên cạnh các phương pháp dạy học truyển thống như: phương pháp dạy học quan sát, phương pháp dạy học hỏi đáp…chúng ta có thể áp dụng các phương pháp dạy học mới trên nền tảng phát huy tích cực các
ưu điểm của phương pháp dạy học truyền thống với phương pháp dạy học mới Hiện nay có một số phương pháp dạy học đang được áp dụng để phát huy được tính tích cực của học sinh như: phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp dạy học dự án, dạy học kiến tạo… Ngoài ra việc kết hợp phương pháp dạy học khác nhau với các phương tiện dạy học đặc biệt
là việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học khiến cho học sinh chủ động trong việc học và tự tạo kiến thức mới cho bản thân mình trong quá trình học tập
Lý thuyết kiến tạo (LTKT) là một quan điểm dạy học hiện đại, tích cực,
đã và đang được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới Dạy học kiến tạo giúp người học chủ động, tích cực xây dựng kiến thức của bản thân dựa trên kinh nghiệm đã có và tương tác với môi trường học tập Dạy học kiến tạo không chỉ giúp người học nắm được kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo cần có mà quan trọng
Trang 10hơn là khả năng tư duy, sáng tạo của người học, giúp người học dễ dàng thích ứng với môi trường xã hội
Ở Tiểu học, để giúp các em hiểu biết về các vấn đề tồn tại trong cuộc sống xung quanh thì môn Khoa học sẽ cung cấp cho các em các kiến thức Chương trình môn Khoa học được dạy ở hai lớp: lớp 4 và lớp 5, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành phẩm chất, năng lực và đạo đức của con người và đáp ứng được mục tiêu giáo dục Đặc biệt khi dạy môn Khoa học có nhiều chủ đề đa dạng đòi hỏi tính đầy đủ và chính xác của những tri thức
Chủ đề Vật chất và Năng lượng trong môn Khoa học là một chủ đề có
tính thực tiễn cao Khi học chủ đề này sẽ phát huy được những kinh nghiệm
và hiểu biết vốn có của học sinh Từ những vốn hiểu biết còn sơ giản đó thông qua những bài học sẽ giúp cho học sinh có những kiến thức khoa học và logic Ngoài ra chủ đề này còn cung cấp cho học sinh các kiến thức về tự nhiên, động vật và thực vật, các sự vật hiện tượng xung quanh mà qua đó học sinh được trải nghiệm mình với cuộc sống tự nhiên, được hòa mình với thiên nhiên bao la rộng lớn và hình thành ý thức bảo vệ tự nhiên Vì thế chủ đề Vật chất
và năng lượng là một chủ đề học tập mang tính trải nghiệm cao, học sinh được thực hành tham gia vào các hoạt động để hình thành kiến thức cho bản thân và là nền tảng để học tập các môn tiếp theo ở bậc trung học cơ sở
Đứng trước thực trạng đó và nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục Tiểu học nói chung và môn học Khoa học trong trường Tiểu học nói riêng tôi xin đóng góp công sức của mình vào việc dạy Khoa học ở trường Tiểu học
thông qua việc nghiên cứu đề tài : “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy
học chủ đề vật chất và năng lượng của môn Khoa học lớp 4 theo lý thuyết kiến tạo”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất biện pháp ứng dụng CNTT trong dạy học chủ đề Vật chất năng lượng trong môn Khoa học lớp 4 theo lý thuyết kiến tạo
Trang 113 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học chủ đề Vật chất và năng lượng môn Khoa học 4 theo lý thuyết kiến tạo
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học chủ đề “Vật chất và năng lượng” trong môn Khoa học
ở Tiểu học với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm sáng tỏ cơ sở lí luận của ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học chủ đề Vật chất và năng lượng môn Khoa học 4 theo lý thuyết kiến tạo Tìm hiểu thực trạng dạy học chủ đề “Vật chất và năng lượng” trong môn Khoa học ở Tiểu học
Đề xuất biện pháp dạy học môn Khoa học có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
+ Trường Tiểu học Tiền Phong B- huyện Mê Linh - thành phố Hà Nội + Trường Tiểu học Đồng Tâm - thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
6 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất biện pháp ứng dụng CNTT trong dạy học chủ đề “Vật chất
và năng lượng” theo lý thuyết kiến tạo thì sẽ nâng cao chất lượng dạy và học môn Khoa học trong trường Tiểu học, đáp ứng được sự đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học hiện nay
Trang 127 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích tổng hợp nguồn tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của việc ứng dụng quan điểm kiến tạo trong môn Khoa học ở Tiểu học
- Phương pháp điều tra: Thiết kế phiếu điều tra, xin ý kiến giáo viên về thực trạng dạy học môn Khoa học ở lớp 4 theo một số quan điểm cơ bản của
lý thuyết kiến tạo với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
- Phương pháp quan sát: Thực hiện quan sát các hoạt động dạy và học của học sinh và giáo viên trên cơ sở đó xây dựng qui trình và thiết kế các bài giảng một cách phù hợp
- Phương pháp trò chuyện: Trao đổi trực tiếp với giáo viên giảng dạy
và quản lý về thực trạng dạy học môn Khoa học ở Tiểu học
8 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Đề xuất biện pháp dạy học chủ đề “Vật chất và năng lượng” môn Khoa học ở Tiểu học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Trang 13NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Quan điểm của lí thuyết kiến tạo
1.1.1.1 Khái niệm
Theo đại từ điển Tiếng Việt, “kiến tạo có nghĩa là “xây dựng nên” [11]
Như vậy, động từ “kiến tạo” chỉ hoạt động của con người tác động nên một đối tượng, một hiện tượng, một quan hệ nhằm mục đích biến chúng và sử dụng chúng như những công cụ ký hiệu để tạo nên các đối tượng, các hiện tượng, các quan hệ mới theo nhu cầu của bản thân
Quan điểm kiến tạo của Brooks (1993): “Quan điểm về kiến tạo trong
dạy học khẳng định rằng học sinh cần phải tạo nên những hiểu biết về thế giới bằng cách tổng hợp những kinh nghiệm mới vào trong những cái mà học đã
có từ trước đó Học sinh thiết lập nên các quy luật thông qua sự phản hồi trong mối quan hệ tương tác với những chủ thể và ý tưởng” [12]
Lương Việt Thái lại phân tích quan điểm về lý thuyết kiến tạo như sau:
“Trong quá trình học tập những ý tưởng, quan điểm của học sinh được bộc lộ, sử dụng, đánh giá và thách thức Nếu những thông tin mới mâu thuẫn với quan điểm hiện đại của học sinh thì họ phải điều chỉnh thay đổi cho phù hợp Ngoài
ra, để ý tưởng mới trở thành một bộ phận gắn bó hữu cơ với kiến thức cũ của người học cần tích cực xây dựng tạo lập những mối quan hệ giữa chúng” [7]
Theo Brandt (1997): “Lý thuyết kiến tạo (constructivion) là một lý
thuyết học dựa trên cơ sở nghiên cứu quá trình học tập của con người và dựa trên quan điểm cho rằng mỗi cá nhân tự xây dựng nên tri thức của riêng mình, không chỉ đơn thuần là tiếp nhận tri thức từ người khác”[1] Bàn về kiến tạo,
Giáo sư Tiến sĩ khoa học Nguyễn Bá Kim viết: “Học tập là quá trình người
học xây dựng kiến thức cho mình bằng cách thích nghi với môi trường sinh ra những mâu thuẫn, những khó khăn, những sự mất cân bằng” [9]
Trang 14Theo chúng tôi, kiến tạo chính là cách cá nhân người học tìm ra tri thức bằng cách vận dụng những hiểu biết của bản thân, dựa trên những kinh nghiệm và vốn hiểu biết đã có của người học để xây dựng kiến thức mới dưới
sự hỗ trợ của giáo viên để từ đó HS được chủ động tham gia bài học và tích cực hoạt động
1.1.1.2 Bản chất của lý thuyết kiến tạo
Lý thuyết kiến tạo trên cơ bản là một lý thuyết dựa trên quan sát nghiên cứu khoa học nhằm trả lời cho câu hỏi: “Con người học như thế nào?” Lý thuyết kiến tạo nói rằng con người kiến tạo những sự hiểu biết và tri thức về thế giới thông qua sự trải nghiệm và phản ánh Đó chính là khi chúng ta đối mặt với những điều mới mẻ, chúng ta phải điều ứng nó vứi những kinh nghiệm có từ trước Cũng có thể nó sẽ phá hỏng điều mà người học đang tin tưởng và loại bỏ chúng vì không thích đáng Lúc này, chính người học sẽ là người kiến tạo tri thức người học cần phải đưa ra những nghi vấn, đánh giá những gì mà họ đã biết, tức là đánh gia chính kinh nghiệm của mình
Bản chất của con đường dạy học kiến tạo này chính là lối tư duy phê phán, lý thuyết này chống lại cách dạy học giáo điều, truyền thống theo thuyết hành vi Vậy thế nào là hành vi? Dạy học theo thuyết hành vi cho rằng, người học bắt chước, thực hiện hành vi, thao tác mà người dạy đưa làm mẫu Các kiến thức được người dạy mang đến, cung cấp cho người học, vì vậy người học vô cùng thụ động Có thể ví người học như cốc không có nước đang đợi sẵn để người học rót nước vào Người dạy rót nhiều nước thì đầy, người học được nhiều kiến thức Ngược lại người dạy rót ít nước thì cốc nước vơi, người học được ít kiến thức Các phương pháp thuyết trình, giảng giải, phương pháp giải thích - minh họa, chính là các PPDH đặc trưng của thuyết hành vi
Dạy học theo LTKT là quan điểm, học thuyết về các hoạt động học của con người học phải dựa vào tri thức đã học (tri thức cũ) và vốn kinh nghiệm
sống của họ Theo Piaget thì bản chất của kiến tạo chính là sự thống nhất của
Trang 152 quá trình đồng hóa và điều ứng [8]
Đồng hóa là quá trình khớp thực tế với tổ chức nhận thức thực tại, người học sẽ áp dụng cái mình biết để nhận thức đặc tính của sự vật Nói theo cách khác, đồng hóa chính là sự thống nhất các thông tin mới vào cấu trúc tinh thần đang có sẵn Điều ứng là sự thay đổi của một cấu trúc tinh thần để thu thập thông tin mới Điều ứng liên quan những nhu cầu khớp với thực tế, mỗi sự vật cần có những đặc tính mà sớm muộn được tính đến, điều ứng xảy ra khi các cấu trúc hiện tại đã thất bại trong việc lý giải một vật một sự vật một cách thỏa đáng Kết quả điều ứng sẽ tổ chức lại tư duy dẫn tới một sự đồng hóa khác thỏa đáng hơn Đồng hóa và điều ứng đan kết chặt chẽ với nhau trong quá trình nhận thức Theo Piaget, thích nghi chính là sự cân bằng giữa đồng hóa và điều ứng Như vậy, học theo thuyết kiến tạo, chúng ta xây dựng nên hiểu biết cho chính mình và thế giới mà chúng ta đang sống Việc học tập chính là một quá trình thích ứng những khuôn mẫu đã có để hòa hợp với những kinh nghiệm mới
Người học không học bằng cách thu nhận một cách thụ động những kiến thức do người khác truyền thụ một cách áp đặt, mà bằng cách đặt mình trong một môi trường tích cực, phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề bằng cách đồng hóa hay điều ứng những kiến thức và kinh nghiệm đã có cho sự thích ứng với những tình huống mới, từ đó xây dựng hiểu biết cho bản thân
1.1.2 Dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo
1.1.2.1 Đặc trưng của dạy học theo lý thuyết kiến tạo
*Quá trình kiến tạo tri thức
Theo Vygotski: Khi nghiên cứu về sự phát triển các khái niệm khoa học
ở lứa tuổi trẻ em đã nhận thấy: Sự chuyển tiếp bên trong trình độ ở giai đoạn cấp cao quan hệ gần gũi với đối tượng vẫn còn được bảo toàn đối với các giai
Trang 16đoạn trước đó Có nghĩa là tri thức, khái niệm mới không phải được học sinh tiếp nhận bằng cách hủy bỏ cái cũ và thay thế nó Sự phát triển tri thức, khái niệm mới của học sinh theo con đường: Lúc đầu trẻ tạo ra một cấu trúc mới đối với một số ít khái niệm, khi đã làm chủ được cấu trúc mới này, trẻ bắt đầu cải tổ, biến đổi cấu trúc của tất cả các khái niệm sẵn có Cấu trúc khái quát mói mà trẻ tiếp cận được trong quá trình học tập, đã tạo điều kiện cho ý nghĩ của trẻ chuyển sang bình diện mới cao hơn Các khái niệm cũ cũng có sự thay
đổi cấu trúc khi tham gia vào các thao tác tư duy cấp cao hơn so với trước
Nội dung học tập trong dạy học kiến tạo là cái mà người học chiếm lĩnh
và biến nó thành kinh nghiệm của bản thân Nội dung học tập tồn tại khách quan với người học và nhờ đó mà người học đó thể đạt được mục tiêu học tập Mục tiêu học tập trong dạy học kiến tạo xuất phát từ bản thân người học khao khát đạt đến Chỉ những yếu tố nào của mục tiêu do người dạy thiết kế trở thành đối tượng hoạt động học tập thì mới thực sự trở thành mục tiêu bên trong của người học Chính vì thế, để gia tăng khả năng của người học trong việc chiếm lĩnh nội dung học tập cần phải làm cho nội dung học tập trở thành đối tượng của hoạt động học tập của con người trong quá trình học tập như hoạt động nhận thức, hoạt động giao tiếp, hoạt động vui chơi, hoạt động quản
lý tri thức
Như vậy, quá trình kiến tạo tri thức cũng gần như quá trình nhận thức linh hoạt độc đáo Quá trình này đòi hỏi sự linh hoạt, tích cực, sáng tạo của người học Quá trình kiến tạo tri thức trong dạy học kiến tạo mang lại cho học sinh tính chủ động, nâng cao sự hiểu biết nhờ chính vào năng lực của bản thân
*Tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy học kiến tạo
Trong dạy học kiến tạo, mọi tri thức mới đều được cài đặt vào trong các tình huống mà nếu không chủ động khám phá, tìm tòi học sinh không thể xây dựng được tri thức của riêng mình Như vậy tính linh hoạt của nhận thức của
Trang 17học sinh được phát huy một cách tối đa, nhận thức luôn bị kích hoạt do sự thay đổi căn bản của môi trường học tập, tri thức của học sinh là loại tri thức sống động bắt nguồn từ chính những yếu tố cấu thành hoàn cảnh cụ thể của học tập và sự phát triển của cá nhân học sinh Tính chủ động và tích cực của học sinh trong việc đón nhận tình huống học tập mới, chủ động trong việc huy động kiến thức, kỹ năng đã có vào khám phá, giải quyết các tình huống học tập mới và được thể hiện qua những nội dung sau [10],[15]:
- Học sinh phải chủ động bộc lộ những quan điểm và những khó khăn của bản thân khi đứng trước tình huống học tập mới Học sinh đạt được tri thức, tư duy và nhân cách qua quá trình dự đoán, kiểm nghiệm, thất bại từ đó rút ra bài học cần thiết
- Học sinh phải chủ động trong việc thảo luận, trao đổi thông tin với bạn học và giáo viên Việc trao đổi này phải xuất phát từ nhu cầu của chính của học sinh trong việc tìm những giải pháp để giải quyết tình huống học tập mới hoặc khám phá sâu hơn các tính huống đó
- Học sinh tự điều chỉnh lại kiến thức của bản thân sau khi lĩnh hội được các tri thức mới, thông qua giải quyết các tình huống học tập Bên cạnh đó học sinh không chỉ chú trọng vào quá trình thu nhận kiến thức mà còn nắm cách học, mô tả được những nhiệm vụ cần thực hiện để giải quyết vấn đề
- Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đặc biệt là các phần mềm dạy học, dạy học dựa trên các tài nguyên khác nhau nên học sinh có kỹ năng sử dụng thành thạo các phương tiện học tập thành thạo như biết khai thác thông tin trên Internet, sử dụng các phần mềm, làm bài tập trên các trang Wed giành cho giáo dục
- Học sinh có nỗ lực biến những ý tưởng trong học tập thành sản phẩm
cụ thể Trong quá trình học tập kiến tạo, học sinh là trung tâm của quá trình nhận thức Học sinh tự học tập, tìm kiếm dựa trên sự hiểu biết của mình với
Trang 18sự hỗ trợ của giáo viên và từ học sinh có thể tự đánh giá được người khác cũng như bản thân mình
1.1.2.2 Môi trường học tập mang tính kiến tạo
Cơ sở để xây dựng nên mô hình môi trường học tập kiến tạo là khái niệm
“vùng phát triển gần nhất”
Theo Vygotsky mọi ý đồ tách rời dạy học với sự phát triển, coi hai yếu
tố này độc lập nhau, hoặc cho rằng dạy học trùng khớp với sự phát triển, đều dẫn đến sự sai lầm, làm hạn chế vai trò của dạy học Nếu hiểu đúng đắn vấn
đề thì dạy học và phát triển phải thường xuyên quan hệ hữu cơ với nhau, nhưng dạy học không phải là yếu tố đi sau sự phát triển, là điều kiện bộc lộ
nó Ngược lại, quá trình phát triển không trùng khớp với dạy học, dạy học
không đi sau nó mà đi trước nó, quá trính phát triển phải đi liền sau quá trình
dạy học, tạo ra “vùng phát triển gần nhất” [7] Như vậy, trong dạy học giáo
viên cần tạo ra môi trường dạy học phù hợp tạo điều kiện cho người học tạo dựng kiến thức cho mình và được định nghĩa như sau [8]
“Môi trường học kiến tạo là nơi mà HS có thể làm việc độc lập với nhau cũng như hỗ trợ lẫn nhau trong việc sử dụng đa dạng các công cụ và nguồn thông tin để cùng nhau theo đuổi những mục tiêu học tập với sự trợ giúp của GV
Hình 1 Mô hình môi trường học tập theo lý thuyết kiến tạo [8]
GV tạo môi trường và nội dung học tập
phức hợp
Trang 19Môi trường học tập kiến tạo là môi trường mang tính cởi mở và hợp tác trong quá trình dạy học, là môi trường học tập thân thiện giữa giáo viên và học sinh, ở đó có sự hợp tác giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh và học sinh, giữa học sinh và tài liệu học tập Môi trường học tập nói chung và môi trường học tập mang tính kiến tạo nói riêng Nhiệm vụ của giáo viên là định hướng, tổ chức, điều khiển quá trình học tập của học sinh, giáo viên giúp đỡ học sinh học và hiểu, làm nảy sinh tri thức mới theo chức năng là một người hướng dẫn, cố vấn Nhiệm vụ của học sinh là học thông qua sự tương tác với môi trường Khi học sinh làm việc với những đối tượng trong môi trường có thể xảy ra hai trường hợp
Môi trường học tập mang tính kiến tạo có đặc trưng là sự hợp tác và tính mâu thuẫn Nhờ hai đặc trưng này mà người học tích cực, chủ động và sáng tạo kiến tạo tri thức mới Do đó tri thức mà học sinh tích lũy được sẽ bền vững, hữu ích và có giá trị hơn
1.1.2.3.Vai trò của giáo viên trong dạy học theo lý thuyết kiến tạo
Theo các quan điểm về lý thuyết kiến tạo trong dạy học thì người thầy phải là người tổ chức, điều khiển sự thảo luận của học sinh trong quá trình học tập, đồng thời người thầy giáo phải là người thiết kế những chỉ dẫn, chuẩn bị cho học sinh những cơ hội để tự xây dựng cho mình những tri thức mới Trong quá trình dạy học, người thầy hãy tạo ra môi trường học tập mang tính kiến tạo, ví như một bầu không khí vui vẻ và thoải mái trong lớp học, tất nhiên điều này là một trong một giới hạn nhất định, thầy giáo phải là người xác nhận tính đúng đắn của tri thức mới mà học sinh thu nhận được
Trong quá trình học tập theo quan điểm kiến tạo các tri thức mà học sinh nhận được là kết quả hoạt động của cá nhân hoặc do nhóm học sinh hợp tác với nhau để tìm ra Do vậy, với trình độ của mình học sinh không phải luôn luôn đánh giá đúng đắn về các tri thức đó cũng như khó thấy được vị trí của
Trang 20kiến thức đó trong chương trình
Từ những phân tích trên ta thấy được, trong quá trình dạy học theo quan điểm kiến tạo, vị trí trung tâm trong dạy học chuyển từ giáo viên sang học sinh, tức là theo “Chuyển từ sư phạm độc thoại, áp đặt, quyền uy sang sư phạm đối thoại, dân chủ, thầy phải biết hướng dẫn cho trò để trò biết quan sát, chủ ý, tò mò phát hiện ra mâu thuẫn bằng những mẩu đối thoại lý thú, ngôn ngữ của học trò trên con đường tiếp cận kiến thức Giữa học trò với nhau cũng nên có những sinh hoạt tập thể từ 2 người trở lên để trao đổi với nhau những điều như vậy” [9] Như vậy, giáo viên là người hướng dẫn, cố vấn, trọng tài luôn đi bên cạnh hỗ trợ học sinh kiến tạo tri thức mới, cố vấn khi học sinh gặp nhiều khó khăn và là trọng tài trong các cuộc tranh luận của học sinh Để làm được điều này đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức vững chắc, thông thạo các con đường tìm kiếm tri thức Không chỉ có thể, giáo viên còn
là người dẫn dắt học sinh, động viên học sinh khi gặp khó khăn, trợ giúp khi học sinh cần đến Giáo viên là người thầy và là người bạn của học sinh
1.1.2.4 Các loại kiến tạo trong dạy học
Theo nhiều nhà nghiên cứu có 2 loại lý thuyết ảnh hưởng đến giáo dục là: thuyết kiến tạo cơ bản và thuyết kiến tạo xã hội [14]
- Kiến tạo cơ bản (Radial contructivism) đề cao vai trò của mỗi cá nhân trong quá trình nhận thức và cách thức xây dựng tri thức cho bản thân Mặt mạnh của loại kiến tạo này là khẳng định vai trò chủ đạo của học sinh trong quá trình học tập Tuy nhiên do coi trọng quá vai trò của cá nhân mà học sinh
bị đặt trong tình trạng cô lập, vì thế kiến thức của học sinh thiếu tính xã hội Các con đường kiến tạo cơ bản được hình thành dựa trên các công trình
nghiên cứu của Ernst von Grasersfeld Điểm cần lưu ý trong thuyết kiến tạo
cơ bản chính là nguồn gốc của kiến thức: “Kiến thức là kiến thức của người
học chứ không phải kiến thức của thế giới bên ngoài” (Straver 1995)
Trang 21- Kiến tạo xã hội (Social contructivism) nhấn mạnh đến vai trò của các yếu tố văn hóa, các điều kiện xã hội và sự tác động của các yếu tố đó đến sự hình thành kiến thức Kiến tạo xã hội xem xét các cá nhân thông qua mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực xã hội Nhân cách của học sinh được hình thành thông qua sự tương tác của họ với những người khác Người có công
lớn xây dựng nên thuyết kiến tạo xã hội là L.S.Vygotsky, dựa trên cơ sở vững chắc là triết học Mác - Lênin Vigotsky đực biệt nhấn mạnh đến vai trò của hoạt động xã hội trong quá trình hình thành kiến thức “Con đường từ đồ vật
đến trẻ em và từ trẻ em đến đồ vật đều đi qua người khác Con đường đi qua người khác là con đường trung tâm duy nhất của sự phát triển trí tuệ” Ông
cho rằng sự thích ứng của tâm lý trẻ và môi trường được thức hiện bằng các phương tiện xã hội từ các môi trường xung quanh
1.1.2.5 Mô hình dạy học kiến tạo
Dạy học theo quan điểm của thuyết kiến tạo nghĩa là giáo viên hướng dẫn để học sinh tự khám phá ra tri thức, thực hiện những nhiệm vụ học tập, từ
đó kiến tạo tri thức cho bản thân Vì vậy, các kiểu dạy học như: dạy học khám phá, dạy học hợp tác, dạy học giải quyết vấn đề… đều được coi là các phương pháp dạy học vận dụng quan điểm của lý thuyết kiến tạo Đã có nhiều tác giả nghiên cứu vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học một số môn học ở trường phổ thông Nhưng ở Việt Nam vẫn còn ít tác giả nghiên cứu vận dụng thuyết kiến tạo trong dạy học
Trong dạy học, học sinh được khuyến khích sử dụng các phương pháp riêng của họ để kiến tạo tri thức chứ không phải chấp nhận lối tư duy của người khác Như vậy, tri thức được kiến tạo một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ không phải được tiếp nhận một cách thụ động từ môi trường bên ngoài Trong môi trường học tập kiến tạo, học sinh được học nhiều hơn khi thực sự được cuốn hút vào việc học, thay vì chỉ lắng nghe thụ động, nghĩa
Trang 22là thuyết kiến tạo coi trọng vai trò chủ động và tích cực của học sinh trong quá trình học tập để tạo nên tri thức cho bản thân, đặc biệt tư duy của học sinh dần trở nên trừu tượng và phát triển hơn, học sinh được thúc giục để hoạt động trong tiến trình học tập Vai trò trung tâm của quá trình dạy học được chuyển từ giáo viên sang học sinh, giáo viên đóng vai trò là người cố vấn, dàn xếp, nhắc nhở và giúp HS phát triển, đánh giá những hiểu biết và việc học của mình Cả giáo viên và học sinh không chỉ xem kiến thức là một thứ để nhớ mà còn xem kiến thức là một cấu trúc động Quy trình dạy học theo thuyết kiến tạo có mô hình như sau [10]:
Theo quy trình này, việc dạy một kiến thức mới không phải bắt đầu từ việc giáo viên thông báo kiến thức đó mà phải bắt đầu từ việc khám phá của học sinh về kiến thức cần lĩnh hội Học sinh có cơ hội bộc lộ những quan điểm của mình, lắng nghe quan điểm của bạn, được tranh luận, thống nhất ý kiến Qua lắng nghe, theo dõi những quan điểm của học sinh, giáo viên sẽ phát hiện ra nhiều yếu tố bất ngờ hoặc khác thường, giáo viên tôn trọng những ý kiến của học sinh, khuyến khích học sinh lựa chọn con đường đi đúng để tiếp cận được tri thức Kết quả của hoạt động đó, học sinh có được một hệ thống kiến thức phù hợp với yêu cầu, đồng thời các em tìm ra được con đường chiếm lĩnh tri thức
Dạy học theo mô hình trên đã chứa đựng sự thay đổi quan điểm là dạy học phải luôn chú ý tới những tri thức và kỹ năng đã có của học sinh, đó là một trong những tiền đề để tổ chức dạy học những kiến thức mới
Trang 231.1.3 Chủ đề “Vật chất và năng lượng” trong môn Khoa học ở Tiểu học
1.1.3.1 Mục tiêu của chủ đề “Vật chất và năng lượng” trong môn Khoa học ở Tiểu học
Về kiến thức
Tìm hiểu, nhận biết được đặc điểm, tính chất của một số sự vật hiện tượng trong tự nhiên: nước, âm thanh, ánh sáng, nhiệt và vai trò của chúng đối với đời sống của con người
Về kĩ năng
Bước đầu hình thành và phát triển kĩ năng quan sát, làm một số thí nghiệm thức hành đơn giản
Thu thập và xử lí thông tin thu thập được trong quá trình học
Phân tích, so sánh rút ra những dấu hiệu chung và riêng của sự vật, hiện tượng đơn giản trong thế giới tự nhiên
Về thái độ
- Luôn có ý thức quan tâm, ham hiểu biết, tìm hiểu hứng thú nguời học
tập môn Khoa học tập môn Khoa học và vận dụng kiến thức vào cuộc sống
- Có ý thức tham gia vào các hoạt động trong gia đình, trường học và cộng đồng để bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn môi trường
1.1.3.2 Nội dung của chủ đề “Vật chất và năng lượng” trong môn Khoa học ở lớp 4
Chủ đề “Vật chất và năng lượng” là gồm những kiến thức về các hiện tượng, các dạng năng lượng trong tự nhiên, học sinh bắt đầu được làm quen ở lớp 4 Những kiến thức đó được lựa chọn ở mức độ đơn giản, chỉ trình bày hiện tượng về mặt định tính, phù hợp với lứa tuổi HS Tiểu học Nội dung chương trình môn Khoa học lớp 4 được xây dựng theo cấu trúc bắt đầu, mở rộng và nâng cao dần Bao gồm 37 tiết, tương ứng với 33 bài và 4 bài ôn tập - kiểm tra [2]
Trang 24Trong chủ đề này đề cập đến các nguồn năng lượng như: nước, gió, không khí, ánh sáng, nhiệt
+ Nội dung về nước: học sinh được học các tính chất của nước, các thể của nước tồn tại trong tự nhiên, quá trình hình thành mây và mưa, sơ đồ vòng tuần hoàn nước trong tự nhiên, tìm hiểu vai trò, thực trạng và các biện pháp
để bảo vệ nguồn nước tránh hiện tượng ô nhiễm nguồn nước
+ Nội dung về không khí học sinh học cách nhận biết có không khí, tìm hiểu các tính chất và thành phần của không khí, vai trò và biện pháp để bảo vệ bầu không khí trong sạch
+ Nội dung về ánh sáng bao gồm vai trò của ánh sáng đối với đời sống
và việc bảo vệ đôi mắt của mình
+ Nội dung các bài về nguồn năng lượng nhiệt cung cấp cho học sinh những kiến thức về cách nhận biết nóng, lạnh, tính chất của nhiệt, các nguồn nhiệt và vai trò của nhiệt đối với cuộc sống xung quanh
Như vậy trong chủ đề này, mỗi bài học được trình bày theo thứ tự khám phá, nhận biết, vận dụng để HS
+ Khám phá về các dạng vật chất, năng lượng thông qua các tranh ảnh, thí nghiệm, thực hành, trò chơi
+ Nhận biết các dạng vật chất và năng lượng thông thường (rút ra kết luận từ hoạt động khám phá)
+ Vận dụng kiến thức về vật chất và năng lượng để hiểu, biết những ứng dụng trong cuộc sống và có các kĩ năng cần thiết cho cuộc sống của bản thân
và gia đình
Các dụng cụ trong các thí nghiệm đơn giản, dễ kiếm, dễ làm như chai,
lọ, khay, thìa, nên hầu hết các thí nghiệm trong chương trình đều có thể thực hiện được ví dụ như lớp 4 “Nước có tính chất gì?” (Bài 20), “Nước bị ô nhiễm” (Bài 25), “Không khí gồm những thành phần nào” (Bài 32 Những thí nghiệm đơn giản dễ thực hiện này sẽ khơi dậy trí tò mò, ham hiểu biết của HS
và giúp các em học tập tích cực [2]
Trang 25Trò chơi khoa học cũng được đề cập nhiều trong chương trình Các trò chơi hấp dẫn và dễ thực hiện với HS, Ví dụ: các trò chơi như “Thi thổi bong bóng” (Bài 31), “Chơi chong chóng” - (Bài 37) hoặc “Nói chuyện qua điện thoại” - (Bài 42) tạo được không khí vui vẻ và hấp dẫn cho giờ học
1.1.4 Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học Khoa học theo lý thuyết kiến tạo
1.1.4.1 Khái niệm công nghệ thông tin
Công nghệ Thông tin viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information
Technology hay là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tínhvà phần
mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin
Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ Thông tin được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin
là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác
và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội"
Thuật ngữ "Công nghệ Thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong
bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review Hai tác giả của bài viết,
Leavitt và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology - IT) [3] Các lĩnh vực chính của công nghệ thông tin bao gồm quá trình tiếp thu,
xử lý, lưu trữ và phổ biến hóa âm thanh, phim ảnh, văn bản và thông tin
số bởi các vi điện tử dựa trên sự kết hợp giữa máy tính và truyền thông Một vài lĩnh vực hiện đại và nổi bật của công nghệ thông tin như: các tiêu chuẩn Web thế hệ tiếp theo, sinh tin, điện toán đám mây, hệ thống thông tin toàn cầu, tri thức quy mô lớn và nhiều lĩnh vực khác Các nghiên cứu phát triển
Trang 26chủ yếu trong ngành khoa học máy tính
1.1.4.2 Tác dụng của công nghệ thông tin trong dạy học Khoa học ở Tiểu học theo quan điểm kiến tạo
Andee Rubin (1996) từng khẳng định: trên thực tế việc học tập vẫn có thể diễn ra mà không sử dụng CNTT và chúng ta thường thực hiện như vậy Nhưng việc ứng dụng CNTT trong dạy học có vai trò hết sức đặc biệt Andee Rubin đã phân tích 12 ứng dụng mà CNTT đã tạo nên sự hỗ trợ đắc lực trong dạy học bao gồm: Công cụ xử lí thông tin cơ bản (Generic information handling tools) Thí nghiệm ảo (Real - time data acquisition/ Microcomputer), Trò chơi giáo dục (Educational games), Công cụ nhận thức (Cognitive tools), Gia sư thông minh (Intelligent tutors), Môi trường kiến tạo (Contruction enviroments), Hệ thống học tập tích hợp (Computer - aided instruction and integrated learning systems) [5]
Cụ thể hơn, trong dạy học Khoa học ở Tiểu học, có thể ứng dụng CNTT
ở các phương diện [13]
GV và HS sử dụng Internet để tra cứu thông tin ở các thư viện điện tử, cập nhật thông tin mới, trao đổi với bạn bè, đồng nghiệp ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới vào một thời điểm bất kì
Đối với HS, thế giới tri thức được mở rộng hầu như vô hạn, họ không bị giới hạn bởi nguồn tri thức (hầu như duy nhất) của thầy giáo trên lớp vói
những cuốn sách giáo khoa nữa, điều đó mở ra khả năng phát triển năng lực
tự học, tự tìm kiếm tri thức, làm việc độc lập của từng HS Năng lực tự học, tự nghiên cứu của HS được phát triển hết sức thuận lợi
Rõ ràng với việc sử dụng Internet trong dạy học Khoa học giúp HS thu thập được thông tin với khối lượng lớn, giúp cho việc học của học sinh được thuận lợi, dễ dàng và nhanh chóng hơn.Ngoài ra, giáo viên cũng có thể sử dụng Internet và các phần mềm công cụ xây dựng các video clip nhằm định
Trang 27hướng học tập, thiết kế các hoạt động, mô phỏng các hiện tượng trong tự nhiên, thiết kế các bước tiến hành của thí nghiệm đơn giản, đề xuất giải pháp
để cho học sinh đi đúng hướng trong học tập
Khi làm bài tập trên máy, HS sẽ được kiểm soát, được giúp đỡ và được đánh giá tại chỗ Giúp học sinh đi sâu vào các phương pháp học tập nghiệm cứu, phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu các hiện tượng mô phỏng, tổ chức thực hành với các thí nghiệm ảo Nhờ đó, hiệu quả ứng dụng CNTT trong dạy học Khoa học được tăng lên rõ rệt Bên cạnh đó, HS cũng có thể ứng dụng CNTT để xử lí thông tin, phát biểu kết quả một cách nhanh chóng, hấp dẫn và sinh động
1.1.4.3 Những thách thức khi sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ trong việc dạy Khoa học ở Tiểu học
Theo Trần Khánh Đức (2007) và Nguyễn Hoài Anh (2008) những thách thức khi sử dụng CNTT trong lớp học nói chung và trong dạy học kiến tạo nói riêng bao gồm:
* Đối với giáo viên:
- Việc ứng dụng CNTT trong dạy học kiến tạo phải đòi hỏi các trang thiết bị hiện đại Điều này có nghĩa là khi cơ sở vật chất không đầy đủ thì không thể ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và trong dạy học kiến tạo nói riêng
- Nhà trường có cơ sở hạ tầng đầy đủ cho việc ứng dụng CNTT trong dạy học, nhưng nếu giáo viên chưa được hướng dẫn để sử dụng chúng thì không thể đạt hiệu quả như mong muốn
- Việc chuẩn bị cho một tiết dạy theo quan điểm của lí thuyết kiến tạo với sự ứng dụng CNTT tốn nhiều thời gian GV thiếu thời gian tìm hiểu và thiết kế bài giảng có sự hỗ trợ của máy tính cũng như thiếu tài chính để mua các phần mềm giáo dục cần thiết
* Đối với học sinh
- Học sinh gặp khó khăn khi gặp những thao tác trên máy tính Học sinh
Trang 28thao tác trên máy tính còn chậm, chưa chính xác Học sinh chưa nắm hết được các chức năng cơ bản của các nút trên bàn phím máy tính Khả năng tìm thông tin, kiến thức còn hạn chế, chưa biết chọn lọc những kiến thức phù hợp cho bài học
- Các phần mềm dạy học bằng Tiếng Việt ít, học sinh phụ thuộc vào máy tính Hiện nay khi đa số các phần mềm đều có nguồn gốc từ nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng chủ yếu là Tiếng Ạnh Nếu học sinh không hiểu được thì sẽ gặp khó khăn trong quá trình sử dụng Việc sử dụng quá mức, tất cả mọi hoạt động đều diễn ra trên máy tính sẽ dẫn đến tình trạng học sinh ngại suy nghĩ, thụ động trong quá trình thu thập kiến thức
1.1.5 Đặc điểm của học sinh lớp 4
1.1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 4
Học sinh Tiểu học có độ tuổi bắt đầu từ 6 đến 11 tuổi Hoạt động học trở thành hoạt động chính của các em Do đó so với trẻ mẫu giáo, học sinh Tiểu học có nhiều biến đổi về thể chất, hoạt động, sự phát triển nhận thức, ngôn ngữ [3] [4]
- Hệ thần kinh: cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy
của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ, Dựa vào cơ sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em
Về tri giác: Học sinh lớp 4 đã bắt đầu có khả năng phân tích các sự vật
hiện tượng xung quanh chúng Khi đứng trước các sự việc, học sinh chủ động hơn trong quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất của vấn đề Học sinh biết
đi sâu vào từng chi tiết rồi mới khái quát vấn đề
Về trí nhớ: Trí nhớ có chủ định phát triển dần, trẻ có khả năng ghi nhớ
những từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên hiệu quả ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lí hay
Trang 29hứng thú của các em Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quát và đơn giản hóa vấn đề, giúp các em nắm được đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ Các từ ngữ diễn đạt cần ngắn gọn, dễ hiểu,việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các bài học cũng là phương tiện giúp trẻ ghi nhớ một cách nhanh chóng
Về ngôn ngữ: Hầu hết các học sinh Tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo
Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 4 thì ngôn ngữ viết
đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, trong quá trình dạy học theo quan điểm kiến tạo ngôn ngữ nắm vai trò là yếu tố quan trọng Nó giúp cho học sinh có thể bộc lộ những quan điểm, phán đoán của mình về vấn đề chuẩn bị được học Thông qua
đó, học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức và áp dụng tốt trong cuộc sống
Về sự phát triển nhận thức: học sinh đã có khả năng tri giác tổng hợp,
khả năng chú ý của trẻ đã bắt đầu nhưng vẫn còn ở mức thấp Vì vậy, nếu bài học không sinh động, hấp dẫn thì học sinh sẽ không tập trung vào bài học Do
đó, nhiệm vụ của giáo viên là phải sử dụng các hình ảnh trực quan, tư liệu, video sống động để khơi gợi trí sáng tạo, khơi dậy kiến thức, học sinh chủ động tìm ra kiến thức trọng tâm của bài học
1.1.5.3 Khả năng học tập của học sinh theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo
Nhìn chung ở Tiểu học các hoạt động nhận thức đã và đang hình thành ở
Trang 30mức độ ban đầu Tư duy của học sinh chủ yếu là tư duy cụ thể, do đó những hình tượng và mô tả trực quan thường là cơ sở cho những phán đoán của học sinh về các dấu hiệu và các thuộc tính của các sự vật, hiện tượng Chính đặc điểm này chi phối rất lớn tới quá trình nhận thức của các em Khi một vấn đề, hiện tượng nào đó các em thường đánh giá nó qua vẻ bề ngoài, qua các kinh nghiệm mà các em tích lũy được trong cuộc sống Tuy nhiên, vốn sống, vốn kinh nghiệm đó không phải lúc nào cũng đúng, cũng chính xác Do đó việc tìm hiểu quan tâm đến vốn tri thức kinh nghiệm của học sinh trước khi dạy học là một vấn đề quan trọng Nó giúp cho giáo viên thấy được những nhận thức đúng đắn của học sinh để phát triển, đặc biệt còn phát hiện ra những sai lầm, lệch lạc trong nhận thức để kịp thời điều chỉnh và sửa chữa Hơn nữa, việc học sinh nhận ra những sai lầm rồi tự điều chỉnh sẽ giúp các em ghi nhớ kiến thức và hiểu vấn đề một cách sâu sắc hơn Điều này hoàn toàn phù hợp với việc quan tâm, chú ý tới những hiểu biết, vốn kinh nghiệm ban đầu của học sinh trong dạy học kiến tạo
Mặt khác, chú ý của các em còn thấp Các em khó có thể tập trung vào một vấn đề nếu như không hấp dẫn Các em rất thích hoạt động, thích trải nghiệm và tham gia vào trong quá trình học tập hơn là ngồi nghe giáo viên giảng Do đó, nếu trong quá trình dạy học có sự phối hợp tương tác giữa giáo viên và học sinh, giữa người học với môi trường học tập sẽ có tác dụng rất lớn đến quá trình tư duy của học sinh
Như vậy các đặc điểm tâm lý và trình độ nhận thức của học sinh có những yếu tố thuận lợi cho việc vận dụng quan điểm của lí thuyết kiến tạo trong dạy học Điều này chứng tỏ rằng: Chúng ta hoàn toàn có thể vận dụng các quan điểm của lí thuyết kiến tạo để tổ chức quá trình dạy học ở Tiểu học
1.1.6 Sử dụng công nghệ thông tin trong việc hỗ trợ dạy học chủ đề “Vật chất và năng lượng” môn Khoa học ở lớp 4
Trang 311.1.6.1 Các hình thức sử dụng CNTT hỗ trợ dạy học chủ đề “Vật chất và năng lượng”
Theo Nguyễn Quang Lạc, Lê Công Triêm (1992), Nguyễn Bá Kim (2007) [3] với vai trò là công cụ hỗ trợ dạy học, CNTT được sử dụng với các hình thức sau đây:
Hình thức 1: Giáo viên trình bày bài dạy có sự hỗ trợ của CNTT Ngoài máy tính điện tử, phương tiện thường dùng đó là máy chiếu multimedia và phần mềm trình diễn PowerPoint
Hình thức 2: Học sinh làm việc với trực tiếp với CNTT dưới sự hướng dẫn và kiểm soát chặt chẽ của các thầy cô giáo
- Ban đầu, bạn nên dạy trẻ cách tiếp xúc với máy vi tính thông qua việc tập đánh máy 10 ngón hoặc làm toán, vẽ tranh trên máy
- Có thể giới thiệu cho trẻ một số trò chơi đơn giản, gần gũi với suy nghĩ của học sinh, giới thiệu cách làm bài tập hay trả lời các câu hỏi trên máy do giáo viên đưa ra
- Hạn chế đến mức tối đa việc trẻ tiếp xúc với các trò chơi có tính bạo lực cao hoặc gây kích thích thần kinh
Sự kiểm soát chặt chẽ của giáo viên được thể hiện ở chỗ khi học sinh sử dụng máy vi tính, hay Internet để tìm kiếm các thông tin giáo viên cần quan sát học sinh làm việc, cung cấp cho học sinh một số trang web để học sinh vào tìm kiếm Ngoài ra, giáo viên cũng có thể kiểm soát bằng cách dựa vào các bạn học sinh bên cạnh để kiểm tra bạn đang làm gì, tránh cho trẻ không tập trung vào làm việc hay vào những trang web không lành mạnh
Hình thức 3: Học sinh học tập độc lập nhờ CNTT, đặc biệt là nhờ những chương trình máy tính, các cuộc thi trên Internet
- Trong lớp học giáo viên cũng có thể lập các trang web học tập dành riêng cho lớp học, đưa ra những yêu cầu hằng ngày và học sinh sẽ tự thực hiện
Trang 32- Thành lập các diễn đàn trên mạng, mỗi tuần giáo viên có thể đưa ra một chủ đề cho học sinh cùng thảo luận
- Tham gia các cuộc thi Olimpic Toán, Tiếng Việt, Khoa học qua mạng , cuộc thi Trạng Nguyên nhỏ tuổi qua mạng… từ đó để nâng cao kiến thức, hình thành phản ứng nhanh qua các phần thi
Nhìn chung trong điều kiện nước ta hiện nay, việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học kiến tạo đặc biệt với môn Khoa học chủ yếu sử dụng
ở hình thức 1 và hình thức 2, còn hình thức 3 có phát huy được tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập, nhưng do nhiều nguyên nhân nên còn ít được sử dụng
1.1.6.2 Các hướng khai thác CNTT hỗ trợ dạy học chủ đề “Vật chất và năng lượng”
Đối với giáo viên Tiểu học, CNTT có thể ứng dụng trong thiết kế trong: thiết kế bài giảng, ứng dụng các phần mềm trong giảng dạy các môn học, tra cứu thông tin, tài liệu, sử dụng internet, email trao đổi tri thức và kinh nghiệm giảng dạy…
Đối với học sinh Tiểu học, CNTT chủ yếu dùng trong: tra cứu tài liệu, tìm kiếm tranh ảnh trên internet, trao đổi bài qua các diễn đàn trên website nhà trường, xây dựng bản báo cáo…
Để sử dụng CNTT trong chủ đề “Vật chất và năng lượng” ở lớp 4 theo lí thuyết kiến tạo, giáo viên có thể khai thác CNTT theo hai hướng sau:
Hướng 1: Khai thác và sử dụng các sản phẩm của các phần mềm dạy học có sẵn nhằm hỗ trợ dạy học theo lí thuyết kiến tạo trong chủ đề “Vật chất
và năng lượng” ở lớp 4
Khá nhiều các phần mềm dạy học được bán rộng rãi trên thị trường, các
đồ dùng dạy học ảo có sẵn trên các trang Web cho phép giáo viên dù không
có thời gian hoặc không đủ khả năng tin học lựa chọn và sử dụng các ứng
Trang 33dụng CNTT trong giờ học theo lí thuyết kiến tạo
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều các phần mềm dạy học khác nhau Mỗi phần mềm đều có các tính năng và cách sử dụng riêng Các phần mềm dạy học có sẵn có thể không đầy đủ và không theo ý đồ sư phạm của giáo viên Khi đó, nếu có đủ khả năng tin học nhất định giáo viên có thể tự thiết kế theo ý mình Hiện nay một số phần mềm được giáo viên sử dụng nhiều như : PowerPoint, Violet, Lecture Maker, Adobe Presenter, …
Ngoài ra giáo viên cũng có thể sử dụng một số các phần mềm công cụ khác như Macromedia Flash, Geo Gebra …để thiết kế, ứng dụng CNTT trong dạy học theo lí thuyết kiến tạo để học sinh chủ động, phát hiện và tìm ra kiến thức mới
Hướng 2: Sử dụng các phần mềm công cụ để thiết kế các ứng dụng CNTT hỗ trợ cho việc dạy chủ đề “Vật chất và năng lượng” ở lớp 4 theo lý thuyết kiến tạo
Hiện nay trên ngoài thị trường có rất nhiều các phần mềm hỗ trợ dạy học khoa học Nhưng đa số giáo viên thường dùng các phần mềm đó hỗ trợ việc dạy học trên lớp và ở nhà cho học sinh.Giáo viên thường sử dụng để thiết kế các bài tập cho học sinh, thiết kế trò chơi, video hoặc bài giảng điện tử trong quá trình Trong đó mỗi phần mềm lại có những chức năng và tác dụng khác nhau:
- Phần mềm PowerPoint thường dùng để thiết kế các bài giảng điện tử Với các slide chứa các nội dung bài học được thể hiện bằng các hình ảnh, màu sắc và hiệu ứng giúp cho bài giảng linh hoạt và hấp dẫn
- Để thiết kế trò chơi trên máy tính hiện nay các giáo viên thường dùng phần mềm Macromedia Flash, Geo Gebra …Các trò chơi có thể thiết kế trong chủ đề “Vật chất và năng lượng” ở môn Khoa học lớp 4 với các trò chơi như
“Thi thổi bong bóng”(Bài 31), “Chơi chong chóng” - (Bài 37) hoặc “Nói chuyện qua điện thoại” - (Bài 42) tạo được không khí vui vẻ và hấp dẫn cho giờ học
Trang 34- Việc thiết kế các bài tập trên lớp, cũng như các bài tập hỗ trợ cho việc học ở nhà của học sinh rất quan trọng Đó có thể là bài tập trắc nghiệm, bao gồm trắc nghiệm đúng - sai, trắc nghiệm nhiều lựa chọn, bài tập kéo thả chữ, bài tập tự luận…
Việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học chủ đề “Vật chất và năng lượng” ở môn Khoa học lớp 4 được thể hiện ở việc sử dụng và thiết kế nội dung học tập thành các dạng khác nhau để cho học sinh dễ dàng thực hiện
ưu điểm và nhược điểm sau:
1.1.7.1 Ưu điểm
Dạy học kiến tạo là cách dạy học tích cực vì vậy mang ưu điểm của phương pháp dạy học tích cực hay dạy học lấy người học làm trung tâm Quá trình dạy học theo lý thuyết kiến tạo giúp cho học sinh được trải nghiệm tiếp cận vấn đề, huy động nguồn tri thức, kinh nghiệm sử dụng nguồn tri thức đó là một cách hữu ích Nói cách khác là quá trình học đi đôi với hành kiến thức luôn vận động trong một quá trình hoạt động của chủ thể
Dạy học theo lý thuyết kiến tạo tạo ra sản phẩm kép Học sinh không chỉ nắm tri thức một cách vững chắc mà còn biết cách tìm ra tri thức đó
Học sinh được học tập thông qua những sai lầm của học sinh trở nên có
ý nghĩa
Dạy học theo lý thuyết kiến tạo là cách dạy đón trước vùng phát triển gần nhất, dạy học gắn liền với phát triển
Trang 35Trong dạy học theo lối kiến tạo học sinh được phát triển các kĩ năng giao tiếp, kỹ năng tìm hiểu và chia sẻ thông tin, kỹ năng hợp tác nhóm, ngoài ra còn giúp học sinh phát triển các kỹ năng tập trình bày các giải pháp, áp dụng thông tin của mình nhằm phát triển sự nhận thức của mình
Việc đưa ra các kỹ năng cơ bản vào các đề tài phức tạp mà không có luyện tập cơ bản có thể hạn chế hiệu quả trong học tập
Việc nhấn mạng đơn phương việc học trong nhóm cần được xem xét năng lực học tập cá nhân vẫn đóng vai trò quan trọng
Dạy học theo lý thuyết kiến tạo đòi hỏi phải có thời gian, có sự chuẩn bị lâu dài, kĩ lưỡng, trải qua nhiều giai đoạn
1.2.2 Nội dung khảo sát thực trạng
- Hiểu biết của giáo viên về dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo
- Thực trạng sử dụng công nghệ thông tin của giáo viên hiện nay
- Mức độ việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học chủ đề “Vật chất và năng lượng” trong môn Khoa học ở lớp 4
- Thực trạng việc vận dụng các quan điểm của lý thuyết kiến tạo vào dạy
Trang 36học môn Khoa học ở lớp 4
1.2.3 Đối tượng khảo sát
Đối tượng khảo sát đó là các giáo viên Tiểu học và cán bộ quản lí đang công tác trong nghành Tiểu học trên địa bàn các tỉnh, thành phố: Vĩnh Phúc,
Hà Nội với các điểm trường là:
+ Trường Tiểu học Tích Sơn - Thành phố Vĩnh Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc + Trường Tiểu học Nam Hồng - Huyện Đông Anh - Thành phố Hà Nội + Trường Tiểu học Tiền Phong B - Huyện Mê Linh - Thành phố Hà Nội
Tổng số phiếu phát ra là 30 phiếu Những số liệu thu được sử dụng phương pháp thống kê toán học trên cơ sở đó để khái quát thực trạng Ngoài
ra để tăng sức thuyết phục cho các kết luận thu được còn sử dụng thêm một số phương pháp hỗ trợ nghiên cứu như quan sát, đàm thoại, phỏng vấn và nghiên cứu sản phẩm hoạt động
1.2.5 Kết quả khảo sát
Để đánh giá chính xác, khách quan sự hiểu biết của giáo viên chúng tôi
đã tiến hành điều tra 30 giáo viên của khối lớp 4 bằng phương pháp phỏng vấn, điều tra Qua thực tiễn điều tra, chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
1.2.5.1 Hiểu biết của giáo viên về dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo
Thông qua quá trình điều tra và phỏng vấn các giáo viên chúng tôi đã thu thập được quan điểm của giáo viên về dạy học theo lý thuyết kiến tạo và được thể hiện ở biểu đồ sau:
Trang 37Biểu đồ 1: Quan niệm của giáo viên về dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo
Nhìn vào biểu đồ ta thấy được sự hiểu biết của giáo viên về dạy học
kiến tạo còn hạn chế Đa số các giáo viên cho rằng: dạy học kiến tạo là một
lối dạy học mới, lạ lẫm và ít được sử dụng trong quá trình dạy học chiếm tỉ
lệ cao (62,8%), bên cạnh đó chỉ có 9,5% giáo viên biết đến dạy học theo
quan điểm kiến tạo: dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo là lối dạy
học dựa trên kiến thức đã có của người học để xây dựng kiến thức mới sao cho kiến thức mới phải phù hợp với cái tổng thể đã có Điều đó cho thấy
rằng hiểu biết của giáo viên về dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo còn ít, chưa đầy đủ Điều này rất dễ lí giải vì từ trước tới nay giáo viên
đã quen với việc sử dụng với các phương pháp dạy học truyền thống và dạy học theo quan điểm kiến tạo là một phương pháp dạy học hoàn toàn mới, chưa được áp dụng nhiều trong quá trình dạy học
5 35,3
Trang 381.2.5.2 Thực trạng sử dụng công nghệ thông tin của các giáo viên hiện nay Biểu đồ 2: Thực trạng sử dụng công nghệ thông tin của giáo viên trong dạy
học hiện nay
35.8%
20.8%
16.7%
40.2% Thiết kế bài giảng
Thu tập tư liệu Thiết kế trò chơi Tìm thông tin trên Internet
Qua biểu đồ cho ta thấy đƣợc, hiện nay trong quá trình dạy học giáo viên
sử dụng công nghệ thông tin vào nhiều việc khác nhau trong quá trình dạy học Trong đó, đa số các giáo viên đều dùng CNTT để thiết kế bài giảng điện
tử cho các môn học chiếm tỉ lệ 40,2% Bên cạnh đó, việc sử dụng CNTT cũng đƣợc giáo viên sử dụng để thu thập tƣ liệu (35,8%) Tƣ liệu dạy học ở đây đó chính là tranh, ảnh, video mô phỏng đƣợc dùng trong quá trình dạy học Qua
đó thấy đƣợc CNTT ngày càng đƣợc sử dụng nhiều, phục vụ thích đáng trong quá trình học tập của học sinh Ngoài ra giáo viên cũng sử dụng để tìm kiếm thông tin trên Internet (16,8%) thông qua các kênh thông tin nhƣ: Google, các tạp chí, sách, báo online… và việc dùng để thiết kế trò chơi đối với giáo viên chiếm 20,8% Qua đó thấy đƣợc giáo viên đã biết khai thác những lợi ích do CNTT đem lại để ứng dụng trong quá trình dạy học các môn học
Trang 391.2.5.3 Mức độ việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học chủ đề
“Vật chất và năng lượng” trong môn Khoa học ở lớp 4
Bảng 1: Tổng hợp kết quả mức độ sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học
chủ đề “Vật chất và năng lượng” trong môn Khoa học ở lớp 4
Mức độ sử dụng Số lượng (người) Tỉ lệ (%)
Qua quá trình điều tra nhận thấy, hiện nay đa số các giáo viên sử dụng rất ít công nghệ thông tin vào trong quá trình dạy học Có đến 67% giáo viên thấy rằng họ thỉnh thoảng mới sử dụng trong bài giảng của mình Tỉ lệ giáo viên thường xuyên sử dụng rất ít chỉ chiếm 10% Điều đó thấy rằng, việc sử dụng công nghệ thông tin đã được sử dụng trong việc giảng dạy nhưng còn chiếm tỉ lệ rất thấp
Thông qua phỏng vấn trực tiếp kết hợp với điều tra, chúng tôi thấy rằng
đa số các giáo viên cho rằng họ gặp rất nhiều khó khăn khi sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình dạy học Đa số các giáo viên được điều tra đều cho rằng để dạy một tiết học có ứng dụng công nghệ thông tin tốn nhiều thời gian chuẩn bị, quá công phu, kĩ lưỡng (60,9%), bên cạnh đó giáo viên cũng đưa ra những khó khăn khác mà họ gặp phải như: gặp khó khăn trong quá trình sử dụng vì trình độ tin học còn thấp, các phần mềm rất khó dùng (17,4%) và khó đánh giá học sinh trong quá trình sử dụng (21,7%) Điều đó cho thấy rằng,các giáo viên đang đứng trước rất nhiều khó khăn để có thể sử dụng được công nghệ thông tin trong giờ học của mình
Trang 40Hiện nay, trong xu thế đổi mới nội dung và phương pháp dạy học thì
việc dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo là một xu thế mới, có thể
đáp ứng được các yêu cầu của nền giáo dục mới Hầu hết các giáo viên đều
nhận thức được yêu cầu của việc đổi mới nên việc áp dụng những quan điểm
của lý thuyết kiến tạo kết hợp với việc sử dụng công nghệ thông tin sẽ là một
trong những phương pháp được chọn và ưu tiên hàng đầu
1.2.5.4 Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học ở chủ đề “Vật chất
và năng lượng” trong môn Khoa học ở lớp 4
Thông qua quá trình điều tra 30 giáo viên của 3 trường Tiểu học trên địa bàn
Tỉnh Vĩnh Phúc và Thành phố Hà Nội, chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
Biểu đồ 3: Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học ở Tiểu học
Dạy học kiến tạo
Thực hành
PPDH Dự
án
PPDH Trải nghiệm
Thuyết trình Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Chưa bao giờ
Qua biểu đồ chúng ta thấy được đây là những phương pháp dạy học
truyền thống dạy học trong chủ đề này như: quan sát, thảo luận nhóm,thí
nghiệm, thực hành, thuyết trình Bên cạnh đó cũng có nhưng phương pháp