1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh trong dạy học bài Ngữ cảnh (Ngữ văn 11)

59 406 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài “Rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh trong dạy học bài “Ngữ cảnh” Ngữ văn 11”, tác giả khoá luận thường xuyên nhận được sự giúp đỡ, tạo

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN -*** -

TRẦN VĂN GIÁP

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIAO TIẾP

CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI “NGỮ CẢNH”

(NGỮ VĂN 11)

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

KHOA NGỮ VĂN -*** -

TRẦN VĂN GIÁP

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIAO TIẾP

CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI “NGỮ CẢNH”

Trang 3

Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài “Rèn luyện kỹ năng giao tiếp

cho học sinh trong dạy học bài “Ngữ cảnh” (Ngữ văn 11)”, tác giả khoá luận

thường xuyên nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy, cô trong

tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn và TS Phạm Kiều Anh – người hướng dẫn trực tiếp

Em xin được bày tỏ sự biết ơn và gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới các thầy cô

Do năng lực nghiên cứu có hạn, khoá luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô giáo và các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2017

Tác giả khoá luận

Trần Văn Giáp

Trang 4

Tôi xin cam đoan khoá luận tốt nghiệp Đại học với đề tài: “Rèn luyện

kỹ năng giao tiếp cho học sinh trong dạy học bài “Ngữ cảnh” (Ngữ văn 11)”

là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi

Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2017

Tác giả khoá luận

Trần Văn Giáp

Trang 5

SỐ THỨ TỰ CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4

3.1 Mục đích nghiên cứu 4

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

4.1 Đối tượng nghiên cứu 5

4.2 Phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

5.1 Phương pháp tổng hợp các vấn đề lí thuyết 5

5.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu 6

5.3 Phương pháp thử nghiệm 6

5.4 Phương pháp thống kê 6

6 Bố cục của khoá luận 6

NỘI DUNG 7

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7

1.1 Kỹ năng và kỹ năng giao tiếp 7

1.1.1 Kỹ năng 7

1.1.2 Kỹ năng giao tiếp 8

1.1.2.1.Khái niệm kỹ năng giao tiếp 8

1.1.2.2 Các kỹ năng giao tiếp 9

1.1.3 Quy trình hình thành kỹ năng 11

1.2 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 13

1.2.1 Khái niệm hoạt động giao tiếp 13

Trang 7

1.2.2.1 Nhân vật giao tiếp 14

1.2.2.2 Nội dung giao tiếp 14

1.2.2.3 Mục đích giao tiếp 14

1.2.2.4 Phương tiện và cách thức giao tiếp 15

1.2.2.5 Hoàn cảnh giao tiếp 15

1.2.3 Ngữ cảnh 16

1.3 Kỹ năng giao tiếp của học sinh THPT 17

1.3.1 Kỹ năng giao tiếp tiếng Việt 17

1.3.2 Đặc điểm tư duy của HS THPT trong hoạt động giao tiếp 18

1.3.3 Khả năng giao tiếp của HS THPT 19

1.3.4 Những biểu hiện cơ bản trong kỹ năng giao tiếp của HS THPT 19

1.4 Cơ sở thực tiễn 20

1.4.1 Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học Tiếng Việt ở trường THPT 20

1.4.2 Điều tra, khảo sát thực trạng học Tiếng Việt ở trường THPT 21

1.4.3.Đánh giá chung 21

Chương 2. DẠY HỌC BÀI “NGỮ CẢNH” (NGỮ VĂN 11) THEO HƯỚNG RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH THPT 23

2.1 Mục đích của việc dạy bài “Ngữ cảnh” 23

2.2 Nguyên tắc rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho HS khi dạy học bài “Ngữ cảnh” 25

2.2.1 Nguyên tắc phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh 25

2.2.2 Nguyên tắc dạy học gắn liền với thực tiễn cuộc sống 26

2.2.3 Nguyên tắc khoa học 26

2.2.4 Nguyên tắc rèn luyện kỹ năng tư duy học sinh 27

Trang 8

tiếp cho người học 28

2.3.1 Tạo tình huống kích thích nhu cầu giao tiếp và định hướng giao tiếp cho học sinh 29

2.3.2 Học sinh xác định hướng giao tiếp, và tiến hành phân tích các tri thức tiếng Việt theo nhiệm vụ giao tiếp 30

2.3.3 Rút ra kết luận khoa học trong bài học 31

2.3.4 Thực hành giao tiếp theo các nhiệm vụ học tập mới 31

2.3.5 Đánh giá sản phẩm 32

2.4 Xác định các phương pháp dạy học bài “Ngữ cảnh” theo định hướng rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho người học 33

2.4.1 Thảo luận nhóm 33

2.4.2 Vấn đáp - đàm thoại 34

2.4.3 Thuyết trình 35

2.4.4 Rèn luyện theo mẫu 35

Chương 3 THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM Error! Bookmark not defined 3.1 Mục đích thử nghiệm Error! Bookmark not defined 3.2 Đối tượng thử nghiệm Error! Bookmark not defined 3.3 Chủ thể thử nghiệm Error! Bookmark not defined 3.4 Thời gian thử nghiệm Error! Bookmark not defined 3.5 Nội dung thử nghiệm Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

SVTH: Trần Văn Giáp Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học- từ chỗ quan tâm tới việc học sinh (HS) học được gì đến chỗ quan tâm tới việc HS học được cái gì qua việc học Để thực hiện điều đó, hoạt động dạy học phải hướng tới các nhiệm vụ là tập trung hình thành và rèn luyện cho chủ thể học tập cách vận dụng kiến thức, cách rèn luyện kỹ năng, phát triển năng lực và phẩm chất người học Có thể khẳng định trong giai đoạn hiện nay, việc dạy học định hướng phát triển kỹ năng giao tiếp của người học thực sự có ý nghĩa thực tế

Cùng với những biến đổi to lớn của thế giới, sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã đưa thế giới chuyển từ kỉ nguyên công nghệ sang kỉ nguyên thông tin và tri thức Điều đó chứng tỏ quá trình hội nhập toàn cầu đang làm cho việc rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trở nên nhanh hơn Với bối cảnh toàn cầu hoá hội nhập quốc tế

đó, xã hội có những thay đổi về vị thế người lao động Một trong những đòi hỏi đó là mỗi công dân khi tham gia hoạt động xã hội phải có khả năng hội nhập, thích ứng, cạnh tranh quốc tế, đặc biệt là phải có kỹ năng giao tiếp (KNGT) để tham gia hòa nhập cộng đồng Việc rèn luyện kỹ năng này được đánh giá là góp phần tạo cho con người cơ hội thể hiện niềm hi vọng, ước mơ,

ý kiến, cảm xúc và rèn luyện cách nói năng, mở rộng phạm vi giao tiếp trong cuộc sống của mình

Tuy nhiên, trong nhiều khảo sát gần đây của các nhà ngôn ngữ học, có một thực tế đáng suy nghĩ là khả năng giao tiếp của HS chưa thực sự chuẩn mực và hiệu quả Từ những bài viết, từ những cuộc nói chuyện trong nhiều nơi của xã hội, có thể nhận thấy phần lớn kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, kỹ năng

Trang 10

SVTH: Trần Văn Giáp Trang 2

trình bày, diễn đạt của các em chưa tốt Khả năng thuyết trình còn vụng về, cách lập luận thiếu chặt chẽ, nhiều em còn thái độ, biểu hiện thiếu tự tin trong giao tiếp Tình trạng này khá phổ biến trong xã hội, trong đó có một bộ phận không ít là HS THPT Điều đó chứng tỏ việc dạy học Tiếng Việt, Làm văn chưa thực sự đạt hiệu quả Cũng vì thế, để có thể đổi mới dạy học Ngữ văn theo yêu cầu mới, một trong những nhiệm vụ cần thiết là phải hình thành và rèn luyện cho HS những kỹ năng thiết yếu – trong đó có KNGT

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Rèn

luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh trong dạy học bài “Ngữ cảnh” (Ngữ văn 11)

2 Lịch sử vấn đề

Giao tiếp là một trong những kỹ năng cốt lõi được xác định cần hình thành và rèn luyện cho HS trong giai đoạn hiện nay Việc dạy học Ngữ văn hướng tới rèn luyện kỹ năng giao tiếp này cho HS cũng đã được đề cập trong một số công trình khoa học

Trong cuốn “Những thủ thuật trong dạy học - các chiến lược nghiên

cứu và lí thuyết về dạy học dành cho các giảng viên Đại học và Cao đẳng”,

tác giả Wilbrt J.Mckeachie đã dựa trên quan điểm thực tiễn của phương pháp dạy học hiện nay cho rằng “Theo chương trình dạy học tiếng Pháp, phải dựa trên việc thực hành ngôn ngữ trong và ngoài lớp học tiếng Pháp, HS phải luôn luôn được đặt vào tình huống giao tiếp” Theo đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh

“Cơ bản là phải đặt HS trong một tình huống giao tiếp làm sản sinh hoặc

thông hiểu lời nói” [21] Nhận định trên đã khẳng định vai trò và ý nghĩa là

việc dạy học ngôn ngữ theo hướng giao tiếp Để có thể hướng quá trình dạy học ngôn ngữ chú trọng tới giao tiếp, GV cần phải tạo ra những tình huống có vấn đề để chủ thể học tập tham gia vào hoạt động giao tiếp Đây là nhận định

Trang 11

SVTH: Trần Văn Giáp Trang 3

có ý nghĩa quan trọng để GV Ngữ văn có thể tổ chức quá trình dạy học những

tri thức tiếng Việt đạt hiệu quả cao

Trong cuốn “Phương pháp dạy học tiếng Việt”, các tác giả Lê A, Nguyễn

Quang Ninh, Bùi Minh Toán đã đưa ra một số phương pháp dạy học tiếng Việt thường được sử dụng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến phương pháp

giao tiếp Trong sách có viết “Phương pháp giao tiếp là phương pháp quan

trọng trong dạy học tiếng Việt Phương pháp giao tiếp là phương pháp hướng dẫn HS vận dụng lí thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp, chú ý đến đặc điểm và các nhân tố tham gia vào hoạt động giao

tiếp” [1, 69-70] Đặc biệt các tác giả còn nhấn mạnh “Phương pháp này có thể

được áp dụng khi dạy học từ ngữ, câu, phong cách và đặc biệt là các bài học thuộc phân môn tiếng Việt” [1] Từ ý kiến trên, có thể khẳng định các tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của phương pháp giao tiếp Phương pháp này

có thể giúp cho HS vận dụng được những lí thuyết đã học để thực hành các văn bản trong quá trình giao tiếp

Hai tác giả Phan Phương Dung và Đặng Kim Nga trong cuốn “Hoạt

động giao tiếp với dạy học tiếng Việt ở Tiểu học” cũng đã đề cập một cách

sâu sắc về quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt ở Tiểu học Theo các

tác giả, “Trong dạy học tiếng Việt ở Tiểu học, giao tiếp vừa là cách thức vừa

là mục đích học tập Thông qua giao tiếp và bằng con đường giao tiếp trong các tình huống nói năng gần với hiện thực, HS thường xuyên luyện tập, sử dụng lời nói, từ đó kỹ năng giao tiếp của các em được hình thành một cách toàn diện và bền vững” [3] Mặc dù tài liệu này chủ yếu nghiên cứu phương

pháp dạy học tiếng Việt ở Tiểu học nhưng nó cũng góp phần định hướng cho việc xây dựng cơ sở lí luận của đề tài

Trong cuốn “Phương pháp dạy học tiếng Việt”, tập 2 (Giáo trình đào

tạo GV Tiểu học hệ cao đẳng sư phạm và sư phạm 12+2), các tác giả Nguyễn

Trang 12

SVTH: Trần Văn Giáp Trang 4

Trí, Lê A, Nguyễn Phương Nga đã nhấn mạnh: “Quan điểm giao tiếp là quan

điểm cơ bản nhất trong việc tổ chức dạy học tiếng Việt ở trường phổ thông Quan điểm này chi phối toàn bộ chương trình dạy học từ việc lựa chọn nội dung, phương pháp đến hình thức dạy học” [19, 11] Quan niệm này đã gợi

dẫn cho chúng tôi những tiền đề lí thuyết thiết yếu cho việc nghiên cứu đề tài này

Tóm lại giao tiếp chính là một quan điểm dạy học hiện đại Cho đến nay

có rất nhiều tài liệu, công trình và nhiều quan điểm khác nhau về việc dạy học tiếng mẹ đẻ theo hướng giao tiếp Nhưng những tài liệu trên mới chỉ đề xuất việc dạy tiếng Việt theo quan điểm này chứ chưa có công trình nào đề xuất việc rèn luyện KNGT cho HS trong một bài dạy tiếng Việt cụ thể Từ nhận

thức đó, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho

học sinh THPT trong dạy học bài “Ngữ cảnh” (SGK Ngữ văn 11)” với hi

vọng sẽ đóng góp một phần nào đó vào việc nghiên cứu, áp dụng hướng giao tiếp vào dạy học nói trên, từ đó nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt nói riêng và dạy học Ngữ văn nói chung

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này nhằm xác định được những vấn đề cần thiết để

tổ chức dạy học tiếng mẹ đẻ có chú trọng tới việc hình thành và phát triển KNGT cho HS (bao gồm kỹ năng tạo lập, sản sinh lời nói, khả năng tiếp nhận lời nói khi giao tiếp) trong quá trình dạy học Tiếng Việt Từ đó, giúp cho các

em không chỉ có những hiểu biết về tiếng mẹ đẻ mà chủ thể học tập còn có KNGT trong quá trình học tập và trong suốt cuộc đời các em

Trang 13

SVTH: Trần Văn Giáp Trang 5

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài “Rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh THPT

trong dạy học bài “Ngữ cảnh” (sách giáo khoa Ngữ văn 11)”, chúng tôi xác

định những nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau:

- Tổng hợp hệ thống cơ sở khoa học về kỹ năng, kỹ năng giao tiếp, những định hướng khi dạy học chú trọng tới rèn luyện kỹ năng cho người học,

bước đầu vận dụng vào dạy bài “Ngữ cảnh” ở trường THPT

- Đề xuất cách thức thiết kế và tổ chức dạy học bài “Ngữ cảnh” nhằm

phát triển kỹ năng giao tiếp cho HS lớp 11 ở trường THPT

- Tiến hành thử nghiệm để quan sát thái độ, hứng thú học tập của HS khi học tập theo những đề xuất đó

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu đề ra trên đây, khóa luận tập trung vào tìm hiểu đặc điểm của dạy học theo định hướng phát triển kỹ năng và KNGT cho người học nhằm tìm ra những cách thức tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy tính tích cực độc lập của HS

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Gắn với nội dung đề tài nghiên cứu, chúng tôi xác định và chọn bài

“Ngữ cảnh” (Ngữ văn 11) làm đối tượng nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

5.1 Phương pháp tổng hợp các vấn đề lý thuyết

Tổng hợp là thao tác tư duy nhằm phát hiện ra các mối liên hệ giữa các mặt, các bộ phận của hiện tượng Đồng thời nghiên cứu lí thuyết giúp chúng tôi năm bắt, xâu chuỗi, tổng hợp những vấn đề lí thuyết liên quan tới đề tài Trên cơ sở đó mà chúng tôi tổng hợp lại toàn bộ vấn đề nghiên cứu để có cái

Trang 14

SVTH: Trần Văn Giáp Trang 6

nhìn toàn diện cho vấn đề Phương pháp này chủ yếu được sử dụng trong việc phân tích những cơ sở lí luận và thực tiễn của việc hình thành, củng cố và phát triển KNGT của HS

5.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu

So sánh đối chiếu là thao tác tư duy để phân biệt hiện tượng, khái niệm với các hiện tượng, khái niệm khác Trong khóa luận này, phương pháp so sánh, đối chiếu được sử dụng khi chúng tôi quan sát đặc điểm tâm lý của chủ thể học tập trước và sau khi được rèn luyện kỹ năng giao tiếp, so sánh giữa lớp dạy bình thường với lớp học thực hiện theo những đề xuất mà chúng tôi nêu trong khóa luận này để có những điều chỉnh cho phù hợp

5.3 Phương pháp thử nghiệm

Phương pháp này được thực hiện trên những phương diện đó là:

Thiết kế nội dung dạy học theo hướng nghiên cứu của đề tài và thử tổ chức dạy học ở trường THPT

Quan sát và rút ra nhận xét về thái độ, hứng thú học tập của HS trong giờ học theo đề xuất

5.4 Phương pháp thống kê

Phương pháp này được sử dụng để phân loại và phân tích kết quả khảo sát thực trạng của HS trước khi tiến hành thực nghiệm

6 Bố cục của khoá luận

Khoá luận được triển khai thành ba phần: Mở đầu, nội dung và kết luận

Phần nội dung của khoá luận được cấu trúc với 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2: Dạy học bài “Ngữ cảnh” (Ngữ văn 11) theo hướng rèn luyện

kỹ năng giao tiếp cho học sinh THPT

Chương 3: Thử nghiệm sư phạm

Trang 15

SVTH: Trần Văn Giáp Trang 7

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1 Kỹ năng và kỹ năng giao tiếp

1.1.1 Kỹ năng

Kỹ năng là một yếu tố có quan hệ chặt chẽ với tri thức Đó là cơ sở để con người thực hiện một hoạt động nào đó Muốn thực hiện hoạt động, con người cần có kỹ năng nhất định Tri thức, kỹ năng tạo điều kiện thuận lợi và thúc đầy năng lực phát triển Ngược lại, năng lực lại giúp con người nắm vững kỹ năng, tri thức cần thiết Từ những kiến thức được trang bị, người học cần phải có khả năng vận dụng chúng vào thực tế, khả năng vận dụng đó gọi là kỹ năng

Cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về kỹ năng và đưa ra

nhiều khái niệm khác nhau về nó Theo “Từ điển tâm lí học”, các tác giả

A.V.Petrovxki cho rằng kỹ năng là giai đoạn nắm vững các hành động dựa trên quy tắc nào đó và hành động phù hợp với quy tắc ấy trong quá trình giải

quyết nhiệm vụ đã xác định Theo “Từ điển tiếng Việt”, kỹ năng là khả năng

vận dụng những kiến thức trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế Theo “Tâm

lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm” kỹ năng là “Khả năng vận dụng kiến thức (Khái niệm, cách thức, phương pháp…) để giải quyết môt nhiệm vụ mới” [17, 90]

Thực chất của việc hình thành kỹ năng là hình thành cho HS nắm vững một hệ thống các hành động, các thao tác nhằm làm biến đổi và sáng tỏ những thông tin chứa đựng trong bài tập, trong nhiệm vụ và đối chiếu chúng với các hành động cụ thể Các nhà giáo dục học phân tích kỹ năng thành hai loại: Kỹ năng bậc một và kỹ năng bậc hai

Trang 16

SVTH: Trần Văn Giáp Trang 8

+ Kỹ năng bậc một là kỹ năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, Cho

dù hành động cụ thể hay hành động trí tuệ Loại kỹ năng này thông qua luyện tập tới mức hoàn hảo, các thao tác được diễn ra hoàn toàn tự động hoá không cần có sự hiện diện của ý thức hoặc sự tham gia của ý thức rất ít thì biến thành kỹ xảo

+ Kỹ năng bậc hai là khả năng thực hiện hành động, hoạt động một cách thành thạo, linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với những mục tiêu trong những điều kiện khác nhau Trong kỹ năng bậc hai yếu tố linh hoạt sáng tạo

là yếu tố cơ bản, đó là cơ sở cho hoạt động đạt hiệu quả cao

Theo Lê A – Nguyễn Trí, quan niệm về kỹ năng được hiểu như một khả năng của con người có thể hoàn thành các nhiệm vụ trong những điều kiện mới, dựa trên những tri thức và kinh nghiệm đã được tích luỹ và một loạt các kỹ xảo trong mối quan hệ mật thiết với nhau Trong quá trình lĩnh hội và sáng tạo văn bản, kỹ năng và kỹ xảo luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau

Như vậy kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế

1.1.2 Kỹ năng giao tiếp

1.1.2.1 Khái niệm kỹ năng giao tiếp

Từ quan niệm về kỹ năng, chúng tôi cho rằng kỹ năng giao tiếp của mỗi

cá nhân là khả năng nhận biết nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và diễn biến tâm lí bên trong, đồng thời cá nhân đó biết sử dụng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách định hướng và điều khiển quá trình giao tiếp đạt được mục đích nhất định

Dạy học theo quan điểm giao tiếp là một trong những tư tưởng chủ đạo của chiến lược dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ thông Hiện nay các nước

Trang 17

SVTH: Trần Văn Giáp Trang 9

trên thế giới rất coi trọng quan điểm này, lấy hoạt động giao tiếp là một căn

cứ để hình thành và phát triển các hoạt động ngôn ngữ mà cụ thể là 4 kỹ năng: Nghe, nói, đọc, viết

1.1.2.2 Các kỹ năng giao tiếp

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người Tuy

nhiên muốn sử dụng tốt nhất thứ phương tiện trọng yếu này vào quá trình giao tiếp, con người phải có những kỹ năng cơ bản về ngôn ngữ cũng như các kỹ năng thực hiện giao tiếp Để sử dụng bất cứ ngôn ngữ nào, bên cạnh việc có những hiểu biết về cách sử dụng các đơn vị ngôn ngữ, con người còn phải hướng tới các kỹ năng sử dụng chúng Xét riêng về các kỹ năng ngôn ngữ, người ta thường nhắc tới các kỹ năng căn bản là nghe - nói - đọc - viết

Kỹ năng đầu tiên của việc sử dụng ngôn ngữ là kỹ năng nghe Là hoạt động tiếp nhận thông tin bằng thính giác, nghe một cách có ý nghĩa là nghe và hiểu được nó, phản hồi được một cách sáng tạo cái điều chúng ta nghe thấy Nghe không phải là một hoạt động thụ động mà là một kỹ năng cần sử dụng

để nhận biết nội dung, mục đích, ý đồ của người nói Có ba cách nghe khác nhau: Nghe thụ động, nghe chủ động, nghe với định kiến

Kỹ năng cần rèn luyện khi nghe:

+ Biết phát hiện những vấn đề chính

+ Biết ghi nhanh, ghi đúng, ghi đầy đủ

+ Duy trì sự chú ý liên tục trong suốt quá trình nghe

Kỹ năng thứ hai của việc sử dụng ngôn ngữ là kỹ năng nói Kỹ năng này được thể hiện rõ trong quá trình các nhân vật giao tiếp (người phát tin) chuyển nội dung suy nghĩ, nội dung thông báo của người nói vốn thuộc lĩnh vực tinh thần sang dạng vật chất, dạng mã hóa ngôn ngữ nhằm mục đích là truyền đạt cách nói là hoạt động thể hiện ngôn bản bằng lời, thông qua sự hiểu biết của mình về một kinh nghiệm hay sự việc nào đó mà người nghe hiểu

Trang 18

SVTH: Trần Văn Giáp Trang 10

được điều mình muốn nói Hoạt động nói chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau: Nhân vật giao tiếp, đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp…

Những điều kiện để nói hiệu quả:

+ Nội dung bài nói tốt

+ Hiểu biết sâu rộng, kỹ càng về nội dung cần trình bày

+ Xác định đúng đối tượng nói và mục đích nói

+ Xác định đúng nội dung cần trình bày

+ Biết giao tiếp với người nghe, Biết tuân thủ những nguyên tắc giao tiếp bằng ngôn ngữ

+ Biết làm chủ lời nói của mình, cần khiêm tốn, thận trọng, trách nhiệm…

+ Biết sử dụng ngôn ngữ nói một cách tinh tế (nói uyển chuyển, khi dí dỏm, khi vui tươi…)

Một kỹ năng khác, cũng gắn liền với quá trình tiếp nhận nội dung giao tiếp bằng đường kênh thính giác, bằng ngôn ngữ âm thanh là kỹ năng đọc.Đọc

là hoạt động tiếp nhận thông tin bằng mắt và có hoặc không sử dụng bộ máy phát âm Trong nhà trường, khi học sinh đọc các tài liệu học tập, qua việc tiếp xúc với các văn bản trong chương trình học, vốn kiến thức ngôn ngữ, văn học, khoa học, nghệ thuật… của HS sẽ tăng lên dần Các dạng đọc: Đọc thầm, đọc thành tiếng, đọc đồng thanh, đọc diễn cảm…

Các kỹ năng khi đọc cần rèn luyện:

+ Biết nắm bắt nhanh chóng tư tưởng cơ bản của một tác phẩm văn học nghệ thuật

+ Biết vận dụng các loại ngữ liệu vào việc đọc

+ Biến sử dụng cường độ của giọng đọc một cách hợp lí

+ Biết sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ (tư thế, nét mặt, cử chỉ…)

Trang 19

SVTH: Trần Văn Giáp Trang 11

Kỹ năng cuối cùng của việc sử dụng ngôn ngữ là kỹ năng viết Viết là hoạt động tạo lập ngôn bản bằng chữ viết Viết một cách có ý nghĩa là viết để

trao đổi những ý kiến, suy nghĩ, những nội dung thông tin nào đó

Trước khi viết cần chú ý: Viết về chủ đề gì? Viết nhằm mục đích gì? Viết như thế nào? Nên cho học sinh tập nói trước khi viết thành bài Cần xây dựng dàn ý, đặt vấn đề, giải quyết vấn đề và kết thúc vấn đề, Cần giúp cho học sinh sử dụng được các kiểu câu, các loại văn bản

Như vậy, những kỹ năng này luôn đi cùng nhau và hỗ trợ cho nhau Trong đó, kỹ năng nói liên quan chặt chẽ với kỹ năng nghe, đọc, viết Muốn nói và viết tốt người nói cần có kỹ năng tiếp nhận thông tin (nghe, đọc) Kỹ năng nói hiệu quả là khả năng biểu đạt bằng lời nói, là một loại năng lực được thể hiện qua khẩu ngữ để truyền đạt thông tin, biểu đạt tư tưởng, tình cảm một cách chính xác, sinh động, có sức thuyết phục Kỹ năng nói được quyết định bởi ba yếu tố sự phát âm, khả năng diễn đạt và sự phát âm chính xác Sự phát

âm có các đặc trưng về cao độ, trường độ, cường độ Khả năng diễn đạt liên quan đến cách phát âm và sự bất cần trong khi nói cũng như điểm mạnh và điểm yếu của tiếng địa phương Phát âm lẫn lộn một số chữ ở các vùng lấy tiếng phổ thông của một quốc gia làm chuẩn Sử dụng ngôn từ tốt sẽ giúp truyền đạt thông tin và giải quyết công việc nhanh chóng, hiệu quả Tạo mối quan hệ tốt đẹp trong giao tiếp, giúp con người nâng cao uy tín bản thân, tự khẳng định và là công cụ ảnh hưởng đối với người khác

1.1.3 Quy trình hình thành kỹ năng

Vấn đề hình thành kỹ năng được nhiều nhà tâm lí học trong và ngoài nước quan tâm Mỗi tác giả, mỗi trường phái có ý kiến khác nhau, xong đều thống nhất với nhau rằng: Kỹ năng được hình thành trong hoạt động, bất cứ kĩ năng nào cũng cũng phải dựa trên cơ sở lí thuyết đó là kiến thức Sở dĩ như vậy là vì xuất phát từ cấu trúc kỹ năng (phải hiểu biết mục đích, cách thức đi

Trang 20

SVTH: Trần Văn Giáp Trang 12

đến kết quả và hiểu những điều kiện cần thiết để triển khai cách thức đó) Sự vận dụng kiến thức để khám phá, biến đổi chính là kỹ năng Quá trình hình thành kỹ năng thường bao gồm 3 bước:

Bước 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động

Bước 2: Quan sát mẫu và làm thử theo mẫu

Bước 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu, điều kiện hành động nhằm đạt được mục đích đề ra

Theo các tác giả, việc nhận thức mục đích và cách thức điều kiện hành động là quan trọng nhất Nhưng chỉ mới dừng lại ở bước này thì chưa có kỹ năng vì nó chỉ thể hiện ở mặt lí thuyết, tri thức về hành động chứ chưa có mặt

kĩ thuật, thao tác thực tiến của hành động để đạt được mục đích đề ra Giai đoạn làm thử theo mẫu cũng không kém phần quan trọng Ở giai đoạn này, con người một mặt thực hiện các thao tác theo mẫu để hình thành kỹ năng, một mặt con người đối chiếu với tri thức về hành động và điều chỉnh các thao tác hành động nhằm đạt kết quả, giảm bớt những sai sót trong quá trình hành động Sau khi làm thử để nắm vững các cách thức hành động, người ta phải tiến hành luyện tập để hoàn thiện kỹ năng Ở giai đoạn này các tri thức về hành động được củng cố nhiều hơn, các tri thức hành động cũng được ôn luyện có hệ thống làm cho người ta nắm chắc hành động hơn Đến đây có thể nói kỹ năng được hình thành Tuy nhiên đến đây kỹ năng vẫn chưa ổn định

Kỹ năng chỉ thực ổn định khi người ta hành động có kết quả trong những điều kiện khác nhau Tâm lí học hiện đại đã khẳng định chỉ trong hoạt động thì kỹ năng mới hình thành và phát triển Như vậy bài tập là một tập hợp yêu cầu hoạt động để đạt tới kết quả nào đó Nếu làm một kiểu bài tập cùng kiểu lặp đi lặp lại tới mức độ cần thiết thì sẽ hình thành được kỹ năng tương ứng Tóm

Trang 21

SVTH: Trần Văn Giáp Trang 13

lại, trong các bài học hình thành có thể nói bài tập là phương tiện, kỹ năng là mục đích trọng yếu cần đạt tới

1.2 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

1.2.1 Khái niệm hoạt động giao tiếp

Trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, con người cần phải giao tiếp với nhau Xã hội càng phát triển, nhu cầu giao tiếp của con người càng nhiều

Vì thế, giao tiếp được coi là một phương tiện xã hội, giao tiếp là cách thức, hoạt động để tiếp nhận các thông tin của đời sống, để trao đổi mọi tư tưởng, tình cảm giữa người và người trong mọi mặt của đời sống

Giao tiếp là một quá trình quan hệ tác động giữa các cá thể, là quá trình thông tin quan hệ giữa con người với con người, là quá trình hiểu biết lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và trao đổi cảm xúc lẫn nhau Ở khoá luận này chúng tôi sử dụng quan niệm của nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Uẩn trong cuốn “Tâm lí lọc đại cương” NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996- một quan niệm phản ánh được phương diện cốt lõi của giao tiếp bằng ngôn ngữ Đó là:

“Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lí giữa người với người thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau Hay nói khác đi giao tiếp là xác lập và vận dụng các quan hệ người- người, hiện thực hoá các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác” [14,35]

Như vậy, có thể khẳng định, giao tiếp là hoạt động diễn ra thường xuyên giữa mọi người trong xã hội Giao tiếp có ở mọi nơi, mọi lúc, có thể ở dạng lời nói nhưng cũng có khi tồn tại ở dạng viết Giao tiếp cũng có thể được tiến hành bằng nhiều phương tiện “ngôn ngữ” khác như: cử chỉ, điệu bộ, hành động, nét mặt, các phương tiện kỹ thuật Tuy nhiên phương tiện quan trọng nhất, phổ biến nhất và hiệu quả tối ưu nhất vẫn là ngôn ngữ Nhờ ngôn ngữ và

Trang 22

SVTH: Trần Văn Giáp Trang 14

giao tiếp, con người trao đổi thông tin, bộc lộ tình cảm, thái độ, quan hệ để

tổ chức xã hội hoạt động

1.2.2 Các nhân tố của hoạt động giao tiếp

Trong hoạt động giao tiếp có nhiều nhân tố khác nhau, các nhân tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau và mỗi nhân tố có một vai trò riêng Và có 5 nhân tố cơ bản: Nhân vật giao tiếp, hoàn ảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp, phương tiện và cách thức giao tiếp

1.2.2.1 Nhân vật giao tiếp

Nhân tố chủ yếu, không thể thiếu trong bất kỳ một hoạt động giao tiếp nào là nhân vật giao tiếp Hiểu một cách đơn giản nhất thì nhân vật giao tiếp

là những người tham gia trực tiếp vào quá trình giao tiếp Nhân vật giao tiếp giúp chúng có thể xác định các câu hỏi: Ai nói, ai viết, nói với ai, viết cho ai? Một hoạt động giao tiếp có thể thực hiện bởi hai người hoặc nhiều người Nhân vật giao tiếp đóng vai trò quan trọng, đó là nhân tố để lại dấu ấn đậm nét nhất trong việc lựa chọn nội dung và cách thức trình bày một văn bản

1.2.2.2 Nội dung giao tiếp

Nội dung giao tiếp ở đây là hiện thực được nói đến trong cuộc giao tiếp Nó là toàn bộ những thông tin mà các nhân vật giao tiếp thực hiện truyền đạt khi tiến hành giao tiếp Nhờ có nhân tố này, chúng ta có thể xác định rõ: Nói, viết cái gì, về cái gì? Để có thể thực hiện giao tiếp, các nhân vật giao tiếp phải nắm rõ nội dung giao tiếp và đều hướng tới việc thể hiện rõ nội dung giao tiếp Nói một cách khác, nội dung giao tiếp chính là phần cốt lõi, là nhân

tố không thể thiếu được trong hoạt động giao tiếp

1.2.2.3 Mục đích giao tiếp

B.Tômsasepxki đã nói “Mục đích của giao tiếp thông thường là diễn đạt Chỉ cần thoả mãn sự biểu đạt, con người có thể sử dụng bất cứ phương tiện, cách thức nào: Từ ngữ, ánh mắt, nụ cười, bàn tay…

Trang 23

SVTH: Trần Văn Giáp Trang 15

[Trần Đình Sử 2005, tr 135] Như vậy, có thể nói mục đích cơ bản của cuộc giao tiếp là nhằm truyền đạt thông tin, bộc lộ tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của mình Qua đó còn phải tác động đến người tiếp nhận một tình cảm nào đó Mục đích giao tiếp là kết quả cuối cùng mà cuộc giao tiếp mong muốn đạt được

Có thể nói một cuộc giao tiếp đực gọi là thành công khi cuộc giao tiếp đạt được mục đích đã đề ra Mục đích giao tiếp là động lực giúp con người hướng đến và thực hiện hoạt động giao tiếp

1.2.2.4 Phương tiện và cách thức giao tiếp

Phương tiện giao tiếp ở đây là ngôn ngữ Điều đầu tiên để cả người phát

và người nhận có thể hiểu thông điệp của nhau là ngôn ngữ trong giao tiếp phải

có tính chất chung đối với cả hai và ngôn ngữ trong văn bản viết phải khác với ngôn ngữ trong văn bản nói Để đạt được điều này người giao tiếp phải biết cách

sử dụng phương tiện ngôn ngữ sao cho phù hợp với đối tượng giao tiếp, nội dung giao tiếp, sử dụng vốn ngôn ngữ mang tính chất cộng đồng… để người nhận có thể tiếp thu, có thể hiểu được nội dung mà người nói muốn truyền đạt Cách thức giao tiếp là cánh sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp Trong

hoàn cảnh giao tiếp khác nhau ta có cách thức giao tiếp khác nhau

1.2.2.5 Hoàn cảnh giao tiếp

Hoàn cảnh giao tiếp là không gian, thời gian và những đặc điểm của nơi diễn ra cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp có thể chia làm hai loại: hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoà cảnh giao tiếp hẹp Hoàn cảnh giao tiếp rộng là những hiểu biết về chính trị, văn hoá, xã hội… tại thời điểm diễn ra cuộc giao tiếp Tất cả những hiểu biết này tạo ra tiền giả định để các nhân vật giao tiếp huy động theo những cách khác nhau vào cuộc giao tiếp Khi tiến hành cuộc giao tiếp thì các nhân vật giao tiếp phải có chung tiền giả định Hoàn cảnh giao tiếp hẹp là không gian, thời gian cụ thể đang diễn ra cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp hẹp đòi hỏi nhân vật tham gia giao tiếp phải có những ứng sử phù hợp Hoàn cảnh giao

Trang 24

SVTH: Trần Văn Giáp Trang 16

tiếp cũng ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc giao tiếp, mỗi hoàn cảnh ta phải có sự lựa chọn những cách giao tiếp cho phù hợp

Trên đây là những nhân tố giao tiếp cơ bản của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Các nhân tố này có mối liên hệ mật thiết với nhau trong khi tiến hành hoạt động giao tiếp

1.2.3 Ngữ cảnh

Ngữ cảnh là yếu tố giúp cho câu nói trở nên cụ thể, khiến người nghe, người đọc có thể dễ dàng xác định được nhân vật giao tiếp, nội dung giao tiếp, thời gian và không gian giao tiếp Là một yếu tố trong hoạt động giao tiếp, ngữ cảnh được cấu thành bởi các nhân tố:

Thứ nhất là nhân vật giao tiếp Gồm tất cả các nhân vật tham gia giao

tiếp: người nói (viết), người nghe (đọc) Người nói và nghe đều có một “vai” nhất định, đều có đặc điểm khác nhau về lứa tuổi, nghề nghiệp, cá tính, địa vị

xã hội, …-> chi phối việc lĩnh hội lời nói

Tiếp theo là bối cảnh giao tiếp rộng (hay còn gọi là bối cảnh văn hóa):

được thể hiện qua các yếu tố về bối cảnh xã hội, lịch sử, địa lý, phong tục tập quán, chính trị… ở bên ngoài ngôn ngữ

Một nhân tố khác là bối cảnh giao tiếp hẹp (bối cảnh tình huống): Đó

là thời gian, địa điểm cụ thể, tình huống cụ thể

Tiếp theo là hiện thực được nói tới (gồm hiện thực bên ngoài và hiện

thực bên trong của các nhân vật giao tiếp): Gồm các sự kiện, biến cố, sự việc, hoạt động… diễn ra trong thực tế và các trạng thái, tâm trạng, tình cảm của con người

Nhân tố cuối cùng là văn cảnh Theo các nhà ngôn ngữ thì nhân tố này

bao gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ cùng có mặt trong văn bản, đi trước hoặc sau một yếu tố ngôn ngữ nào đó Văn cảnh có ở dạng ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói

Trang 25

SVTH: Trần Văn Giáp Trang 17

Ngữ cảnh có vai trò quan trọng trong hoạt động giao tiếp Đó chính là môi trường để tạo lập, sản sinh lời nói, câu văn Do đó ngữ cảnh luôn luôn ảnh hưởng và tri phối nội dung và hình thức của câu Câu nói cần được sản sinh ra sao cho thích hợp với ngữ cảnh (với các nhân vật giao tiếp, với bối cảnh rộng và hẹp, với hiện thực được đề cập đến, với văn cảnh…) Hơn nữa, chính ngữ cảnh để lại dấu ấn trong câu Đây chính là mối quan hệ giữa môi trường và sản phẩm tạo ra trong môi trường ấy

1.3 Kỹ năng giao tiếp của học sinh THPT

1.3.1 Kỹ năng giao tiếp tiếng Việt

Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe, nhằm đạt được một mục đích nào đó Việc trao đổi thông tin được thực hiện bằng nhiều phương tiện, tuy nhiên, phương tiện sử dụng quan trọng nhất trong giao tiếp là ngôn ngữ Kỹ năng giao tiếp do đó được hiểu là khả năng sử dụng các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin về các phương diện của đời sống xã hội, trong từng bối cảnh, ngữ cảnh cụ thể, nhằm đạt đến một mục đích nhất định trong việc thiết lập mối quan hệ giữa những con người với nhau trong xã hội Kỹ năng giao tiếp bao gồm các thành tố: sự hiểu biết về các đơn vị ngôn ngữ và khả năng sử dụng ngôn ngữ vào biểu đạt các nội dung giao tiếp, sự hiểu biết về các tri thức của đời sống xã hội, sự vận dụng phù hợp những hiểu biết trên vào các tình huống giao tiếp cụ thể để tạo

ra những lời nói phù hợp, đạt hiệu quả giao tiếp cao

Trong môn học Ngữ văn, việc hình thành và phát triển cho HS kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ là một mục tiêu quan trọng, cũng là mục tiêu thế mạnh mang tính đặc thù của môn học Thông qua những bài học về sử dụng tiếng Việt, HS được hiểu về các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ và cách sử dụng phù hợp, hiệu quả trong các tình huống giao tiếp cụ thể, HS được luyện tập những tình huống hội thoại theo nghi thức và không nghi thức, các

Trang 26

SVTH: Trần Văn Giáp Trang 18

phương châm hội thoại, từng bước làm chủ tiếng Việt trong các hoạt động giao tiếp Các bài đọc hiểu văn bản cũng tạo môi trường, bối cảnh để HS được giao tiếp cùng tác giả và môi trường sống xung quanh, được hiểu và nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt văn hóa, văn học Đây cũng là mục tiêu chi phối trong việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là dạy học theo quan điểm giao tiếp, coi trọng khả năng thực hành, vận dụng những kiến thức tiếng Việt trong những bối cảnh giao tiếp đa dạng của cuộc sống KNGT trong các nội

dung dạy học tiếng Việt được thể hiện ở 4 kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc,

viết và khả năng ứng dụng các kiến thức và kỹ năng ấy vào các tình huống

giao tiếp khác nhau trong cuộc sống

1.3.2 Đặc điểm tư duy của HS THPT trong hoạt động giao tiếp

Do cấu trúc của não bộ phức tạp và chức năng của não phát triển, do sự phát triển của các quá trình nhận thức nói chung, do ảnh hưởng của hoạt động học tập mà hoạt động tư duy của HS THPT có thay đổi quan trọng Các em có khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo trong những đối tượng quen biết đã được học ở trường Tư duy của các em chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn Đồng thời tính phê phán tư duy cũng phát triển Mặc dù HS THPT đạt tới mức tư duy đặc trưng cho lứa tuổi như trên còn chưa nhiều Nhưng trong quá trình học tập, nhiều khi các em chưa chú ý phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính Tất cả những biểu hiện đó trong tư duy của HS đều thể hiện rất rõ trong lời nói giao tiếp hàng ngày của chủ thể học tập Trong học tập, cũng như trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, HS THPT biết bày tỏ thái độ, thể hiện suy nghĩ chính kiến của bản thân Các em cũng biết lập luận, diễn đạt những vấn đề trừu tượng, phức tạp thành lời nói cụ thể Tuy nhiên, nhiều khi khả năng diễn đạt, lập luận của các em chưa xác đáng, còn mang tính bồng bột, chủ quan, chưa sâu sắc Vì vậy, trong quá trình dạy học, GV cần hướng

Trang 27

SVTH: Trần Văn Giáp Trang 19

dẫn giúp đỡ các em tư duy một cách tích cực độc lập để phân tích đánh giá sự việc và tự rút ra kết luận cuối cùng Việc giúp các em phát triển khả năng nhận thức là một nhiệm vụ quan trọng của GV Tóm lại ở tuổi thanh niên mới lớn những đặc điểm chung của con người về mặt trí tuệ thông thường đã được hình thành và chúng vẫn còn được tiếp tục hoàn thiện

1.3.3 Khả năng giao tiếp của HS THPT

Lứa tuổi HS THPT là lứa tuổi có sự trưởng thành về mặt thể lực Các

em đang tự khẳng định mình để trở thành người lớn Các quan hệ xã hội của các em được mở rộng- ở nhà trường mỗi môn học là một thầy cô giảng dạy,

bè bạn của các em cũng tăng dần lên Vốn ngôn ngữ càng ngày càng giàu có

Vì thế nhu cầu giao tiếp của các em với mọi người tăng lên Kỹ năng giao tiếp của các em cũng tốt hơn, các em đã biết ứng xử sao cho chuẩn mực, đúng với

vị thế xã hội Đây là lứa tuổi có nhiều thay đổi về mặt tâm lí, và sự thay đổi

ấy chính là nguồn gốc nảy sinh nhu cầu giao tiếp của các em

1.3.4 Những biểu hiện cơ bản trong kỹ năng giao tiếp của HS THPT

Sự phát triển trí tuệ của HS: Tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao Quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn Quá trình quan sát đã chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu thứ hai nhiều hơn và không tách khỏi tư duy ngôn ngữ Các em có khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo trong những đối tượng đã quen biết đã được học ở trường Tư duy của các em chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn Cũng từ đó, khả năng lập luận một vấn đề của HS THPT khá tốt Nhiều

em thể hiện khả năng nói, viết của bản thân khá sắc sảo, chặt chẽ

Sự tự ý thức của HS: Ở lứa tuổi THPT, các em không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiện tại mà còn nhận thức cái tôi của mình trong xã hội, trong tương lai Các em không chỉ có nhu cầu đánh giá mà còn có khả năng đáng giá sâu sắc những phẩm chất mặt mạnh, mặt yếu của những người cùng

Trang 28

SVTH: Trần Văn Giáp Trang 20

sống và của chính mình Vì thế mà khả năng giao tiếp của các em trở nên mạnh mẽ hơn

Sự phát triển mạnh mẽ về ngôn ngữ Vốn từ của các em càng ngày càng giàu có, các em hiểu được nghĩa của các từ và dùng từ chính xác hơn lứa tuổi thiếu niên Các em sử dụng được nhiều mẫu câu thậm chí cả những mẫu câu phức tạp, viết câu đúng ngữ pháp Vì thế khả năng giao tiếp của các em cũng tốt hơn Các em cũng lĩnh hội và phát âm đúng nhiều âm vị, phát âm từ, câu chính xác hơn Các em đã biết điều chỉnh tốc độ, cường độ giọng nói, diễn đạt logic, mạch lạc hơn

Nhu cầu thực hiện và đòi hỏi mọi người hành vi ứng xử trong giao tiếp phù hợp với mọi chuẩn mực của xã hội Đây là cội nguồn của phẩm chất đạo đức Ở lứa tuổi này, HS dễ nhạy cảm với chuẩn mực hành vi đạo đức, các em đòi hỏi người lớn, cha mẹ, thầy cô giao tiếp một cách hài hoà

Nhu cầu hoà nhập vào nhóm bạn bè: Nhu cầu giao tiếp bạn bè thân tình

là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi Không chỉ trong thời gian rảnh rỗi, mà có khi ngay trong lớp học các em cũng tìm cách trò chuyện, trao đổi với nhau những thông tin về học tập sinh hoạt…

Tóm lại ở lứa tuổi này các em đã có những nhận thức và khả năng giao tiếp tốt hơn, là cơ sở cho việc dạy học tiếng Việt theo định hướng phát triển KNGT GV cần khai thác triệt để những thuận lợi để có thể phát huy mọi khả năng tiềm ẩn của các em vào hoạt động giao tiếp

1.4 Cơ sở thực tiễn

1.4.1 Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học Tiếng Việt ở trường THPT

Hiện nay, nhiều GV đã có ý thức đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn nhưng việc thực hiện chỉ mới mang tính chất hình thức, thử nghiệm chứ chưa đem lại hiệu quả như mong muốn Một số GV vẫn tổ chức hoạt động dạy học theo kiểu truyền thụ một chiều: GV giảng giải, HS lắng nghe, ghi nhớ và biết nhắc lại những

Trang 29

SVTH: Trần Văn Giáp Trang 21

điều mà GV đã truyền đạt Trong quá trình dạy học, nhiều GV chưa chú trọng tới việc hướng dẫn HS vận dụng kiến thức, chưa thực sự phát huy tính tích cực chủ động của chủ thể học tập Do đó, còn nhiều giờ dạy được GV tiến hành như một giờ diễn thuyết Điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả dạy học Tiếng Việt nói chung, dạy học Ngữ văn nói riêng

1.4.2 Điều tra, khảo sát thực trạng học Tiếng Việt ở trường THPT

Trong quá trình học tập, nhiều HS còn thụ động Mặc dù GV đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho HS thực sự trở thành chủ thể học tập nhưng các

em chưa chủ động tiếp thu bài, chưa thực sự có ý thức rèn luyện khả năng giao tiếp cho bản thân Vẫn có đó những lối học theo kiểu cũ như nghe, ghi chép, nhớ và tái hiện những gì GV cung cấp Hơn nữa, kỹ năng diễn đạt, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ còn hạn chế nên khi giao tiếp, các em thường lúng túng, chưa thể hiện được những suy nghĩ, tình cảm, thái độ của mình khi truyền tải những nội dung giao tiếp cụ thể Bởi thế, việc dạy học Tiếng Việt trong nhà trường chưa thực sự hiệu quả

Từ thực trạng dạy - học của GV và HS nêu trên ta nhận thấy: muốn HS

có năng lực giao tiếp tốt, GV không chỉ tận tình, sáng tạo, thay đổi trong phương pháp dạy học mà còn phải giúp HS nhận thấy những tri thức và kỹ năng đó không chỉ là khoa học thuần túy mà nó còn gắn liền với thực tế cuộc sống của các em Rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho HS sẽ nhằm mục đích hình thành và bồi dưỡng một năng lực xã hội quan trọng để các em có thể sống và làm việc suốt đời

1.4.3.Đánh giá chung

Như vậy qua phần khảo sát ta có thể khẳng định rằng: Thực trạng dạy, học tiếng Việt ở trường THPT vẫn mang tính truyền thụ một chiều, nên hoạt động học vẫn mang tính thụ động, chưa đạt kết quả chưa cao, HS không đam

mê, hứng thú với môn học Chính vì lẽ đó muốn giờ học tiếng Việt trở nên sôi

Ngày đăng: 07/09/2017, 10:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A – Nguyễn Quang Ninh – Bùi Minh Toán (2005), Phương pháp dạy học tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt
Tác giả: Lê A – Nguyễn Quang Ninh – Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
2. Nguyễn Viết Chữ (2006), “Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương”, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương”
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
3. Phan Phương Dung- Đặng Kim Nga, “Hoạt động giao tiếp với dạy học tiếng Việt ở Tiểu học” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoạt động giao tiếp với dạy học tiếng Việt ở Tiểu học
4. Cao Xuân Hạo (2001), “Tiếng Việt - văn Việt - người Việt”, NXB trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiếng Việt - văn Việt - người Việt”
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB trẻ
Năm: 2001
5. Lê Văn Hồng (chủ biên), 2007, “Tâm lí tuổi và tâm lí học sư phạm”, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tâm lí tuổi và tâm lí học sư phạm”
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
6. Lương Khắc Hiếu (chủ biên) (2005), “Giáo trình nghệ thuật phát biểu miệng”, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình nghệ thuật phát biểu miệng”
Tác giả: Lương Khắc Hiếu (chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
7. Thần Hi (2003), “Cẩm nang phỏng vấn” (Ngô Diệu Linh dịch), NXB trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cẩm nang phỏng vấn”
Tác giả: Thần Hi
Nhà XB: NXB trẻ
Năm: 2003
8. Lê Quang Huy (2006), “Kĩ năng & nghệ thuật thuyết trình” (Song ngữ Việt- Anh), NXB trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kĩ năng & nghệ thuật thuyết trình”
Tác giả: Lê Quang Huy
Nhà XB: NXB trẻ
Năm: 2006
9. Nguyễn Huy (người dịch) (2007), “Nghệ thuật nói hay”, NXB Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghệ thuật nói hay”
Tác giả: Nguyễn Huy (người dịch)
Nhà XB: NXB Phương Đông
Năm: 2007
10. Nguyễn Thị Thanh Hương (2001), “Dạy học Văn ở trường trung học phổ thông”, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dạy học Văn ở trường trung học phổ thông”
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
11. Lý Chủ Hưng (2007), “Tư vấn tâm lí học đường”, NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tư vấn tâm lí học đường”
Tác giả: Lý Chủ Hưng
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2007
12. Nguyễn Mạnh Hùng (2003), “Văn chương nhìn từ góc sân trường”, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn chương nhìn từ góc sân trường”
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2003
13. GS. Vũ Ngọc Khánh (2004), “Để dạy và học tốt môn Văn”, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Để dạy và học tốt môn Văn”
Tác giả: GS. Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2004
14. Đinh Trọng Lạc (chủ biên) (2006), “Giáo trình Phong cách học tiếng Việt”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Phong cách học tiếng Việt”
Tác giả: Đinh Trọng Lạc (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
15. Dương Thị Liễu (Chủ biên) (2009), “Kĩ năng thuyết trình”, NXB Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kĩ năng thuyết trình”
Tác giả: Dương Thị Liễu (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội
Năm: 2009
16. Trần Thị Hiền Lương, “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng nói cho học sinh Tiểu học ở môn Tiếng Việt”, của Viện khoa học Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng nói cho học sinh Tiểu học ở môn Tiếng Việt”
17. Nguyễn Quang Ninh (1992), “Rèn luyện kĩ năng nói trong sử dụng tiếng Việt”, báo khoa học, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Rèn luyện kĩ năng nói trong sử dụng tiếng Việt”
Tác giả: Nguyễn Quang Ninh
Năm: 1992
18. Nguyễn Quang Ninh (2000), “Một số vấn đề dạy học ngôn bản nói và viết ở tiểu học theo hướng giao tiếp” (NXB ĐHSP Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề dạy học ngôn bản nói và viết ở tiểu học theo hướng giao tiếp”
Tác giả: Nguyễn Quang Ninh
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội)
Năm: 2000
19. Nguyễn Trí, Lê A, Nguyễn Phương Nga, “Phương pháp dạy học tiếng Việt”, tập 2 (Giáo trình đào tạo GV Tiểu học hệ cao đẳng sư phạm và sư phạm 12+2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt
20. Nguyễn Quang Uẩn (1996) “Tâm lí lọc đại cương” NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tâm lí lọc đại cương”
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w