LỜI CẢM ƠN Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài: Rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho học sinh THPT trong dạy học bài “Thao tác lập luận so sánh” SGK Ngữ văn 11, tác giả khoá l
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN -*** -
PHẠM THỊ QUÝ DẬU
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
TỔ CHỨC LẬP LUẬN CHO HỌC SINH
THPT TRONG DẠY HỌC BÀI “THAO
TÁC LẬP LUẬN SO SÁNH”
( NGỮ VĂN 11)
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
HÀ NỘI - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN -*** -
PHẠM THỊ QUÝ DẬU
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
TỔ CHỨC LẬP LUẬN CHO HỌC SINH
THPT TRONG DẠY HỌC BÀI “THAO
TÁC LẬP LUẬN SO SÁNH”
(NGỮ VĂN 11)
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
TS PHẠM KIỀU ANH
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài: Rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho học sinh THPT trong dạy học bài “Thao tác lập luận so sánh” (SGK Ngữ văn 11), tác giả khoá luận thường xuyên nhận được sự giúp đỡ, tạo
điều kiện thuận lợi và chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy, cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn và TS Phạm Kiều Anh - người hướng dẫn trực tiếp
Tác giả khoá luận xin được bày tỏ sự biết ơn và gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới các thầy cô
Do năng lực nghiên cứa có hạn, khoá luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô giáo và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 2017
Tác giả khoá luận
PHẠM THỊ QUÝ DẬU
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khoá luận tốt nghiệp Đại học với đề tài: Rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho học sinh THPT trong dạy học bài “Thao tác lập luận so sánh” (sách giáo khoa Ngữ văn 11) là công trình nghiên cứu của cá
nhân tôi
Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 2017
Tác giả khoá luận
PHẠM THỊ QUÝ DẬU
Trang 5BẢNG VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 BGD &DT: Bộ Giáo dục và Đào tạo
2 BT: Bài tập 3.CH: Câu hỏi 4.GV: Giáo viên
5 HS: Học sinh
6 PP: Phương pháp 7.PPDH: Phương pháp dạy học 8.PT: Phổ thông
10.SGK: Sách giáo khoa 11.THCS: Trung học cơ sở
12 THPT: Trung học phổ thông 14.TTLL: Thao tác lập luận
15 VBNL: Văn bản nghị luận
16 [10,79]: [sách 10, trang 79]
17 NXB: Nhà xuất bản
18 QTDH: Qúa trình dạy học
Trang 6MỤC LỤC
Contents
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1 Mục đích nghiên cứu 4
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
5.1 Phương pháp tổng hợp các vấn đề lý thuyết 5
5.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu 6
5.3 Phương pháp thử nghiệm 6
5.4 Phương pháp thống kê 6
6 Bố cục của khoá luận 6
NỘI DUNG 7
1.1.Những vấn đề chung về kĩ năng tổ chức lập luận cho học sinh THPT 7
1.1.1 Kĩ năng và hình thành kĩ năng 7
1.1.2 Lập luận và kỹ năng tổ chức lập luận trong văn bản nghị luận 8
1.1.2.1 Lập luận trong văn bản nghị luận 8
1.1.2.2 Kỹ năng tổ chức lập luận trong văn bản nghị luận 11
1.1.2.3 Những yêu cầu chung của việc dạy học tạo lập văn bản nghị luận theo hướng rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho học sinh THPT 12
Trang 71.1.3 Thao tác lập luận trong kĩ năng tổ chức lập luận 13
1.2 Thao tác lập luận so sánh trong văn bản nghị luận 15
1.2.1 Khái niệm 15
1.2.2 Đặc điểm của thao tác lập luận so sánh 17
1.3.Cơ sở thực tiễn 19
1.3.1 Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học Làm Văn ở trường THPT 19
1.3.2 Điều tra, khảo sát thực trạng học Làm Văn ở trường THPT 21
1.3.3 Đánh giá chung 22
CHƯƠNG 2: DẠY HỌC BÀI “THAO TÁC LẬP LUẬN SO SÁNH” 23
THEO HƯỚNG RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỔ CHỨC LẬP LUẬN 23
CHO HỌC SINH THPT 23
2.1 Mục đích của việc dạy bài “Thao tác lập luận so sánh” 23
2.2.Nội dung bài dạy 24
2.3 Nguyên tắc rèn luyện kĩ năng lập luận cho HS khi dạy học bài“Thao tác lập luận so sánh” 25
2.3.1 Nguyên tắc phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh 25
2.3.2.Nguyên tắc dạy học gắn liền với thực tiễn cuộc sống 26
2.3.3 Nguyên tắc rèn luyện kĩ năng tư duy học sinh 27
2.3.4 Nguyên tắc khoa học 27
2.4 Dạy học bài “Thao tác lập luận so sánh” theo hướng rèn luyện kĩ năng lập luận cho người học 29
2.4.1 Trang bị kiến thức về lập luận và thao tác lập luận so sánh cho HS 29
2.4.2 Trang bị cho HS kĩ năng thực hiện thao tác lập luận so sánh 31
2.4.3 Tổ chức cho HS luyện tập thực hành sử dụng TTLL so sánh 32
2.4.4 Hình thành thái độ cho học sinh khi sử dụng thao tác lập luận so sánh vào văn bản 34
Trang 82.5 Xác định các phương pháp dạy học bài “Thao tác lập luận so sánh” theo
hướng rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho người học 34
2.5.1 Thảo luận nhóm 34
2.5.2 Vấn đáp - đàm thoại 35
2.5.3 Rèn luyện theo mẫu 36
2.5.4 Sử dụng câu hỏi nêu vấn đề 37
CHƯƠNG 3 THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 39
3.1 Mục đích thử nghiệm 39
3.2 Đối tượng thử nghiệm 39
3.3 Địa bàn thử nghiệm 39
3.4 Thời gian thử nghiệm 40
3.5 Nội dung thử nghiệm 40
KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9bỏ, bình luận Trong đó, TTLL so sánh là một nội dung mới So sánh là một thao tác tư duy được con người sử dụng thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày Về bản chất, đó là sự đối chiếu hai hay nhiều đối tượng, nhiều sự kiện, nhiều hiện tượng với nhau dựa trên một mối liên hệ nào đó, nhằm làm nổi bật được đối tượng đang được xem xét, đánh giá Nhờ có TTLL này, người tạo lập có thể biểu đạt nội dung cần nghị luận, tạo sự hấp dẫn lôi cuốn người tiếp nhận Tuy nhiên, có thể sử dụng thao tác lập luận so sánh một cách thành thạo, đạt hiệu quả cao, biết cách vận dụng kết hợp với các TTLL khác, HS cần phải có kĩ năng tổ chức lập luận, phải biết cách xử lý thông minh, khéo léo tránh vận dụng khô cứng, gượng ép
Trong quá trình giáo dục, cái đích cuối cùng của việc dạy học Làm văn
là hình thành và rèn luyện những kỹ năng cơ bản, cần thiết để các em tự chủ, độc lập, sáng tạo khi các em sản sinh lời nói Theo đó, quá trình dạy Làm văn
chính là quá trình HS “có được các kỹ năng hình thành và thể hiện ý riêng của mình bằng ngôn ngữ đó để suy nghĩ, để nói ra và viết ra khi nhận thức và giao tiếp”[11,234]
Cũng bởi thế, nội dung tri thức của làm văn đều hướng tới việc trang bị cho các em những kỹ năng cần thiết phục vụ cho việc tạo lập văn bản TTLL
Trang 102
trong chương trình Ngữ văn THPT là hệ thống kỹ năng Bản chất của nó là trang bị cho các em những hiểu biết và cách tổ chức lập luận khi biểu đạt nội dung nghị luận Nói một cách khác, đó là những kỹ năng giúp HS có thể lập trình đúng những nội dung cũng như cách tổ chức các phương tiện ngôn ngữ khi biểu đạt nội dung nghị luận Vì thế, trang bị hệ thống kiến thức về TTLL
là hình thành cho HS kĩ năng thiết yếu về cách tổ chức lập luận, từ đó giúp các
em biết vận dụng kĩ năng ấy vào thực tế tạo lập văn bản của bản thân
Hiện nay, việc rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho HS chưa được quan tâm, chú trọng Trong các giờ thực hành làm văn, GV thường tổ chức theo tinh thần ôn tập kiến thức và HS làm các bài tập có trong SGK Khi luyện tập thực hành, GV chưa mạnh dạn lựa chọn những bài tập bên ngoài SGK, cũng chưa có những hình thức, những biện pháp giáo dục cụ thể để rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho chủ thể học tập Hơn nữa, trong các giờ viết bài, nhiều GV mới chỉ hướng dẫn HS cách lập dàn, tìm ý mà không chú trọng tới nhiệm vụ hướng dẫn các em vận dụng và sử dụng các TTLL để tổ chức lập luận Cũng vì thế, khả năng tổ chức lập luận của nhiều HS chưa tốt Mặc dù được học hệ thống các TTLL song HS chưa thực sự biết thực hiện và
sử dụng chúng có hiệu quả Cũng vì thế, theo yêu cầu đổi mới, việc dạy học
Làm văn nói chung, dạy học “Thao tác lập luận so sánh” nói riêng phải gắn
liền với nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho HS Bởi lẽ, rèn luyện
kĩ năng tổ chức lập luận cho HS, một mặt rèn luyện cho các em kĩ năng sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt nội dung giao tiếp, mặt khác là rèn kĩ năng tư duy cho HS Như vậy, rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho HS là con đường hiện
thực hóa mục tiêu của việc dạy Làm văn, thông qua việc dạy bài "Thao tác lập luận so sánh" Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài:
Rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận trong dạy học bài "Thao tác lập luận so sánh (SGK Ngữ văn 11)
Trang 113
2 Lịch sử vấn đề
Ngay từ xa xưa, khi bàn về thuật hùng biện, Aristote đã trình bày những hiểu biết của mình về lập luận Theo đó, lập luận được xác định thuộc phạm vi của thuật hùng biện Nó là con đường dẫn dắt người đọc,người nghe tiếp nhận để nắm bắt được một sự việc, hiện tượng nào đó của thế giới khách quan, của xã hội loài người Để tạo hình ảnh và sự hấp dẫn cho lập luận, con người đã sử dụng thao tác so sánh Bởi thế, cho đến nay, lập luận so sánh được nhiều nhà khoa học quan tâm và tìm hiểu Có thể
Bàn về so sánh, các tác giả Trần Đình Sử (Chủ biên), Phan Trong Luận,
Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn "Làm văn 12" (NXB Giáo dục, 2004) coi so
sánh như là một cách luận chứng bên cạnh những cách khác như diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, nêu phản đề, phân tích nhân - quả và đã chia so sánh thành hai dạng: So sánh tương đồng và so sánh tương phản Để chứng minh quan điểm trên các tác giả đã đưa ra vấn đề lý thuyết, sau đó lấy ví dụ minh họa giúp người đọc dễ hình dung ra từng kiểu so sánh Theo các tác giả,
so sánh tương đồng là từ một chân lý đã biết suy ra một chân lý tương tự có chung một logic bên trong Còn so sánh tương phản là đối chiếu các mặt trái ngược nhau để làm nổi bật vấn đề mà mình muốn làm sáng tỏ
Tác giả Nguyễn Bảo Quyến trong cuốn: "Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận" (NXB Giáo dục) đã quan niệm so sánh như là một thao tác tổ chức
nên bài văn nghị luận bên cạnh những thao tác khác như phân tích và tổng hợp, giải thích, chứng minh, bình luận Tác giả quan niệm so sánh là thao tác đối chiếu nhằm tìm ra cái chung và cái khác biệt giữa các đối tượng, các vấn đề
So sánh còn giúp ta nhấn mạnh nét đặc sắc, độc đáo trong ý kiến của mình
Các tác giả Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên), Đỗ Ngọc Thống, Lưu Đức
Hạnh trong cuốn: "Muốn viết được bài văn hay" (NXB Giáo dục, 2006) cũng
đã trình bày sự khác nhau giữa so sánh như một biện pháp tu từ để tạo thành hình ảnh với so sánh như một phương pháp, một cách thức trình bày khi viết
Trang 124
bài văn nghị luận Theo tác giả, trong quá trình làm văn, nếu gặp những vấn
đề ghi rõ yêu cầu so sánh thì không nói làm gì, điều đáng lưu ý là cả những vấn đề không yêu cầu so sánh, người viết cũng có thể vận dụng so sánh như một biện pháp có tác dụng rất lớn trong việc diễn đạt nhằm làm sáng tỏ vấn đề
mà mình định nghị luận Bất kì ai muốn cho bài viết của mình sinh động, phong phú và có sức thuyết phục thì cần phải sử dụng thao tác này, bởi nhiều khi chỉ cần so sánh là người viết có thể làm nổi bật được vấn đề
Tác giả Phạm Kiều Anh trong cuốn: "Tạp chí khoa học" (số 57,5/2012) với bài viết "Tìm hiểu thao tác lập luận so sánh trong văn bản nghị luận" đã
trình bày so sánh là một TTLL giúp cho người người lập luận có điều kiện dẫn dắt người tiếp nhận đến với một chân lý một kết luận nào đấy về vấn đề được bàn luận Cũng bởi thế, so sánh thể hiện rõ mục đích cũng như tính lập luận trong văn nghị luận Qua thống kê trên, chúng tôi thấy đã có những công trình nghiên cứu về TTLL này nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về kĩ năng tổ chức lập luận cho HS Trên thực tế, trong rất nhiều bài viết của HS, khả năng năng tổ chức lập luận của các em chưa tốt
Như vậy, cùng bàn về TTLL so sánh song mỗi công trình nghiên cứu có những đề xuất riêng về vấn đề này Tuy nhiên, chưa có một công trình nào lại trực tiếp đề xuất tới việc rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho HS trong quá
trình dạy học hệ thống những bài về TTLL, trong đó có bài "Thao tác lập luận so sánh" Đây là gợi dẫn để chúng tôi nghiên cứu đề tài này, với mục
đích phần nào hình thành và rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận khi tạo lập văn bản để các em có thể làm việc suốt đời
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm xác định được cách thức rèn luyện kĩ năng
tổ chức lập luận, nâng cao năng lực tạo lập văn bản cho HS khi học một kĩ năng tổ chức lập luận; từ đó, từng bước tìm ra những cách thức tổ chức dạy
học Làm văn, trong đó có bài “Thao tác lập luận so sánh” đạt hiệu quả
Trang 135
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài Rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận trong dạy học bài "Thao tác lập luận so sánh" (Ngữ văn 11), chúng tôi xác định những
nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau:
- Tổng hợp hệ thống cơ sở khoa học về kỹ năng, kỹ năng lập luận, bước
đầu vận dụng vào dạy bài “Thao tác lập luận so sánh” ở trường THPT
- Đề xuất các phương pháp có thể sử dụng khi tổ chức dạy học bài
"Thao tác lập luận so sánh" chú trọng đến rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận
cho HS
- Thiết kế giáo án thử nghiệm
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu đề ra trên đây, khóa luận tập trung vào tìm hiểu đặc điểm của dạy học theo định hướng rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho người học nhằm tìm ra những cách thức tổ chức hoạt động dạy
học phát huy tính tích cực độc lập của HS
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Gắn với nội dung đề tài nghiên cứu, chúng tôi chọn bài “Thao tác lập luận so sánh” (Ngữ văn 11) làm đối tượng nghiên cứu nhằm tạo ra hiệu quả
cho những giờ học Làm Văn
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
5.1 Phương pháp tổng hợp các vấn đề lý thuyết
Đây là phương pháp được sử dụng triệt để trong quá trình nghiên cứu các thành tựu của các ngành khoa học liên quan và những thành tự đã đạt được của PPDH Tiếng Việt để đưa ra những nội dung mang tính chất là cơ sở
lý luận và những tiền đề thực tiễn đề rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận khi dạy học Làm văn cho HS THPT
Trang 146
5.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Được sử dụng như là một phương pháp nhằm chỉ ra cái giống và khác nhau của các thao tác Đồng thời việc sử dụng phương pháp này còn giúp bài nghiên cứu có cơ sở khái quát hóa quy trình thực hiện để hình thành kĩ năng
tổ chức lập luận cho HS khi tạo lập văn bản
5.3 Phương pháp thử nghiệm
Phương pháp này được thực hiện ở việc:
- Xây dựng cơ sở thử nghiệm sư phạm thông qua việc thiết kế giáo án bài dạy
- Tổ chức dạy thử nghiệm ở trường phổ thông
- Thông qua quá trình thực hiện giảng dạy, đánh giá nhận thức của học sinh và đánh giá về nội dung trình bày trong tiết học, từ đó đưa ra các đề xuất
về nội dung cũng như phương pháp giảng dạy Làm văn cho HS THPT
5.4 Phương pháp thống kê
Dùng để xử lý số liệu thu thập trong quá trình điều tra thực nghiệm
6 Bố cục của khoá luận
Khoá luận được triển khai thành ba phần: Mở đầu, nội dung và kết luận
Phần nội dung của khoá luận được cấu trúc với 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Dạy học bài “Thao tác lập luận so sánh” theo hướng rèn
luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho học sinh THPT
Chương 3: Thử nghiệm sư phạm
Trang 157
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1.Những vấn đề chung về kĩ năng tổ chức lập luận cho học sinh THPT
Mục đích của việc dạy học Làm văn ở trường PT là hình thành và rèn luyện cho HS kĩ năng tạo lập văn bản, trong đó có kĩ năng tổ chức lập luận khi tạo lập các kiểu văn bản, để từ đó các em có năng lực thực hiện những yêu cầu cụ thể của cuộc sống Không là ngoại lệ, trong quá trình dạy học VBNL, cũng hướng tới mục tiêu là rèn cho HS những kĩ năng thiết yếu để các em có thể tạo ra những sản phẩm có giá trị Để đạt được điều đó, trong mọi khâu, mọi hoạt động của quá trình dạy học, GV đều phải hướng tới việc hình thành
và rèn luyện kĩ năng cho HS
1.1.1 Kĩ năng và hình thành kĩ năng
Khi nghiên cứu quá trình nhận thức của con người, các nhà khoa học nhận thấy tầm quan trọng to lớn của kĩ năng Hiểu một cách đơn giản: "kĩ năng của con người chính là khả năng con người thực hiện một hành động nào đó có tính kĩ thuật và được rèn luyện thông qua hoạt động luyện tập thực hành" Với quan niệm trên, chúng ta có thể khẳng định kĩ năng là khả năng của con người đạt được ở mức sơ giản dựa trên những nhận thức khoa học
Nó được bộc lộ thông qua việc con người vận dụng những kiến thức đã có vào giải quyết một nội dung hoặc một yêu cầu nào đó Tác giả Trần Trọng
Thủy quan niệm "Kĩ năng là mặt kĩ thuật của hành động - con người nắm được cách thức hành động - tức kĩ thuật cuả hoạt động là có kĩ năng Kĩ năng hình thành dần qua luyện tập và hoạt động thực tiễn" [17,87] Nhà tâm lý Pe- trôv-xki nhấn mạnh: " Kĩ năng được hình thành bằng con đường luyện tập tạo khả năng cho con người thực hiện hiện hành động không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà cả trong điều kiện thay đổi" [17,88] Theo đó kĩ năng được
xem xét ở hai phương diện: Khả năng thực hiện một hành động nào đó trong
Trang 168
điều kiện quen thuộc và khả năng thực hiện hành động một cách thành thạo,
tự động, linh hoạt, sáng tạo Nói một cách khác, việc hình thành kĩ năng phải thực hiện trải qua hai giai đoạn: Hình thành khả năng thực hiện hành động và rèn luyện khả năng đó thành năng lực riêng của mỗi cá nhân Vì thế con đường hình thành kĩ năng phải trải qua các bước:
Bước 1: Tìm hiểu, nhận thức đúng đắn đầy đủ về hành động cần thực hiện Đây là bước tranh bị những hiểu biết nhằm định hướng cho việc hình thàn kĩ năng
Bước 2: Quan sát mẫu, làm theo mẫu Đây chính là bước quan sát kĩ lưỡng các động tác thực hiện hành động, đối chiếu lý thuyết từ đó hình thành
kĩ năng
Bước 3: Luyện tập Trên cơ sở của bước 2, con người tiến hành luyện tập, hoàn thiện kĩ năng, phát triển thành năng lực riêng của từng bản thân
1.1.2 Lập luận và kĩ năng tổ chức lập luận trong văn bản nghị luận
1.1.2.1 Lập luận trong văn bản nghị luận
Lập luận là một hành động ngôn ngữ được biểu hiện qua cả phương diện nội dung và cấu trúc hình thức Bởi lẽ, trong ngôn ngữ, lập luận là một chiến lược hội thoại được con người thực hiện nhằm dẫn dắt người tiếp nhận
đi tới một nhận thức hoặc một kết luận nào đó mà người tạo lập muốn đạt được Cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này song hiểu
một cách đơn giản: Lập luận là đưa ra những lý lẽ, dẫn chứng nhằm dẫn dắt người đọc, người nghe đến kết luận mà người nói,người viết muốn đạt tới
Với tư cách là một hành động ngôn ngữ, lập luận là yếu tố giúp con người tạo thành phát ngôn cụ thể để hiện thực hóa nhận thức Khi nghiên cứu văn bản,
lý thuyết lập luận là một trong những cơ sở khoa học không thể thiếu
Nghị luận là kiểu văn bản đặc biệt quan tâm tới thuyết lý, được thực hiện chủ yếu bằng tư duy logic Vì thế, khi tạo lập, người nghị luận phải phản ánh được nhận thức, quan điểm của bản thân về thế giới khách quan; phải thể
Trang 179
hiện được tư tưởng, tình cảm bằng chính ý kiến xác định trên cơ sở của các lý
lẽ và dẫn chứng cụ thể Nói một cách khác, giá trị của VBNL được đánh giá dựa vào ý nghĩa của văn bản thông qua lập luận Khẳng định vai trò của lập luận, nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Thống, khi tiếp cận với văn nghị luận cho
rằng: “ Văn nghị luận là một thể loại nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về văn học hoặc chính trị, đạo đức, lối sống nhưng lại được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn, với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục ” [15, 189] Nhận định trên khẳng định cho đặc trưng cơ bản của văn
bản này Có thể nói, nhờ hệ thống lý lẽ, dẫn chứng và thông qua việc diễn đạt bằng ngôn từ lôgic, người viết có thể trình bày nội dung nghị luận một cách chính xác, tạo ra những tác động nhất định đối với người tiếp nhận
Như vậy, lập luận trong VBNL là hành động ngôn ngữ giúp cho người tạo lập biểu đạt nội dung nghị luận sâu sắc, đầy đủ, chính xác Lưu Hiệp khẳng định: Nguyện luận làm thành một thể là để phân biệt đúng - sai, phải - trái, tìm hết lý lẽ, truy cứu ở cái chỗ vô hình, khoan xuyên vật cứng để cho thông, khơi chỗ sâu để xem giới hạn, nó là cái giỏ để bắt trăm điều suy nghĩ,
là thước đo cân nhắc vạn sự Nói một cách khác, tính chính xác của VBNL được tạo ra qua hành động lập luận Trong VBNL, lập luận được coi là hành động ngôn ngữ được người tạo lập thực hiện trong suốt quá trình nghị luận
Nó không chỉ là một câu, một đoạn mà là hành động được người nghị luận thực hiện trong toàn bộ văn bản Nói một cách khác, mỗi VBNL là một chuỗi các hành động ngôn ngữ được người tạo lập tạo ra nhằm tổ chức nội dung luận bàn (từ nội dung khái quát tới những nội dung cụ thể thông qua luận điểm, luận cứ và luận chứng), đồng thời thể hiện dụng ý riêng của bản thân
Vì thế, lập luận là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ nội dung văn bản, là một trong những căn cứ để đánh giá giá trị của bài văn nghị luận Hơn nữa, lập
Trang 1810
luận trong VBNL còn thể hiện rõ những hành động của tư duy logic Khi thực hiện hoạt động nghị luận, tận dụng những quy tắc về nhận thức chân lý trong logic, người tạo lập tổ chức sắp xếp các yếu tố của lập luận để dẫn dắt người tiếp nhận đi đến với chân lý khoa học, nhằm đạt được các mục đích khác nhau như tuyên truyền, giáo dục, nhận thức xã hội, giao lưu truyền bá hay truyền cảm bồi dưỡng Dù mục đích tạo lập khác nhau, nội dung nghị luận khác nhau nhưng thông qua hành động lập luận, người nói, người viết có thể dẫn dắt người nghe, người đọc tiếp cận nội dung bàn luận một cách tự nhiên, khéo léo Nói một cách khác, VBNL đặc biệt chú trọng tới cách tổ chức lập luận nhằm tác động mạnh mẽ đến người tiếp nhận, thuyết phục người ta tin vào ý kiến của bản thân người tạo lập Nhờ có lập luận, người tạo lập thể hiện thái
độ, quan điểm, cũng như những dụng ý riêng của bản thân nhằm khêu gợi, tác động vào cảm xúc, tưởng tượng của người đọc và tạo ra những tác động nhất định đối với người tiếp nhận Cũng vì thế, lập luận được coi là phương thức biểu đạt cơ bản của kiểu văn bản này
Gía trị của VBNL được đánh giá dựa vào ý nghĩa văn bản thông qua lập luận Khẳng định vai trò của lập luận, nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Thống,
khi tiếp cần với văn nghị luận cho rằng: " văn nghị luận là một thể loại nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về văn học hoặc chính trị, đạo, lối sống nhưng lại được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn, với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục " [12, 189] Lập luận trong VBNL là
hành động ngôn ngữ giúp cho người tạo lập biểu đạt nội dung nghị luận sâu sắc, đầy đủ, chính xác Khi tạo lập văn bản, người tạo lập tổ chức sắp xếp các yếu tố của lập luận để dẫn dắt người tiếp nhận đi đến với chân lý khoa học nhằm đạt được các mục đích khác nhau như giáo dục, nhận thức, Dù mục đích tạo lập khác nhau, nội dung nghị luận khác nhau, nhưng thông qua hành
Trang 1911
động lập luận, người nói, người viết có thể dẫn dắt cho người đọc, người nghe tiếp cận nội dung bàn luận một cách tự nhiên, khéo léo
1.1.2.2 Kĩ năng tổ chức lập luận trong văn bản nghị luận
Trong quá trình giáo dục, cái đích cuối cùng của dạy học Làm văn là hình thành và rèn luyện kĩ năng cơ bản và cần thiết để các em tự chủ, độc lập, sáng tạo khi các em sản sinh ra lời nói Trên cơ sở đó, dạy học Làm văn ở
trường phổ thông chính là quá trình HS "có được các kĩ năng hình thành và thể hiện ý riêng của mình bằng ngôn ngữ đó để suy nghĩ, để nói ra và viết ra
khi nhận thức và giao tiếp" [10, 234] Cũng bởi thế, nội dung tri thức của làm
văn đều hướng tới việc trang bị cho các em những kĩ năng cần thiết phục vụ cho việc tổ chức lập luận khi tạo lập văn bản
Tâm lý học hoạt động nhấn mạnh nhân cách của con người được hình thành và phát triển trong thực tế hoạt động, trong đó có hoạt động của lời nói Con người muốn học ngôn ngữ để hiểu đúng hơn vai trò, chức năng và bản chất của hệ thống ngôn ngữ nói chung, hiểu và sử dụng được tiếng mẹ đẻ để giao tiếp và học tập thì phải qua thực hành Thực hành nhằm củng cố tri thức
và hoàn thiện, phát triển kĩ năng, kĩ xảo của HS Rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận trước hết và quan trọng nhất là phải qua thực hành mà giúp các em nắm được các phương tiện, các phương thức tổ chức theo những mục đích nhất định Qua thực hành, HS có điều kiện vận dụng và bộc lộ con người các
em trong những sản phẩm cụ thể
Vì thế, muốn tổ chức rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận, GV cần quan tâm tới những yêu cầu cũng như các mức độ đạt được trong quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ của mỗi người Theo đó việc hình thành kĩ năng
tổ chức lập luận có thể được cụ thể theo các giai đoạn sau:
Trước hết, GV định hướng cho người đọc nắm được các phương thức
tổ chức lập luận Việc làm này nhằm trang bị cho HS những kiến thức cơ bản
về tổ chức lập luận (mục đích, yêu cầu, cách thực hiện)
Trang 2012
Sau khi tác động bên ngoài, GV tổ chức cho HS luyện tập cách thực hiện tổ chức lập luận Đây chính là quá trình HS quan sát, tập vận dụng và rèn luyện kĩ năng sử dụng TTLL Giai đoạn này được tiến hành theo các công việc cụ thể:
Thứ nhất, GV phải hướng dẫn HS xác định mục đích nghị luận (xác định luận điểm cần nghị luận)
Tiếp theo, GV hướng dẫn cho HS cách thức tổ chức lập luận
Sau đó, GV tổ chức cho HS luyện tập
Cuối cùng GV tạo điều kiện để các em củng cố nhận thức,và biến những kĩ năng ấy thành cái riêng, hình thành kĩ năng tổ chức lập luận của chính bản thân HS
1.1.2.3 Những yêu cầu chung của việc dạy học tạo lập văn bản nghị luận theo hướng rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho học sinh THPT
Trong quá trình giáo dục, cái đích cuối cùng của việc dạy học Làm văn
là hình thành và rèn luyện những kĩ năng cơ bản, cần thiết để các em tự chủ, độc lập, sáng tạo khi tạo lập văn bản Chính vì vậy, GV cần trang bị cho HS
kỹ năng tổ chức các yếu tố của lập luận khi tạo lập văn bản để trang bị cho các em những hiểu biết và cách tổ chức lập luận khi biểu đạt nội dung nghị luận Nói một cách khác, đó là kĩ năng giúp HS có thể lập trình đúng những nội dung cũng như cách tổ chức các phương tiện ngôn ngữ khi biểu đạt nội dung nghị luận Như vậy việc trang bị kĩ năng tổ chức lập luận cho HS là rất cần thiết để từ đó giúp các em biết vận dụng kĩ năng ấy vào thực tế tạo lập văn bản của bản thân
Khi hướng dẫn HS tạo lập văn bản theo hướng rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho HS THPT, GV phải hướng tới các yêu cầu sau:
+ Giúp HS có những hiểu biết về lập luận, về cách thức tổ chức lập luận để từ đó các em khi tạo lập văn bản biết cách làm bài, cách tổ chức lập
Trang 21+ Cần chú trọng hoạt động thực hành trong các giờ học, để thông qua thực hành mà rèn luyện cách thức thực hiện nhiệm vụ tổ chức lập luận khi biểu đạt nội dung vấn đề
1.1.3 Thao tác lập luận trong kĩ năng tổ chức lập luận
Tiếp cận VBNL, các nhà nghiên cứu nhận thấy rõ tầm quan trọng của phân tích, chứng minh, bình luận Chương trình Ngữ văn THPT hiện hành quan niệm đó là thao tác lập luận
Thao tác là thuật ngữ được đề ra từ tâm lý học hoạt động Theo
A.A.Leonchiep, con người thực hiện hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu nào
đó của bản thân Để thỏa mãn những nhu cầu đó, con người thực hiện hành động và thao tác chính là thành phần cấu tạo của hành động Thao tác là đơn
vị nhỏ nhất của hoạt động Trong cấu trúc hoạt động, thao tác là nhân tố thuộc
về phía chủ thể thực hiện hoạt động, nó giúp cho chủ thể tiến hành tiến hành tạo ra các sản phẩm nhằm đáp ứng mực đích cụ thể, mục đích cuối cùng của hoạt động Thao tác là phương tiện để thực hiện hành động Nó thuần túy là
cơ cấu kĩ thuật, máy móc của hành động Nó có thể được tháo lắp, đập vỡ, chắp ghép và tự do tham gia vào bất kì hành động nào nếu hành động đó phù hợp với nó về logic Trong hoạt động, thao tác chính là nhân tố tạo nên sự vận hành của hoạt động, nhằm đạt được mục đích Chính vì vậy, mục đích hành động không chỉ chứa đựng những yếu tố nội dung mà còn bao hàm cả cách làm ra nó Cho nên, trong hoạt động chủ thể vừa nắm được nội dung của đối tượng vừa nắm được cách làm ra nó tức là các thao tác
Trang 2214
Xuất phát từ đặc điểm của cấu trúc hoạt động và từ những biểu hiện trong hoạt động nghị luận của con người, chúng tôi cho rằng tạo lập VBNL là một hoạt động Hoạt động đó được con người thực hiện nhằm đáp ứng được những nhu cầu riêng của bản thân Muốn đạt được nhu cầu ấy, con người phải thực hiện các động tác - cơ sở để thực hiện và vận hành những hành động nghị luận Một trong những hành động thiết yếu chính là hành động lập luận
Và để thực hiện hành động ấy, người lập luận phải sử dụng các TTLL Như vậy, TTLL chính là việc tổ chức, sắp xếp các động tác có tính chất kĩ thuật để dẫn dắt, bày tỏ, thuyết phục người đọc, người nghe về một vấn đề nào đó và giúp họ nhận thức được vấn đề cần bàn luận Cũng nhờ có các TTLL mà con người có thể trình bày một vấn đề một cách chính xác và khoa học Bởi các thao tác này là cơ sở, phương tiện, là yếu tố tạo nên nội dung bàn luận Và chúng được coi là linh hồn của VBNL Theo đó, ta có thể hiểu TTLL như sau:
Thao tác lập luận là những động tác có tính chất kĩ thuật mà người nói, người viết sử dụng để sắp xếp các yếu tố của lập luận (luận điểm, luận cứ) theo trình tự và yêu cầu nhằm đạt được những mục đích riêng khi thực hiện các hoạt động nghị luận
TTLL trong chương trình Ngữ văn THPT là hệ thống kĩ năng Bản chất của nó là trang bị cho các em những hiểu biết và cách tổ chức lập luận khi biểu đạt nội dung nghị luận Nói một cách khác đó là kĩ năng giúp HS có thể lập trình đúng những nội dung cũng như cách tổ chức các phương tiện ngôn ngữ khi biểu đạt nôi dung nghị luận Vì thế trang bị hệ thống kiến thức về TTLL là hình thành cho HS kĩ năng thiết yếu về cách tổ chức lập luận, từ đó giúp các em biết vận dụng kĩ năng ấy vào thực tế tổ chức lập luận khi tạo lập văn bản của HS Theo đó quá trình dạy học Làm văn là con đường giúp HS hình thành phát triển, kĩ năng, kĩ xảo tổ chức lập luận, sử dụng ngôn ngữ khi tạo lập văn bản
Trang 2315
1.2 Thao tác lập luận so sánh trong văn bản nghị luận
Thao tác lập luận so sánh là một trong những thao tác lập luận cơ bản trong văn bản nghị luận, một trong những hành động ngôn ngữ Đó là một trong những hành động để con người tạo ra sản phẩm giao tiếp cụ thể
1.2.1 Khái niệm
So sánh là một TTLL được sử dụng bên cạnh những TTLL khác như phân tích, bác bỏ, bình luận Mục đích của việc sử dụng TTLL này là giúp cho người tạo lập văn bản có thể biểu đạt nội dung nghị luận, chỉ ra điểm giống và khác nhau giữa các đối tượng, qua sự so sánh đó mà giúp người đọc thấy rõ đặc điểm vai trò, giá trị của vấn đề được bàn luận Như vậy, so sánh đòi hỏi chúng ta phải vận dụng tối đa năng lực tư duy, người viết cần phải có hiểu biết sâu rộng để tìm ra đối tượng so sánh từ đó mới làm nổi bật được vấn
đề mà mình nghị luận Khi tiến hành so sánh người viết phải có cách so sánh linh hoạt, mền dẻo nếu không cẩn thận sẽ rơi vào tình trạng so sánh các yếu tố không tương đồng, dẫn đến sai lệch, lầm lạc
Trong VBNL, TTLL so sánh được người tạo lập thực hiện trên cơ sở tương đồng giữa các đối tượng và từ đó rút ra ý kiến, nhận định về đối tượng nghị luận Ta có thể nhận thấy đặc điểm đó trong ngữ liệu sau:
"Thần Hê-ra-clet của Hi Lạp, chủ yếu là bắp thịt rắn chắc, có tài chiến đấu, nhưng mục tiêu chiến đấu là gì thì bất cần, tâm địa thần tầm thường Trong truyện Thánh Gióng Việt Nam không thấy nói đến bắp thịt rắn chắc mà nói đến đức tính trước hết Đức tính nào cũng cao cả, hình tượng nào cũng phơi phới Thần anh hùng của ta trí dũng khiêm toàn, đạo đức không gợi một hạt bụ, mọi ý nghĩ và hành động đều tập trung vào một việc, mà việc ấy là
việc cứu nước." [15,58]
Đoạn trích trên được trích từ bài đánh giá về vẻ đẹp Thánh Gióng - một
vị thần anh hùng bất tử trong truyện cổ dân gian Việt Nam Để làm nổi bật vẻ
Trang 2416
đẹp của Phù Đổng Thiên Vương, tác giả Nguyễn Đổng Chi đã sử dụng triệt để TTLL so sánh Cũng giống như các hình thức so sánh khác, so sánh trong lập luận ở đoạn trích trên được tác giả thực hiện bởi sự đối chiếu giữa hai hình ảnh có sự tương đồng với nhau - cả hai vị thần đều có tài chiến đấu Chọn đối tượng so sánh là thần Hê-ra-clet của Hi Lạp, tác giả đã lần lượt chỉ ra những nét khác biệt giữa hai vị thần trong các tác phẩm dân gian Trong thần thoại
Hi Lạp, Hê-ra-clet là vị thần có vẻ đẹp hình thể: bắp thịt rắn chắc và tài năng hơn người Thánh Gióng của ta cũng một mình cũng một mình đánh đuổi lũ giặc Ân xâm lược Thế nhưng Hê-ra-clet lại không phân định rõ mục tiêu chiến đấu, tâm địa tầm thường Còn trong Thánh Gióng ta thấy vẻ đẹp không phải ở ngoại hình mà đẹp bởi đức tính, một vị thần trí dũng khiêm toàn, đạo đức không gợn một hạt bụi, mọi ý nghĩ và hành động đều tập trung vào việc cứu dân cứu nước Như vậy, từ việc so sánh hai vị thần trong truyện, tác giả Nguyễn Đổng Chi đã nêu ra những nét đối lập trong vẻ đẹp của hai nhân vật
để rồi chứng minh cho vẻ đẹp bất diệt của Đức Phù Đổng Thiên Vương - vẻ đẹp ấy tỏa sáng lung linh, huyền ảo với nhiều ý nghĩa mới mẻ sâu xa Thánh Gióng- hình ảnh một vị thần đẹp người, đẹp nết, trí dũng kiên toàn, sống và hành động vì nghĩa lớn nhưng lại rất bình dị, khiêm nhường Câu kết đoạn trích chính là kết quả được rút ra từ hành động so sánh trước đó Nhờ có so sánh, ta có thể hiểu đúng hơn vẻ đẹp Thánh Gióng - đó là vẻ đẹp được nhận thấy từ chiều sâu tâp hồn, từ những hành động, việc làm cũng như tinh thần của ngài Vẻ đẹp ấy không toát ra từ cơ bắp, thân hình mà đó là cái đẹp hài hòa trong nhân cách, trong đạo đức của con người Không chỉ có vậy, khi đánh giá vẻ đẹp của Thánh Gióng, nhờ có so sánh mà lời lẽ, đánh giá của tác giả vừa dung dị lại vừa khách quan, thuyết phục Như vậy, TTLL so sánh đã thực sự giúp cho người viết triệt để làm nổi bật nội dung đang được bàn luận,
Trang 2517
có điều kiện bộc lộ tâm trạng, tình cảm cũng như thái độ đối với nội dung nghị luận
Tóm lại, trong VBNL, TTLL so sánh được người tạo lập dùng để tìm ra
sự giống nhau hoặc khác nhau giữa các đối tượng, mà qua sự so sánh ấy để dẫn dắt người tiếp nhận đi đến một ý kiến, nhận định nào đấy đối với nội dung được bàn luận Nói một cách khác, đó là cách người lập luận thực hiện nhằm dẫn dắt người tiếp nhận đến một chân lý, một kết luận nào đấy về nội dung nghị luận Trong VBNL, người tạo lập sử dụng TTLL này nhằm bày tỏ
ý kiến, quan niệm đối với nội dung được bàn luận Nhờ có TTLL này, người tạo lập không chỉ dẫn dắt người đọc đến những kết luận khoa học, chính xác
mà còn giúp cho lời văn trong văn bản sinh động, hấp dẫn, nhiều hình ảnh Đó cũng là cách mà người nói, người viết tạo ra sức thuyết phục đối với độc giả
1.2.2 Đặc điểm của thao tác lập luận so sánh
So sánh với tư cách là một thao tác lập luận nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật hiện tượng hoặc là các sự vật trong cùng một sự vật nhưng không cốt tìm ra cái tương đồng và khác biệt mà làm sáng rõ luận điểm và giá trị của một sự vật, hiện tượng, ý kiến đem ra bàn luận Như vậy, so sánh với tư cách
là một thao tác lập luận có giá trị lập luận, tác động vào ý trí của người đọc, người nghe, làm cho người tiếp nhận tin vào những ý kiến được đem ra bàn luận Nhờ có TTLL này, người viết làm rõ vấn đề cần bàn luận, đồng thời thể hiện tâm tư, tình cảm của bản thân đối với vấn đề đang nghị luận Khi sử dụng TTLL này, nguyên tắc đầu tiên là phải xác lập giữa các đối tượng một mối liên hệ nào đó, so sánh chỉ được thực hiện khi các quan hệ đó được xác lập Có khi là dựa trên quan hệ tương đồng giữa các đối tượng, ví dụ tâm trạng của nhân vật trữ tình khi về thăm quê trong hai bài thơ dưới đây:
Khi đi trẻ, lúc về già Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao
Trang 26(Chế Lan Viên, Trở lại An Nhơn)
Cũng có khi thiết lập mối quan hệ so sánh tương phản giữa các đối tượng có những đặc điểm đối lập nhau ví dụ như:
"Các cụ ưa những màu đỏ choét, ta lại ưa những màu xanh nhạt, Các
cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như đã làm một việc tội lỗi, ta cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh Cái tình ái của các
cụ thì chỉ là hôn nhân nhưng đối với ta là trăm hình, muôn trạng: Cái tình say đắm, cái tình thoảng, cái tình xa xôi Cái tình trong giấy phút, cái tình ngàn thu" [12,79] Trong ngữ liệu trên, Lưu Trong Lư đã so sánh đối chiếu
sự khác biệt giữa khuynh hướng thơ cũ và thơ Mới để nêu bật những tình cảm mang màu sắc riêng, mới mẻ của thơ mới nhằm bênh vực cho luận điểm: Sự xuất hiện của thơ mới là hợp tình, hợp lý, hợp thời
Khi sử dụng TTLL so sánh, để thấy rõ sự giống và khác nhau giữa các đối tượng được so sánh, người tạo lập cần lưu ý một điều là không nên gán cho đối tượng này những đặc điểm của đối tượng kia và qua đó đưa ra những nhận xét thiếu căn cứ Ngoài ra, so sánh cũng là hình thức phát triển trí tưởng tượng và khả năng liên tưởng từ đối tượng này sang đối tượng khác một cách
linh hoạt, uyển chuyển Ví dụ: Bài ca của Nguyễn Đình Chiểu làm chúng ta
Trang 2719
nhớ tới bài Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi Hai bài văn, hai cảnh ngộ, hai
thời đại nhưng cùng một dân tộc Bài cáo của Nguyễn Trãi là khúc ca khải hoàn, ca ngợi chiến công oanh liệt chưa từng thấy, biểu dương chiến thắng
làm rạng ngời nước nhà Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là khúc ca những người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang: "Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, muôn kiếp được trả thù kia" Lập luận so sánh đã chỉ ra sự khác
nhau: một bên là khúc ca khải hoàn ca ngợi những chiến công hiển hách, biểu dương chiến thắng với một bên là khúc ca của những anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang Lập luận này làm nổi bật luận điểm đánh giá hai bài văn đặt trong hai thời đại, hai cảnh ngộ khác nhau, nhưng cùng một dân tộc
1.3.Cơ sở thực tiễn
Hiện nay, chương trình Làm văn được triển khai theo quan điểm tích hợp và theo đó Làm văn có vị trí là một trong "tam vị nhất thể" tạo nên một chỉnh thể thống nhất trong sách giáo khoa Ngữ văn Mục đích cuối cùng của việc dạy học Làm văn ở trường phổ thông cho HS là giúp các em có thể độc lập tạo ra các văn bản theo đúng phương thức biểu đạt và có sự sáng tạo Vì thế trong chương trình hiện hành, ngoài việc cung cấp tri thức lý thuyết cho
HS, người ta đã chú ý đến việc hình thành, củng cố và rèn luyện cho các em
kĩ năng thực hiện tạo lập văn bản, trong đó có những kĩ năng về sử dụng các TTLL khi tạo lập văn bản nghị luận
1.3.1 Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học Làm Văn ở trường THPT
Để triển khai nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra thăm dò ý kiến của các GV giảng dạy Ngữ văn ở trường mà chúng tôi thực tập Phiếu gồm 6 câu hỏi (phần phụ lục) Cùng với việc phát phiếu điều tra, chúng tôi tiến hành dự giờ giáo viên hướng dẫn để đánh giá khách quan
về việc dạy học làm văn nói chung và việc rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận
nói riêng trong dạy bài "Thao tác lập luận so sánh"
Trang 2820
Qua việc phát phiếu thăm dò ý kiến 10 GV kết hợp với dự giờ giảng dạy chúng tôi thấy một số vấn đề thực tiễn trong dạy học làm văn nói chung
và rèn luyên kĩ năng tổ chức lập luận cho HS khi dạy bài "Thao tác lập luận
so sánh" ( SGK, Ngữ văn 11) như sau:
Đa số GV đều nhận thức được việc đổi mới phương pháp dạy học là
"rất cần thiết" Khi tiến hành dạy học trên lớp, phần lớn các chủ thể dạy đều
có ý thức vận dụng phương pháp đổi mới nhằm phát huy năng lực cho HS đạt hiệu quả cao trong giờ học Nhiều GV nhận thấy sự cần thiết trong việc rèn
luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho chủ thể học tập trong dạy học bài "Thao tác lập luận so sánh" (SGK Ngữ văn 11) Tuy nhiên bên cạnh những phương
pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, vấn đáp thì phương pháp dạy học mới đòi hỏi GV cần phải kết hợp nhiều phương pháp sao cho phù hợp với từng cá nhân HS để phát huy, rèn luyên kĩ năng cho các em Qua dự giờ và kết quả điều tra chúng tôi thấy rõ những hạn chế cần rút kinh nghiệm:
+ Đa số GV đều cho rằng việc dạy làm văn nói chung và việc dạy bài
"Thao tác lập luận so sánh" nói riêng là rất cần thiết để rèn luyện kĩ năng tổ
chức lập luận cho HS Nhưng việc soạn bài và tổ chức dạy học còn chưa khoa học, sáng tạo, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, chỉ có số ít GV đổi mới phương pháp dạy học mới đem lại những giờ học năng động và hấp dẫn phát huy năng lực cho các em
+ Thêm nữa là sự hạn chế về thời gian dạy học GV bị đóng khung thời lượng dạy học chính vì thế không đủ thời gian luyện tập, rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho chủ thể học tập
Những biểu hiện trên chưa phải là tất cả, đó chỉ là căn cứ ban đầu để chúng tôi đưa ra phương hướng trong việc rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận
cho HS trong dạy bài "Thao tác lập luận so sánh"
Trang 2921
1.3.2 Điều tra, khảo sát thực trạng học Làm Văn ở trường THPT
Qua việc trao đổi với các giáo viên dạy ở trường PT nơi thực tập (cụ thể THPT Bắc Đông Quan và THPT Nguyễn Khuyến), dự giờ tiết học Làm văn kết hợp với thực hiện chấm bài của HS chúng tôi thấy được một số tồn tại trong kết quả học tập của HS khi học Làm văn ở trường PT như sau:
+ Hậu quả của lối học sao chép kiến thức là sự thấp kém và non yếu về
tư duy sáng tạo Một yêu cầu mà nhà trường hiện nay đặc biệt coi trọng là phát triển khả năng tư duy độc lập và tư duy độc lập và tư duy sáng tạo cho
HS Khả năng vận dụng kiến thức của học sinh qua bài tập làm văn chưa thực
sự tốt Điều đó bắt nguồn từ kết quả của lối dạy học tái hiện, không chú trọng đến khâu vận dụng kiến thức, cho nên khi bắt tay vào làm văn, HS chưa được rèn luyện, chưa được chuẩn bị từng bước về khả năng vận dụng kiến thức Đọc những bài văn của nhiều HS, ta thấy kiến thức vận dụng một cách ngây ngô Ngây ngô vì lạc lõng, thiếu định hướng, thiếu chọn lọc HS còn lúng túng trong cách sử dụng các thao tác lập luận nên các em tạo ra những bài văn
có thiếu chiều sâu, không có sức thuyết phục
+ Có một điều khá phổ biến ở HS THPT là khi làm bài văn xong không thể tự mình rút kinh nghiệm, tự mình đánh giá xem bài làm có chỗ nào được, chỗ nào chưa được trong giờ trả bài HS học hết THPT nhưng chưa nắm chắc quy trình làm một bài văn, chưa làm chủ các thao tác, các công việc cần thiết của một tiến trình xây dựng một văn bản, các em thường chỉ lo các bước vào bài và cảm thấy bí ở bước nhập đề Đa số HS làm văn còn theo cảm tính, máy móc Nhiều em chưa có thói quen xác định đề bài, xác định kĩ yêu cầu của đề, cách tập hợp ý, tập hợp tư liệu, về trình tự kết cấu văn bản sắp hình thành Hiện tượng lạc đề, đi xa đề, đi lan man không định hướng, kết cấu lộn xộn trùng lặp, đứt mạch mất cân đối, bài văn không có kết cấu, luận điểm không xác định vẫn còn diễn ra trong nhiều bài viết của các em Đó là những thiếu
Trang 3022
sót phổ biến trong nhiều bài viết của HS Và đó cũng chính là biểu hiện rõ nhất của năng lực sản sinh văn bản – trong đó có kĩ năng lập luận của HS chưa tốt
1.3.3 Đánh giá chung
Từ việc điều tra khảo sát thực tiễn, chúng tôi thấy việc dạy Ngữ văn nói chung và dạy Làm văn nói riêng cần phải được quan tâm hơn nữa, cần phải thay đổi phương pháp dạy và học phù hợp Theo yêu cầu đổi mới, việc dạy học Làm văn trong đó có dạy học các thao tác lập luận cần có những thay đổi, cần hướng tới nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, ham mê văn học cho HS
Trang 3123
CHƯƠNG 2: DẠY HỌC BÀI “THAO TÁC LẬP LUẬN SO SÁNH” THEO HƯỚNG RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỔ CHỨC LẬP LUẬN
CHO HỌC SINH THPT
2.1 Mục đích của việc dạy bài “Thao tác lập luận so sánh”
Bài dạy "Thao tác lập luận so sánh" là đơn vị kiến thức mới được đưa
vào trong chương trình Vì vậy, việc dạy hoc bài này hướng tới những mục đích sau:
+ Về kiến thức: Giúp HS tiếp thu được những nội dung tri thức về thao tác
lập luận so sánh và biết cách vận dụng một cách thành thạo, sáng tạo trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận Những đơn vị kiến thức về thao tác lập luận so sánh bao gồm: Khái niệm, mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận so sánh và đặc biệt là cách so sánh Tất cả những hoạt động này đều nhằm hướng tới mục đích của việc dạy học Làm văn Bên cạnh việc trang bị các kiến thức lý thuyết làm nền thì việc cho chủ thể học tập luyện tập bằng hệ thống các bài tập thực hành nhằm củng cố lại những kiến thức lý thuyết và đặc biệt là hình thành cho
HS kĩ năng làm bài Thông qua việc giúp HS có được những kiến thức cơ bản
về thao tác lập luận so sánh, GV có được những sơ sở khoa học cần thiết để hình thành kĩ năng thực hiện và sử dụng thao tác lập luận này cho cá nhân HS
+ Về kĩ năng:Giúp HS có những kĩ năng có thể tạo lập những văn bản có
sử dụng thao tác lập luận so sánh với những luận điểm, luận cứ, luận chứng rõ ràng HS biết vận dụng thao tác lập luận so sánh với các thao tác khác khi viết văn nghị luận
+ Về thái độ: Giúp HS có thái độ nghiêm túc, chú ý nghe giảng trong
lớp, chuẩn bị bài tập trước khi đến lớp, nghiêm túc tự nghiên cứu tra tài liệu
để trau dồi kiến thức đặc biệt giúp học sinh có ý thức tạo lập văn bản có sử dụng các thao tác lập luận khi tạo lập văn bản
Trang 3224
2.2.Nội dung bài dạy
So sánh là một thao tác lập luận được sử dụng bên cạnh những thao tác lập luận khác như thao tác lập luận phân tích, bác bỏ, bình luận Mục đích của việc sử dụng thao tác lập luận này là giúp người viết dễ dàng trình bày nội dung cần nghị luận và chỉ ra được điểm giống và khác nhau giữa các đối tượng Qua sự so sánh ấy người tiếp nhận văn bản có thể nhận thấy rõ đặc điểm, vai trò và giá trị của vấn đề được bàn luận Khi tiến hành so sánh, người viết phải có cách so sánh linh hoạt, mềm dẻo, nếu không cẩn thận sẽ rơi vào tình trạng so sánh các yêu tố không tương đồng dẫn đến sai lệch, lầm lạc Vì thế việc triển khai nội dung đóng vai trò vô cùng quan trọng
Dạy học Làm văn là dạy cho học sinh cách thức tạo lập các kiểu văn bản Muốn làm được điều đó, việc dạy học Làm văn một mặt phải trang bị hệ thống cơ sở lý thuyết cho học sinh, mặt khác phải cho học sinh luyện tập thực hành Bởi lẽ thực hành là quá trình giúp học sinh hiểu rõ hơn các vấn đề lí thuyết và đó cũng chính là cơ hội tốt để vận dụng lí thuyết vào quá trình tạo lập văn bản Xuất phát từ mục đích đó, khi biên soạn SGK về nội dung thao tác lập luận so sánh các tác giả đã bố trí 1 tiết học lý thuyết và một tiết luyện tập; một tiết vận dụng kết hợp thao tác lập luận so sánh với thao tác lập luận phân tích giúp HS nắm vững và sử dụng đúng cách, đúng chỗ thao tác lập luận so sánh
Trong phần lý thuyết, sách giáo khoa triển khai hai nội dung cơ bản: + Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận so sánh
+Cách so sánh
Ở nội dung: "Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận so sánh", SGK
giới thiệu sơ qua về so sánh, và sau đó đưa ra ngữ liệu có chứa thao tác lập luận so sánh Phần sau ngữ liệu là hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh tiếp cận với nội dung ngữ liệu để giúp học sinh hình thành khái niệm thao tác lập luận
so sánh, mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận so sánh
Trang 3325
Ở nội dung: " Cách so sánh", SGK đưa ra ngữ liệu có chứa thao tác lập
luận so sánh, GV định hướng HS phân tích ngữ liệu từ đó giúp HS rút ra được cách so sánh khi tổ chức lập luận
Đây là một đơn vị kiến thức mới trong hệ thống kiến thức về văn bản nghị luận Với mục đích là giúp HS biết cách tổ chức nội dung nghị luận một cách chính xác, thuyết phục và hấp dẫn người tiếp nhận, SGK Ngữ văn 11 đã triển khai đầy đủ những yêu cầu về nội dung bài học Đó cũng chính là những
cơ sở khoa học cần thiết để GV rèn luyện kĩ năng lập luận cho HS Có thể nói, việc bố trí nội dung bài dạy đi từ lý thuyết đến thực hành, vận dụng kiến thức
từ đơn giản đến phức tạp phù hợp với khả năng nhận thức và tư duy của HS
2.3 Nguyên tắc rèn luyện kĩ năng lập luận cho HS khi dạy học bài“Thao
tác lập luận so sánh”
Dạy học các thao tác lập luận nói chung và “Thao tác lập luận so
sánh” nói riêng có ý nghĩa quan trọng trong việc rèn luyện kĩ năng tạo lập/
sản sinh văn bản nói chung và kĩ năng tổ chức lập luận nói riêng Cũng bởi
thế, khi dạy học bài “Thao tác lập luận so sánh" theo hướng rèn luyện kĩ
năng cho HS, GV cần phải tuân thủ một số nguyên tắc sau:
2.3.1 Nguyên tắc phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh
Đây là một trong những nguyên tắc không thể thiếu đối với việc rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho HS Khi nghiên cứu sự phát triển tâm sinh
lý con người, các nhà giáo dục nhận thấy ở mỗi độ tuổi, khả năng tư duy, nhận thức của con người có sự thay đổi Vì vậy, muốn bồi dưỡng, rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận đạt hiệu quả cao, các hoạt động trang bị tri thức, luyện tập phải thực sự phù hợp với đặc điểm tư duy nhận thức của chủ thể tiếp nhận
Đến lớp 11, có thể khẳng định tư duy của HS đã hoàn thiện Các em có thể độc lập suy nghĩ, phát hiện và giải quyết những yêu cầu thực tế Kĩ năng phân tích, tổng hợp, khái quát của các em cũng rất phát triển Vì vậy, trong quá trình dạy học, GV có thể xây dựng hệ thống kiến thức và rèn luyện năng
Trang 3426
lực tổ chức lập luận cho HS Với sự độc lập trong nhận thức, HS quan sát, phân tích để đánh giá, rút ra những kết luận khoa học cần thiết Tuy nhiên, trong quá trình học tập, HS có thể đưa ra kết quả hoặc có hướng tiếp nhận khác theo cách riêng Chính vì thế khi xây dựng và rèn luyện, GV cần tôn trọng những phương án, cách tiếp nhận, cách giải quyết vấn đề của các em, từ
đó điều chỉnh lại cho phù hợp với tri thức khoa học
Hơn nữa, trong quá trình hướng dẫn HS hệ thống các đơn vị kiến thức, nội dung kiến thức, ngữ liệu, bài tập thực hành được triển khai phải phù hợp với khả năng và năng lực của HS Những ngữ liệu được lựa chọn, những đơn
vị kiến thức phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của các em, phải thể hiện
rõ tính giáo dục đối với chủ học tập Có thể nói, khi rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho HS trong quá trình tạo lập văn bản, nguyên tắc phù hợp với đặc điểm nhận thức là điều kiện thiết yếu để việc tổ chức lập luận của các em đạt hiệu quả cao
2.3.2.Nguyên tắc dạy học gắn liền với thực tiễn cuộc sống
Dạy học làm văn ở trường phổ thông không chỉ dừng lại ở việc trang bị kiến thức cơ bản về các kiểu làm văn mà còn hướng tới mục tiêu giúp HS biết vận dụng những tri thức ấy vào giải quyết những yêu cầu của cuộc sống Muốn vậy, các hoạt động dạy học phải đáp ứng được nhiều yêu cầu, trong đó
có yêu cầu rèn luyện và nâng cao năng lực hiểu biết, vận dụng những điều đã học vào trong thực tiễn cuộc sống Từ đó, khi bước ra cuộc sống, các em biết cách trình bày nội dung rõ ràng, thuyết phục được người tiếp nhận Nguyên tắc này giúp HS vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống Việc rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận không chỉ giúp các em tạo lập được văn bản có những bài văn hay, chặt chẽ, đầy sức thuyết phục mà nó còn hình thành cho các em năng lực giao tiếp thuyết phục hơn, thu hút sự chú ý từ phía người tiếp nhận
Trang 3527
Không chỉ vận dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn cuộc sống, mà HS có thể lấy ngữ liệu học tập từ thực tiễn cuộc sống vào những nội dung học tập của mình Từ đó, các em có thể biến những kiến thức khô khan trên sách vở trở nên sinh động gần gũi, dễ hiểu, dễ tiếp nhận hơn, tạo sự hứng thú đối cho chính bản thân và bạn bè Như vậy, có thể nói nguyên tắc dạy học gắn liền với thực tiễn cuộc sống là một trong những nguyên tắc thúc đẩy quá trình tiếp nhận và hình thành kĩ năng cho HS
2.3.3 Nguyên tắc rèn luyện kĩ năng tư duy học sinh
Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng trong quá trình giáo dục Theo các nhà tâm lý giáo dục, não bộ của con người hoạt động liên tục, luôn luôn vận động chính vì thế cần phải rèn luyện kĩ năng tư duy cho HS ngay trong quá trình học tập Học Ngữ văn nói chung và Làm văn nói riêng,
kĩ năng tư duy là khá quan trọng Để có một bài văn, mà cách tổ chức lập luận chặt chẽ, đầy sức thuyết phục không phải là dễ, nó yêu cầu người tạo lập cần phải đặt tư duy của mình vào trong sản phẩm học tập của mình sao cho có sự logic, sáng tạo, cách triển khai ý rõ ràng, cách kết hợp các thao tác lập luận phù hợp Nếu như một sản phẩm học tập không có tư duy ta có thể tìm thấy
sự hời hợt bề nổi, kiến thức lan man không có sự logic Chính vì thế, người giáo dục cần phải rèn luyện kĩ năng tư duy cho HS bằng việc xây dựng kiến thức, hệ thống các bài tập từ dễ đến khó, các đơn vị kiến thức xây dựng từ thấp lên cao để các em có nhiều cơ hội vận dụng và rèn luyện kĩ năng tư duy Mặt khác, cần phải để chủ thể học tập độc lập trong suy nghĩ của mình Có thể khẳng định nguyên tắc này giữ vai trò không thể thiếu trong quá trình dạy học nói chung và Làm văn nói riêng
2.3.4 Nguyên tắc khoa học
Khoa học là nguyên tắc cơ bản của việc dạy học các TTLL nói chung
và “Thao tác lập luận so sánh” nói riêng Nguyên tắc này đòi hỏi việc dạy
Trang 3628
học, một mặt phải đảm bảo đúng yêu cầu khoa học trong quá trình dạy học, đồng thời phải đảm bảo đúng những đặc trưng của phần Làm văn cũng như mục đích rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho HS Vì vậy trong quá trình
dạy bài “Thao tác lập luận so sánh” cần chú ý tới các định hướng dưới đây:
Trước hết hệ thống kiến thức và bài tập rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận phải được sắp xếp theo một trình tự từ dễ đến khó, trang bị tri thức tới luyện tập nhằm củng cố, nâng cao năng lực cho HS Không chỉ vậy hệ thống kiến thức bài tập được dùng khi rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận còn phải đảm bảo đúng yêu cầu của các đơn vị kiến thức Đối với việc dạy học Làm văn ở trường phổ thông, kĩ năng tổ chức lập luận có liên quan tới quá trình tạo lập văn bản và những kĩ năng biểu đạt khi tạo lập văn bản Khi rèn luyện các thao tác lập luận nói chung và thao tác lập luận so sánh nói riêng cần phải xây dựng hệ thống kiến thức phải gắn liền với đặc trưng của kiểu văn bản nghị luận, phải gắn liền với những kiến thức về tổ chức lập luận cũng như thao tác lập luận cho người học
Hơn nữa, cần phải đảm bảo những yêu cầu khoa học trong quá trình tạo lập văn bản Muốn hình thành và rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho HS,
GV cần phải thực hiện đúng nhiệm vụ và quy trình của quá trình hình thành rèn luyện năng lực người học
Rèn luyện kĩ năng tổ chức lập luận cho HS, trước hết và quan trọng nhất là phải qua thực hành mà giúp các em nắm được các phương tiện, các phương thức thực hiện tổ chức thao tác lập luận theo những mục đích nhất định Thông qua hoạt động luyện tập thực hành, HS sẽ có điều kiện vận dụng,
sử dụng và bộc lộ cá tính các em ngay trong sản phẩm của mình TTLL là những động tác được người viết thực hiện nhằm tổ chức các phương tiện ngôn ngữ để thể hiện dụng ý riêng của bản thân khi nghị luận Nói một cách khác, nó giúp người viết định hướng và tổ chức nội dung cần trình bày khi lập