LỜI CẢM ƠN Trong quá trình triển khai đề tài: “Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học đọc hiểu văn bản Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng ở trường THPT”, tôi đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
HIỂU VĂN BẢN HẠNH PHÚC CỦA MỘT
TANG GIA CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Ở TRƯỜNG THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ Văn
Người hướng dẫn khoa học
ThS NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai đề tài: “Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
trong dạy học đọc hiểu văn bản Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng
ở trường THPT”, tôi đã nhận được giúp đỡ tận tình của toàn thể các thầy cô giáo
trong khoa Ngữ văn, các thầy cô trong tổ phương pháp dạy học Ngữ văn, đặc biệt là sự hướng dẫn nhiệt tình và chu đáo của cô giáo hướng dẫn ThS Nguyễn Thị Mai Hương
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, tôi đã nhận được sự quan tâm, động viên nhiệt tình từ phía gia đình, bạn bè, giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè
đã luôn bên cạnh giúp đỡ, động viên tôi trong thời gian qua Tác giả khóa luận cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất của mình tới cô giáo hướng dẫn ThS Nguyễn Thị Mai Hương, người đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hoài
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là kết quả nghiên cứu không trùng với kết quả nghiên cứu của những tác giả khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hoài
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Đối tượng nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Dự kiến đóng góp 4
9 Bố cục khóa luận 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 5
1.1 Cơ sở lí luận 5
1.1.1 Khái niệm hoạt động trải nghiệm sáng tạo 5
1.1.1.1 Hoạt động 5
1.1.1.2 Trải nghiệm 6
1.1.1.3 Sáng tạo 8
1.1.1.4 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo 10
1.1.2 Một số vấn đề chung về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình THPT 11
1.1.2.1 Hoạt động TNST trong chương trình giáo dục phổ thông 11
1.1.2.2 Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm sáng tạo 13
1.1.3 Nguyên tắc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo 15
1.2 Cơ sở thực tiễn 17
Trang 61.2.1 Thực trạng tiếp nhận văn bản “Hạnh phúc của một tang gia” của Vũ Trọng
Phụng trong nhà trường THPT hiện nay 17
1.2.2 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo đọc hiểu văn bản “Hạnh phúc của một tang gia” của Vũ Trọng Phụng 18
CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA” CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG Ở TRƯỜNG THPT 20
2.1 Đặc điểm tiểu thuyết phóng sự 20
2.1.1 Khái niệm tiểu thuyết phóng sự 20
2.1.1.1 Tiểu thuyết 20
2.1.1.2 Phóng sự 21
2.1.1.3 Tiểu thuyết phóng sự 23
2.1.2 Đặc điểm tiểu thuyết phóng sự 26
2.1.3 Đặc điểm tiểu thuyết phóng sự Vũ Trọng Phụng 27
2.2 Các hình thức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học đọc hiểu văn bản “Hạnh phúc của một tang gia” của Vũ Trọng Phụng 29
2.2.1 Hoạt động 1: Tọa đàm - Thảo luận nhóm 29
2.2.2 Hoạt động 2: Tổ chức diễn đàn 32
2.2.3 Hoạt động 3: Sử dụng câu hỏi nêu vấn đề 35
2.2.4 Hoạt động 4: Sân khấu tương tác 37
2.3 Ý nghĩa hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học đọc hiểu văn bản “Hạnh phúc của một tang gia” của Vũ Trọng Phụng ở trường THPT 39
2.3.1 Giúp học sinh có thái độ sống đúng đắn với những phong tục tập quán của dân tộc 39
2.3.2 Bồi đắp quan niệm sống, lối sống tốt đẹp giữ tròn đạo “hiếu” với ông cha 41
CHƯƠNG 3: GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 43
3.1 Mục đích thực nghiệm 43
Trang 73.2 Đối tượng thực nghiệm 43
3.3 Địa bàn thực nghiệm 44
3.4 Thời gian thực nghiệm 44
3.5 Nội dung thực nghiệm 44
3.6 Kết quả thực nghiệm 58
KẾT LUẬN 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong tình hình hiện nay, đổi mới giáo dục đang là vấn đề đặt lên hàng đầu và được cả xã hội quan tâm Nghị quyết Hội nghị số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chỉ ra rằng: Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phấm chất người học Giáo dục nước ta đang thực hiện những bước chuyển mình mạnh mẽ nhằm phát huy năng lực tư duy, sáng tạo của mỗi cá nhân Đó là quá trình chuyển đổi từ quá trình quan tâm đến việc học HS tiếp thu được những gì từ những nội dung bài dạy của GV sang quan tâm đến việc từ những kiến thức đã học, đã tích lũy các em sẽ vận dụng như thế nào vào thực tiễn Để đáp ứng được yêu cầu cấp thiết ấy vấn đề đặt ra là phải chuyển đổi PPDH từ lối áp đặt, đọc chép, truyền thụ một chiều sang dạy các em cách học, cách vận dụng kiến thức, kĩ năng, qua đó hình thành năng lực phẩm chất cần thiết cho chủ thể học tập Cùng nằm trong quỹ đạo đó, dạy môn Ngữ văn trong trường THPT cũng đã và đang từng bước chuyển đổi cách thức và mục đích dạy học Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, hoạt động TNST là một phương pháp mới mang lại hiệu quả cao trong giờ học Ngữ văn ở THPT Tổ chức HĐGD theo hướng tăng cường
sự TNST cho HS nhằm định hướng tạo điều kiện cho HS quan sát, suy nghĩ và tham gia các hoạt động thực tiễn qua đó khuyến khích động viên và tạo điều kiện cho các em tích cực nghiên cứu, tìm ra những giải pháp mới, sáng tạo những cái mới trên cơ sở những kiến thức đã học trong nhà trường và những gì đã trải qua trong thực tiễn cuộc sống, từ đó hình thành phẩm chất, kĩ năng sống và phát triển năng lực cho HS
Vũ Trọng Phụng là một nhà văn nhà văn, nhà báo của văn học Việt Nam vào đầu thế kỷ XX Tuy thời gian cầm bút ngắn ngủi nhưng ông đã để lại một
Trang 10khối lượng tác phẩm lớn mang giá trị sâu sắc về mọi mặt Sách giáo khoa Ngữ
văn lớp 11 chọn đoạn trích: “Hạnh phúc của một tang gia” để giảng dạy
Nghiên cứu về tác phẩm này, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tổ chức hoạt động
TNST trong dạy học đọc hiểu văn bản hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng ở trường THPT” với mong muốn đi sâu vào khai thác các vấn đề
kiến thức cũng như nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của GV và
HS trong hoạt động dạy và học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT
2 Lịch sử vấn đề
“Hạnh phúc của một tang gia” là văn bản được trích từ chương XV tiểu
thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng Đoạn trích này đã được đưa vào giảng
dạy trong chương trình Ngữ Văn 11 nhiều năm qua và nhận được sự quan tâm của giáo viên THPT cùng các nhà lý luận dạy học Những công trình nghiên
cứu về tác phẩm “Số đỏ” và đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”: các bài viết của Nguyễn Hoành Khung - “Số đỏ”; Phan Cự Đệ - “Đánh giá lại Số đỏ”; Hoàng Ngọc Hiến “Trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ”; Nguyễn Đăng Mạnh - “Tiểu thuyết Số đỏ và tài nghệ Vũ Trọng Phụng”; Đỗ Đức Hiếu
- “Những lớp sóng ngôn từ trong Số đỏ”; Vũ Dương Quỹ - “Đám tang một
người hay cuộc hành trình tới mộ của toàn xã hội”; Hà Minh Đức - “Nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong Số đỏ Vũ Trọng Phụng”… Bên cạnh đó có những công
trình hướng dẫn về tác phẩm “Số đỏ” và đoạn trích “Hạnh phúc của một tang
gia”: Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 11, tập 1 (Phan Trọng Luận); Giới thiệu giáo
án Ngữ Văn 11, tập 1 (Nguyễn Hải Châu); Hướng dẫn học và làm bài Ngữ văn
11 (Huỳnh Ngọc Mỹ - Nguyễn Thị Đáo) chỉ dẫn cụ thể, chi tiết, nêu rõ từng
hoạt động trong tiến trình dạy học văn bản trên Tuy nhiên, việc nghiên cứu và dạy học đoạn trích này theo hình thức tổ chức hoạt động TNST cho HS một cách toàn diện thì cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có công trình nào được công bố
Trang 114 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài: “Tổ chức hoạt động TNST trong dạy học đọc hiểu
văn bản Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng ở trường THPT”
chúng tôi xin xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau:
- Tổng hợp hệ thống cơ sở khoa học về hoạt động TNST
- Tìm hiểu tình hình thực tiễn việc dạy học đọc hiểu theo hình thức tổ chức hoạt động TNST ở các trường phổ thông hiện nay
- Đề xuất các cách thức vận dụng hoạt động TNST trong thiết kế dạy bài
học đọc hiểu “Hạnh phúc một tang gia” ở trường THPT
- Đánh giá tính hiệu quả và khả năng thực thi của việc vận dụng hoạt động TNST
5 Đối tượng nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu đề ra trên đây, khóa luận tập trung vào tìm hiểu một số vấn đề chung về hoạt động TNST trong trường phổ thông nhằm tìm ra cách thức tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS
6 Phạm vi nghiên cứu
Gắn với nội dung đề tài nghiên cứu, chúng tôi chọn văn bản: “Hạnh phúc
tạo ra hiệu quả cho giờ học đọc hiểu
Trang 127 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
+ Phương pháp phân tích tổng hợp các vấn đề lí thuyết
+ Phương pháp điều tra và khảo sát thực tế
+ Phương pháp thực nghiệm: vận dụng lí thuyết tổ chức các hoạt động TNST
vào thiết kế bài giảng “Hạnh phúc của một tang gia” của Vũ Trọng Phụng
8 Dự kiến đóng góp
Khi đi vào nghiên cứu khóa luận này chúng tôi muốn góp một phần nhỏ vào việc đổi mới phương pháp dạy học đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục hiện nay Bên cạnh đó, khóa luận bước đầu đã hình thành và phát triển khả năng tìm tòi, nghiên cứu khoa học của người viết
9 Bố cục khóa luận
Bố cục khóa luận gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận
Phần nội dung của khóa luận được cấu trúc với 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học đọc hiểu văn
bản “Hạnh phúc của một tang gia”của Vũ Trọng Phụng ở trường THPT
Chương 3: Giáo án thực nghiệm
Trang 13Vuwgotsky với tư tưởng cơ bản là: hoạt động tâm lí (bên trong) của người, được xây dựng theo mẫu của hoạt động bên ngoài Hoạt động bên ngoài này được tiến hành bởi công cụ Công cụ là năng lực thực tiễn mà loài người sáng tạo ra, kết tinh lại, được vật thể hóa, nhờ đó mà chúng tồn tại một cách khách quan đối với mỗi cá thể
Hoạt động tâm lí người được thực hiện dưới hình thức giao lưu bằng ngôn ngữ, dùng những hệ thống tín hiệu và dấu hiệu (đặc biệt là âm thanh) làm vật trung gian (coi như công cụ) Động cơ của hoạt động trẻ em chính là chiếm lĩnh những thành tựu văn minh của loài người để ngày càng trở nên người hơn
Phương thức giáo dục thực chất là cách tổ chức quá trình hoạt động liên tục của trẻ em Trình độ tổ chức các hoạt động ấy là thước đo độ điều khiển quá trình phát triển tâm lí của trẻ em Các phương thức giáo dục trước đây, nếu thấy được phần chủ quan của chủ thể được giáo dục vào lúc này, thì ở thời điểm khác, nó chỉ thấy được tính khách quan của quá trình, từ phía thầy giáo Mọi phương pháp giáo dục cũ vẫn còn loay hoay tìm cách “khai thác” khả năng bên trong của trẻ, hoặc chỉ
lo “cải tiến phương pháp giảng dạy” của thầy giáo theo hướng phát huy năng lực của trẻ, khai thác triệt để vốn sống của trẻ Phương pháp giáo dục mới đã khắc phục được những hạn chế trước đây và đưa ra được một chiến lược mới nhằm hình thành năng lực mới ở trẻ, giúp tận dụng được vốn sống đã có ở trẻ Phương pháp mới đã
Trang 14tự đặt ra trong mỗi đứa trẻ ngày càng nhiều hơn năng lực tiễn người và phải làm việc đó một cách chắc chắn
Hoạt động của trò là hoạt động có tổ chức, ban đầu thực hiện ở bên ngoài, một cách vật chất có kiểm soát được một cách cảm tính và trực quan Sau đó thực hiện tiếp quá trình biến hình thức bên ngoài thành hình thức bên trong, thành tâm lí, ý thức nhân cách Quá trình này cũng được kiểm soát chặt chẽ, trải qua từng bước, từng giai đoạn Thực chất quá trình học chính là quá trình làm việc để tạo một sản phẩm xác định, còn là quá trình dạy là quá trình tổ chức làm việc, cung cấp vật liệu, mẫu sản phẩm và quy trình công nghệ làm ra sản phẩm
Đỉnh cao hoạt động tâm lí đạt đến trình độ xã hội (hay nhân cách) Đây là một bước tiến về chất Từ đây chỉ còn lại những hoạt động thuần túy người, đặc trưng cho phạm trù người Nói cụ thể hơn: hoạt động của cá nhân không còn là của riêng một cá nhân đơn độc ấy, mà bao giờ cũng là của một cộng đồng người, trong một thời điểm xác định Để dễ nhận thấy bản chất của vấn đề, ta có thể nói:
sự thích ứng với hoàn cảnh sống của mỗi cá nhân không phả là sự thích ứng cá nhân mà là sự thích ứng tập thể, cộng đồng
Hoạt động người đạt đến trình độ xã hội đã đưa con người sang hẳn một phạm trù mới, tách biệt hẳn với thế giới động vật Một đứa trẻ ngay từ khi ra đời đứa trẻ đó đã là thành viên của xã hội loài người, đã ở trong mối quan hệ xã hội người Vì vậy, việc giáo dục trẻ từ đầu được tổ chức trong mọi trình độ phát triển của hoạt động, phản ánh nền văn minh hiện đại
1.1.1.2 Trải nghiệm
Theo quan điểm triết học, sự trải nghiệm được hiểu là kết quả của sự tương tác giữa con người với thế giới khách quan Sự tương tác này bao gồm cả hình thức và kết quả của các hoạt động thực tiễn trong xã hội, bao gồm cả kĩ thuật và kĩ năng, các nguyên tắc hoạt động và phát triển thế giới khách quan Nhà triết học vĩ đại Nga Solovyev V.S quan niệm rằng: trải nghiệm là kiến thức kinh nghiệm thực tế, là thể thống nhất bao gồm kiến thức và kĩ năng Trải
Trang 15nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người và thế giới được truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác
Trong các nghiên cứu tâm lí học, kinh nghiệm thường được gọi là năng lực cá nhân, ví dụ Platon K.K nhận định trải nghiệm cũng như sự tích lũy của hiểu biết và năng lực (cá nhân, nhóm) hình thành trong quá trình hoạt động, đào tạo và giáo dục, trong đó tổng hợp kiến thức, kĩ năng, khả năng và thói quen Dưới góc độ tâm lí giáo dục, A.N Leontiev đã giải quyết được vấn đề trải nghiệm của nhân loại: Trong cuộc đời mình, con người đã đồng hóa kinh nghiệm của nhân loại, kinh nghiệm của thế hệ trước Nó diễn ra dưới hình thức khả năng nắm vững kiến thức và ở mức độ làm chủ kiến thức
Trong các tài liệu sư phạm học, lí thuyết về trải nghiệm dần trở thành đối tượng nghiên cứu Trải nghiệm dưới góc nhìn sư phạm được hiểu theo một vài ý nghĩa sau:
- Trải nghiệm trong đào tạo là một hệ thống kiến thức và kĩ năng có được trong quá trình giáo dục và đào tạo chính quy
- Trải nghiệm là kiến thức, kĩ năng mà trẻ nhận được từ bên ngoài các cơ
sở giáo dục: thông qua sự giao tiếp với nhau, với người lớn hay qua những tài liệu tham khảo không được giảng dạy trong nhà trường…
- Trải nghiệm (qua thực nghiệm, thử nghiệm) là một trong những phương pháp đào tạo, trong điều kiện thực tế hay lí thuyết nhất định để thiết lập hoặc minh họa cho một quan điểm lí luận cụ thể
- Kinh nghiệm giảng dạy là hệ thống các phương pháp đào tạo được giáo viên đúc kết và cải thiện dần trong quá trình làm việc thực tế của mình
Một số nhà nghiên cứu sư phạm lại xem xét thuật ngữ “trải nghiệm” qua khái niệm “thực hành”, có nghĩa là xem xét nó trong việc tiến hành quá trình đào tạo, cũng như kết quả của nó Chính vì vậy M.N.Skatkin đã kết luận rằng: Theo nghĩa rộng, trải nghiệm được hiểu là sự thực hành trong quá trình đào tạo
và giáo dục Nói chung, người ta công nhận trải nghiệm là mối quan hệ thực tế
Trang 16giữa chủ thể và đối tượng Ý nghĩa của tiền đề này là chúng ta cố gắng để có trải nghiệm một cách chủ động có tính cách mạng và có ý thức
Tuy nhiên lại có một số nhà nghiên cứu cho rằng bản chất trải nghiệm của con người có sự thay đổi về chất từ thời kì tiền hiện đại đến thời kì hiện đại và hậu hiện đại
Học từ trải nghiệm (hoạt động trải nghiệm) gần giống với hoạt động học thông qua làm, qua thực hành nhưng học qua làm là nhấn mạnh về thao tác kĩ thuật còn học qua trải nghiệm giúp người học không những có được năng lực thực hiện
mà còn có những trải nghiệm về cảm xúc, ý chí và nhiều trạng thái tâm lí khác, học qua làm chú ý đến những quy trình, động tác, kết quả chung cho mọi người học nhưng học qua trải nghiệm chú ý gắn với kinh nghiệm, cảm xúc cá nhân
Như vậy, từ những nghiên cứu các quan điểm khác nhau về trải nghiệm chúng tôi thấy rằng quan điểm cơ bản trong mô hình học từ trải nghiệm là người học phải biết phản tính, chiêm nghiệm trên các kinh nghiệm của mình để từ đó khái quát hóa và công thức hóa thành các khái niệm có thể áp dụng nó vào các tình huống mới có thể xuất hiện trong thực tế, khi đó các khái niệm này được áp dụng và kiểm nghiệm trong thực tế để thấy được sự đúng - sai, hữu dụng - vô ích
từ đó lại xuất hiện các kinh nghiệm mới và chúng lại trở thành đầu vào cho vòng học tập tiếp theo, cứ thế lặp lại cho tới khi nào việc học đạt được mục tiêu đề ra
Sáng tạo còn được hiểu là hoạt động của con người nhằm biến đổi thế giới
tự nhiên, các quy luật khách quan của thực tiễn, đây là hoạt động đặc trưng bởi tính không lặp lại, tính độc đáo và tính duy nhất
Trang 17Theo từ điển Tiếng việt: Sáng tạo là tạo ra những giá trị mới về vật chất
và tinh thần Tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Sáng tạo là hoạt động tạo ra cái mới
Có thể sáng tạo trong bất cứ lĩnh vực khoa học nào: Khoa học, sản xuất nghệ thuật,
Định nghĩa này Phan Dũng nhằm chỉ ra rằng để biết bất cứ cái nào có sáng tạo hay không thì cần phải so sánh nó với cái trước nó, nếu có sự thay đổi thì nghĩa là nó đã mới hơn so với cái cũ đồng thời mang lại lợi ích cho bạn, cho cộng đồng, nhân loại,
Sự sáng tạo được thể hiện ở những đặc điểm cụ thể như: tính mềm dẻo, linh hoạt; tính lưu loát, trôi chảy; tính độc đáo; tính cấu trúc mới; tính nhạy cảm Ngoài ra, sự sáng tạo còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố: yếu tố tâm sinh lý, yếu tố môi trường, Theo O.B.Tokmakoba trong một bài viết mang tên: Kinh nghiệm hoạt động sáng tạo Đặc trưng của hoạt động kinh nghiệm sáng tạo trong quá trình giáo dục từ xa thì kinh nghiệm sáng tạo rất rộng Thông thường sáng tạo được chia thành các lĩnh vực: trí tuệ, nghệ thuật, thủ công, ứng dụng,… Các hoạt động sáng tạo trí tuệ (theo I.Ya.Lenmer) được chia thành hoạt động tìm kiếm và hoạt động nghiên cứu Các yếu tố của hoạt động sáng tạo xuất hiện trong các vấn đề khác nhau, ở các mức độ khác nhau Lemer đã nêu ra các đặc điểm của hoạt động sáng tạo như sau:
- Có năng lực vận dụng những kiến thức đã biết để ứng dụng trong tình huống mới, không theo chuẩn đã có
- Có năng lực nhận biết vấn đề trong các tình huống tương tự
- Có khả năng độc lập nhận ra chức năng mới của đối tượng trong các mối quan hệ tương quan của nó
- Có khả năng độc lập tìm kiếm ra giải pháp thay thế
- Có khả năng kết hợp được các phương pháp đã biết để đưa ra hướng giải quyết mới cho một vấn đề
Trang 18Những dấu hiệu sáng tạo được xác định dựa trên những hoạt động sau đây của HS:
- HS sử dụng các thiết bị đã được học hoặc thực hiện chúng với các tương tác khác (cấu trúc lại, kết hợp với các thiết bị khác)
- Sử dụng các vật liệu trực quan như một yếu tố bài tập, hoặc sử dụng chúng với các tương tác khác (phân tích, thay đổi trong tư duy), mà không làm thay đổi cách tiếp nhận
Như vậy, có thể thấy “sáng tạo” là một thuộc tính nhân cách tồn như một tiềm năng ở con người Tiềm năng sáng tạo có ở mọi người bình thường và được huy động trong từng hoàn cảnh sống cụ thể Khi tạo ra cái mới cho cá nhân, trong kinh nghiệm của một người thì sáng tạo đó được xem xét trên bình diện cá nhân, còn tạo ra cái mới liên quan đến cả một nền văn hóa thì sáng tạo đó được xem xét trên bình diện xã hội Sáng tạo cá nhân có ý nghĩa rất quan trọng đối với
sự phát triển của nhân cách cụ thể và là tiền đề của sáng tạo xã hội Đó là điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển của một xã hội, một nền văn hóa
1.1.1.4 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Hoạt động TNST là một HĐGD, trong đó từng HS được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hay xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, kĩ năng và tích lũy kinh nghiệm riêng cho từng cá nhân TNST là hoạt động được coi trọng ở từng môn học; đồng thời trong kế hoạch giáo dục cũng có các hoạt động TNST riêng, mỗi hoạt động đều mang tính tổng hợp của nhiều lĩnh vực giáo dục, kiến thức, kỹ năng khác nhau Vì thế, TNST sẽ là hoạt động được các trường phổ thông và GV thiết kế, tổ chức giúp HS vận dụng tri thức, kiến thức, kĩ năng, thái độ đã được học, kinh nghiệm của bản thân vào giải quyết những yêu cầu cụ thể nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống với mục đích giáo dục học sinh và mang lại những hiểu biết, kĩ năng và thái độ giải quyết các vấn đề cuộc sống của các em Như vậy, có thể khẳng định đây là hoạt động học tập bổ ích cho người học
Trang 19Hiểu một cách đơn giản nhất thì hoạt động TNST là HĐGD, trong đó, dưới
sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân HS được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của HS
1.1.2 Một số vấn đề chung về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình THPT
1.1.2.1 Hoạt động TNST trong chương trình giáo dục phổ thông
HĐGD (theo nghĩa rộng) là những hoạt động có chủ đích, có kế hoạch hoặc có sự định hướng của nhà giáo dục, được thực hiện thông qua những cách thức phù hợp để chuyển tải nội dung giáo dục tới người học nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục
a) Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, kế hoạch giáo dục bao gồm các môn học và hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) Khái niệm HĐGD (theo nghĩa hẹp) dùng để chỉ các HĐGD được tổ chức ngoài các giờ dạy học các môn học HĐGD (theo nghĩa rộng) bao gồm cả hoạt động dạy và HĐGD (theo nghĩa hẹp)
Các HĐGD (theo nghĩa hẹp) gồm: hoạt động tập thể (sinh hoạt lớp, sinh hoạt trường, sinh hoạt đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, sinh hoạt Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh); HĐGD ngoài giờ lên lớp được tổ chức theo các chủ đề giáo dục; HĐGD hướng nghiệp (cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông) giúp học sinh tìm hiểu để định hướng tiếp tục học tập và định hướng nghề nghiệp; HĐGD nghề phổ thông (cấp trung học phổ thông) giúp HS hiểu được một số kiến thức cơ bản về công cụ, kỹ thuật, quy trình công nghệ, an toàn lao động, vệ sinh môi trường đối với một số nghề phổ thông đã học; hình thành
và phát triển kĩ năng vận dụng những kiến thức vào thực tiễn; có một số kỹ năng
sử dụng công cụ, thực hành kỹ thuật theo quy trình công nghệ để làm ra sản phẩm đơn giản
Trang 20b) Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, HĐGD (theo nghĩa rộng) bao gồm hoạt động dạy học và hoạt động TNST
Hoạt động TNST dành cho tất cả các học sinh từ lớp 1 đến lớp 12 giúp HS vận dụng những tri thức, kiến thức, kĩ năng, thái độ, đã học từ nhà trường và những kinh nghiệm của bản thân vào thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo
Bên cạnh việc hình thành và phát triển các phẩm chất và năng lực chung của chương trình giáo dục, hoạt động TNST còn tập trung hình thành, phát triển các năng lực đặc thù cho học sinh: Năng lực tổ chức hoạt động, năng lực tổ chức
và quản lí cuộc sống, năng lực tự nhận thức và tích cực hóa bản thân, năng lực định hướng và lựa chọn nghề nghiệp
Nội dung hoạt động TNST gồm phần bắt buộc (bao gồm cả các hoạt động tập thể) và tự chọn, được thiết kế theo nguyên tắc tích hợp, hoặc đồng tâm kết hợp với tuyến tính Nội dung hoạt động TNST được xây dựng thành các chủ đề mang tính chất mở và tương đối độc lập với nhau dựa trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế, sản xuất, khoa học công nghệ, giáo dục, văn hóa, chính trị xã hội, của địa phương, vùng miền, đất nước và quốc tế để học sinh và nhà trường lựa chọn, tổ chức thực hiện một cách phù hợp, hiệu quả
Hoạt động TNST là hoạt động học tập bổ ích dành cho tất cả các HS Tùy vào mỗi giai đoạn giáo dục, hoạt động TNST đối với HS có những nội dung, mục đích, hình thức khác nhau: Giai đoạn giáo dục cơ bản, chương trình hoạt động TNST tập trung vào việc hình thành các phẩm chất nhân cách, những thói quen,
kỹ năng sống… Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, chương trình hoạt động TNST được tổ chức gắn với nghề nghiệp tương lai chặt chẽ hơn, hình thức câu lạc bộ nghề nghiệp phát triển mạnh hơn,… Ở giai đoạn này, chương trình có tính phân hóa cao và tự chọn cao HS được trải nghiệm với các ngành nghề khác nhau dưới các hình thức khác nhau
Hoạt động TNST sử dụng các hình thức và phương pháp chủ yếu sau: thực địa, tham quan, câu lạc bộ, hoạt động xã hội, tình nguyện, diễn đàn, giao lưu, hội thảo, trò chơi, cắm trại, thực hành lao động,
Trang 21Đánh giá năng lực của học sinh từ hoạt động TNST chủ yếu bằng phương pháp định tính thông qua quan sát hành vi, thái độ; bảng điểm, tự luận và sơ đồ hoạt động,
Như vậy, ngoài hoạt động TNST được nêu trên, trong từng môn học cũng coi trọng việc tổ chức, hướng dẫn các hoạt động TNST phù hợp với đặc trưng nội dung môn học và điều kiện dạy học
1.1.2.2 Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm sáng tạo
- Trải nghiệm và sáng tạo là dấu hiệu cơ bản của hoạt động:
Hoạt động TNST là hoạt động thực hiện phối hợp một cách hợp lí cả hai khâu trải nghiệm và sáng tạo
Hoạt động TNST tạo cơ hội cho HS trải nghiệm trong thực tiễn để tích lũy
và chiêm nghiệm các kinh nghiệm, từ đó có thể khái quát thành hiểu biết theo cách của riêng mình, đó đã được gọi là sáng tạo của bản thân HS
- Nội dung hoạt động TNST mang tính tích hợp và phân hóa cao:
Nội dung hoạt động TNST rất đa dạng và mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như: giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục giá trị sống, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòng chống HIV/AIDS và tệ nạn xã hội, giáo dục các phẩm chất người lao động, nhà nghiên cứu… Điều này giúp cho các nội dung giáo dục thiết thực hơn, gần gũi với cuộc sống thực tế hơn, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của HS, giúp các em vận dụng vào trong thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng và thuận lợi hơn
Bên cạnh hoạt động có tính tích cực, HS được lựa chọn một số hoạt động chuyên biệt phù hợp với năng lực, sở trường, hứng thú của bản thân để phát triển năng lực sáng tạo riêng của mỗi cá nhân
- Hoạt động TNST được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng
Hoạt động TNST được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như trò chơi, hội thi, diễn đàn, giao lưu, tham quan du lịch, sân khấu hóa (kịch, thơ, hát,
Trang 22múa rối,…), thể dục thể thao, câu lạc bộ, tổ chức các ngày hội, các công trình, các công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật… Mỗi một hình thức hoạt động trên đều tiềm tàng trong nó những khả năng giáo dục nhất định Nhờ các hình thức tổ chức
đa dạng, phong phú mà việc giáo dục HS được thực hiện một cách tự nhiên, sinh động, nhẹ nhàng, hấp dẫn, không gò bó và khô cứng, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí cũng như nhu cầu, nguyện vọng của HS Sự đa dạng của hình thức trải nghiệm cũng tạo cơ hội thực hiện giáo dục phân hóa
- Hoạt động TNST đòi hỏi sự phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong nhà trường
Hoạt động TNST tạo cho HS điều kiện được học tập, giao tiếp rộng rãi với nhiều lực lượng giáo dục; được lĩnh hội các nội dung giáo dục qua nhiều kênh khác nhau, với nhiều cách tiếp cận khác nhau Điều đó làm tăng tính đa dạng, hấp dẫn và chất lượng, hiệu quả của hoạt động TNST
- Hoạt động TNST giúp lĩnh hội những kinh nghiệm mà các hình thức học tập khác không thực hiện được
Trong thực tế có những kinh nghiệm chỉ có thể lĩnh hội thông qua trải nghiệm thực tiễn Ví dụ: phân biệt mùi, cảm thụ âm nhạc, tư thế cơ thể trong không gian, niềm vui sướng hạnh phúc,… những điều này chỉ thực sự có được khi học sinh được trải nghiệm với chúng Sự đa dạng trong trải nghiệm sẽ mang lại cho học sinh nhiều vốn sống kinh nghiệm phong phú mà nhà trường không thể cung cấp thông qua các công thức hay định luật, định lý…
Tóm lại, hoạt động TNST là một phương thức học tập hiệu quả, nó giúp hình thành năng lực cho người học HS khi được học dưới hình thức tổ chức TNST sẽ được trực tiếp trải nghiệm với các lĩnh vực tri thức đa dạng như: khoa học, đạo đức, kinh tế, xã hội,… Hoạt động TNST được tiến hành có tổ chức và được sự hướng dẫn của nhà giáo dục thì hiệu quả của việc học tập sẽ tốt hơn HĐGD nhân cách cho HS chỉ có thể tổ chức qua hoạt động trải nghiệm
Trang 231.1.3 Nguyên tắc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Việc thiết kế các hoạt động TNST được tiến hành theo các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động TNST
Nhà giáo dục căn cứ nhiệm vụ, mục tiêu, chương trình giáo dục để tiến hành khảo sát nhu cầu, điều kiện tiến hành đồng thời xác định rõ đối tượng thực hiện
Nguyên tắc 2: Đặt tên cho hoạt động
Đặt tên cho hoạt động là một việc nên làm, cần thiết vì tên của hoạt động
tự nó sẽ nói lên được chủ đề, mục tiêu, nội dung, hình thức của hoạt động Việc đặt tên cho hoạt động cần đảm bảo các yêu cầu: rõ ràng, ngắn gọn, súc tích; phản ánh được chủ đề và nội dung hoạt động; tạo được ấn tượng ban đầu cho HS
Nguyên tắc 3: Xác định mục tiêu của hoạt động
Tùy theo chủ đề của hoạt động TNST, đặc điểm HS, điều kiện, hoàn cảnh nơi tổ chức hoạt động TNST mà các mục tiêu của hoạt động sẽ được xác định ở các mức độ khác nhau Nhìn chung, người GV cần xác định những mục tiêu cơ bản sau:
Về kiến thức: Cần xác định những kiến thức hình thành cho HS ở mức độ nào? Khối lượng và chất lượng đạt được của kiến thức?
Về kỹ năng, năng lực: Xác định những kỹ năng/năng lực có thể được hình thành ở học sinh và các mức độ HS đạt được sau khi tham gia hoạt động
Về thái độ, phẩm chất, giá trị: Cần xác định được sau khi HS tham gia hoạt động thì sẽ hình thành hoặc có sự thay đổi về thái độ, phẩm chất, giá trị như thế nào?
Nguyên tắc 4: Xác định nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt động
Trước hết, cần căn cứ vào từng chủ đề, các mục tiêu đã xác định, các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, khả năng của HS để xác định nội dung phù hợp cho các hoạt động GV cần liệt kê đầy đủ các nội dung hoạt động phải thực hiện
Trang 24Từ nội dung, xác định cụ thể phương pháp tiến hành, xác định những phương tiện cần có để tiến hành hoạt động Từ đó lựa chọn hình thức hoạt động tương ứng
Có thể một hoạt động nhưng nhiều hình thức khác nhau được thực hiện đan xen hoặc trong đó có một hình thức nào đó là chủ đạo, còn hình thức khác là phù trợ
Nguyên tắc 5: Lập kế hoạch và thiết kế chi tiết hoạt động trên giấy
- Lập kế hoạch để thực hiện hệ thống mục tiêu tức là tìm các nguồn lực (nhân lực - vật lực - tài liệu) và thời gian, không gian… cần cho việc hoàn thành các mục tiêu
GV cần cân đối giữa hệ thống mục tiêu với các nguồn lực và điều kiện thực hiện chúng, hay nói khác đi, cân đối giữa yêu cầu và khả năng đòi hỏi người GV phải nắm vững khả năng mọi mặt, kể cả các tiềm năng có thể có, thấu hiểu từng mục tiêu và tính toán tỉ mỉ việc đầu tư cho mỗi mục tiêu theo một phương án tối ưu
- Thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy cần phải xác định:
+ Có bao nhiêu việc cần phải thực hiện?
+ Các việc đó là gì? Nội dung của mỗi việc đó ra sao?
+ Tiến trình và thời gian thực hiện các việc đó như thế nào?
+ Các công việc cụ thể cho các tổ, nhóm, các cá nhân?
+ Yêu cầu cần đạt được của mỗi việc?
Nguyên tắc 6: Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình hoạt động:
Rà soát, kiểm tra lại nội dung và trình tự của các việc, thời gian thực hiện cho từng việc, xem xét tính hợp lí, khả năng thực hiện và kết quả cần đạt được
Nếu phát hiện những sai sót hoặc bất hợp lí ở khâu nào, bước nào, nội dung nào hay việc nào thì phải kịp thời điều chỉnh
Cuối cùng, hoàn thiện bản thiết kế chương trình hoạt động và cụ thể hóa chương trình đó bằng văn bản Đó là giáo án tổ chức hoạt động
Trang 25Nguyên tắc 7: Lưu trữ kết quả hoạt động vào hồ sơ của học sinh
Ghi lại kết quả, xếp loại sau khi đã đánh giá
là điểm thi tuyển vào các trường Đại học, Cao đẳng hàng năm Sở dĩ còn tồn tại các hiện tượng như trên có lẽ xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau
“Văn học là nhân học” dạy văn không chỉ đơn thuần là dạy HS cách đọc văn hay phân tích văn học mà thông qua mỗi tác phẩm văn chương người thầy giáo, cô giáo truyền tải những thông điệp mà tác giả gửi gắm qua từng trang văn
để từ đó bồi đắp tình yêu văn học, tình yêu thương quê hương, đất nước con người Thế nhưng tình trạng chung trong các trường phổ thông hiện nay HS đều không yêu thích môn văn, hầu hết các em ngay từ đầu năm lớp 10 đã được gia đình định hướng theo học những môn ban tự nhiên Chính sức ép từ phía gia đình khiến nhiều HS chỉ coi môn văn như môn học phụ và chỉ chú tâm vào khối học chính mà bố mẹ đã định hướng từ đầu Với tư tưởng học chống đối nên HS không chịu đọc và tìm hiểu tác phẩm văn học một cách thực sự
Xã hội phát triển kéo theo đó nhiều những bất cập Mạng xã hội đem lại nhiều tiện lợi nhưng nó cũng chính là con dao hai lưỡi cho những người không biết khai thác những ưu điểm của nó Nhiều HS có thể dành thời gian hàng giờ đồng hồ để lên các trang mạng xã hội Facebook, Zalo,… để nói chuyện với bạn
bè và có HS mê truyện tranh, tiểu thuyết ngôn tình và đọc đến thâu đêm nhưng ít
có HS dành thời gian cho việc đọc tác phẩm văn học
Trang 26Về phía GV, nhiều thầy cô tâm huyết với nghề nhưng trước thái độ học tập thờ ơ với môn văn của HS cũng ít nhiều ảnh hưởng tới tâm lí giảng dạy Hiện nay một số GV vẫn duy trì PPDH cũ: dạy đọc chép, dạy nhồi nhét, nặng về lí thuyết thiếu đi sự thực hành khiến cho HS mệt mỏi, chán nản mỗi khi tới giờ học văn
Trong chương trình giáo dục phổ thông, “Hạnh phúc của một tang gia”
là một tác phẩm nằm trong giai đoạn Văn học Việt Nam từ đầu thế kỳ XX đến
1945 Mặc dù đã được giảng dạy trong nhiều năm nay, tuy nhiên tác phẩm cũng không nằm ngoài thực trạng đáng buồn của việc dạy học đọc hiểu HS không thiết tha với môn Văn, không cảm nhận hết những cái hay cái đẹp mà Văn học đem lại, cũng như những quan điểm, giá trị sống mà tác giả muốn gửi gắm
1.2.2 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo đọc hiểu văn bản “Hạnh phúc của một
tang gia” của Vũ Trọng Phụng
Những năm gần đây giáo dục có quan tâm đổi mới các hình thức, PPDH nhằm nâng cao chất lượng học tập cho các em Thay vì học những tác phẩm trong sách thì các em được trải nghiệm, được chứng kiến những cuộc đời, số phận hạnh phúc, khổ đau,… để rồi viết lên những trang văn bằng những cảm nhận và cảm xúc rất thực của mình Điều quan trọng hơn cả là với PPDH này, các em được tiếp cận với các nhân vật cuộc đời, tác phẩm cuộc sống chứ không phải là những điều trên sách vở, lí thuyết xa vời nữa mà kéo tác phẩm lại gần với
các em hơn Trong bài “Đọc - hiểu văn bản như một khâu đột phá dạy học văn
học trong nhà trường”, Trần Đình Sử khẳng định: Dạy văn là dạy cho HS năng
lực đọc, kĩ năng đọc để HS có thể đọc - hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại Từ đọc hiểu mà trực tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng
và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng
có cá tính Đó là con đường duy nhất để bôi dưỡng HS năng lực thẩm mĩ Do đó, hiểu bản chất môn Văn là môn dạy đọc văn vừa thể hiện cách hiểu thực sự bản chất việc dạy Văn là dạy năng lực, phát triển năng lực của chủ thể HS
Trang 27Tổ chức hoạt động TNST trong dạy học đọc hiểu “Hạnh phúc của một
tang gia” giúp cho HS tự trải nghiệm qua các hoạt động cụ thể để thấy được từ
khi ra đời tác phẩm vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay Vũ Trọng Phụng đã tái hiện lại nhiều sự kiện xã hội đương thời mà theo như tác giả là một
xã hội “chó đểu”, một gia đình nhiều tiền nhưng thiếu tình Cả một xã hội chạy theo đồng tiền, sống trong giả tạo, lừa lọc Nếu để HS chỉ học trong sách và thông qua những lời giảng của GV một cách đơn thuần thì các em không thể hiểu hết được giá trị của tác phẩm Những gì HS biết chỉ gói gọn trong những lời giảng của GV và nghiễm nhiên mặc định rằng chỉ cần biết như vậy đủ, ỉ lại, thụ động phó mặc tất cả cho thầy cô Vì vậy, khi để cho HS tự do trải nghiệm, tự do tìm hiểu, đánh giá văn bản sẽ giúp các em hứng thú hơn với giờ học và có những tìm tòi, phát hiện mới mẻ về tác phẩm HS sẽ không còn thụ động chờ vào GV
mà tự tìm hiểu, lĩnh hội tri thức, GV chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn và định hướng cho các em Qua hoạt động trải nghiệm mỗi HS sẽ có những cảm nhận riêng mới mẻ và bổ ích, những cách nhìn nhận về cuộc sống, về con người khác nhau Mỗi bài học trải nghiệm sẽ là một bài học làm người giúp các em sống tốt hơn, giúp hoàn thiện phẩm chất, nhân cách, năng lực cho mỗi HS khi Đó là hành trang quý báu, là bài học nhận thức về văn hóa, con người, và đặc biệt là tình người giúp cho các em có thái độ đúng đắn khi bước vào cuộc sống hiện đại Đồng thời HS được làm việc nhóm rèn luyện kĩ năng làm việc tập thể, môi trường học hỏi lẫn nhau của các em, và tình bạn trong lớp cũng thêm thắt chặt hơn, đoàn kết hơn
Trang 28CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO
TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “HẠNH PHÚC
CỦA MỘT TANG GIA” CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG Ở TRƯỜNG THPT
2.1 Đặc điểm tiểu thuyết phóng sự
2.1.1 Khái niệm tiểu thuyết phóng sự
Belinski nhận định rằng: Tiểu thuyết là sử thi của đời tư chỉ ra khái quát nhất về một dạng thức tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận của một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó Sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách
Từ điển Thuật ngữ văn học định nghĩa: “Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời
Trang 29gian Tiểu thuyết có thể phản ánh được số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [4,tr.328] Theo cách hiểu này, trong quá trình vận động và phát triển thì diện mạo của tiểu thuyết không ngừng thay đổi
Như vậy, các khái niệm này cùng chung quan điểm cho rằng tiểu thuyết là một thể loại tự sự, có khả năng phản ánh hiện thực, luôn có xu hướng biến đổi và phát triển
2.1.1.2 Phóng sự
Thể loại phóng sự ra đời rất sớm ở phương Tây, từ thế kỷ XVI, cùng với
sự xuất hiện của báo chí và các phương tiện in ấn công nghiệp, do đòi hỏi thông tin của xã hội nên phóng sự ở thời kỳ này còn mang nặng tính chất thông tin, đơn giản về các sự kiện Ở Việt Nam, phóng sự chỉ thực sự phát triển từ thập kỷ 30 của thế kỷ XX phóng sự phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam và mau chóng đạt được những thành tựu rực rỡ, đóng vai trò là một trong những thể văn xuôi xung kích trong đời sống báo chí Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa về thể loại này, song có thể nhận thấy phần lớn đều thồng nhất ở những điểm sau đây:
Thứ nhất, phóng sự là thể văn điều tra ghi chép sự thật một cách trực tiếp,
có tính chất thời sự Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (tập III) cho rằng: phóng sự là “Tác giả báo đến tận nơi để hỏi han, điều tra về một cảnh sinh hoạt, một nghề nghiệp, một hạng nhân vật rồi cứ sự mắt thấy tai nghe mà cho chép lên báo” [10;tr.512] Trong từ điển tiếng Việt (trung tâm từ điển ngôn ngữ, 1992) viết: “Phóng sự là thể văn chuyên miêu tả những việc thật có tính thời sự xã hội” [9;tr.774] Nhìn từ góc độ lịch sử của thể loại, ông Phạm Thế Ngũ cho rằng: Phóng sự nhằm cái mục đích chung nhất là thông tin Và có lẽ đến Từ điển thuật ngữ văn học các nhà lý luận định nghĩa đầy đủ nhất về phóng sự: Một thể kí thuộc loại kí phóng sự, ghi chép kịp thời những vụ việc nhằm làm sáng tỏ trước công luận một sự kiện, một vấn đề có liên quan đến hoạt động và số phận của một hoặc nhiều người và có ý nghĩa thời sự với địa phương hay toàn xã hội
Trang 30Mục đích của phóng sự là cung cấp cho dân chúng những tri thức phong phú, đầy
đủ, chính xác để họ có thể nhận thức, đánh giá đúng người và việc mà họ đang quan tâm theo dõi
Thứ hai, phóng sự phải nêu lên được hiện tượng có vấn đề trong xã hội
Từ điển thuật ngữ văn học cũng khẳng định nhiệm vụ của phóng sự là làm sáng
tỏ trước công luận một sự kiện, một vấn đề Trong từ điển văn học, Nguyễn Xuân Nam cho rằng: giá trị của một phóng sự, trước hết là ở vấn đề nó nêu ra cấp thiết, có bằng chứng cụ thể, xác thực (số liệu, biểu đồ, bản thống kê, tư liệu khoa học…) và kết luận gợi lên là đúng đắn Từ các quan niệm về phóng sự nêu trên có thể cho thấy rõ lợi thế và sức mạnh của thể văn phóng sự so với các thể văn xuôi hư cấu khác như truyện ngắn và tiểu thuyết… Đó là một thể văn có nhiều khả năng tác động trực tiếp tới hiện thực, mang tính tích cực xã hội, tính chiến đấu rõ rệt
Thứ ba, chất văn của phóng sự Xét về nguồn gốc và chức năng phóng sự
là một thể loại văn báo chí, đời sống của nó gắn liền với báo chí, đúng như Vũ Ngọc Phan nhận xét: Nó là đứa con đầu lòng của nghề viết báo Nhưng cũng chính Vũ Ngọc Phan đã nói rằng: Văn phóng sự, chính vì để đập vào tâm trí người ta nên phải tả thực như văn kí sự, trào phúng như văn châm biếm, cảm người ta như văn tiểu thuyết, đó là một thể văn linh hoạt và có hiệu lực vô cùng Nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ thì cho rằng: Nhiều bài phóng sự, dưới một cây bút nhà văn, sự việc được tập trung quanh một đề tài, trình bày cho ra thứ mục gót đầu, cảnh tình, nhân vật, nhất thiết linh động, cuối cùng lại nói lên một ý nghĩa chung, những bài ấy ta đọc sẽ thấy thú vị và cũng không xa tiểu thuyết là bao Từ điển thuật ngữ văn học cũng cho rằng: Phóng sự sẽ có thêm giá trị văn học khi nó đi sâu khắc họa thế giới nội tâm, miêu tả tính cách nhân vật với lối văn giàu hình ảnh và cảm xúc Như vậy, phóng sự có nhiều khả năng sẽ trở thành văn học và trên thực tế, những phóng sự có giá trị thường có giá trị văn học cao
Trang 312.1.1.3 Tiểu thuyết phóng sự
Cho đến bây giờ, ở Việt Nam vẫn chưa có một định nghĩa chính thức và đầy đủ về TTPS Trong công trình “Nhà văn hiện đại” của Vũ Ngọc Phan thuật ngữ TTPS được nhắc tới lần đầu tiên Vũ Ngọc Phan để hẳn một mục đề Tiểu thuyết phóng sự thể hiện sự quan tâm đến vấn đề này Ông nhận xét về Bút nghiên của Chu Thiên như sau: tập Bút nghiên của ông tuy đề là tiểu thuyết trơn, nhưng có thể coi như là một tập kí sự về cái lối đi học đi thi của ông cha chúng
ta thuở xưa, hay đặt nó vào loại TTPS cũng được Tóm lại, ta có thể hiểu, trong quan niệm của Vũ Ngọc Phan, TTPS là sự kết hợp giữa TTPS là một dạng ghi chép, trình bày về sự việc đồng thời phản ánh một cách có nghệ thuật về đời sống bên trong của con người, có tình tiết có dẫn chứng Không trực tiếp định nghĩa về TTPS nhưng qua cách phân tích, lí giải của Vũ Ngọc Phan, ông hiểu rằng TTPS là sự kết hợp giữa điều tra ghi chép một hiện trạng, một vấn đề xã hội
và đồng thời thể hiện những điều đó qua tính cách số phận của con người Với cách định nghĩa này chưa thực sự đầy đủ và chưa quan tâm tới tính thời sự nóng hổi của thể tài
Tiếp sau Vũ Ngọc Phan, một số nhà nghiên cứu phê bình và học giả cũng quan tâm đến thể tài TTPS ở những góc độ khác nhau: GS Nguyễn Đăng Mạnh, GS.TS Trần Đăng Suyền, Nguyễn Hoài Thanh,…
Để tóm lược trong một định nghĩa ngắn gọn và đầy đủ về TTPS , bởi chính bản thân thể tài này cũng rất đa dạng Chúng tôi thấy có thể xác định khái niệm TTPS trên những bình diện sau:
TTPS thường ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt mang tính quy luật: đời sống văn học có những bước ngoặt; đời sống xã hội có những biến thiên quan trọng Khi lịch sử xã hội càng biến động, TTPS càng phát huy được thế mạnh trong việc bắt mạch các vấn đề, sự kiện của hiện thực và trình bày nó một cách sinh động hấp dẫn Sức hấp dẫn của TTPS trước hết nó hướng vào những sự kiện mang tính thời sự trong đời sống xã hội Cảm hứng chính của tiểu thuyết phóng sự là ở chỗ
Trang 32nó luôn hướng tới những vấn đề mang tính cập nhật, khám phá, phơi bày những hiện tượng tiêu cực và mang tính phản biện xã hội
TTPS không phải là sự kết hợp giữa thể loại phóng sự và tiểu thuyết mà
đó là sự tổng hợp những yếu tố mang tính đặc thù của hai thể loại để tạo thành một tiểu thể loại mới Trong đó, tính sự kiện, tính vấn đề mang sự nóng hổi của đời sống được chuyển vào các câu chuyện, những số phận, những tính cách của con người tạo nên thể tài tiểu thuyết có khuynh hướng phóng sự TTPS tái hiện một cách chân thực, đa dạng, phức tạp của xã hội rất gần gũi với đời sống thực
và có sự kết tinh, lắng đọng của nghệ thuật, có tính thẩm mỹ cao TTPS mang những đặc điểm của phóng sự song lại đậm chất tiểu thuyết ở các phẩm chất văn học TTPS không chỉ dừng lại ở việc phơi bày các sự kiện, hiện tượng của đời sống mà còn đi vào lí giải, phân tích, hoá thân vào số phận tính cách của nhân vật TTPS có cách diễn đạt theo lối văn thông tấn của báo chí, tuy hết sức ngắn gọn, cô đọng song đầy đủ thông tin, nóng hổi tính thời sự đồng thời kết hợp với
hư cấu của tiểu thuyết để phân tích thế giới bên trong tâm lý của nhân vật, sử dụng các phương tiện để miêu tả, biểu cảm tạo nên giá trị của tác phẩm TTPS thường có sự dung hợp về thể loại: tính chặt chẽ, bám sát sự kiện gắn với những xung đột của xã hội, mặt khác không bỏ qua việc khắc họa tính cách, số phận của nhân vật
TTPS, sử dụng ngôn ngữ khá phong phú: có hệ lời thô nhám, dường như còn bám đầy bụi bặm và nóng hổi hơi thở của đời sống thực tế; có hệ lời miêu tả trực tiếp sự việc đang diễn ra, giàu tính sự kiện, sống động tính thời sự, cập nhật;
có hệ lời đầy tính sáng tạo, ngôn ngữ tinh tế tái hiện, phân tích, khắc họa tính cách nhân vật, đời sống nội tâm nhân vật Cách diễn đạt trong TTPS phong phú, đầy tính hiện thực nhưng lại giàu cảm xúc, sâu lắng, diễn tả được sâu sắc nội tâm, suy nghĩ từ đáy sâu tâm hồn của con người… Tuy nhiên, những điểm đã nêu trên mới chỉ là những điểm chung nhất để nhận diện thể tài TTPS Trong thực tế văn học, phóng sự là một thể tài có sự đa dạng vận động theo từng giai
Trang 33đoạn văn học cũng như mang đặc điểm riêng trong phong cách của mỗi tác giả
về mặt nội dung đề tài
TTPS bao gồm TTPS trong nhà trường và TTPS ngoài nhà trường:
TTPS trong nhà trường là những TTPS được lấy trong văn học nhưng có
sự chọn lọc, nhằm thể hiện một mục đích giáo dục nào đó Nó được chọn theo chủ đích của người biên soạn TTPS trong nhà trường đi vào mặt trái của xã hội
Đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” thuộc chương XV của tác phẩm “Số
đỏ”, được đưa vào chương trình ngữ Văn lớp 11 Bằng nghệ thuật trào phúng
nhà văn đã phê phán mạnh mẽ bản chất giả dối và sự lố lăng, đồi bại của xã hội thượng lưu ở thành thị những năm trước cách mạng Đoạn trích đã tạo được một mâu thuẫn trào phúng bao trùm lên, trên cơ sở đó nhà văn đã xây dựng nên những chân dung trào phúng đả kích thật thích đáng Với việc xây dựng thành công tình huống truyện điển hình tác giả đã phơi bày những bộ mặt đồi bại trong gia đình trưởng giả ấy, vạch trần những cặn bã, những quái thai của của cái xã hội dở ta dở tây ấy Cái chết của cha, ông chúng đã làm thỏa mãn niềm hạnh phúc của lũ con cháu bất hiếu ấy
TTPS ngoài nhà trường là những TTPS được lấy trong văn học, đa dạng
về nội dung, nhằm thể hiện những mục đích giáo dục khác nhau TTPS ngoài
nhà trường đi vào nhiều khía cạnh Bên cạnh “Số đỏ” thì Vũ Trọng Phụng còn
có hai tác phẩm nằm trong “Tam kiệt tiểu thuyết” đó là “Giông tố” và “Vỡ đê”
và còn nhiều tác phẩm khác, không được đưa vào chương trình sách giáo khoa
“Giông tố” đã miêu tả tấn bi kịch của gia đình Nghị Hách với những tình tiết,
biến cố đày bất ngờ, những quan hệ hết sức phức tạp: cha hiếp dâm vợ chưa cưới của con, con thông dâm với vợ lẽ của bố, anh em ruột lấy nhau, bà chủ ngủ với thằng cung văn, Nhưng “gia đình loạn luân” thực chất chỉ là một tuyến cốt truyện để từ đó ngòi bút hiện thực sắc sảo, mãnh liệt của Vũ Trọng Phụng phanh phui, mổ xẻ toàn bộ cơ cấu xã hội thối nát đương thời Tiểu thuyết Vỡ đê cũng nổi lên những vấn đề thời sự đương thời, những cuộc đấu tranh của quần chúng, những tai nạn “thủy, hỏa, đạo, tặc” gây bao cảnh đau thương, khốn cùng
Trang 342.1.2 Đặc điểm tiểu thuyết phóng sự
Đặc điểm nổi bật nhất của TTPS (hay còn gọi là tiểu thuyết kí thực) là tính trung gian Nó kết hợp nhiều nhân tố như: phóng sự tin tức, tự bạch nội tâm, ghi chép văn tự, ghi chép văn hiến, điều tra xã hội, luận giải chú thích triết học, câu chuyện truyền kỳ, những chuyện ít người biết, những chính sử ít người nghe, chân tướng của những điều thầm kín, bàn luận về những chuyện hằng ngày, dung nạp nhiều nội dung khoa học khác như triết học, xã hội học, văn hóa học, nhân loại học, tâm lí học, kinh tế học, lịch sử học
Trên phương diện nội dung, TTPS lấy sự thật cuộc sống làm yếu tố Sự thật cuộc sống, trong đó, hoặc là tin tức thời sự, hoặc là tin tức cũ Chức năng ghi chép sự thật của TTPS biểu hiện ở việc xử lí nghệ thuật thích đáng đối với sự thật cuộc sống, khiến cho sự thật không thể hoài nghi đó xuất hiện trước mắt độc giả dựa trên cái bản chất TTPS chú trọng yếu tố thời sự, sự chân thực, tường tận của tài liệu, và sự phân tích, thẩm bình, giải thích, cho nên nó thường chọn nhân vật thời sự, sự kiện thời sự, sự thực lịch sử Nếu chọn sự thực cuộc sống tản mạn, vụn vặt, bé nhỏ làm đề tài thì điều mà nó chú trọng lại là những gì giống như sự chất phác, hoặc bản chất của cuộc sống Sự thật được ghi chép cụ thể tuần tự, nhân vật được miêu tả, tình tiết triển khai, hoàn cảnh, bầu không khí, sự khái quát làm cho TTPS khác tiểu thuyết truyền thống, có thể nói, nó trở thành một thể loại độc lập trong đời sống văn học
Trên phương diện thủ pháp nghệ thuật, TTPS có chủ trương loại bỏ, làm giảm yếu tố hư cấu, lấy việc ghi lại sự thật làm phương tiện nghệ thuật Những điều nó miêu tả tuy là con người và sự kiện xác thực, nhưng nó tránh được những phiền phức của phóng sự khi lấy danh tính thật trong cuộc sống, cái nó chú trọng là dùng hình thức và thủ pháp kĩ thuật của tiểu thuyết, thậm chí trong sáng tạo hình tượng nhân vật, kịch tính của cục diện cũng đều được tiểu thuyết hóa Nó đã có thể tìm được hứng thú của độc giả từ trong cung điện nghệ thuật của tiểu thuyết, lại cũng có thể tạo được ma lực của sự chân thực trong cuộc sống Nó cũng viết về nhân vật và trạng thái tâm lí nhân vật, chỉ có điều là những