TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN ************** NGUYỄN HUYỀN TRANG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “ VỢ NHẶT” Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP KHÓA LUẬN TỐT
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**************
NGUYỄN HUYỀN TRANG
DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
“ VỢ NHẶT” Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
ThS VŨ NGỌC DOANH
HÀ NỘI – 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành sâu sắc nhất tới ThS Vũ Ngọc Doanh, người đã luôn quan tâm, động viên và tận tình hướng dẫn tác giả trong quá trình thực hiện khóa luận này
Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong Tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn cùng tất cả các thầy cô trong khoa Ngữ văn đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu
Do năng lực nghiên cứu có hạn, khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2017
Tác giả khóa luận
Nguyễn Huyền Trang
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp Đại học với đề tài “ Dạy học đọc hiểu văn bản “ Vợ nhặt” ở trường Trung học Phổ thông theo quan điểm tích hợp” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2017
Tác giả khóa luận
Nguyễn Huyền Trang
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của khóa luận 5
7 Bố cục 6
PHẦN NỘI DUNG 7
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 7
1.1 Cơ sở lí luận trong dạy học tích hợp 7
1.1.1 Khái niệm tích hợp 7
1.1.2 Mục tiêu của dạy học tích hợp 8
1.1.3 Đặc điểm cơ bản của dạy học tích hợp 9
1.1.4 Quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn 12
1.1.5 Vấn đề đọc hiểu trong dạy học tích hợp 13
Chương 2: DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “ VỢ NHẶT” Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP 20
2.1 Kim Lân và vị trí của Kim Lân trong đời sống văn học và trong trường Trung học Phổ thông 20
2.1.1 Cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Kim Lân……… 20
2.1.2 Vị trí của Kim Lân trong đời sống văn học và trong nhà trường 21
Trang 62.2 Dạy học đọc hiểu văn bản “ Vợ nhặt” ở trường Trung học Phổ thông theo quan
điểm tích hợp 22
2.2.1 Thông tin về nghệ thuật 22
2.2.2 Thông tin lịch sử 32
2.2.3 Thông tin văn hóa đời sống 35
Chương 3: GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 39
PHẦN KẾT LUẬN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Hiện nay, xu hướng tích hợp vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm
và áp dụng vào đổi mới chương trình và sách giáo khoa Trung học Phổ thông Chương trình Trung học Phổ thông, môn Ngữ văn, năm 2002 do Bộ Giáo dục và Đào tạo dự thảo đã ghi rõ: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy.” [2;27] “Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học, từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình; tích hợp trong sách giáo khoa; tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và tích hợp trong hoạt động học tập của học sinh; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo.” [2;40]
Như vậy, ở nước ta hiện nay, bài toán đang đặt ra trong lĩnh vực lí luận và phương pháp dạy học bộ môn là phải tiếp cận, nghiên cứu và vận dụng dạy học tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở Trung học Phổ thông nhằm hình thành và phát triển năng lực cho học sinh một cách có hiệu quả hơn, góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục và đào tạo của bộ môn
Môn Ngữ văn là một trong những môn học được xây dựng theo tư tưởng sư phạm tích hợp một cách khá rõ Môn Ngữ văn trong nhà trường Trung học Phổ thông là một môn học trung tâm và chiếm nhiều thời lượng nhất Môn Ngữ văn
Trang 82
không chỉ giúp học sinh sử dụng tốt ngôn ngữ vận dụng làm các kiểu bài mà còn có vai trò quan trọng trong việc hình thành những phẩm chất quan trọng của con người góp phần thực hiện nhiệm vụ của hệ thống giáo dục quốc dân
Trong môn Ngữ văn đọc văn có một vị trí đặc biệt Phân môn này không chỉ hình thành cho học sinh kĩ năng đọc hiểu mà còn trang bị cho học sinh những kiến thức sâu rộng về từ ngữ, ngữ pháp, những tri thức về lịch sử, địa lí, văn hóa Qua những văn bản văn học giúp các em cảm nhận được cái hay cái đẹp của văn chương, góp phần nâng cao năng lực cảm thụ cho học sinh
Thực tế, áp dụng quan điểm dạy học tích hợp trong giờ đọc hiểu văn bản văn học còn nhiều hạn chế Trong giờ đọc hiểu văn bản giáo viên gặp khó khăn trong việc hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức, những giá trị tổng hợp của tác phẩm.Trong giờ vẫn còn hiện tượng thầy giảng – trò nghe, thầy đọc – trò chép, thầy cho những câu hỏi mà trò đã biết không phát huy được tính tự giác, tích cực của học sinh Mặt khác thời gian học có hạn lượng kiến thức cung cấp cho học sinh ngày càng nhiều Vì vậy, tìm phương pháp học hiệu quả là mong muốn của tất cả giáo viên
Là một người giáo viên tương lai tôi muốn góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn, vừa thu hút được hứng thú của các em vừa cung cấp được một lượng kiến thức tổng hợp cho học sinh Vì vậy, tôi chọn đề tài “ Dạy học đọc hiểu văn bản “Vợ nhặt” ở trường Trung học Phổ thông theo quan điểm tích hợp” mong muốn góp một phần công sức hình thành phương pháp giảng dạy hợp lí, hiệu quả
2 Lịch sử vấn đề
Từ thập niên 60 của thế kỉ XX ở nước ta việc nghiên cứu tích hợp trong giảng dạy các môn học được đặt ra nhưng nó chỉ trên cơ sở lí luận Năm 2002 Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện việc đổi mới chương trình sách giáo khoa yêu cầu tìm ra cách dạy theo quan điểm tích hợp trở nên cần thiết
Tích hợp (integration) có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp Nội hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay
Trang 93
là sự nhất thể hoá đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là một phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy Hiểu như vậy, tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau, là tính liên kết và tính toàn vẹn Liên kết phải tạo thành một thực thể toàn vẹn, không còn sự phân chia giữa các thành phần kết hợp Tính toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được thụ đắc, tác động một cách riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, tình huống
Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có
hệ thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên
cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của bộ môn đó
Bàn về phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp có rất nhiều tác giả, nhà cải cách giáo dục đề cập đến vấn đề này như:
Trong cuốn “ Phương pháp dạy học Ngữ văn ở Trung học Cơ sở theo hướng tích hợp và tích cực” của tác giả Đoàn Thị Kim Nhung – Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh – 2006, đã đề cập đến quan điểm, nguyên tắc, phương pháp dạy học theo hướng tích hợp và tích cực đối với Ngữ văn Trung học Phổ thông
và đối với từng phân môn Mặc dù đây là tài liệu nghiên cứu phương pháp dạy học Ngữ văn ở Trung học Phổ thông nhưng nó vẫn góp phần định hướng cho việc xây dựng cơ sở lí luận của đề tài này
Trong cuốn“Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn Trung học Phổ thông” – T.S Đỗ Ngọc Thống – nhà xuất bản Giáo dục năm 2006 đã đề cập đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp, phát huy tính chủ động tích cực của học sinh trong chương trình Ngữ văn 10 Ông đã nêu quan điểm của mình về tích hợp Đó là sự hợp nhất hòa trộn các phân môn
Trang 104
Tác giả Trần Bá Hoành trong cuốn “ Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa” đã đề cập đến phương pháp dạy học mới Đó là dạy học lấy người học làm trung tâm, cần phát huy tính tích cực của học sinh và áp dụng quan điểm tích hợp có hiệu quả
Nguyễn Thanh Hùng trong “ Phương pháp dạy học Ngữ văn Trung học Phổ thông những vấn đề cập nhật” đẫ đề cập đến những vấn đề chung về mục tiêu và chương trình Ngữ văn, về các phương pháp dạy học, về nguyên tắc tích hợp Đối với nguyên tắc tích hợp, tác giả đã khẳng định đây là một nguyên tắc dạy học hiện đại và chỉ ra phương hướng khi vận dụng nguyên tắc này trong dạy học Ngữ văn Trong cuốn tài liệu bồi dưỡng giáo viên đã đề cập đến quan điểm tích hợp làm tư tưởng chủ đạo trong việc xây dựng nội dung chương trình sách giáo khoa Các tác giả còn đề cập đến các vấn đề đổi mới trong sách chuẩn và sách nâng cao Không những thế, các tác giả còn phân tích chương trình Ngữ văn theo quan điểm tích hợp Phó giáo sư Nguyễn Huy Quát cũng đã nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học Văn trong cuốn “Nâng cao năng lực đổi mới phương pháp dạy học Văn” Ông đã viết rõ “ Khái niệm tích hợp là sự phối hợp các tri thức gần gũi, quan hệ mật thiết với nhau tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng vững chắc”
Tóm lại, tích hợp là quan điểm dạy học hiện đại, và đã có rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu về quan điểm này, quán triệt nó trong việc xây dựng nội dung chương trình sách giáo khoa Chính vì vâỵ, người viết quyết định tìm hiểu đề tài “ Dạy học đọc hiểu văn bản “ Vợ nhặt” ở trường Trung học Phổ thông theo quan điểm tích hợp” với hi vọng sẽ đóng góp một phần nào đó vào việc nghiên cứu, áp dụng quan điểm tích hợp vào bài dạy nói trên, từ đó nâng cao chất lượng dạy học đọc văn nói riêng và Ngữ văn nói chung
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài nói trên, chúng tôi nhằm một số mục đích cụ thể như sau:
Trang 115
Đưa ra hướng đi mới trong dạy học nhằm đáp ứng được nhu cầu đổi mới và phù hợp với thực tiễn công cuộc cải cách toàn diện Giáo dục nói riêng và cải cách xã hội nói chung
Nhằm triển khai việc dạy học bài “ Vợ nhặt” theo quan điểm tích hợp có hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng dạy bài học đó nói riêng và dạy đọc văn nói chung
Nhiệm vụ nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài này, người viết đi vào các nhiệm vụ cụ thể sau:
Hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu để kế thừa, vận dụng giải quyết vấn đề
Xác định cụ thể cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Trình bày những kiến thức cơ bản về tác phẩm “ Vợ nhặt”
Áp dụng quan điểm tích hợp vào việc dạy học đặc biệt ở bài “ Vợ nhặt”
Tổ chức thực nghiệm bằng việc thiết kế giáo án bài “ Vợ nhặt” thể hiện rõ quan điểm tích hợp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Quan điểm dạy học tích hợp ứng dụng vào việc dạy học đọc hiểu trong dạy học môn Ngữ văn
6 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận đóng góp một phần nhỏ vào việc đổi mới phương pháp dạy học đọc văn hiện nay trong nhà trường phổ thông
Trang 137
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Cơ sở lí luận trong dạy học tích hợp
1.1.1.Khái niệm tích hợp
Tích hợp: là một trong những xu thế dạy học hiện đại đang được quan tâm, nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới Ở nước ta, từ thập niên 90 của thế kỉ XX trở lại đây, vấn đề xây dựng môn học tích hợp với những mức độ khác nhau mới thực sự được tập trung nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào nhà trường phổ thông
Tích hợp là một phương pháp dạy học hiện đại nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức được cung cấp với năng lực thực tế của người học, kiến thức hàn lâm với thực tế đời sống, trong khi thời gian học tập có hạn Quan điểm tích hợp được áp dụng với nhiều môn khác nhau, với những mức độ khác nhau như: tích hợp đa môn, tích hợp liên môn, tích hợp xuyên môn…
Có nhiều quan điểm khác nhau về tích hợp Có ý kiến cho rằng tích hợp là tổ hợp ( conbi- nation) hay phối hợp ( co-ordination) các môn học
Theo Nguyễn Khắc Phi trong sách giáo khoa Ngữ văn 6 đã đưa ra quan điểm về tích
hợp “ Tích hợp là một phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình
học tập riêng rẽ của các môn học khác nhau theo các mô hình, các cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và những yêu cầu cụ thể khác nhau”
[tr 6]
Theo quan điểm của T.S Nguyễn Văn Đường trong bài “ Những điểm mới của
chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn 6”, tạp chí Giáo dục, năm 2002 cho rằng:
“ Tích hợp là sự tổng hợp ở mức độ cao, hài hòa và biện chứng ở các cấp độ,
phương diện khác nhau nhằm đạt hiệu quả, chất lượng mới và tốt” [ tr 7]
T.S Nguyễn Trọng Hoàn trong bài “ Tích hợp và liên hội hướng tới kết nối trong
dạy học Ngữ văn”, tạp chí Giáo dục, năm 2002 quan niệm: “ Tích hợp là thuật ngữ
mà nội hàm của nó chỉ hướng tiếp cận kiến thức từ việc khai thác giá trị của các tri
Trang 14Như vậy tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quyết định lẫn nhau, đó là tình liên kết, tính toàn vẹn Nhờ có tính liên kết mà có thể tạo nên một thực thể toàn vẹn trong đó không cần phân chia giữa các phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hoặc giải quyết một vấn đề tình huống
1.1.2.Mục tiêu của dạy học tích hợp
Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong việc xác định nội dung dạy học trong nhà trường phổ thông và trong xây dựng chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới Quan điểm tích hợp được xây dựng trên cơ sở những quan điểm tích hợp về quá trình học tập và quá trình dạy học [3;40] Thực hiện môn học tích hợp, các quá trình học tập không bị cô lập với cuộc sống hàng ngày, các kiến thức gắn kết với kinh nghiệm sống của học sinh và được liên hệ với đời sống cụ thể, có ý nghĩa đối với học sinh Khi đó học sinh được dạy sử dụng kiến thức trong những tình huống cụ thể và việc giảng dạy các kiến thức không chỉ là lí thuyết mà còn phục vụ thiết thực cho cuộc sống con người, để làm người lao động, một công dân tốt…
Mặt khác, các kiến thức sẽ không lạc hậu do thường xuyên cập nhật với cuộc sống
Trang 15sẽ không có được Do vậy vừa tiết kiệm thời gian, vừa có thể phát triển kĩ năng, năng lực xuyên môn cho học sinh thông qua giải quyết các vấn đề phức hợp
Thực hiện dạy học tích hợp giúp xác định rõ mục tiêu, phân biệt cái cốt yếu và cá ít quan trọng hơn khi lựa chọn nội dung, cần tránh các nội dung học tập ngang bằng nhau, bởi có một số nội dung học tập quan trọng hơn vì chúng thiết thực cho cuộc sống hàng ngày, vì chúng là cơ sở cho quá trình học tập nghiên cứu tiếp theo
Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng việc thực hiện quan điểm tích hợp trong Giáo dục và dạy học sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết các vấn đề phức tạp và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa đối với học sinh so với việc các môn học, các mặt giáo dục được thực hiện rõ ràng
Như vậy, dạy học tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục nhằm nâng cao năng lực người học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại Dạy học theo hướng tích hợp phát huy được tính tích cực của học sinh góp phần đổi mới nội dung và phương pháp dạy học
1.1.3.Đặc điểm cơ bản của dạy học tích hợp
Đặc điểm thứ nhất là dạy học lấy người học làm trung tâm, được xem là phương pháp đáp ứng yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục, có khả năng định hướng việc tổ chức quá trình dạy học thành quá trình tự học Dạy học lấy người học làm trung tâm đòi hỏi người học là chủ thể của hoạt động học, học sinh phải tự học,
tự nghiên cứu để tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình, người học không chỉ được đặt vào những kiến thức có sẵn trong bài giảng của giáo viên mà phải tự đặt mình vào trong tình huống có vấn đề của thực tiễn, cụ thể và sinh động của nghề
Trang 1610
nghiệp rồi từ đó tự mình tìm ra cái chưa biết, cái cần khám phá, học để sống, để làm việc, để sống chung với mọi người và tự khẳng định bản thân mình, tức là tự tìm kiến thức cho bản thân
Trong dạy học lấy người học làm trung tâm người học tự thể hiện mình, phát triển năng lực làm việc nhóm, hợp tác với nhóm, với lớp Sự làm việc theo nhóm này sẽ đưa ra cách thức giải quyết đầy tính sáng tạo, kích thích các thành viên trong nhóm hăng hái tham gia giải quyết vấn đề Người dạy chỉ là người tổ chức và hướng dẫn quá trình học tập, đạo diễn cho người học tự tìm kiếm kiến thức và phương thức tìm kiếm kiến thức bằng hành động của chính mình Người dạy phải dạy cái mà người học cần, quan hệ giữa người dạy và người học được xây dựng trên
cơ sở tin cậy và hợp tác lẫn nhau Trong quá trình tìm kiếm kiến thức của người học
có thể chưa chính xác, chưa khoa học, người học có thể căn cứ vào kết luận của người dạy để kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm về cách học của mình Nhận ra những sai sót và biết cách sửa sai đó chính là biết cách học Dạy học tích hợp biểu hiện cách tiếp cận lấy người học làm trung tâm đây là xu hướng chung có nhiều ưu thế so với dạy học truyền thồng
Đặc điểm thứ hai là định hướng phân hóa người học, chú ý vào kết quả đầu
ra của quá trình đào tạo xem người học có thể làm được cái gì vào những công việc thực tiễn để đạt tiêu chuẩn đầu ra Người học đạt được những tiêu chuẩn đó còn tùy thuộc vào khả năng của mỗi người Trong đào tào, việc định hướng kết quả đầu ra nhằm đảm bảo chất lượng trong quá tình đào tạo, cho phép người sử dụng sản phẩm đào tạo tin tưởng và sử dụng trong một thời gian dài Dạy học tích hợp chú ý đến kết quả học tập của người học, đòi hỏi quá trình học tập phải đảm bảo chất lượng và hiệu quả để thực hiện nhiệm vụ Do đó, đòi hỏi người dạy phải dạy được
cả lí thuyết chuyên môn vừa phải hướng dẫn các thao tác, nêu được những hạn chế, biện pháp khắc phục và cách tổ chức hướng dẫn luyện tập
Đặc điểm thứ ba là dạy và học các năng lực thực tiễn Dạy học tích hợp có thể hiểu là một hình thức dạy học kết hợp giữa dạy lí thuyết và dạy thực hành, qua
đó ở người học hình thành một năng lực nào đó hay kĩ năng hành nghề nhằm đáp
Trang 1711
ứng được mục tiêu Dạy học phải làm cho người học có các năng lực tương ứng với chương trình Do đó, việc dạy kiến thức lí thuyết không phải ở mức độ hàn lâm mà chỉ ở mức độ cần thiết nhằm hỗ trợ cho sự phát triển các năng lực thực hành ở mỗi người học Trong dạy học tích hợp, lí thuyết là hệ thống tri thức khoa học chuyên ngành về những vấn đề cơ bản, về những quy luật chung của lĩnh vực chuyên ngành
đó Hơn nữa, việc dạy lí thuyết thuần túy sẽ dẫn đến tình trạng lí thuyết suông, kiến thức sách vở không mang lại lợi ích thực tiễn Do đó, cần gắn lí thuyết với thực hành trong quá trình dạy học Thực hành là hình thức luyện tập để trau dồi kĩ năng,
kĩ xảo hoạt động giúp cho người học hiểu rõ và nắm vững kiến thức lí thuyết Đây
là khâu cơ bản để thực hiện nguyên lí giáo dục học đi đôi với hành, lí luận gắn với thực tiễn Thực hành phải có đủ phương tiện, kế hoạch, quy trình luyện tập gắn ngay với vấn đề lí thuyết vừa học Để hình thành cho người học một kĩ năng thì cần phải dạy cho họ biết cách kết hợp và huy động hợp lí nguồn nội lực ( kiến thức, khả năng thực hiện và thái độ) và ngoại lực ( tất cả những gì có thể huy động được nằm ngoài cá nhân) Như vậy, người dạy phải định hướng, giúp đỡ, tổ chức, điều chỉnh
và động viên hoạt động của người học Sự định hướng của người dạy góp phần tạo
ra môi trường sư phạm bao gồm các yếu tố cần có đối với sự phát triển của người học mà mục tiêu bài học và cách giải quyết chúng Trong dạy học tích hợp, người học được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, phải trực tiếp quan sát, thảo luận, làm bài tập, giải quyết nhiệm vụ đặt ra theo cách nghĩ của mình, tự lực tìm kiếm nhằm khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động thiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp xếp Người học cần phải tiếp nhận đối tượng qua các phương tiện nghe, nhìn,… và phân tích đối tượng nhằm làm bộc lộ
và phát hiện ra các mối quan hệ bản chất, tất yếu của sự vật, hiện tượng Từ đó, người học vừa nắm được kiến thức vừa nắm được phương pháp hoạt động Như vậy, người dạy không chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn thực hiện các hoạt động
Trang 1812
1.1.4 Quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn
Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo, tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp là yêu cầu đặt ra trong việc dạy học Ngữ văn hiện nay
Thiết kế bài dạy Ngữ văn theo quan điểm tích hợp không chỉ chú trọng nội dung kiến thức mà cần phải xây dựng một hệ thống các hoạt động nhằm tổ chức, dẫn dắt học sinh từng bước thực hiện để chiếm lĩnh đối tượng học tập, nội dung môn học, đồng thời hình thành và phát triển năng lực, kĩ năng tích hợp, tránh áp đặt một cách làm duy nhất Giờ học tích hợp theo quan điểm tích hợp phải là một giờ học hoạt động phức hợp đòi hỏi sự tích hợp các kĩ năng, năng lực liên môn để giải quyết nội dung tích hợp, chứ không phải sự tác động của các hoạt động, kĩ năng riêng rẽ lên một nội dung riêng rẽ thuộc “ nội bộ phân môn”
Ngày nay nhiều lí thuyết hiện đại về quá trình học tập đã nhấn mạnh rằng hoạt động của học sinh trước hết là học cách học Theo ý nghĩa đó, quan điểm dạy học tích hợp đòi hỏi giáo viên phải có cách dạy chú trọng phát triển ở học sinh cách thức lĩnh hội kiến thức và hình thành năng lực, buộc học sinh phải tự học Dạy học tích hợp phát huy các năng lực học tập của học sinh như: Năng lực tự học, năng lực làm việc nhóm, năng lực tìm kiếm thông tin, năng lực sáng tạo trong cách học và sáng tạo trong cách trình bày Học một được hai: nắm vững nội dung kiến thức môn Ngữ văn và được ôn lại một lần nữa kiến thức các môn học khác
Quan điểm dạy học tích hợp không coi nhẹ việc cung cấp tri thức cho học sinh Vấn đề là phải xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện kĩ năng và hình thành, phát triển năng lực cho học sinh Đây thực chất là việc biến quá trình truyền thụ tri thức thành quá trình học sinh tự ý thức về phương pháp chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng Muốn vậy, không chỉ cần khắc phục khuynh hướng dạy tri thức hàn lâm thuần túy mà còn phải khắc phục khuynh hướng rèn luyện kĩ năng theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa, ít có khả năng sử dụng vào các lớp khác nhau Dạy học theo hướng tích hợp là kết hợp cả hai hướng đó là tích hợp theo
Trang 19Dạy học theo nguyên tắc tích hợp có những đặc điểm sau:
Khi giảng dạy ngoài việc đảm bảo cho học sinh những kiến thức, kĩ năng đặc thù của bộ môn còn phải tìm ra yếu tố đồng quy giữa các môn để góp phần hình thành và rèn luyện tri thức, kĩ năng của các bộ môn khác Đây là định hướng phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn ở trường Trung học Phổ thông hiện nay
1.1.5 Vấn đề đọc hiểu trong dạy học tích hợp
1.1.5.1 Đọc hiểu là gì?
Theo “ Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc”, quyển “ Giáo dục”: “ Đọc là một quá trình hoạt động tâm lí nhằm tiếp nhận ý nghĩa từ kí hiệu ngôn ngữ được in hay viết” Xét từ mặt triết học, đọc có những nội dung sau: Một, đọc là quá trình tiếp nhận ý nghĩa từ văn bản, tất nhiên phải hiểu ngôn ngữ của văn bản ( ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ thể loại của văn bản); phải dựa vào tính tích cực của chủ thể ( hứng thú, nhu cầu, năng lực) và tác động qua lại giữa chủ thể và văn bản Hai, đọc là quá trình giao tiếp và đối thoại đối với người tạo ra văn bản (tác giả, xã hội, văn hóa) Ba, đọc là quá trình tiêu dùng văn hóa văn bản ( hưởng thụ, giải trí, học tập) Bốn, đọc là quá trình tạo ra năng lực người ( năng lực hiểu mình, hiểu văn hóa và hiểu thế giới) Như thế đọc là một họat động văn hóa có tầm nhân loại và có ý nghĩa giáo dục sâu sắc
Hiểu là một khái niệm có nội hàm rất rộng theo M Bakhtin, trong sách “ Con người trong thế giới ngôn từ”, “ hiểu” trong đọc – hiểu bao gồm nhiều hành động gắn với nhau: 1 Cảm thụ (tiếp nhận) kí hiệu vật chất ( màu sắc, con chữ…); 2 Nhận ra kí hiệu quen hay lạ, hiểu ý nghĩa của nó được lặp lại trong ngôn ngữ 3 Hiểu ý nghĩa của nó trong ngữ cảnh 4 Đối thoại với ý nghĩa đó (tán thành, phản đối), trong nhận thức bao gồm cả sự đánh giá về chiều sâu và chiều rộng Bản chất
Trang 2014
tâm lí của sự hiểu là biến cái của người khác thành “ cái vừa của mình vừa của người khác” Hiểu bao giờ cũng là tự hiểu, nghĩa là biến cái được hiểu thành kiến thức, quan điểm, niềm tin của mình
Có rất nhiều ý kiến xung quanh khái niệm đọc – hiểu Theo GS TS Nguyễn Thanh Hùng: “ Đọc – hiểu là một họat động của con người Nó không phải chỉ là hình thức nhận biết nội dung ý tưởng từ văn bản mà còn là họat động tâm lí giàu cảm xúc có tính trực giác và khái quát trong nếm trải của con người… Đọc hiểu mang tính chất đối diện một mình, tự lực với văn bản Nó có cái hay là tập trung và tích động, lắng kết thầm lặng năng lực cái nhân Đây là hoạt động thu nạp và tỏa sáng âm thầm với sức mạnh nội hóa kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm nghệ thuật và kinh nghiệm văn hóa trong cấu trúc tinh thần cá thể” [6; 26] Còn theo PGS.TS Nguyễn Thái Hòa: Đọc hiểu “ là hành vi ngôn ngữ, sử dụng một loạt thủ pháp và thao tác bằng cơ quan thị giác, thính giác để tiếp nhận, phân tích, giải mã và nghi nhớ nội dung thông tin, cấu trúc văn bản” [5; 4]
1.1.5.2 Sự khác nhau giữa dạy đọc – hiểu và giảng văn
Dạy đọc – hiểu khác với công việc giảng văn lâu nay giáo viên thường làm
Có thể nêu lên một vài điểm khác biệt sau:
Giảng văn Dạy học đọc hiểu Dạy học nghiêng về công việc của thầy,
thầy là người giảng dạy, truyền đạt kiến
thức, ít chú ý đến vai trò của học sinh
trong quá trình khám phá tác phẩm
Chú trọng vai trò của học sinh trong giờ học Cả giáo viên và học sinh đều đóng vai trò chủ thể trước tác phẩm, thầy là người tổ chức, điều khiển quá trình chiếm lĩnh tác phẩm của học sinh Còn học sinh là chủ thể đọc, chủ thể khám phá, lĩnh hội tri thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Trong giảng văn, giáo viên là người phát
hiện ra cái hay, cái đẹp của tác phẩm và
Đọc – hiểu là hoạt động biến học sinh trở thành người tự khám phá, phát hiện
Trang 2115
sau đó truyền đạt lại cho học sinh Học
sinh là người nghe giảng, ghi chép, lĩnh
hội lời giảng của thầy cô một cách thụ
động
ra cái hay , cái đẹp của tác phẩm dựa trên vốn hiểu biết của bản thân qua việc tìm hiểu những câu hỏi hướng dẫn trong phần đọc – hiểu văn bản Giáo viên không chủ động áp đặt cách hiểu, cách cảm của mình về tác phẩm vào tư duy của học sinh mà chỉ điều chỉnh khi học sinh chưa hiểu đúng hay bổ sung khi học sinh hiểu chưa đủ nội dung tác phẩm Với phương pháp dạy học này, học sinh phát huy tối đa sự tích cực, sáng tạo trong văn học đồng thời rèn luyện thói tự độc lập, tự tu duy, suy nghĩ trước một tác phẩm
Phương pháp giảng văn nghiêng về khai
thác nội dung, tư tưởng của văn bản tác
phẩm và không chú ý vào hình thức
nghệ thuật Nên tác phẩm mang giá trị
xã hội học mà mất đi giá trị thẩm mĩ,
tính nghệ thuật của văn chương Giáo
viên ít chú ý đến ngôn từ, câu chữ và các
biện pháp nghệ thuật khi khám phá nội
dung tác phẩm
Phương pháp đọc – hiểu: Khám phá nội dung tác phẩm qua tìm hiểu hình thức nghệ thuật tác phẩm Ở đây
không chỉ đơn thuần là đọc – hiểu, mà là đọc – hiểu thẩm mĩ, phát hiện cái hay , cái đẹp, cái đẹp trong hình thức thể hiện nội dung Nên tránh được lối tiếp cận văn bản một cách dung tục xã hội hóa Đọc – hiểu văn bản luôn bám sát vào câu chữ, các biện pháp nghệ thuật… để chỉ
ra nội dung tư tưởng của văn bản
Chính vì thế, học sinh không nhất thiết
phải đọc văn bản mà vẫn hiểu nội dung
tác phẩm qua lời giảng của thầy cô
Học sinh là người tự khám phá tác phẩm nên buộc học sinh phải tự đọc văn bản tác phẩm, thậm chí phải đọc hết các mục trong bài học mới hiểu được nội dung
Trang 22để tự lĩnh hội khám phá Vì thế học sinh
có thể tự mình đọc – hiểu các tác phẩm không được học trong chương trình dựa trên đặc trưng thể loại và phương pháp tiếp cận ở trường phổ thông
Phương pháp chủ đạo là diễn giảng, bình
giá của giáo viên về tác phẩm
Sách giáo khoa chú ý đến việc xây dựng việc làm, thao tác hướng dẫn học sinh từng bước chiếm lĩnh tác phẩm văn học theo đặc thù của sự tiếp nhận văn chương
Đọc – hiểu chú trọng vai trò của khâu đọc với các hình thức khác nhau: Đọc để cảm nhận chung, đọc để tri giác ngôn ngữ văn bản, đọc để bình giá… Hiểu là kết quả cần đạt của đọc – hiểu hiểu bao gồm cả nhận thức của lí trí, cả nhận thức của sự rung động, qua đời sống nội tâm Đọc – hiểu rất chú trọng các bước thâm nhập tác phẩm là tái hiện, phân tích, bình giá, liên tưởng…
1.1.53 Các bước chuẩn bị cho đọc hiểu
Trang 2317
Phương pháp dạy học mới đòi hỏi phải phát huy triệt để nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm, đòi hỏi phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học ở lớp, ở nhà, khi giả các bài tập, khi làm các bài văn Phương pháp dạy học là hệ thống các thao tác và cách thức cụ thể để tiến hành một giờ dạy theo một mục tiêu nhất định
Xác định thể loại và tìm hiểu đặc trưng thể loại
Xác định bố cục tác phẩm văn học
Định hướng, xác định chủ đề của tác phẩm văn học
Áp dụng học sinh đọc hiểu văn bản
Khi hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản cần giúp học sinh hiểu thấu đáo từ ngữ có trong văn bản văn học bằng việc tìm hiểu chú thích về từ khóa trong sách giáo khoa Ngữ văn, hưỡng dẫn học sinh sử dụng từ điển Tiếng Việt và từ điển Hán Việt Hướng dẫn học sinh xác định và phân tích các tín hiệu thẩm mĩ của văn bản văn học bằng một hệ thống các câu hỏi
Chuẩn bị cho dạy đọc hiểu còn vận dúng các phương pháp và hình thức dạy học cụ thể phát huy tối đa tính tích cực, sáng tạo của học sinh Tính tích cực có thể thể hiện thành bề nổi như thảo luận phong trào sáng tác…hay bề sâu là những công việc các em tự tra cứu từ khó, sưu tầm tranh ảnh Để các bước đọc hiểu phát huy tối
đa hiệu quả có thể dùng thêm các trang bị kĩ thuật hiện đại và đồ dùng dạy học để góp phần cải tiến phương pháp theo hướng tích cực và tích hợp
1.1.5.4 Một số câu hỏi dạng đọc hiểu
Phương pháp dạy học mới đang từng bước cố gắng giảm thiểu phương pháp dạy học theo lối thuyết giảng giáo viên trình bày, học sinh chỉ nghe và ghi lại một cách thụ động trong giờ học, chuyển quá trình trình bày của giáo viên thành cuộc đàm thoại dài ngắn khác nhau giữa giáo viên và học sinh Có thể nêu một số loại câu hỏi cho giờ đọc – hiểu văn bản sau đây:
a Hỏi về đặc điểm thể loại
- Nhận diện đặc điểm thể loại
Trang 2418
- Phân tích vai trò và tác dụng của thể loại Mỗi thể loại văn học có một đặc điểm riêng, qua đó nhà văn bộc lộ tài năng, phong cách, sở trường của riêng mình
b Hỏi hướng vào yếu tố của văn bản
- Câu hỏi đọc lướt, đọc thông Ví dụ: Tìm bố cục, nêu nội dung mỗi đoạn, thuật lại cốt truyện, thống kê nhân vật, nêu cảm nhận chung…
- Câu hỏi đọc sâu, cảm nhận ngôn từ Ví dụ: Tên văn bản, từ khó, câu then chốt, các chi tiết, hình ảnh…
Dạng câu hỏi hướng vào các yếu tố của văn bản về cơ bản là câu hỏi chính cần khai thác trong giờ học Ngữ văn Đây là dạng câu hỏi không mới, câu hỏi giáo viên đã sử dụng trong giờ dạy học truyền thống Tuy nhiên, trong giờ đọc – hiểu văn bản văn học câu hỏi này được sử dụng linh hoạt hơn để phát huy tính tích cực của học sinh
- Câu hỏi khái quát giá trị tác phẩm Ví dụ: Nêu giá trị thẩm mĩ, kết cấu, nghệ thuật…
1.1.5.5 Câu hỏi yếu tố ngoài tác phẩm
- Hỏi về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm Ví dụ khi dạy văn bản “ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” của Đặng Trần Côn Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm là đầu đời vua Lê Hiển Tông có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp thành Thăng Long Triều đình cất quân đánh giặc, nhiều trai tráng phải từ biệt gia đình người thân ra trận Hoàn cảnh ra đời giúp học sinh đối chiếu nắm bắt mạch cảm xúc, làm
cơ sở để hiểu đúng tư tưởng của tác phẩm
- Câu hỏi về tác giả, có thể hỏi về sự tác động và mối quan hệ của các yếu tố quê hương, gia đình, bản thân tác giả Khi dạy văn bản “ Sóng” của Xuân Quỳnh
giáo viên đưa ra câu hỏi: Cuộc đời riêng có ảnh hưởng gì đến sự nghiệp sáng tác
của tác giả? Cuộc đời riêng không mấy suôn sẻ, tình yêu trắc trở khiến tiếng thơ
của Xuân Quỳnh vừa khao khát một tình yêu lí tưởng vừa hướng đến hạnh phúc đời thường nhưng trong đó vẫn ẩn chứa những dự cảm lo âu
1.1.5.6 Hỏi về vai trò của người tiếp nhận
Trang 2519
- Khai thác kinh nghiệm vốn sống, gia đình, quê hương
- Khai thác năng lực, trí tuệ phân hóa của học sinh, có những câu hỏi khoa cho học sinh giỏi và những câu hỏi ở mức trung bình cho học sinh kém hơn để tất
cả học sinh tham gia vào bài học
Trang 262.1.1 Cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Kim Lân
Nhà văn Kim Lân – một cây bút viết truyện ngắn danh tiếng của văn học Việt Nam hiện đại Tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài Ông sinh ngày 1 tháng 8 năm 1920 tại thôn Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Xuất thân từ một gia đình có hoàn cảnh khó khăn, Kim Lân chỉ học hết bậc tiểu học rồi làm nhiều nghề kiếm sống trong đó có viết văn Trước cách mạng tháng Tám, Kim Lân đã phải sông nhiều năm lăn lóc trong cảnh nghèo đói
Năm 1944, Kim Lân tham gia vào Hội văn hóa cứu quốc, sau đó liên tục tham gia hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ kháng chiến
Từ sau năm 1960, hầu như Kim Lân gác bút trên văn đàn Ở độ tuổi 40 với nghệ thuật viết truyện bậc thầy, cái sự gác bút của ông được coi là chuyện lạ với mọi người Thay vào việc viết văn, ông làm công việc biên tập sách và đào tạo thế hệ nhà văn trẻ
Ông mất vào ngày 20 tháng 7 năm 2007 tại Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội
Là một trong những cây bút xuất sắc của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại trước và sau Cách mạng, Kim Lân hướng ngòi bút của mình về nông thôn và những người nông dân Ông có những trang viết đặc sắc về làng quê và đời sống làng quê Kim Lân là nhà văn của những số phận thiệt thòi, của những số phận cùng khổ của làng quê Việt Nam giữa thế kỉ XX Đặc biệt cảnh sắc và con người trong văn của Kim Lân thấm đậm hồn cốt của vùng quê Kinh Bắc Chính vì vậy, cùng viết về đề tài nông thôn nhưng Kim Lân không hề giống với Nam Cao Hai vùng quê khác nhau đã tạo nên hai nhà văn kiệt xuất của văn học Việt Nam hiện đại
Số lượng tác phẩm của Kim Lân không nhiều Đó là những tác phẩm: Nên vợ
nên chồng ( 1955), Con chó xấu xí ( 1962), Hiệp sĩ gỗ, Ông Cả Ngũ ( 1998), … Có
thể nói sự nghiệp văn học của Kim Lân không đồ sộ nhưng lại rất đặc sắc và khó
Trang 2721
trộn lẫn Một số truyện ngắn của ông được xếp vào hàng “ kinh điển” trong văn
xuôi Việt Nam thế kỉ XX.Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét: Chỉ trong ba truyện
ngắn: “ Vợ nhặt”, “ Làng”, “ Con chó xấu xí”, Kim Lân đã có thể đàng hoàng ngồi
vào chiếu trên trong làng văn học Việt Nam Năm 2001, Kim Lân được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
2.1.2 Vị trí của Kim Lân trong đời sống văn học và trong nhà trường
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Kim Lân chính là minh chứng sinh động cho quy luật muôn thuở của văn học “ quý hồ tinh, bất quý hồ đa” Sự thành công của một nhà văn không hẳn đo bằng số lượng tác phẩm viết được, in được mà quan trọng hơn là chất lượng nghệ thuật ở sự kết tinh tài năng Hơn 10 năm cầm bút, Kim Lân chỉ sáng tác vẻn vẹn hơn 30 tác phẩm thế nhưng ông vẫn được xem là cây bút văn xuôi có tầm vóc Nhiều tác phẩm của ông đã vượt qua nhiều thử thách của thời gian, sự sàng lọc của công chúng góp phần làm nên thành công rực rỡ cho nền văn xuôi hiện đại Việt Nam Bằng thực tiễn sáng tác Kim Lân đã đóng góp một tiếng nói riêng, phong cách riêng trên văn đàn dân tộc
Trong nhà trường phổ thông, một số tác phẩm của Kim Lân đã được lựa chọn và đưa vào giảng dạy
Ở bậc Trung học Cơ sở, các em đã được làm quen với nhà văn Kim Lân thông qua truyện ngắn “ Làng” ( Chương trình Ngữ văn lớp 9) Hiện lên trong tác phẩm là nhân vật ông Hai – một người nông dân hiền lành, chất phác với tình yêu làng quê
và lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến
Lên bậc Trung học Phổ thông, chương trình Ngữ văn tiếp tục giới thiệu thêm một sáng tác đặc sắc nữa của Kim Lân là truyện ngắn “ Vợ nhặt” ( Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 2), một tác phẩm giàu giá trị hiện thực và nhân đạo về thân phận, khát vọng của người dân lao khổ trong nạn đói năm 1945
Như vậy có thể thấy, đó là những tác phẩm tiêu biểu cho cá tính sáng tạo cũng như
sự nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của Kim Lân
Trang 2822
Tóm lại, với tài năng và sức sáng tạo bền bỉ của mình, Kim Lân chiếm vị trí quan trọng, không thể thay thế trong nhà trường phổ thông cũng như trên thi đàn văn học dân tộc
2.2 Dạy học đọc hiểu văn bản “ Vợ nhặt” ởtrường Trung học Phổ thông theo quan điểm tích hợp
2.2.1 Thông tin về nghệ thuật
Một văn bản nghệ thuật bao gồm nhiều thông tin phong phú và đa dạng Dạy học theo quan điểm tích hợp sẽ cung cấp cho học sinh khối lượng kiến thức tổng hợp nó khác với cách dạy truyền thống là chỉ cung cấp những giá trị nghệ thuật, tư tưởng và các biện pháp nghệ thuật nổi bật Thông qua việc xây dựng các tình huống, nêu vấn đề, thảo luận nhóm, hệ thống các câu hỏi… trong bài học mà giáo viên giúp học sinh tìm hiểu và chiếm lĩnh các thông tin của tác phẩm
Truyện ngắn “Vợ nhặt” là tác phẩm thể hiện một sự hoàn hảo của bút pháp Kim Lân Ở tác phẩm này, Kim Lân vừa thành công trong việc khám phá nội dung, vừa thành công trong việc phát minh xây dựng một hình tượng nghệ thuật Ngoài đặc sắc độc đáo của nghệ thuật xây dựng tình huống, Kim Lân còn bộc lộ một tài năng đặc biệt trong việc xây dựng chân dung tâm lý nhân vật và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ điêu luyện giữa ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ đời thường
2.2.1.1 Nghệ thuật tạo tình huống độc đáo
Tình huống đối với truyện ngắn giống như cái cốt lõi, cái lõi hạt nhân của tác phẩm Nó quan trọng giống như cái “ tứ” trong một bài thơ tứ tuyệt
Vậy tình huống là gì?
Theo “ Từ điển tiếng Việt”: “ Tình huống là toàn thể những sự việc xảy ra tại một nơi, trong một thời gian, buộc người ta phải suy nghĩ hành động, đối phó, chịu đựng…” [8;774]
Như vậy, ta có thể hiểu, tình huống là một sự kiện nào đó đã xảy ra và có sức tác động tạo ra bước ngoặt lớn trong cuộc đời mỗi con người chúng ta Tình huống trong truyện chính là nhà văn sáng tạo ra một sự việc, một hoàn cảnh, một tình thế nào đó thật đặc biệt rồi đặt các nhân vật của mình vào đó Để rồi từ việc giải quyết
Trang 29Viết truyện ngắn “ Vợ nhặt”, Kim lân đã sáng tạo ra một tình huống độc đáo
và hấp dẫn Tính chất độc đáo, hấp dẫn đầu tiên được gợi ra từ nhan đề của tác phẩm: “ Vợ nhặt”
Chuyện cưới vợ - là một chuyện nghiêm túc, hơn thế nữa đó còn là một chuyện trọng đại trong cuộc đời mỗi con người:
Tậu trâu lấy vợ làm nhà Trong ba việc ấy thật là khó thay
Và chuyện trọng đại, chuyện không hề dễ dàng ấy đáng ra phải được thể hiện với sự nghiêm túc, đàng hoàng ấy vậy mà trong tác phẩm nó lại diễn ra một cách bất ngờ, trong một hoàn cảnh hết sức éo le, trớ trêu
Tràng là một người mồ côi cha, ở với mẹ trong xóm ngụ cư Nhà nghèo, làm nghề kéo xe bò thuê Tràng có một ngoại hình xấu xí, thô kệch đã thế lại có phần dở hơi Lời ăn tiếng nói cũng có phần thô kệch như chính ngoại hình của hắn vậy Chính vì thế mà Tràng chưa hề có người con gái nào để ý tới Đã vậy lại gặp năm nạn đói khủng khiếp, cái chết luôn đeo bám Trong lúc không một ai ( kể cả Tràng) nghĩ đến chuyện dựng vợ gả chồng thì Tràng lại có vợ mà hơn thế lại có bằng cách “ nhặt” được như nhặt một cọng rơm, ngọn cỏ ven đường
Trong hoàn cảnh ấy, Tràng có vợ cũng là có thêm một miệng ăn và cũng là đem thêm một tai họa về cho mẹ và cho chính mình Như vậy, việc Tràng có vợ như một nghịch cảnh éo le, vui buồn lẫn lộn, cười ra nước mắt và chính điều đó làm nên
sự hấn dẫn và lôi cuốn người đọc
Trang 3024
Tình huống Tràng lấy được vợ còn lạ, còn hấp dẫn ở chỗ chỉ qua hai lần gặp
gỡ, bốn bát bánh đúc, vài câu nói đùa mà người đàn bà đã đồng ý theo Tràng về làm
vợ Công việc mà xưa nay người ta cho là khó lại dễ vô cùng và diễn ra nhanh chóng với Tràng Có phải do người đàn bà ấy quá dễ dãi, chỉ với bốn bát bánh đúc
mà bám lấy Tràng như thế? Khi con người ta đứng giữa bờ vực thẳm của sự sống
và cái chết thì dù đó là một tia hi vọng mong manh để họ được sống, họ vẫn cố gắng bám víu, cố gắng níu giữ Lúc này thị quá mỏng manh hệt như cái cây khô thiếu nước sắp ngã quỵ Thị cố đưa tay ra bấu víu đời, bấu víu cuộc sống mà nơi thị bấu víu lại là Tràng Bốn bát bánh đúc nên duyên vợ chồng… chuyện hi hữu hiếm thấy xưa nay
Tình huống truyện mà Kim Lân xây dựng vừa bất ngờ những cũng vừa hợp
lí, tạo sức hấp dẫn và nhiều suy nghĩ cho người đọc Kim Lân đã đặt các nhân vật của mình vào khoảng sống mờ tối lay lắt để tìm cơ hội vô song nhằm biểu hiện sự bất diệt của nỗi thèm khát được sống, được yêu thương và hi vọng Niềm ao ước hạnh phúc không diệt trừ được cái đói nhưng nó cũng không mất đi Nó cứ âm thầm vươn lên từ cơn đói khát, tối tăm và trở nên cảm động hơn, đáng quý hơn Nó xoáy sâu và tố cáo chế độ thực dân phát xít, nguyên nhân dẫn đến nạn đói kinh hoàng Và
đó chính là giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực mà tình huống truyện mang lại
2.2.1.2 Chi tiết đặc sắc
Theo “ Từ điển thuật ngữ văn học”: “ Chi tiết nghệ thuật là các tiểu tiết của
tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng” [4;59]
Đối với truyện ngắn – một tổng thể hoàn chỉnh, chi tiết có ý nghĩa hết sức quan trọng Nó chính là vật liệu chủ yếu xây dựng hình tượng Nó giống như những tiêu điểm mà qua chúng, người đọc vừa hiểu được, vừa cảm nhận được đối tượng, quan niệm về thế giới con người của nhà văn
Nạn đói khủng khiếp năm 1945 có thể nói đó là một dấu mốc không thể nào quên đối với dân tộc Và đây cũng chính là bối cảnh hiện thực của truyện ngắn “ Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân ra đời Khi viết thiên truyện, Kim Lân không lấy tái hiện nạn đói làm mục đích chính nhưng cái hay của truyện ngắn này là dù không
Trang 31Đến với “ Vợ nhặt” ta không thể quên những chi tiết như: “từng đoàn người từ các
vùng quê như Nam Định, Thái Bình, dìu dắt bồng bế nhau đi ngoài đường, từng đoàn người đội chiếu lũ lượt kéo nhau đi ngoài đường” hay hình ảnh “ buổi chập choạng, ở gốc cây gạo đầu đường những bóng người dập dờn như bóng ma” hay “ tiếng đàn quạ bay vù lên từ ngoài bãi chợ, vẩn trên trời thành những đám mây đen”… Có thể thấy đây là những chi tiết hết sức độc đáo và có sức ảnh hưởng lớn
đối với bạn đọc Bên cảnh những chi tiết nói lên không khí ngổn ngang chết chóc đầy u ám thì Kim Lân cũng xây dựng những chi tiết mang tính nghệ thuật cao như:
“ đèn ánh sáng ngọn như xua tan không khí ảm đảm lạnh lẽo của ngôi nhà bấy lâu
nay, nó làm rạng rỡ khuân mặt mấy con người nghèo khổ…” Và ta không thể
không nhắc tới chi tiết ở cuối tác phẩm, đó là hình ảnh “ Trong óc Tràng vẫn thấy
đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…” Có thể nói đây chính là chi tiết chứa
đựng sức nặng nghệ thuật và nội dung tác phẩm Hình ảnh lá cờ đỏ chính là tín hiệu mới mẻ về sự thay đổi lớn lao, có ý nghĩa quyết định đối với sự thay đổi của số phận con người Hình ảnh dùng để kết thúc truyện là triển vọng sáng sủa của hiện thực tăm tối, đó là tương lai đang nảy sinh trong hiện tại vì thế nó quyết định đến
âm hưởng lạc quan của câu truyện
2.2.1.3 Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật
Trong bất kì một tác phẩm văn học nào nhân vật luôn là một yếu tố quan trọng không thể thiếu vắng Nhân vật là phương thức để nhà văn phản ánh, tái hiện đời sống, gửi gắm quan điểm, tư tưởng, tình cảm của mình
Theo Lại Nguyên Ân trong “ 150 thuật ngữ văn học”: “ Nhân vật là hình tượng
nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người nhân vật văn học có khi còn là
Trang 3226
các con vật, các loài cây, các cá thể hoang đường được gán cho những đặc điểm
giống với con người”[1; 249]
Nhân vật là điểm nổi bật trong tác phẩm tự sự Ở mỗi phương pháp sáng tác, một trào lưu văn học mà cụ thể là ở mỗi nhà văn lại có những kiểu xây dựng nhân vật khác nhau Tuy vậy, các nhân vật trong tác phẩm tự sự vẫn buộc phải tuân thủ một số quy ước: Nhân vật phải có lai lịch, xuất thân, tính cách, luôn đặt trong các mối quan hệ hiện hữu: quan hệ với môi trường sống, với cộng đồng, với các nhân vật khác Những quy ước ấy không chỉ là căn cứ để nhà văn xây dựng nhân vật mà còn là cơ sở để người đọc có thể tiếp nhận, tìm hiểu các nhân vật trong tác phẩm Trong truyện ngắn “ Vợ nhặt” Kim Lân bộc lộ quan điểm nhân đạo sâu sắc của mình Nhà văn phát hiện ta vẻ đẹp kì diệu của người lao động trong sự túng đói quay quắt, trong bất cứ hoàn cảnh khốn khổ nào con người vẫn vươn lên thoát khỏi cái chết, hướng về cuộc sống gia đình, vẫn yêu thương nhau và hi vọng vào ngày mai Và để chứng minh cho điều đó, nhà văn đã tập trung khắc họa ba nhân vật trong tác phẩm Đó là: Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ
a Nhân vật Tràng
Xuất hiện trong tác phẩm, Tràng vốn là một anh con trai nhà nghèo, sống ở xóm ngụ cư cùng bà mẹ già và làm nghề đẩy xe bò thuê Đã thế Tràng lại có ngoại
hình xấu xí, thô kệch vơi “ hai con mắt nhỏ tí, gà gà” , “ hai bên quai hàm bạnh ra,
rung rung… bộ mặt thô kệch” , “ cái đầu trọc nhẵn chúi về trước” , “ thân hình to lớn, vập vạp”… Thêm vào đó tính tình của Tràng lại có phần dở hởi nhưng lại tốt
bụng hay chơi đùa cùng bọn trẻ con trong xóm Có thể nói Tràng xuất hiện với một
số phận đầy bất hạnh và tội nghiệp
Vậy mà, cái anh cu Tràng xấu xí, nghèo hèn ấy bông nhiên lại trở thành một chú rể có thể coi là hạnh phúc: Tràng bỗng nhiên có vợ Tràng có vợ bằng cách “ nhặt” được chỉ qua hai lần gặp gỡ, vài câu nói bông đùa và bốn bát bánh đúc giữa những ngày đói kém Quả thật chuyện lấy vợ của Tràng là một chuyện lạ đời đầy thú vị: đùa mà thật, thật mà cứ như đùa
Trang 3327
Việc hai người đến với nhau nhìn bề ngoài giống như một sự ngẫu nhiên tình
cờ nhưng bên trong lại là một sự tự nhiên đầy hợp lí: người đàn bà cần Tràng cho một chỗ dựa qua thì đói kém, còn Tràng thì cần người phụ nữ nghèo ấy để có vợ và biết đến cảm giác hạnh phúc
Trên đường đưa cô vợ về nhà, Tràng thực sự thấy vui vẻ và hạnh phúc “
Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những ngày tháng trước mắt”
Có thể nói trong tác phẩm, đã hơn hai mươi lần nhà văn Kim Lân nhắc đến những niềm vui và nụ cười thường trực của Tràng kể từ khi có vợ bằng những từ ngữ gợi
tả: “ mặt phớn phở, miệng cười tủm tỉm, Tràng cười tươi, hắn toét miệng cười”
Dường như mái ấm gia đình đã khiến Tràng vượt qua mọi lo lắng về cái đói Niềm vui gia đình, niềm vui giản dị ấy chính là niềm vui lớn lao không gì sánh nổi
Chỉ sau một đêm nên vợ nên chồng, Tràng thấy mình đổi khác “ trong người
êm ái lơ lửng như người vừa ở trong giấc mơ đi ra” Tràng “ bỗng thấy thương yêu
và gắn bó với cái nhà” “ bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này” Một bước ngoặt thay đổi cả số phận và tính
cách của Tràng: từ đau khổ sang hạnh phúc, từ ngây dại sang ý thức Đó chính là giá trị lớn lao của hạnh phúc
Ở cuối tác phẩm, trong suy nghĩ của Tràng “ cảnh những người nghèo đói
ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp Đằng trước có lá cờ đỏ to lắm.” Đoàn người đi phá
kho thóc Nhật và lá cờ Việt Minh Đây là hiện thực và cũng là mơ ước về một tương lai tươi sáng của Tràng và những người như Tràng
Khắc họa nhân vật Tràng, nhà văn Kim Lân đã bộc lộ được tài năng miêu tả tâm lí nhân vật với ngòi bút nhân đạo sâu sắc
b Nhân vật người vợ nhặt
Tác phẩm “ Vợ nhặt” xoay quanh ba con người trong gia đình ngụ cư Nhưng một điều lạ là nhân vật làm nên cai tên của thiên truyện lại là một người phụ nữ
không có cái tên cụ thể, không biết tuổi “ Thị” đó chính là vợ Tràng Người phụ nữ
ấy chỉ là một trong số hàng ngàn hàng vạn người phụ nữ nhỏ bé trong xã hội đương