1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tổ chức hoạt động vận dụng trong dạy học đọc hiểu văn học ở lớp 10

67 367 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Tổ chức hoạt động vận dụng trong dạy học đọc hiểu văn học ở lớp 10”, tác giả thường xuyên nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS BÙI MINH ĐỨC

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Mọi kết quả nghiên cứu trong khóa luận đều là trung thực Khóa luận này chưa tùng được công bố trong bất kì công trình nào Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội , ngày 22 tháng 04 năm 2017

Tác giả khóa luận

Hán Thị Quỳnh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Tổ chức hoạt động vận

dụng trong dạy học đọc hiểu văn học ở lớp 10”, tác giả thường xuyên nhận

được sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuân lợi và chỉ bảo tận tình của các thầy giáo,

cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là PGS.TS Bùi Minh Đức – người

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 22 tháng 04 năm 2017

Tác giả khóa luận

Hán Thị Quỳnh

Trang 4

DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

TS : Tiến sĩ THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Bố cục của khóa luận 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VẬN DỤNG TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN HỌC 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Khái niệm “đọc hiểu” và “đọc hiểu văn bản” 6

1.1.2 Hệ thống các hoạt động tổ chức học sinh đọc hiểu văn bản văn học ở nhà trường THPT 15

1.1.3 Hoạt động vận dụng 21

1.2 Cơ sở thực tiễn 23

1.2.1 Thực tiễn thiết kế bài học đọc hiểu 23

1.2.2 Thực tiễn tổ chức hoạt động vận dụng trong dạy học đọc hiểu ở trường THPT 25

CHƯƠNG 2 :BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VẬN DỤNG TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN HỌC Ở LỚP 1O 27

2.1 Xây dựng hệ thống bài tập 27

2.1.1 Bài tập liên hệ, vận dụng 27

2.1.2 Bài tập xử lí các tình huống trong cuộc sống 28

2.1.3 Bài tập đọc hiểu những văn bản tương tự không có trong chương trình 29

Trang 6

2.2 Ứng dụng công nghệ thông tin 32

2.2.1 Cung cấp tranh ảnh, video clip củng cố và mở rộng kiến thức cho học sinh 34

2.2.2 Ứng dụng CNTT tạo ra sự kết nối giữa nội dung đọc hiểu với những vấn đề đặt ra của thực tiên đời sống 36

2.3 Tổ chức các trò chơi có liên quan đến nội dung bài học 37

2.3.1 Mục đích của việc tổ chức các trò chơi học tập 37

2.3.2 Những yêu cầu của việc tổ chức trò chơi học tập 38

2.3.3 Một số trò chơi trong hoạt động vận dụng 40

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 44

3.1 Mục đích thực nghiệm 44

3.2 Giáo án thực nghiệm 44

KẾT LUẬN 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

Việc giảng dạy môn Ngữ văn trong nhà trường ngày càng được chú trọng hơn, đặc biệt là trong thời đại ngày nay, cùng với hai phân môn Tiếng Việt và Làm văn, Ngữ văn được coi là môn chủ đạo, góp phần to lớn trong việc giáo dục và đào tạo thế hệ học sinh, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu của giáo dục nói riêng và của toàn xã hội nói chung trong quá trình phát triển

Thực tiễn dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông hiện nay còn nhiều bất cập, chất lượng dạy học Ngữ văn ngày càng hạn chế Nguyên nhân của hiện tượng này là do nhiều phía, trong đó phương pháp dạy học là một trong những nguyên nhân cơ bản Giảng dạy Ngữ văn còn ảnh hương khá nặng nề của cách dạy văn theo truyền thống, chưa phát huy được năng lực của

HS Để giải quyết, thay đổi tình trạng này, các nhà nghiên cức giáo dục đã tìm

ra phương pháp dạy học đổi mới, trong đó dạy học văn bản theo con đường đọc hiểu được đưa lên hàng đầu

Đọc hiểu được xem là khâu trung tâm của quá trình dạy học văn theo định hướng đổi mới góp phần tích cực hóa hoạt động học tập của HS, biến HS

từ khách thể thụ động thành chủ thể tích cực, từ người nghe thụ động trở thành người đọc sáng tạo Nắm được phương pháp dạy đọc hiểu, GV sẽ giúp

HS trang bị công cụ quan trọng nhất để vào đời – tự đọc và tự học, đọc suốt đời và học suốt đời Theo con đường đọc hiểu, HS sẽ phát huy được khả năng sáng tạo của mình, các em không chỉ được cung cấp những tri thức cụ thể của

Trang 8

từng bài học mà còn được cung cấp những kiến thức về thể loại để có thể đọc hiểu bất cứ một tác phẩm nào khác cùng thể loại mà mình đã được học

Để giờ đọc hiểu đạt được hiểu quả cao thì việc quan trọng là cần tổ chức các hoạt động học tập cho HS Tuy nhiên, hiện nay có nhiều GV chưa biết cách tổ chức các hoạt động học tập cho HS, đặc biệt là hoạt động vận

dụng

Hoạt động vận dụng sau mỗi bài học cho các em HS là vô cùng quan trọng, nó vừa giúp HS nắm chắc nội dung bài học vừa tạo điều kiện để các em vận dụng những nội dung kiến thức đã học vào giải quyết các bài tập, các vấn

đề trong thực tiễn cuộc sống

Từ những lí do trên và việc nhận thức được ý nghĩa của việc đổi mới dạy học nói chung và dạy học đọc hiểu Ngữ văn nói riêng người viết chọn đề

tài “Tổ chức hoạt động vận dụng trong dạy học đọc hiểu văn học ở lớp 10”

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Vấn đề đọc hiểu

Vấn đề đọc hiểu văn bản văn học trong nhà trường THPT được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu, trong đó GS.TS Trần Đình Sử với tư cách là người khởi xướng Ông là người nhìn thấy đọc hiểu không phải chỉ là văn hóa đọc đối với mọi người mà ý nghĩa và khả năng phương pháp của nó

trong đổi mới dạy học là vô cùng to lớn với quan điểm Đọc hiểu văn bản –

một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy học văn hiện nay

Đọc văn, học văn của GS Trần Đình Sử Ngay trong lời mở đầu, tác

giả cũng quan niệm rõ ràng về đọc hiểu và xem đây như là công việc đầu tiên

và cần có của quá trình học văn Đọc văn là đi tìm ý nghĩa của văn bản, ý nghĩa của thế giới và cuộc đời

Trang 9

GS.TS Nguyễn Thanh Hùng với nhiều công trình nghiên cứu: Đọc

hiểu là nền tảng văn hóa cho người đọc, chuyên luận Đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường

Trong công trình Một số vấn đề đọc – hiểu văn bản Ngữ văn của TS

Nguyễn Trọng Hoàn đã đề cập đến vấn đề đọc hiểu và những căn cứ cơ bản

để cho việc đọc hiểu được thực hiện rõ ràng

Trong chuyên luận Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn chương ở

trường phổ thông GS.TS Nguyễn Thị Thanh Hương đã đề cập khá cụ thể vấn

đề tiếp nhận văn học cũng như vận dụng nó vào dạy học tác phẩm văn học cụ thể trong nhà trường

Cùng quan tâm đến vấn đề này còn có rất nhiều các nhà nghiên cứu khác như: GS.TS Phan Trọng Luận, PGS.TS Đỗ Ngọc Thống, PGS.TS Lê Huy Bắc, TS Phạm Thị Thu Hương…Nhìn chung, các công trình nghiên cứu

kể trên đã khảo sát một cách có hệ thống và đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đọc văn

2.2 Vấn đề tổ chức các hoạt động trong giờ đọc hiểu văn học

Đây là một vấn đề còn khá mới, chưa có nhiều công trình nghiên cứu Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào 2 hoạt động cơ bản là: Đọc

và phân tích, cắt nghĩa giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của văn bản

Vấn đề này được đề cập trong một số công trình nghiên cứu của

PGS.TS Bùi Minh Đức Đổi mới dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường

trung học phổ thông, trong đó tác giả nhấn mạnh vai trò HS – bạn đọc sáng

tạo trong dạy học tác phẩm và đã trình bày hệ thống các hoạt động học tập trong giờ đọc hiểu một số văn bản cụ thể

Trang 10

3 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động vận dụng trong dạy học đọc hiểu văn học nhằm góp phần hình thành và phát triển kỹ năng vận dụng tri thức bài học vào thực tiễn đời sống cho học sinh

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, người viết tập trung vào những nhiệm

Thiết kế giáo án thực nghiệm

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp tổ chức hoạt động vận dụng trong giờ dạy đọc hiểu văn bản văn học

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong giờ dạy đọc hiểu GV có thể tổ chức nhiều hoạt động khác nhau,

ở khóa luận này chúng tôi tập trung vào đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động vận dụng trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học ở lớp 10 trong nhà

về cơ sở lí luận, lịch sử nghiên cứu vấn đề được toàn diện, đầy đủ Ngoài ra,

nó được vận dụng để xây dựng cấu trúc khóa luận

Trang 11

6.2 Phương pháp điều tra, khảo sát

Chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát thực tiễn dạy đọc hiểu văn bản văn học nói chung và việc tổ chức các hoạt động học tập trong giờ dạy đọc hiểu văn bản văn học nói riêng Từ đó, có những căn cứ, đánh giá khách quan, chính xác

6.3 Phương pháp thống kê, phân loại

Thống kê, phân loại sau khi xử lí các số liệu thu thập trong quá trình khảo sát, thực nghiệm để có những kết luận chính xác, khách quan

6.4 Phương pháp thực nghiệm

Phương pháp này được áp dụng trong thực nghiệm dạy học, chứng minh tính hiệu quả của việc hướng dạy đọc hiểu văn bản theo hệ thống các hoạt động học tập trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu thì khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức hoạt động vận dụng trong dạy học đọc hiểu văn học

Chương 2: Biện pháp tổ chức hoạt động vận dụng trong dạy học đọc hiểu văn học lớp 10

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VẬN DỤNG TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN HỌC

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Khái niệm “đọc hiểu” và “đọc hiểu văn bản”

1.1.1.1 Đọc hiểu

 Đọc

Quan niệm về đọc từ trước đến nay khá phong phú Chẳng hạn :

- Đọc là quá trình tiếp nhận ý nghĩa từ văn bản, tất nhiên phải hiểu ngôn ngữ của văn bản (ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ thể loại của văn bản); phải dựa vào tính tích cực của chủ thể (hứng thú, nhu cầu, năng lực) và tác động qua lại giữa chủ thể và văn bản

- Đọc là quá trình giao tiếp và đối thoại với người tạo ra văn bản (tác giả, xã hội, văn hóa)

- Đọc là quá trình tiêu dùng văn hoá (hưởng thụ, giải trí, học tập)

- Đọc là quá trình tạo ra các năng lực người (năng lực hiểu mình, hiểu văn hoá và hiểu thế giới)

- Đọc là dung nạp và suy nghĩ về một hay những thông tin nào đó

- Đọc là sự tái tạo những ý tưởng của người khác

Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khái quát về sự đọc của con người, có thể tán thành định nghĩa của Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc, quyển

“Giáo dục”: “Đọc là một quá trình hoạt động tâm lý nhằm tiếp nhận ý nghĩa

từ kí hiệu ngôn ngữ được in hay viết” Gần với định nghĩa này, SGV Ngữ văn

10 (nâng cao) viết : “Đọc là hoạt động nắm bắt ý nghĩa trong các kí hiệu của văn bản, khác với nghe là hoạt động nắm bắt ý nghĩa từ tín hiệu âm thanh”

Trang 13

Đó là hoạt động lấy văn bản viết, in, khắc làm đối tượng Khác với việc đọc

của người thoát nạn mù chữ là biết đọc chữ, đọc ở đây đòi hỏi hiểu sâu nội

dung tư tưởng, tình cảm, cái đẹp của văn bản và có thể sử dụng văn bản vào đời sống cá nhân và xã hội

Đọc đòi hỏi vận dụng một năng lực tổng hợp của con người : dùng mắt

để xem, dùng trí óc để phán đoán, liên tưởng, tưởng tượng, dùng miệng để ngâm nga khi thích thú, dùng kinh nghiệm để thử nghiệm, dùng tay để giở sách, dùng bút để ghi chép, dùng từ điển để tra cứu… Như thế, đọc góp phần giúp con người phát triển toàn diện các năng lực tinh thần của mình

Biết đọc là biết giao tiếp với đời sống văn hoá - xã hội rộng lớn, vượt ra ngoài tầm hiểu biết trực tiếp của mỗi người và biết hưởng thụ các giá trị văn hoá kết tinh trong văn bản Biết đọc mới nắm bắt được thông tin trên báo chí, trong sách vở để nâng cao tầm hiểu biết và trình độ cảm thụ; biết đọc mới biết thưởng thức bao cái hay, cái đẹp mà loài người đã “chưng cất” trong các văn bản nhất là văn bản nghệ thuật

 Hiểu

Đọc gắn liền với hiểu Hiểu vừa là nguyên nhân vừa là động cơ, mục đích của việc đọc

Hiểu, theo Kinh Thánh, là “lặn sâu vào thế giới bí ẩn bên trong” Còn

theo M Bakhtin, trong sách Con người trong thế giới ngôn từ, “hiểu” trong

đọc hiểu bao gồm nhiều hành động gắn với nhau: 1/ Cảm thụ (tiếp nhận) kí hiệu vật chất (màu sắc, con chữ…); 2/ Nhận ra kí hiệu quen hay lạ, hiểu ý nghĩa của nó được lặp lại trong ngôn ngữ 3/ Hiểu ý nghĩa của nó trong ngữ cảnh 4/ Đối thoại với ý nghĩa đó (tán thành, phản đối), trong nhận thức bao gồm cả sự đánh giá về chiều sâu và chiều rộng Bản chất tâm lý của sự hiểu là biến cái của nguời khác thành “cái vừa của mình vừa của người khác” Hiểu bao giờ cũng là tự hiểu, nghĩa là biến cái được hiểu thành kiến thức, quan

Trang 14

điểm, niềm tin của mình Cũng theo M Bakhtin, hiểu khác nhận thức và giải thích ở chỗ hiểu không một chiều mà mang tính đối thoại Tôi nhận ra một điều khi tôi giải thích cho anh điều đó, mời anh tham gia vào cuộc đối thoại

về điều đó với tôi Hiểu trong khoa học nhân văn không chỉ có chính xác, mà còn phải có chiều sâu, vì ở đây không phải hiểu đồ vật, mà là hiểu con người,

hiểu sự sống Nhà thơ Nga Manđenshtam có nói: “Pasternac là người hiểu,

tôi là người rất hiểu, còn Gớt thì cái gì cũng hiểu” Hiểu là sáng tạo Nó là sự

bừng sáng trong khoảnh khắc (giác ngộ, bừng ngộ) sau khi đã nghiền ngẫm,

là sự phát hiện cái ý nghĩa không sẵn có giữa các dòng văn và diễn đạt bằng

lời của người đọc Như vậy, hiểu là nắm được thông tin, ý nghĩa của văn bản,

là giải thích, biểu đạt được ý tưởng và cái hay của văn bản Hiểu là “ngộ”

(giác ngộ, bừng ngộ) ra những chân lý đời sống, những triết lý nhân sinh được người viết gửi gắm trong văn bản (tri âm) đồng thời cũng có thể là sự bổ sung, tiếp thêm cho văn bản những ý nghĩa, giá trị mới (kí thác)

Hiểu thường gắn liền với cảm nhất là trong các hoạt động tiếp nhận

nghệ thuật Sở dĩ như vậy là vì hoạt động cảm thụ hay tiếp nhận văn học cần đến nhiều năng lực tâm lý, tinh thần của con người, trong đó có sự kết hợp giữa trí tuệ và tình cảm, lý tính và cảm tính, giữa tư duy hình tượng và tư duy khoa học Không thể có một nhận thức văn học thật trọn vẹn nếu người tiếp nhận chỉ “cảm thấy” mà không “hiểu rõ” cái hay, cái đẹp của văn chương Vẫn biết rằng cái thi vị của văn thơ đôi khi nằm ở những điểm “mờ ơ”, những chỗ khó tường giải, tường minh cho hết nhẽ nhưng nếu tiếp nhận luôn luôn chỉ là như thế thì - như Biêlinxki đã nói - đó là trạng thái “thích thú đau khổ” Dạy học văn không thể cứ “thích thú đau khổ” để rồi phải “khổ đau” vì không biết “thích” vì lẽ gì, “thú” bởi điều gì GS Đặng Thai Mai đã có lần khẳng định : “Cảm thấy hay chưa đủ Có hiểu là hay thì sự thưởng thức mới

có nghĩa lý và tác dụng” Ông còn lưu ý bạn đọc nếu chịu khó suy nghĩ thì thế

Trang 15

nào cũng thu hoạch được nhiều điều thú vị, sâu sắc, đậm đà đằng sau cái âm hưởng du dương, trầm bổng, đằng sau cái đẹp của hình thức, thanh điệu… Từ

trong tâm lý sáng tác văn học, người nghệ sĩ đã phải viết văn bằng “Khối óc

lạnh lùng tê buốt – Trái tim nặng trĩu yêu thương” (A.Puskin) thì trong cảm

thụ nghệ thuật người đọc không thể đến với nhà văn bằng một “thứ tình cảm

vu vơ” mà trái lại, đó phải là “tình cảm, cảm xúc trên cơ sở một sự hiểu biết

khoa học” (Hoài Thanh) Như vậy, cảm (cảm xúc, tình cảm, những rung động tâm hồn của con người) bổ sung cho hiểu, làm cho sự hiểu thêm sâu sắc và ngược lại hiểu (dựa vào lý trí, trí tuệ, phân tích, diễn giải, suy luận, hành động…) sẽ giúp cảm có được cơ sở vững chắc vì chỉ sau khi hiểu thì cảm mới sâu

 Đọc hiểu

“Đọc hiểu” hay “đọc–hiểu” (reading comprehension, understanding

reading) làm một thuật ngữ quen thuộc trong khoa học giáo dục ở nhiều nước

tiên tiến trên thế giới Ở các nước phương Tây, đặc biệt là các nước Âu – Mĩ,

đọc hiểu và lý thuyết đọc hiểu (Theory of reading comprehension) đã được

chú ý từ lâu Đã có hàng trăm công trình viết về vấn đề này với các tên tuổi : K.Goodman (1970), A.K.Pugh (1978), P.D.Pearson (1984), U.Frith (1985), M.J.Adams (1990)… thậm chí có hẳn một tạp chí chuyên ngành về đọc

(Journal of Reading) Ở nước ta, đọc hiểu mới được quan tâm trong khoảng

mấy năm trở lại đây gắn liền với quá trình đổi mới chương trình, SGK Ngữ văn THCS và THPT Nhìn chung, ở ta chưa có “lý thuyết đọc hiểu” mà mới chỉ là những quan niệm và thể nghiệm ban đầu về đọc hiểu và đọc hiểu văn bản

Về khái niệm đọc hiểu, GS.TS Nguyễn Thanh Hùng quan niệm : “Đọc

hiểu là một hoạt động của con người Nó không phải chỉ là hình thức nhận biết nội dung ý tưởng từ văn bản mà còn là hoạt động tâm lý giàu cảm xúc có

Trang 16

tính trực giác và khái quát trong nếm trải của con người… Đọc hiểu mang tính chất đối diện một mình, tự lực với văn bản Nó có cái hay là tập trung và tích đọng, lắng kết thầm lặng năng lực cá nhân Đây là hoạt động thu nạp và toả sáng âm thầm với sức mạnh nội hoá kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm nghệ thuật và kinh nghiệm văn hoá trong cấu trúc tinh thần cá thể”

Cũng bàn về đọc hiểu văn bản, PGS.TS Đỗ Ngọc Thống viết : Đọc hiểu

là một quá trình bao gồm việc tiếp xúc với văn bản, thông hiểu cả nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn cũng như thấy được vai trò, tác dụng của hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, các thông điệp tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết và các giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật… Đọc hiểu bắt đầu từ đọc chữ, đọc câu, hiểu nghĩa của từ và sắc thái biểu cảm, hiểu nghĩa của hình thức câu, hiểu mạch văn, bố cục và nắm được ý chính cũng như chủ

Như vậy, đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản thông qua khả năng tiếp nhận của HS Đọc hiểu là tiếp xúc với văn bản, hiểu được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông

Trang 17

hiểu các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật

Gắn liền với thuật ngữ đọc hiểu, gần đây trong một số tài liệu dạy học còn thấy xuất hiện thuật ngữ phương pháp đọc hiểu (Understanding reading method) Chúng tôi cho rằng không nên hiểu đây là một phương pháp dạy

học mà cần hiểu là “cách thức”, “con đường” tổ chức, hướng dẫn HS lĩnh hội tri thức Đúng hơn đó là một hệ hình phương pháp dạy học bao gồm nhiều phương pháp, biện pháp dạy học khác nhau được sử dụng để người dạy

và người học có thể thực thi các nhiệm vụ dạy học Sở dĩ như vậy là vì quá

trình chiếm lĩnh tri thức từ đọc đến hiểu là một quá trình phức hợp nhiều hoạt

động, thao tác tư duy trí tuệ, cảm xúc của con người Để HS có thể nắm được

ý nghĩa của văn bản, đồng cảm và “đồng sáng tạo” với người viết, GV không thể chỉ tổ chức mỗi hoạt động đọc (đọc thầm, đọc to, đọc chéo, đọc hợp tác, đọc nhanh, đọc chậm, đọc diễn cảm…) mà còn phải tổ chức nhiều hoạt động khác nữa: tái hiện, phân tích, cắt nghĩa… với hàng loạt các phương pháp, biện pháp: gợi mở, nghiên cứu, so sánh, thảo luận nhóm… Tóm lại, đọc hiểu là một dạng hoạt động nhận thức, là hành trình tiến tới nắm bắt và thể nghiệm ý nghĩa của văn bản ngôn từ

Trong thực tiễn đổi mới phương pháp daỵ học văn hiện nay, đọc hiểu được coi là bước đột phá, là phương pháp chủ đạo trong việc dạy học tác phẩm văn học

1.1.1.2 Đọc hiểu văn bản

Trong đọc hiểu văn bản nói chung, đọc – hiểu văn bản văn học có một

vị trí đặc biệt, bởi văn bản văn học là sản phẩm sáng tạo độc đáo của con người

Cũng như quan niệm về đọc hiểu nói chung, có rất nhiều ý kiến xung quanh quan niệm đọc hiểu văn học GS.TS Nguyễn Thanh Hùng cho rằng:

Trang 18

“Đọc hiểu văn chương là đọc cái chủ quan của người viết bằng cách đồng hóa

tâm hồn, tình cảm, suy nghĩ của mình vào trang sách Đọc hiểu không phải chỉ là tái tạo âm thanh từ chữ viết mà còn là quá trình nhuần thấm tín hiệu nghệ thuật chứa mã văn hoá đồng thời với việc huy động vốn sống, vốn kinh nghiệm cá nhân người đọc để lựa chọn giá trị tư tưởng thẩm mĩ và ý nghĩa vốn có của tác phẩm văn chương Đọc hiểu là đón đầu những gì đang đọc qua từng từ, từng câu, từng đoạn rồi lại quay về với những gì đã đọc để kiểm chứng và đi tìm sự hợp sức của tác giả để tác phẩm được tái tạo trong tính cụ

thể và giàu tưởng tượng”

GS Trần Đình Sử thì quan niệm đọc hiểu là “khâu cơ bản nhất” trong

“các khâu đọc” : đọc thông, đọc thuộc - đọc kĩ, đọc sâu - đọc hiểu - đọc sáng tạo Trong đó, đọc hiểu “bắt đầu từ hiểu từ, hiểu câu, hiểu đoạn, hiểu liên kết, hiểu nghĩa toàn bài” Hiểu văn học không chỉ hiểu nội dung xã hội, mà còn hiểu cái hay, cái tình, cái tài, cái tuyệt vời trong nghệ thuật Cũng theo GS Trần Đình Sử, đọc hiểu văn học có hai bước : hiểu thông báo và hiểu ý nghĩa Hiểu thông báo là hiểu ngôn từ và hình tượng

Cũng bàn về đọc hiểu văn học, PGS.TS Đỗ Ngọc Thống viết : Đọc hiểu

“là một quá trình bao gồm việc tiếp xúc với văn bản, thông hiểu cả nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn cũng như thấy được vai trò, tác dụng của hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, các thông điệp tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết và các giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật… Đọc hiểu bắt đầu từ đọc chữ, đọc câu, hiểu nghĩa của từ và sắc thái biểu cảm, hiểu nghĩa của hình thức câu, hiểu mạch văn, bố cục và nắm được ý chính cũng như chủ

đề của tác phẩm”

Chúng tôi quan niệm đọc hiểu văn học là một quy trình tiếp cận và chiếm lĩnh văn bản văn học từ bước thâm nhập môi sinh của tác phẩm qua

Trang 19

các thông tin về hoàn cảnh ra đời (hoàn cảnh lớn – bối cảnh chính trị, xã hội, văn hóa của thời đại; hoàn cảnh nhỏ - tiểu sử, con người nhà văn; hoàn cảnh cảm hứng – hoàn cảnh trực tiếp ra đời tác phẩm) đến bước tri giác ngôn ngữ (đọc – hiểu tầng ngôn từ), nhập cảm vào thế giới hình tượng (đọc - hiểu tầng hình rượng), khám phá các lớp ý nghĩa (đọc - hiểu tầng ý nghĩa) và thể nghiệm các giá trị của tác phẩm trong thực tiễn đời sống (đọc – thể nghiệm)

Từ đây, chúng tôi xác định đọc – hiểu văn bản văn học ở nhà trường phổ thông thực chất là một hệ phương pháp hoặc một quy trình tổ chức HS tiếp cận và chiếm lĩnh văn bản văn học Quy trình đó được triển khai thành một hệ thống các hoạt động tiếp nhận đặc thù được giáo viên tổ chức ở HS Mỗi hoạt động lại được “vật chất hóa” bằng những hành động và thao tác cụ thể phù hợp với đặc trưng thể loại tác phẩm và khả năng tiếp nhận văn học của bạn đọc HS Một cách khái quát, có thể hình dung quy trình đọc hiểu văn bản văn học nhà trường qua các cấp độ, các bước sau :

Như vậy, Đọc hiểu văn bản văn học thực chất là phương pháp tiếp nhận

nghệ thuật ngôn từ bằng sự cảm thụ trực tiếp, là sự hiểu thấu ngôn ngữ và là

sự phân tích, phát hiện ý nghĩa sâu xa trong văn bản Mục đích của đọc hiểu

là hình thành và duy trì những ấn tượng nghệ thuật để HS tiếp tục đi sâu vào nội dung tư tưởng và hình thức ngôn ngữ tác phẩm Theo tinh thần này, đọc hiểu văn chính là toàn bộ quá trình tiếp nhận, giải mã các văn bản văn học tiêu biểu cho các thể loại ở từng giai đoạn lịch sử văn học qua đó cung cấp và hình thành ở HS những kiến thức cơ bản về lịch sử văn học, lí luận văn học,

Trang 20

tác giả và tác phẩm văn học,… làm nền tảng để từng bước xây dựng văn hóa đọc cho HS

Dưới góc độ phương pháp, dạy đọc hiểu là dạy người tiếp nhận cách thức đọc ra nội dung trong những mối quan hệ qua lại phức tạp của văn bản,

là cung cấp cho người tiếp nhận cách đọc để có quan điểm, thái độ và kĩ năng đọc những sáng tạo ngôn từ theo quan điểm thẩm mĩ nhất định Dạy đọc hiểu

là vừa dạy cách tiếp xúc với văn bản, thông hiểu nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn cũng như thấy được vai trò tác dụng của các hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết, các giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật và cả ý nghĩa xã hội nhân văn của tác phẩm trong ngữ cảnh của nó, vừa tập trung hình thành cách đọc văn, phương pháp đọc hiểu theo thể loại để dần dần các em có thể tự đọc văn, hiểu tác phẩm văn học một cách khoa học đúng đắn

Đọc hiểu trả lại cho người đọc vai trò, vị trí đích thực HS không còn lệ thuộc vào thầy như trước mà trong tư thế chủ động, tự giác, tự lực, là một

“bạn đọc sáng tạo” HS từ chỗ tiếp thu thụ động nay trở thành người đọc trực tiếp, đọc có suy nghĩ, đọc kết hợp với vận dụng vốn kinh nghiệm, vốn sống, liên tưởng, tưởng tượng để từng bước tri giác ngôn ngữ âm thanh, định hình những hình ảnh chính của tác phẩm và nhận ra tiếng nói của tác giả, xác định chủ đề của tác phẩm Đọc để tìm ra cái mình cần, đọc để đối thoại với tác giả

và giáo viên, với cách hiểu của người đi trước, với cách hiểu tích lũy ban đầu của chính mình

Đề cao vai trò chủ thể học sinh trong quá trình giảng dạy và học tập Ngữ văn chính là một hướng cơ bản để nâng cao hiệu quả dạy học Phương hướng đó không những phù hợp với yêu cầu của thời đại khoa học hiện nay

mà còn là vấn đề nhận thức khoa học, quan điểm nhân văn Trong quá trình dạy học, hoạt động tương tác tích cực được hình dung như một hệ thống hoạt

Trang 21

động: về phía giáo viên – người thiết kế kế hoạch, tổ chức hoạt động; về phía học sinh – người thực hiện những hoạt động mang tính tình huống và cụ thể

để qua đó tạo nên những điều kiện phát triển bản thân

1.1.2 Hệ thống các hoạt động tổ chức học sinh đọc hiểu văn bản văn học ở nhà trường THPT

1.1.2.1 Hoạt động tạo tâm thế

Hoạt động tạo tâm thế tiếp nhận cho HS khi dạy học đọc hiểu là vô cùng cần thiết Để bắt đầu giờ đọc hiểu văn bản văn học thì việc giúp HS tập trung và thỏa mái tâm lí là vấn đề vô cùng quan trọng HS thiếu sự tập trung, chú ý, không có hứng thú học tập thì rất khó để tiếp nhận văn bản văn học mới Thông qua hoạt động này GV sẽ khơi gợi hứng thú, thu hút sự chú ý, kích thích sự tò mò cho HS, đồng thời đưa ra những vấn đề để HS giải quyết sau khi học xong bài học

HS huy động vốn kiến thức và kĩ năng để chuẩn bị tiếp nhận kiến thức

và kĩ năng mới Hoạt động này dựa trên cơ sở lập luận rằng: việc tiếp thu kiến thức mới bao giờ cũng dựa trên những kinh nghiệm trước đó Cho nên, bước này còn được gọi là “kinh nghiệm” hay “trải nghiệm”

Để tổ chức hoạt động tạo tâm thế cho HS có rất nhiều cách khác nhau: + Câu hỏi, bài tập: Trong mỗi bài học, hoạt động khởi động thường gồm từ 1 đến 3 câu hỏi / bài tập Các bài tập này thường yêu cầu HS quan sát tranh ảnh để trao đổi với nhau về một vấn đề nào đó có liên quan đến bài học Cũng có một số bài tập không sử dụng tranh ảnh mà trực tiếp ôn lại kiến thức

đã học ở các cấp, nhưng thiết kế dưới dạng kết nối hoặc những câu hỏi đơn giản, nhẹ nhàng

+ Tổ chức trò chơi: Một số trò chơi trong hoạt động khởi động giúp tạo

ra hứng thú trước khi vào bài học mới Các trò chơi này cũng có nội dung gắn với mỗi bài học

Trang 22

+ Tạo tâm thế học tập bằng những lời giới thiệu hay, ấn tượng Một lời

mở đầu bài học thật hấp dẫn sẽ có tác dụng không nhỏ thu hẹp khoảng cách giữa HS và tác phẩm Về tâm lý, con người thường bị thu hút, lôi cuốn bởi những lời nói hay, những cách nói độc đáo, ấn tượng Chính vì vậy, dẫn dắt vào bài cũng phải là một nghệ thuật sư phạm của người GV Tuy nhiên, điều cần bổ sung và đôi khi cần thay đổi ở đây là HS đảm nhiệm vai người giới thiệu bài mới

+ Tạo tâm thế tiếp nhận bằng một cuộc thi nhỏ: thi giới thiệu tác giả, tác phẩm; trả lời nhanh các bài tập trắc nghiệm… giữa các HS hoặc các tổ, nhóm là một biện pháp có thể thu hút sự chú ý của HS, tạo tâm thế tiếp nhận

và không khí cần thiết cho giờ học trước khi HS bước vào giai đoạn đọc hiểu văn bản

+ Ứng dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại thu hút sự chú ý và tạo hứng thú học tập cho HS Bằng những hình ảnh, âm thanh, màu sắc, bảng biểu… trực quan sinh động, các phương tiện kỹ thuật hiện đại có thể tác động cùng một lúc vào nhiều giác quan của HS, khiến các em phải chú ý, tạm gạt những mối quan tâm cá nhân để bước vào bài học

Ví dụ: Khi dạy bài “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi, GV có thể tạo

tâm thế cho HS bằng cách kể cho các em nghe một vài câu chuyện, giai thoại

về thời đại gia đình… của tác giả hoặc cho các em xem một video ngắn về vụ

án Lệ Chi Viên (https://www.youtube.com/watch?v=bR6apzN3TEc) để thu hút sự chú ý của HS

Ví dụ: Khi dạy bài “An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” GV

có thể tạo tâm thế cho các em bằng cách trình chiếu một vài hình ảnh liên quan đến An Dương Vương và hỏi các em đó là nhân vật lịch sử nào? Em biết

gì về nhân vật này?

Trang 23

1.1.2.2 Hoạt động tìm hiểu tri thức nền

Tri thức nền là những tri thức về tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác HS sẽ biết được khi tìm hiểu phần tiểu dẫn Phần tiểu dẫn trong SGK Ngữ văn cung cấp cho HS tri thức về văn học sử như kiến thức về đặc điểm thời đại, hoàn cảnh ra đời của văn bản văn học, cuộc đời và sự nghiệp văn chương của nhà văn, phong cách nghệ thuật của tác giả; cung cấp tri thức lí luận văn học ở dạng trực tiếp như thể loại Đó chính là những phương tiện để khám phá văn bản theo quan điểm tiếp cận đồng bộ, giúp HS hiểu sâu sắc kiến thức văn học và tự các em có thể thẩm định, đánh giá kiến thức văn học

ở một mức độ nào đó

Tiếp nhận văn bản dựa trên kiến thức về bối cảnh xã hội và văn hoá cũng như những hiểu biết về tác giả với nét tiểu sử, đặc trưng tư duy và phong cách nghệ thuật… là những thông tin vô cùng quan trọng hỗ trợ quá trình tiếp cận và khám phá thế giới nghệ thuật trong tác phẩm GS Phan

Trọng Luận cho rằng: “Tất cả những gì nhà văn sáng tác đều có cội nguồn

trực tiếp ở những sự kiện trong cuộc sống riêng tư của anh ta, ở tâm tư tình cảm của nhà văn đó” Phần Tiểu dẫn trong SGK khi giới thiệu những nét

chính về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn đã đặc biệt chú ý đến những sự kiện, những vấn đề liên quan đến văn bản sắp học Những thông tin

về cuộc đời tác giả như năm sinh, quê quán, gia đình, việc học hành, tư tưởng, tình cảm, những thăng trầm trong cuộc đời là điều kiện cần thiết để hiểu căn

kẽ, thấu đáo về văn bản sẽ học Không biết về tác giả cũng như những nét phong cách nghệ thuật của nhà văn thì khó lí giải được nội dung của VB một cách sâu sắc Đây là hoạt động giúp HS bước đầu làm quen với văn bản, chuẩn bị cho việc đọc hiểu

GV có thể tổ chức hoạt động này bằng nhiều cách khác nhau:

Trang 24

+ GV cho học sinh làm việc với SGK, có thể làm việc cá nhân, cặp đôi hoặc làm nhóm để thảo luận và trình bày

+ Giáo viên cũng có thể dùng phiếu học tập cung cấp thêm kiến thức ngoài SGK cho HS

+ Ứng dụng CNTT cung cấp tranh, ảnh, video clip…

+ Đặt câu hỏi và trao đổi thảo luận với học sinh

Ví dụ: Khi dạy bài “Trao duyên” (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

trước khi đi vào phân tích giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của văn bản GV

có thể chia lớp thành 4 nhóm và yêu cầu các nhóm thảo luận, trao đổi để tóm

tắt Truyện Kiều dưới dạng sơ đồ sau đó trình bày kết quả thảo luận trước lớp

Sau khi các nhóm đã trình bày xong kết quả thảo luận của nhóm mình, GV có thể trình chiếu mẫu tóm tắt bằng sơ đồ để học sinh tham khảo

1.1.2.3 Hoạt động đọc

Yêu cầu đọc hiểu, đối tượng của đọc là văn bản, nhưng với HS phải xác định cụ thể đơn vị đọc là chữ, câu hay đoạn Và khi đọc thì đọc to, đọc nhỏ hay đọc thầm; đọc nhanh, đọc lướt hay đọc chậm, phải đọc đúng, đọc hay, hay đọc diễn cảm Hiểu không phải là sản phẩm trực tiếp của hoạt động đọc Không phải cứ đọc là hiểu Chính vì thế học sinh phải học, học cẩn thận không thể đại khái Và chỉ ở nhà trường, việc học cách đọc, cách hiểu mới được tổ chức một cách bài bản, theo quy trình khoa học

Các bước đọc hiểu văn bản văn học:

+ Bước 1: Đọc – hiểu ngôn từ: Hiểu được các từ khó, từ lạ, các điển cố,

các phép tu từ, hình ảnh… (đối với thơ) Đối với tác phẩm truyện phải nắm được cốt truyện và các chi tiết từ mở đầu đến kết thúc Khi đọc văn bản cần hiểu được các diễn đạt, nắm bắt mạch văn xuyên suốt từ câu trước đến câu sau, từ ý này chuyển sang ý khác, đặc biệt phát hiện ra mạch ngầm – mạch

Trang 25

hàm ẩn, từ đó mới phát hiện ra chất văn Bởi thế, cần đọc kĩ mới phát hiện ra những đặc điểm khác thường, thú vị

+ Bước 2: Đọc – hiểu hình tượng nghệ thuật: Hình tượng trong văn bản văn học hàm chứa nhiều ý nghĩa Đọc – hiểu hình tượng nghệ thuật của văn bản văn học đòi hỏi người đọc phải biết tưởng tượng, biết “cụ thể hóa” các tình cảnh để hiểu những điều mà ngôn từ chỉ có thể biểu đạt khái quát Đọc – hiểu hình tượng nghệ thuật còn đòi hỏi phát hiện ra những mâu thuẫn tiềm ẩn trong đó và hiểu được sự lôgic bên trong của chúng

+ Bước 3: Đọc – hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả trong văn bản văn học: Phải phát hiện được tư tưởng, tình cảm của nhà văn ẩn chứa trong văn bản Tuy nhiên tư tưởng, tình cảm của tác giả trong văn bản văn học thường không trực tiếp nói ra bằng lời Chúng thường được thể hiện ở giữa lời, ngoài lời, vì thế người ta đọc – hiểu tư tưởng tác phẩm bằng cách kết hợp ngôn từ

và phương thức biểu hiện hình tượng

+ Bước 4: Đọc – hiểu và thưởng thức văn học: Thưởng thức văn học là trạng thái tinh thần vừa bừng sáng với sự phát hiện chân lí đời sống trong tác phẩm, vừa rung động với sự biểu hiện tài nghệ của nhà văn, vừa hưởng thụ ấn tượng sâu đậm đối với các chi tiết đặc sắc của tác phẩm Đó là đỉnh cao của đọc – hiểu văn bản văn học Khi đó người đọc mới đạt đến tầm cao của hưởng thụ nghệ thuật

Ví dụ: Khi dạy bài “Nhàn” (Nguyễn Bỉnh Khiêm) cần hướng dẫn cho

HS cách đọc, đọc với giọng thong thả, cần chú ý đến sự biến đổi trong cách ngắt nhịp để ngắt giọng cho đúng

Một mai/ một cuốc/ một cần câu (2/2/3) Thơ thẩn/ dầu ai/ vui thú nào (2/2/3)

Ta dại/ ta tìm nơi vắng vẻ (2/5) Người khôn/ người đến chốn lao xao (2/5)

Trang 26

Thu/ ăn măng trúc/ đông ăn giá (1/3/1/2) Xuân/ tắm hồ sen/ hạ/ tắm ao (1/3/1/2) Rượu/ đến cội cây/ ta sẽ uống (1/3/3) Nhìn xem/ phú quý tựa chiêm bao(2/5)”

GV hướng dẫn HS tìm hiểu các từ khó, các điển tích, điển cố trong bài thơ, xác định thể loại và phân chia bố cục của bài thơ

1.1.2.4 Hoạt động phân tích giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của văn bản văn học

GV tổ chức các hoạt động hướng dẫn HS phân tích nội dung, ý nghĩa

và giá trị nghệ thuật của văn bản văn học Mỗi văn bản sẽ có cách cách đọc hiểu khác nhau GV dựa vào cấu trúc, kết cấu của từng bước hướng dẫn học sinh phát hiện giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của văn bản

Các biện pháp để hướng dẫn học sinh phân tích,cắt nghĩa khái quát hóa các giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của văn bản:

+ Phân tích, cắt nghĩa và đánh giá khái quát bằng đàm thoại gợi mở + Phân tích, cắt nghĩa văn học bằng biện pháp so sánh

+ Xây dựng những tình huống có vấn đề định hướng học sinh phân tích, cắt nghĩa, khái quát hóa

+ Tổ chức học sinh làm việc hợp tác, thảo luận theo nhóm để phân tích, cắt nghĩa và khái quát hóa các giá trị nội dung, nghệ thuật tác phẩm

+ Sử dụng các kỹ thuật: kỹ thuật động não, khăn phủ bàn, tia chớp, phòng tranh…

Ví dụ: Khi dạy bài “Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa” GV có

thể cho HS hoạt động nhóm hướng dẫn HS phân tích 4 bài ca dao số 1,3,4,6 theo hệ thống câu hỏi sau:

 Nhân vật trữ tình trong bài ca dao là ai? Nhân vật này tiêu biểu cho kiểu người nào, loại người nào trong xã hội? Dựa vào đâu để xác định?

Trang 27

 Nhân vật trữ tình đang dãi bày, thổ lộ điều gì? Dựa vào yếu tố nào để khẳng định điều đó?

 Để thể hiện nội dung của bài ca dao, tác giả dân gian đã sử dụng những hình thức nghệ thuật nào? Nêu và phân tích giá trị

 Nội dung ý nghĩa của bài ca dao đặt ra vấn đề gì của xã hội đương thời

và có liên hệ gì với đời sống ngày nay

Sau khi thảo luận xong, GV sẽ cho đại diện nhóm lên trình bày kết quả thảo luận của nhóm mình, các nhóm còn lại sẽ nghe, nhận xét và bổ sung GV sẽ nhận xét và chốt lại nội dung, kiến thức

1.1.2.5 Hoạt động vận dụng

(Nội dung này sẽ được trình bày ở mục 1.1.3)

1.1.3 Hoạt động vận dụng

1.1.3.1 Khái niệm vận dụng

Vận dụng là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh

cụ thể : vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; là khả năng đòi hỏi các em phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó

1.1.3.2 Mục đích của hoạt động vận dụng trong quá trình dạy học đọc hiểu văn bản văn học

Mục đích của hoạt động vận dụng là giúp HS sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết các vấn đề, các tình huống trong thực tế cuộc sống

và liên hệ vấn đề của văn học với những vấn đề của xã hội hiện đại ngày nay

Hoạt động vận dụng trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học không chỉ giúp học sinh nắm chắc nội dung, kiến thức của bài học mà còn hình thành và rèn luyện cho học sinh những kỹ năng, kỹ xảo đọc hiểu văn bản văn học để có thể giải quyết các bài tập, những văn bản cùng thể loại không có trong chương trình

Trang 28

Hoạt động vân dụng tạo điều kiện để học sinh tự bộc lộ thái độ, nhận thức của mình về tác phẩm và rút ra bài học, triết lí sống đúng đắn Tự bộc lộ khác hẳn với lối áp đặt tình cảm, thái độ cho HS Qua hoạt động này HS có cơ hội để đối thoại, trao đổi, sẻ chia với các bạn khác những cảm nhận, suy nghĩ

Có thể tổ chức hoạt động vận dụng theo nhiều cách khác nhau:

+ Giáo viên có thể sử dụng hệ thống câu hỏi, đưa ra những yêu cầu để học sinh phát hiện, thảo luận và trả lời

+ Xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập kiểm tra đánh giá mức độ hiểu bài của học sinh và kỹ năng đọc hiểu của học sinh

+ Ứng dụng CNTT cung cấp tranh, ảnh, video clip mở rộng kiến thức hoặc tạo ra các bài tập luyện tập, củng cố kiến thức cho học sinh

+ Tái hiện lại một tình huống then chốt trong tác phẩm hoặc toàn bộ tác phẩm (chuyển thể tác phẩm văn học)

+ Đặt lại tên cho đoạn trích, đoạn thơ hoặc cả tác phẩm

+ Yêu cầu HS khái quát nội dung bài học bằng cách lập bảng biểu, sơ

đồ tư duy

+ Tổ chức các trò chơi học tập

+ Nêu ra các tình huống có vấn đề trong bài học và yêu cầu HS trình bày những suy nghĩ, cảm nhận của bản thân

Trang 29

+ Liên hệ các vấn đề được đề cập trong tác phẩm văn học với xã hội ngày nay và trình bày ý kiến cá nhân về các vấn đề đó…

Ví dụ: Sau khi học xong truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu

– Trọng Thủy” GV có thể tổ chức cho HS thi viết tiếp kết thúc tác phẩm Điều này không chỉ giúp các em nắm vững nội dung tác phẩm mà còn tạo điều kiện cho các em thể hiện sự sáng tạo, bộc lộ thái độ, nhận thức của mình

Ví dụ: Sau khi HS học xong bài “ Độc Tiểu Thanh kí” GV có thể tổ

chức hoạt động vận dụng bằng cách cho HS nêu lên ý kiến của mình về quan niệm “ hồng nhan bạc mệnh” trong xã hội xưa và nay Ngày nay, những người phụ nữ cần phải làm gì để không rơi vào số phận bất hạnh như nàng Tiểu Thanh mà Nguyễn Du nhắc đến

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực tiễn thiết kế bài học đọc hiểu

Qua khảo sát, phân tích một số giáo án trên http://giaoan.violet.vn/,

http://thuviengiaoan.vn/ tôi nhận thấy một số vấn đề sau:

Các giáo án trên mạng được thiết kế chủ yếu theo những nội dung sau:

Trang 31

án chỉ để một mục chung chung là “Củng cố, dặn dò” nhưng không ghi hoạt động

Như vậy, ngay từ khâu thiết kế giáo án đọc hiểu thì các hoạt động học tập đã không được cụ thể, rõ ràng và có cả những hoạt động không được đề cập đến

1.2.2 Thực tiễn tổ chức hoạt động vận dụng trong dạy học đọc hiểu ở trường THPT

Thực tế dạy học Ngữ văn ở trường THPT hiện nay vẫn còn khá nhiều vấn đề chưa theo kịp với yêu cầu của giáo dục hiện đại cũng như đòi hỏi của cuộc sống Qua 2 đợt thực tập sư phạm, đặc biệt là thực tập lần thứ 2 được quan sát, khảo sát thực tế dạy học tôi nhận thấy có một số vấn đề sau:

Nhiều GV chưa hiểu rõ mục đích, tầm quan trọng của dạy học đọc hiểu, chưa xác định đúng mục tiêu giờ dạy, dạy học nhằm mục đích cung cấp kiến thức để HS vượt qua các kì thi, chưa rèn kỹ năng đọc hiểu văn bản cho HS để các em có thể tự đọc các văn bản tương tự nằm ngoài chương trình, chưa thực

sự quan tâm đến cảm nhận của HS Vì vậy, giờ học diễn ra nhàm chán, nặng

nề, chủ yếu là thầy làm thay trò, chưa phát huy được tính chủ động, tích cực của HS trong giờ học

Trong giờ học giáo viên vẫn nặng về truyền đạt, truyền thụ, HS bị động tiếp nhận kiến thức Chưa thay đổi quan niệm về người học và việc đánh giá người học, chưa thực sự chú đến người học: nhu cầu, mong muốn, hứng thú của các em, chưa khuyến khích HS tìm tòi, sáng tạo, sự tương tác giữa GV và

HS còn hạn chế GV chưa biết cách tổ chức thành các hoạt động học tập cho

HS làm việc Các hoạt động học tập được thực hiện một cách hình thức, không đem lại hiệu quả cao nhất là hoạt động tạo tâm thế tiếp nhận và hoạt động vận dụng sau bài học

Trang 32

Hoạt động vận dụng trong giờ đọc hiểu vẫn chưa được tổ chức rõ ràng,

cụ thể, tính hiệu quả chưa cao Một số GV có tổ chức hoạt động vận dụng nhưng chủ yếu vẫn chỉ là liên hệ thực tiễn, có ứng dụng CNTT nhưng chỉ dừng lại ở việc cung cấp tranh ảnh Các biện pháp tổ chức hoạt động vận dụng chưa phong phú

Từ thực tế dạy học văn bản văn học ở nhà trường THPT hiện nay, tôi cho rằng việc nghiên cứu để tìm ra các biện pháp tổ chức hoạt động học tập trong giờ đọc hiểu nói chung và hoạt động vận dụng nói riêng là cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn trong nhà trường

Trang 33

CHƯƠNG 2 : BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VẬN DỤNG TRONG

DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN HỌC Ở LỚP 1O

2.1 Xây dựng hệ thống bài tập

2.1.1 Bài tập liên hệ, vận dụng

GV đưa ra các bài tập tự luận, các câu hỏi yêu cầu HS vận dụng kiến thức và kĩ năng để trả lời Các câu hỏi được xây dựng theo các cấp độ khác nhau Qua đó đánh giá được mức độ hiểu bài và năng lực đọc hiểu văn bản văn học của HS

Đối với các văn bản văn học ở lớp 10 chủ yếu là văn học dân gian và văn học trung đại thì việc tổ chức hoạt động liên hệ, vận dụng càng trở nên quan trọng Đây đều là các văn bản được sáng tác từ rất sớm, cách ngày nay hàng trăm, hàng nghìn năm, vì vậy mà nhiều HS khi học các văn bản này không thể hiểu hết giá trị nội dung, nghệ thuật cũng như không thấy hết được giá trị của văn bản Việc chỉ ra các vấn đề được đề cập đến trong văn bản và liên hệ vấn đề này với đời sống ngày nay là nhiệm vụ mà cả GV và HS phải thực hiện

Ví dụ: Triết lí “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một phép ứng xử trước thời thế để giữ tròn thanh danh của tầng lớp Nho sĩ thế kỉ XVI-XVII

Em có suy nghĩ như thế nào về triết lí “nhàn” đặt trong hoàn cảnh thời đại ngày nay? Theo em “nhàn” trong cuộc sống ngày nay thì đâu là “nhàn tích cực”, đâu là “nhàn tiêu cực”? Lấy ví dụ để chứng minh

Ví dụ: Qua bài thơ "Tỏ lòng" của Phạm Ngũ Lão, thanh niên ngày nay

cần có lí tưởng sống như thế nào?

Ví dụ: Khi học xong bài “Tấm Cám” GV nêu vấn đề : Có HS cho rằng

cô Tấm thực ra không hiền như lâu nay chúng ta vẫn nghĩ (“Quả thị thơm, cô Tấm rất hiền”) mà trái lại cô Tấm rất ghê gớm, thậm chí có phần độc ác vì

Ngày đăng: 07/09/2017, 10:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), SGK Ngữ văn 10 tập I, Nxb Giáo dục 2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), SGK Ngữ văn 10 tập II, Nxb Giáo dục 3. Bùi Minh Đức , Đổi mới dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường trunghọc phổ thông, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Ngữ văn 10 tập I, "Nxb Giáo dục 2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), "SGK Ngữ văn 10 tập II, "Nxb Giáo dục 3. Bùi Minh Đức , "Đổi mới dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường trung "học phổ thông
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), SGK Ngữ văn 10 tập I, Nxb Giáo dục 2. Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục 2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012)
Năm: 2012
6. Nguyễn Thanh Hùng (2003), Hiểu văn dạy văn, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu văn dạy văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
7. Nguyễn Thanh Hùng (2002), Đọc và tiếp nhận văn chương, Nxb Giáo dục 8. Nguyễn Thị Thanh Hương, Phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học ở nhàtrường phổ thông, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc và tiếp nhận văn chương", Nxb Giáo dục 8. Nguyễn Thị Thanh Hương, "Phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học ở nhà "trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Giáo dục 8. Nguyễn Thị Thanh Hương
Năm: 2002
9. Phạm Thị Thu Hương, Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
10. Phan Trọng Luận (2000), Phương pháp dạy học văn, Nxb ĐHQGHN 11. Phan Trọng Luận (2009). Thiết kế bài học Ngữ văn 10, Nxb Giáo dục 12. Phương Lựu (2006), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn", Nxb ĐHQGHN 11. Phan Trọng Luận (2009). "Thiết kế bài học Ngữ văn 10", Nxb Giáo dục 12. Phương Lựu (2006), "Lí luận văn học
Tác giả: Phan Trọng Luận (2000), Phương pháp dạy học văn, Nxb ĐHQGHN 11. Phan Trọng Luận (2009). Thiết kế bài học Ngữ văn 10, Nxb Giáo dục 12. Phương Lựu
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN 11. Phan Trọng Luận (2009). "Thiết kế bài học Ngữ văn 10"
Năm: 2006
14. Trần Đình Sử (2003), Đọc hiểu văn bản – Một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện đại, Báo văn nghệ số 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc hiểu văn bản – Một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện đại
Tác giả: Trần Đình Sử
Năm: 2003
15. Đỗ Bình Trị (2002), Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian
Tác giả: Đỗ Bình Trị
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức trình bày sáng tạo. - Tổ chức hoạt động vận dụng trong dạy học đọc hiểu văn học ở lớp 10
Hình th ức trình bày sáng tạo (Trang 60)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm