Đỗ Thị Thu Hương, chúng tôi đã từng bước tiến hành và hoàn thành khóa luận với đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm trong phân môn Luyện từ và câu cho học sin
Trang 1Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Người hướng dẫn khoa học:
TS Đỗ Thị Thu Hương
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận này chúng tôi không khỏi lúng túng
và bỡ ngỡ Nhưng dưới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của TS Đỗ Thị Thu
Hương, chúng tôi đã từng bước tiến hành và hoàn thành khóa luận với đề tài
“Xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5”.Qua đây, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn
sâu sắc đến các thầy cô khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2017
Sinh viên
Đinh Thị Nga
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả mà khóa luận đạt được là trung thực
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2017 Sinh viên
Đinh Thị Nga
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Bố cục khóa luận 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 6
1.1 Cơ sở thực lí luận 6
1.1.1 Các vấn đề lí thuyết về tiếng Việt 6
1.1.1.1 Khái niệm từ tiếng Việt 6
1.1.1.2 Các thành phần ý nghĩa của từ tiếng Việt 6
1.1.1.3 Tính hệ thống của từ ngữ và việc xây dựng bài tập mở rộng vốn từ 8
1.1.2 Mục tiêu của việc dạy từ ngữ cho học sinh 13
1.1.2.1 Hình thành và rèn luyện năng lực từ ngữ cho học sinh 13
1.1.2.2 Rèn luyện kĩ năng sử dụng vốn từ cho học sinh tiểu học 15
1.1.3 Chương trình phân môn Luyện từ và câu trong tiếng Việt 5 16
1.1.3.1 Mục tiêu, vị trí của phân môn Luyện từ và câu 16
1.1.3.2 Nội dung phân môn Luyện từ và câu trong tiếng Việt 5 16
1.1.4 Các loại bài tập mở rộng vốn từ trong sách giáo khoa tiếng Việt 517 1.1.4.1 Bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm 17
1.1.4.4 Bài tập mở rộng vốn từ qua trò chơi ô chữ 18
1.1.5 Một số đặc điểm tâm lí học sinh tiểu học 19
Trang 51.1.5.1 Đặc điểm nhận thức cảu học sinh tiểu học 19
1.1.5.2 Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học 22
1.2 Cơ sở thực tiễn 25
1.2.1 Thực trạng dạy học phân môn Luyện từ và câu trong sách tiếng Việt 5 25 1.2.1.1 Thực trạng dạy của giáo viên 26
1.2.1.2 Thực trạng học phân môn Luyện từ và câu trong sách tiếng Việt 5 của học sinh, năng lực từ ngữ của học sinh lớp 5 27
1.2.2 Thực trạng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ trong sách giáo khoa tiếng Việt 5 27
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP MỞ RỘNG VỐN TỪ THEO CHỦ ĐIỂM CHO HỌC SINH LỚP 5 30
2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm cho học sinh lớp 5 30
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với nội dung chương trình 30
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính tích cực của học sinh30 2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 30
2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính tích hợp 30
2.1.5 Nguyên tắc bảo đảm tính kế thừa 31
2.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 31
2.2 Hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm cho học sinh lớp 5 31
2.2.1 Giới thiệu khái quát hệ thống bài tập 31
2.2.2 Cấu trúc hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5 33
2.2.2.1 Nhóm bài tập tìm từ dựa vào từ gốc (từ cho trước) 33
2.2.3.3 Nhóm bài tập sử dụng từ 42
2.2.3 Hướng dẫn sử dụng các bài tập 53
Tiểu kết chương 2 55
Trang 6KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 8Ngày nay, trước những biến đổi to lớn của đất nước, trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam đặc biệt là đội ngũ tri thức là luôn luôn phải giữ gìn, bảo
vệ sự giàu có và ngôn ngữ trong sáng của Tiếng Việt
Hơn nữa, những thay đổi quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa, giáo dục những thành tựu nghiên cứu của khoa học nói chung đòi hỏi phải có sự đổi mới dạy – học trong nhà trường
Hình thành ngôn ngữ cho học sinh cấp tiểu học nói chung và học sinh lớp
5 nói riêng là mục tiêu quan trọng của việc dạy từ ngữ ở cấp tiểu học Bởi vậy muốn hình thành mục tiêu này, trước hết phải phát triển, mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng
Chương trình môn tiếng Việt lớp 5 có các phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn, Chính tả, Luyện từ và câu Các phân môn yêu cầu dạy tích hợp
ít nhiều gây khó khăn cho người dạy lẫn người học Vì vậy cần có thêm những cuốn sách tham khảo dưới nhiều hình thức cho giáo viên và học sinh
để góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy- học
Đến nay đã có một số sách tham khảo cho từng lớp nhưng chưa thấy một công trình nghiên cứu nào xây dựng một hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm cho học sinh lớp 5 một cách toàn diện
Chính vì những lí do nói trên mà chúng tôi lựa chọn đề tài: “Xây dựng hệ
thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm trong phân môn luyện từ và câu cho học sinh lớp 5”
Trang 92 Lịch sử vấn đề
Chương trình phân môn Luyện từ và câu trong sách tiếng Việt lớp 5 tuy mới được thực hiện vài năm gần đây nhưng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến phân môn này Các công trình nghiên cứu đó hoặc là những vấn đề lí thuyết bàn về các phương pháp dạy, hoặc là những hệ thống bài tập được tác giả đưa ra để làm tài liệu tham khảo cho các giờ dạy – học có thể dẫn
ra một số công trình tiêu biểu
Trong cuốn Hỏi - Đáp về dạy học tiếng Việt 5,[30], tác giả Nguyễn Minh
Thuyết đã đề cập đến nhiều vấn đề xoay quanh môn Luyện từ và câu thông qua hệ thống câu hỏi và câu trả lời Đặc biệt tác giả đưa ra một số kiểu bài tập rèn luyện về từ và câu ở lớp 5, kèm theo hướng dẫn cách dạy kiểu bài đó Đóng góp của công trình này đã giải đáp một số thắc mắc của giáo viên về một số nội dung trong chương trình Tiếng Việt 5 Những bài tập đưa ra làm ví
dụ minh họa trong cuốn sách này được lấy từ sách giáo khoa Tiếng Việt 5 nên đều là những bài tập quen thuộc với cả giáo viên và học sinh, và chưa có tính
hệ thống
Các tác giả cuốn Tiếng Việt nâng cao 5, [18], đã hệ thống các bài học
Tiếng Việt trong chương trình hiện hành và có mở rộng nâng cao một số dạng bài mới, nhằm giúp học sinh luyện kĩ năng thực hành bài tập vào vở không cần phải tốn thì giờ ghi lại nội dung bài
Cuốn Luyện từ và câu lớp 5,[32], của tác giả Đặng Mạnh Thường đã hệ
thống các bài tập trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5 và có mở rộng nâng cao một số bài tập mới Cuốn sách gồm 4 chương: Chương 1: Một số điểm cần lưu ý về môn tiếng Việt và phân môn luyện từ và câu ở lớp 5; Chương 2, 3 trình bày cách dạy và học từng bài luyện từ và câu ở kì I, kì II; Chương 4: Tổng kết các kiến thức cơ bản về Tiếng Việt ở bậc tiểu học Ở chương 1, ngoài mục đích và yêu cầu chung, tác giả của cuốn sách đã chỉ rõ mức độ yêu cầu trong từng nội dung Luyện từ và câu Chẳng hạn, về mức độ yêu cầu của
Trang 10nội dung luyện từ học sinh lớp 5 phải nắm được khoảng 400 đến 450 từ thuộc
10 chủ điểm trong sách giáo khoa, biết nghĩa của một số thành ngữ tục ngữ gắn với chủ điểm, nhận biết được một số biện pháp tu từ phổ biến như: so sánh, nhân hóa, nhận biết sâu hơn ý nghĩa chung của từng lớp từ đã học ở lớp 4
Về mức độ yêu cầu của nội dung luyện câu, học sinh phải nhận biết được được câu trong nội dung lời nói và câu trong văn bản dựa trên tính tương đối trọn vẹn về nghĩa, nhận biết các bộ phận chính trong những kiểu câu phổ biến
Ở chương 2, chương 3, tác giả trình bày cách dạy và học, giải bài tập luyện từ và câu trong sách giáo khoa tương đối kĩ càng, bài bản Hệ thống bài tập bổ sung của cuốn sách cũng phù hợp với nội dung chương trình và trình
độ của học sinh Song hệ thống bài tập ở đây chỉ dừng lại ở một số bài tập quen thuộc, ít thấy dạng bài tập nâng cao và dạng bài tập sử dụng trò chơi ngôn ngữ để giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thực hiện trong giờ ngoại khoá Chương 4, tác giả đã tổng kết các kiến thức cơ bản về Tiếng Việt ở bậc tiểu học nói chung như: Những kiến thức sơ giản về từ, những kiến thức sơ giản về câu Tác giả đã tổng kết khá chi tiết và kĩ càng về các kiến thức về từ
và câu trong chương trình ở bậc tiểu học
Cùng nghiên cứu về hệ thống bài tập trong phân môn Luyện từ và câu,
cuốn Bài tập trắc nghiệm Tiếng Việt 5, [12], tác giả Nguyễn Thị Hạnh đã xây
dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm theo 5 phân môn trong chương trình tiếng Việt 5, đó là các phân môn: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Đọc hiểu và Tập làm văn Hệ thống bài tập này ứng với nội dung theo tuần Nội dung các bài tập trắc nghiệm phần lớn bám sát các yêu cầu của từng bài học trong sách Tiếng Việt 5 Hình thức trắc nghiệm của các bài tập khá phong phú Cuốn sách đưa ra một số dạng bài tập như:
- Chọn một phương án trả lời đúng trong nhiều phương án trả lời
- Chọn những phương án trả lời đúng cho một câu hỏi, trong số nhiều phương án trả lời
Trang 11- Bài tập nối cặp đôi
Có thể nói đây là một tài liệu tham khảo tốt cho giáo viên và học sinh khi dạy học môn Tiếng Việt trong chương trình lớp 5 Tuy nhiên hệ thống bài tập được trình bày ở đây mới là kiểu “Trắc nghiệm” nên còn đơn điệu Hơn nữa,
hệ thống bài tập này cũng chưa được sắp xếp theo chủ điểm nên cũng chưa thật thuận tiện cho người sử dụng
Trên đây là một số công trình nghiên cứu mà khóa luận đã tìm hiểu, các công trình đều hướng tới mục đích làm thế nào để dạy và học môn Tiếng Việt lớp 5 một cách có hiệu quả Đã có những công trình nghiên cứu chú trọng việc xây dựng hệ thống bài tập nhưng số lượng bài tập còn hạn chế, kiểu loại bài tập còn chưa phong phú đa dạng Đặc biệt chưa có một công trình nào xây dựng được hệ thống bài tập theo chủ điểm dưới nhiều dạng bài tập Chính vì vậy chúng tôi mạnh dạn xây dựng hệ thống bài tập về mở rộng vốn từ theo chủ điểm trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những thành tựu nghên cứu của người đi trước
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu một số cơ sở lí thuyết và cơ sở thực tiễn liên quan đến đề tài
- Xây dựng một số hệ thống bài tập đa dạng theo chủ điểm trong chương trình phân môn Luyện từ và câu lớp 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 12Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm được sử dụng trong phân môn Luyện từ và câu ở chương trình
tiếng Việt lớp 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Chương trình phân môn luyện từ và câu trong sách tiếng Việt 5 bao gồm
10 chủ điểm, khóa luận chỉ giới hạn nghiên cứu ở 5 chủ điểm đó là:
- Chủ điểm: Việt Nam Tổ quốc em
- Chủ điểm: Cánh chim hòa bình
- Chủ điểm: Con người với thiên nhiên
- Chủ điểm: Giữ lấy màu xanh
- Chủ điểm: Nhớ nguồn
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp thống kê - phân loại
- Phương pháp phân tích – tổng hợp
- Thủ pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp điều tra
6 Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận khóa luận này gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm trong phân
môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở thực lí luận
1.1.1 Các vấn đề lí thuyết về tiếng Việt
1.1.1.1 Khái niệm từ tiếng Việt
Có nhiều định nghĩa của các tác giả khác khau về từ tiếng Việt như:
Theo Nguyễn Thiện Giáp , ông đã định nghĩa từ như sau: “Từ là đơn vị có
ý nghĩa nhỏ nhất của lời nói, có tính độc lập” Đến năm 1985, khi cuốn “Từ vựng học Tiếng Việt” của ông xuất bản, ông khẳng định: “ Từ của Tiếng Việt
là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một chữ viết lời”.[6; 11]
Cùng nghiên cứu về từ Tiếng Việt tác giả Hồ Lê lại viết: “Từ là đơn vị
ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa”.[7;15]
Tác giả Đỗ Hữu Châu định nghĩa về từ được hiểu một cách đơn giản như
sau: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang
những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiếu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để cấu tạo câu.” [16;4]
Khóa luận chúng tôi nhất trí sử dụng định nghĩa của tác giả Đỗ Hữu Châu
về từ để làm cơ sở lí luận xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ
điểm trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5
1.1.1.2 Các thành phần ý nghĩa của từ tiếng Việt
Tùy theo các chức năng mà từ đang đảm nhiệm, trong ý nghĩa của từ có thành phần cơ bản sau đây:
- Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật;
Trang 14- Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm;
- Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái;
Ba thành phần ý nghĩa trên được gọi chung là ý nghĩa từ vựng Ý nghĩa từ vựng thường được đối lập với ý nghĩa thứ 4 đó là:
- Ý nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngữ pháp
Các ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp có tính chất tương đối cố định, bền vững Chúng là những sự kiện thuộc cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn ngữ Chúng là ý nghĩa ngôn ngữ, tức là chúng không phải chỉ do quan hệ giữa từ với các yếu tố ngoài ngôn ngữ mà có Chúng còn do quan hệ về ý nghĩa giữa
từ này với từ khác trong ngôn ngữ quy định nên
a) Ý nghĩa biểu vật
Sự vật, hiện tượng, đặc điểm ngoài ngôn ngữ được biểu thị tạo nên ý nghĩa biểu vật của từ Ý nghĩa biểu vật bắt nguồn từ những sự vật, hiện
tượng, có trong thực tế Nói cách khác, “ý nghĩa biểu vật là sự phản ánh sự
vật, hiện tượng trong thực tế vào ngôn ngữ [108; 4] Đó là những mẩu,
những mảnh, những đoạn cắt của thực tế Nói như vậy có nghĩa là, biểu vật của từ không đồng nhất với các sự vật, hiện tượng, hành động, mà chỉ gợi ra
sự vât, hiện tượng, hành động
b) Ý nghĩa biểu niệm
Ý nghĩa biểu niệm của là: “tập hơp tất cả các nét nghĩa chung và
riêng,khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định Giữa các nét nghĩa có những quan hệ nhất định Tập hợp này ứng với một hoặc một số ý nghĩa biểu vật của từ.”[118;4]
Ý nghĩa biểu niệm là tập hợp của một số nét nghĩa
Đó là sự liên hệ giữa từ với ý Ví dụ: “búa” là dụng cụ gồm một khối
nguyên lực rắn có trọng lượng đủ lớn để tạo ra một lực tác công bằng thao tác
gõ, nện
Trang 15c) Ý nghĩa biểu thái
Nghĩa biểu thái là mối liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của
người nói
Sự vật, hiện tượng được biểu thị trong ngôn ngữ đều là những sự vât, hiện tượng đã được nhận thức, được thể hiện bởi con người Do đó cùng với tên gọi, con người gửi kèm những cách đánh giá của mình và chính mình nhiều khi không tự biết
VD: Cùng để gọi, xưng hô về người phụ nữ có những từ ngữ khác nhau
như: bà, cô, quý bà, quý cô, mụ
Trong đó, có những từ gợi cho ta thái độ cảm xúc tôn trọng: quý bà, quý
cô.Có những từ lại gợi cho ta cảm giác bình thường: cô, bà Hoặc có những từ
bộc lộ sự khinh bỉ: mụ
Tóm lại, ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm, ý nghĩa biểu thái là các loại nghĩa tạo nên ý nghĩa từ vựng của từ Tuy nhiên vì từ là một thể thống nhất, cho nên mỗi thành phần ý nghĩa là những phương diện khác nhau của thể thống nhất đó Sự hiểu biết đầy đủ về ý nghĩa của từ phải là sự hiểu biết thấu đáo từng mặt nhưng cũng phải là sự hiểu biết tổng quát về những mối liên hệ
quy định lẫn nhau giữa chúng
1.1.1.3 Tính hệ thống của từ ngữ và việc xây dựng bài tập mở rộng vốn từ
Việc cung cấp vốn từ cho HS tiểu học bao giờ cũng thực hiện theo từng chủ đề, chủ điểm nhằm làm phong phú, chính xác hóa và tích cực hóa vốn từ cho HS Hay nói cách khác việc mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học luôn đảm bảo tính hệ thống giúp các em tiếp thu từ ngữ một cách khoa học Sau đây là một số kiến thức có liên quan đến vấn đề mở rộng cho học sinh
a) Tính hệ thống của từ ngữ
Hệ thống là gì? Theo từ điển tiếng Việt “Hệ thống là tập hợp nhiều yếu
tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau
Trang 16chặt chẽ làm thành một thể thống nhất” Nói cách khác, hệ thống là tập hợp
các yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau và nằm trong một chỉnh thể
Nói đến hệ thống cần có hai điều kiện: tập hợp các yếu tố và các mối quan
hệ, liên hệ lẫn nhau giữa các yếu tố
Nói một cách khái quát, từ ngữ của bất kì ngôn ngữ nào cũng không phải tập hợp hỗn độn, cô lập, tồn tại lẻ tẻ, rời rạc mà giữa chúng luôn chứa đựng những mối dây quan hệ Nhờ mối dây quan hệ này từ ngữ được sắp xếp, tổ chức theo những trật tự, những kiểu, những phạm vi, những lớp, vùng, miền nhất định
Tập hợp những từ ngữ gắn kết với nhau bằng các mối liên hệ là một tập hợp từ có tính hệ thống Hai mối quan hệ thường được nhắc đến khi xem xét
hệ thống là quan hệ đồng nhất và quan hệ đối lập, dựa vào quan hệ đồng nhất
để tập hợp từ thành một hệ thống và dựa vào quan hệ đối lập để xác định giá trị của các yếu tố trong hệ thống Từ các tiêu chí khác nhau có thể nghiên cứu tính hệ thống của từ theo các trường khác nhau
b)Trường từ ngữ và việc xây dựng bài tập mở rộng vốn từ
* Trường cấu tạo
Trường cấu tạo được hiểu một cách khái quát là tập hợp các từ có điểm đồng nhất về đặc điểm cấu tạo Có thể đồng nhất về dặc điểm cấu tạo hoặc yếu tố cấu tạo
- Về kiểu cấu tạo
Xét về kiểu cấu tạo tiếng Việt có hai loại từ: từ đơn và từ phức Trong từ
phức lại chia thành từ ghép và từ láy Đứng trước các từ như: anh, em, xe đạp,
đất nước, xe cộ, tốt đẹp, xấu xí, chăm chỉ, lành lặn ta có thể phân lập chúng
thành hai trường dựa vào điểm đồng nhất về yếu tố cấu tạo
+ Trường các từ ngữ được cấu tạo bởi phương thức ghép: anh em, xe đạp,
đất nước, tốt đẹp
Trang 17+ Trường các từ ngữ được cấu tạo bằng phương thức láy: xấu xí, chăm
+ Trường các từ có yếu tố “nhỏ” được cấu tạo từ phương thức láy: nhỏ
nhắn, nhỏ nhẻ, nho nhỏ, nhỏ nhoi, nhỏ nhen
Tuy nhiên , toàn bộ các từ được nêu có thể lập thành một trường các từ có
chung yếu tố cấu tạo “nhỏ”
Xuất phát từ những hiểu biết trên, các nhà soạn sách giáo khoa đã xây dựng các bài tập tập hợp từ dựa trên một số điểm đồng nhất nào đó về đặc điểm cấu tạo
*Trường nghĩa
Do quá lớn và quá phức tạp, những liên hệ trong từ vựng không hiện ra một cách trực tiếp giữa các từ lựa chọn ngẫu nhiên Những quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đặt được các từ (nói đúng ra là các ý nghĩa của từ) vào những hệ thống con thích hợp Nói cách khác tính hệ thống về ngữ nghĩa của các tiểu từ vựng thể hiện qua các tiểu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa các tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng
Theo các thành phần ý nghĩa của từ sẽ có hai trường nghĩa lớn là trường biểu vật và trường biểu niệm
- Trường nghĩa biểu vật
Trang 18“Trường nghĩa biểu vật là tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật” [117; 4] Hay nói cách khác là tập hợp những từ cùng biểu thị một phạm
vi, sự vật, hiện tượng thực tế khách quan
Muốn lập một trường nghĩa biểu vật người ta phải dựa trên ý nghĩa biểu vật của từ tức là dựa trên ý nghĩa gọi tên các sự vật Căn cứ để xác lập là lấy một danh từ có ý nghĩa khái quát làm tiêu chí để tập hợp, sau đó tìm tất cả những từ có ý nghĩa biểu vật cùng với danh từ có thể đưa vào trường
VD: Với từ “tay” chúng ta có các trường biểu vật sau:
+ Đặc điểm ngoại hình của tay: búp măng, dùi đục, thô, cứng, mềm mại + Bộ phận của tay: cánh tay, bàn tay, cổ tay,ngón tay, đốt tay, móng tay + Hoạt động của tay: ấn, bấm, đẩy, bẻ,băm, bóp
+ Dụng cụ để che, phủ: màn, mùng, chăn, chiếu
Sự phân lập từ vựng thành trường biểu vật và trường biểu niệm dựa trên
sự phân biệt hai thành phần nghĩa trong từ Nó phản ánh cách nhìn từ vựng ở hai góc độ khác nhau Tuy nhiên, hai loại trường dọc này có liên hệ với nhau Nếu lấy những nét nghĩa biểu vật trong cấu trúc biểu niệm làm tiêu chí lớn để
Trang 19tập hợp thì chúng ta có các trường biểu vật Nhưng khi cần phân lập một trường biểu vật thành các trường nhỏ thì lại phải dựa vào các nét nghĩa khác nhau trong cấu trúc biểu niệm
- Trường nghĩa tuyến tính (trường nghĩa ngang)
Để lập nên các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả các từ có thể kết hợp với nó thành chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ
VD: Trường tuyến tính của từ “tay” là búp măng, mềm, ấm, nắm, cầm, khoác
Các từ trong một trường tuyến tính là những từ thường xuất hiện với từ trung tâm trong các loại ngôn bản Các từ cùng nằm trong một trường tuyến tính có quan hệ với nhau không chỉ về phương diện nôi dung mà còn cả về phương diện ngữ pháp
Các trường tuyến tính làm sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và những đặc điểm hoạt động của từ
- Trường liên tưởng
Là tập hợp bao gồm những từ cùng nằm trong trường biểu vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính, tức là những từ có quan hệ đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm Trong trường liên tưởng còn có nhiều từ khác được liên tưởng tới do xuất hiện đồng thời với từ trung tâm trong ngữ cảnh có chủ đề tương đối đồng nhất, lặp đi lặp lại ý nghĩa biểu vật có những
từ trong trường liên tưởng giống nhau nhưng có những từ khác nhau về nghĩa
Do tính chất này các trường liên tưởng thường không ổn định nên ít có tác dụng phát hiện những quan hệ cấu trúc về ngữ nghĩa của các từ và từ vựng Nhưng trường liên tưởng có hiệu lực lớn giải thích sự dùng từ, nhất là sự dùng từ trong các tác phẩm văn học, giải thích các hiện tượng sáo ngữ, sự ưa thích lựa chọn từ ngữ nào đó để nói hay viết, sự tránh né đến kiêng kị những
từ nhất định
Trang 20Tóm lại: khi nói đến các kiểu quan hệ của ngôn ngữ là nói đến hai dạng
quan hệ là quan hệ dọc và quan hệ ngang Theo hai dạng quan hệ đó có thể có hai loại trường nghĩa là trường nghĩa dọc quan hệ dọc (trường nghĩa trực tuyến bao gồm trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm) và trường
nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính)
1.1.2 Mục tiêu của việc dạy từ ngữ cho học sinh
1.1.2.1 Hình thành và rèn luyện năng lực từ ngữ cho học sinh
Có thể nói rằng rằng mục tiêu quan trọng nhất của việc dạy từ ngữ cho học sinh nói chung và học sinh cấp tiểu học nói riêng là rèn luyện năng lực từ ngữ cho các em
a) Năng lực từ ngữ là gì?
Theo tâm lí học, năng lực được hiểu là “một tổ hợp các kĩ năng cho phép
nhận biết và giải quyết tình huống” [12; 33]
Năng lực ngôn ngữ là vốn ngôn ngữ và khả năng sử dụng vốn ngôn ngữ
đó trong thực tế giao tiếp Năng lực từ ngữ là một bộ phận của năng lực ngôn
ngữ, bao gồm vốn từ và kĩ năng sử dụng vốn từ ấy để tạo lập và lĩnh hội ngôn bản
Như vậy, để có năng lực ngôn ngữ nói chung và năng lực từ ngữ nói riêng được tốt, trước hết mỗi cá nhân phải có một vốn từ nhất định, sau đó phải nắm được nghĩa và kĩ năng sử dụng chúng trong mọi tình huống
b) Vốn từ của mỗi cá nhân và vốn từ của học sinh tiểu học
- Vốn từ của mỗi cá nhân: “Vốn từ của cá nhân là toàn bộ các từ và các
đơn vị tương đương từ của ngôn ngữ được lưu giữ trong trí óc của cá nhân và được cá nhân đó sử dụng trong hoạt động giao tiếp” [14; 33]
Vốn từ của cá nhân luôn biến động và phát triển theo độ tuổi, môi trường sống và những hoạt động của cá nhân đấy Đánh giá vốn từ của cá nhân,
chúng ta “cần phải nhìn về cả phương diện số lượng và chất lượng” [15; 33]
- Vốn từ của học sinh tiểu học
Trang 21Khó có thể thống kê một cách chính xác vốn từ của mỗi cá nhân nói chung và học sinh tiểu học nói riêng, bởi vốn từ luôn là hệ thống mở Tuy nhiên đã có một và công trình nghiên cứu đã đưa ra một số liệu cụ thể về vốn
từ của học sinh tiểu học [16, 21; 33] Có tác giả ước tính học sinh khi học xong tiểu học sẽ có vốn từ khoảng 1200 từ
- Vốn từ của học sinh tiểu học cũng có thể hình thành từ 2 con đường: hình thành theo con đường tự nhiên và hình thành theo con đường tự giác có ý thức
- Vốn từ của học sinh tiểu học hình thành theo con đường tự nhiên, vô thức lệ thuộc nhiều vào môi trường sống Một số nhà nghiên cứu đã cho ta thấy, một học sinh được sống trong môi trường phong phú, số lượng từ của các em nhiều hơn 1,2 lần số lượng của một học sinh sống trong môi trường bình thường [23; 33]
Những kết luận bước đầu của các nhà nghiên cứu cho ta thấy vấn đề vốn
từ của học sinh tiểu học là một vấn đề phức tạp Phần lớn các tác giả đều nhận
định “do vốn từ của học sinh tiểu học chủ yếu hình thành qua cách học tự
nhiên, vô thức, dựa vào ngữ cảnh, vào tình huống giao tiếp để phỏng đoán nghĩa của từ cho nên trong vốn từ này, có một số từ không được hiểu đúng
về âm thanh – chữ viết, học sinh hiểu sai hoặc chưa đầy đủ về nghĩa, sử dụng
từ không đúng hoặc chưa thích hợp ” [25; 33]
- Phương pháp mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học
Dạy mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học theo Lê Hữu Tỉnh là phải dựa vào quy luật nhận thức (quy luật tiếp nhận từ ngữ) của con người nói chung trẻ em nói riêng Đồng thời phải dựa vào quy luật liên tưởng của con người,
cụ thể dựa trên quan hệ liên tưởng giữa các từ trong đàu óc con người [25; 33]
Từ ngữ tích lũy trong đầu óc học sinh không phải là một sự sắp xếp lộn xộn mà tạo thành những hệ thống liên tưởng nhất định Chính vì đặc điểm này
mà khi mở rộng vốn từ cho học sinh, giáo viên cần phải chú ý đến quy luật liên tưởng để cung cấp các từ ngữ cần thiết cho các em
Trang 22Theo hệ thống liên tưởng, giáo viên có thể mở rộng vốn từ cho các em bằng cách cung cấp từ trái nghĩa, từ cùng nghĩa hoặc gần nghĩa, những từ có
quan hệ ngữ nghĩa với nhau Chẳng hạn, gặp từ “Tổ quốc” có thể mở rộng
vốn từ cho các em bằng cách có thể mở rộng vốn từ cho các em bằng cách
cung cấp (hoặc hướng dẫn các em) tìm những từ ngữ cùng nghĩa: non sông,
đất nước, quốc gia
Ngoài phương pháp cung cấp (hoặc hướng dẫn các em) tìm những từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa, có quan hệ ngữ nghĩa với từ cho trước, chúng ta còn có thể hướng dẫn học sinh mở rộng vốn từ dựa vào việc cung cấp cho các em những từ ghép hay từ láy cùng gốc như: gặp từ xanh, có thể cung cấp cho các
em những từ chỉ màu xanh có cùng hình vị gốc như: xanh lè, xanh biếc, xanh
thẫm, xanh nhạt, xanh da trời
1.1.2.2 Rèn luyện kĩ năng sử dụng vốn từ cho học sinh tiểu học
Nếu chỉ có vốn từ trong đầu mà không biết sử dụng những từ đó trong từng hoàn cảnh giao tiếp thì vốn từ đó cũng chỉ là một từ chết Cho nên, rèn luyện năng lực từ ngữ cho học sinh không chỉ dừng lại ở việc mở rộng vốn từ (cung cấp từ) mà còn phải dạy các em biết cách sử dụng và cao hơn nữa là sử dụng tốt vốn từ đó
Trước khi dạy các em sử dụng vốn từ đã có, cần phải dạy các em nắm chắc nghĩa của những từ đó Có nhiều cách giải nghĩa từ như: giải nghĩa từ bằng cách chỉ ra nét nghĩa của từ đã được liệt kê trong từ điển, giải nghĩa từ bằng cách dẫn ra những từ đồng nghĩa, trái nghĩa với chúng
Cần chú rằng, khi tổ chức dạy học sinh nắm nghĩa của từ cần phải lựa chọn từ để giải nghĩa Những từ được lựa để giải nghĩa cho các em phải dựa
trên nguyên tắc tính vừa sức, tính cần thiết và đặc biệt phải là những từ trung
tâm của chủ đề
Trang 23Khi các em đã nắm chắc được nghĩa của từ, bước tiếp theo của việc rèn luyện năng lực từ ngữ là dạy các em những từ đã có
Phương pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng từ cho học sinh rất đa dạng nhưng cách thông dụng và phù hợp nhất là yêu cầu và hướng dẫn các em làm bài tập Các bài tập rèn luyện kĩ năng dùng từ cho học sinh thường gặp là: điền từ vào chỗ trống (dạng bài tập điền khuyết), đặt câu (hoặc tạo cụm từ) với từ cho
trước, viết đoạn văn với một số từ cho sẵn, chữa lỗi dùng từ
1.1.3 Chương trình phân môn Luyện từ và câu trong tiếng Việt 5
Môn tiếng Việt 5 gồm 6 phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện
từ và câu, Tập viết, Tập làm văn Phân môn Luyện từ và câu hay được dạy 2
tiết một tuần
1.1.3.1 Mục tiêu, vị trí của phân môn Luyện từ và câu
Kế thừa và phát huy những ưu điểm của chương trình cũ đồng thời cũng
để tạo ra phong thái mới trong dạy học hiện nay, chương trình sách giáo khoa mới ra đời với mong muốn sẽ giúp học sinh tiếp cận một cách dễ dàng hơn với môn tri thức mới Luyện từ và câu Phân môn Luyện từ và câu sẽ giúp học sinh:
- Mở rộng, hệ thống hóa vốn từ và trang bị cho học sinh một số hiểu biết
sơ giản về từ và câu
- Rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu câu
- Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu, rèn luyện ý thức sử dụng Tiếng Việt có văn hóa trong giao tiếp
Với mục tiêu như vậy, việc dạy Luyện từ và câu chiếm vị trí hết sức to lớn trong nhà trường , nhằm cung cấp cho các em những tri thức cần thiết để đi
sâu vào tìm hiểu những lĩnh vực khác
1.1.3.2 Nội dung phân môn Luyện từ và câu trong tiếng Việt 5
Nội dung chính của phân môn Luyện từ và câu trong tiếng Việt 5 là:
- Mở rộng vốn từ (theo chủ điểm)
Trang 241.1.4 Các loại bài tập mở rộng vốn từ trong sách giáo khoa tiếng Việt 5
Loại bài tập mở rộng vốn từ chiếm tỉ lệ cao nhất so với các bài tập từ ngữ
khác (khoảng 50 %)
1.1.4.1 Bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm
Các từ ngữ cùng chủ điểm có thể được tìm trong văn bản đã học hoặc ngoài văn bản đã học Chỉ có điều sách giáo khoa không cung cấp hay áp đặt cho học sinh một danh sách từ có sẵn để các em học thuộc lòng mà chỉ nêu định hướng để các em dựa vào những văn bản đã học hoặc huy động vốn từ tiềm tàng của bản thân và của bạn bè trong lớp đưa các từ ấy vào một hệ thống dễ kiểm soát và vận dụng
VD1: Trong từ Tổ quốc, tiếng quốc có nghĩa là nước Em hãy tìm thêm những từ chứa tiếng quốc
VD2: Xếp những từ chứa tiếng hữu dưới đây thành hai nhóm a và b :
hữu nghị, hữu hiệu, chiến hữu, hữu tình, thân hữu, hữu ích, hữu hảo, bằng hữu, bạn hữu, hữu dụng
VD3: Xếp các từ có tiếng hợp cho dưới đây thành hai nhóm a và b:
Trang 25hợp tình, hợp tác, phù hợp, hợp thời, hợp lệ, hợp nhất, hợp pháp, hợp lực, hợp lí, thích hợp
a, Hợp có nghĩ là “gộp lại” (thành cái lớn hơn) M: hợp tác
b, Hợp có nghĩa là “đúng với yêu càu đòi hỏi nào đó” M: thích hợp
1.1.4.2 Bài tập mở rộng vốn từ theo ý nghĩa khái quát
VD: Tìm trong các thành ngữ, tục ngữ sau những từ chỉ sự vật, hiện tượng
trong thiên nhiên:
1.1.4.3 Bài tập mở rộng vốn từ theo cấu tạo từ
VD: Ghép các tiếng bảo (có nghĩa là “giữ, chịu trách nhiệm”) với mỗi
tiếng sau để tạo thành từ phức và tìm hiểu nghĩa của mỗi từ đó (có thể sử
dụng Từ điển tiếng Việt) :
đảm, hiểm, quản, toàn, tồn, trợ, vệ
1.1.4.4 Bài tập mở rộng vốn từ qua trò chơi ô chữ
VD: Mỗi câu tục ngữ ca dao hoặc câu thơ dưới đây đều nói đến một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta Hãy điền những tiếng còn thiếu trong các
câu ấy vào các ô trống theo hàng ngang để giải ô chữ hình chữ S
1, Muốn sang thì bắc
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy
Trang 261.1.5 Một số đặc điểm tâm lí học sinh tiểu học
1.1.5.1 Đặc điểm nhận thức cảu học sinh tiểu học
a) Chú ý của học sinh tiểu học
* Đặc điểm chú ý của học sinh tiểu học
- Cả hai loại chú ý đều được hình thành và phát triển ở học sinh tiểu học, chú ý không chủ định đã có trước 6 tuổi và tiếp tục phát triển, những gì mới
lạ, hấp dẫn dễ dàng gây chú ý không chủ định của học sinh Do có sự chuyển hóa giữa hai loại chú ý này nên khi học sinh chú ý không chủ định, giáo viên đưa ra câu hỏi để hướng dẫn học sinh vào nội dung bài học thì chú ý không chủ định chuyển hóa thành chú ý có chủ định Chú ý có chủ định ở giai đoạn này được hình thành và phát triển mạnh Sự hình thành chú ý này là đáp ứng nhu cầu hoạt động học, ở giai đoạn đầu cấp chú ý có chủ định được hình thành nhưng chưa ổn định, chưa bền vững Vì vậy để duy trì nó nội dung mỗi tiết học phải trở thành đối tượng hoạt động của học sinh, ở cuối cấp chú ý có chủ định bắt đầu ổn định và bền vững
- Các thuộc tính chú ý được hình thành và phát triển mạnh ở học sinh tiểu học Ở giai đoạn đoạn đầu cấp khối lượng chú ý của học sinh còn hạn chế, học sinh chưa biết tập trung chú ý của mình vào nội dung bài học, chưa có khả năng phân phối chú ý giữa các hoạt động diễn ra cùng một lúc Ở giai đoạn 2 của cấp học khối lượng chú ý được tăng lên, học sinh có khả năng phân phối chú ý giữa các hành động, biết định hướng chú ý của mình vào nội dung cơ bản của tài liệu
Trang 27b) Trí nhớ của học sinh tiểu học
* Khái niệm trí nhớ
Trí nhớ là quá trình tâm lí giúp học sinh ghi lại, giữ lại những tri thức cũng như cách thức tiến hành hoạt động học mà các em tiếp thu được khi cần
có thể nhớ lại được, nhận lại được
Có hai loại trí nhớ: trí nhớ có chủ định và trí nhớ không chủ định
* Đặc điểm trí nhớ của học sinh tiểu học
- Cả hai loại trí nhớ đều được hình thành và phát triển ở học sinh tiểu học Trí nhớ không chủ định tiếp tục phát triển nếu tiết học của giáo viên tổ chức không điều khiển học sinh hành động để giải quyết các nhiệm vụ học thì dễ dàng rơi vào ghi nhớ không chủ định
Do yêu cầu hoạt động học trí nhớ có chủ định hình thành và phát triển Học sinh phải nhớ công thức, ghi nhớ, định nghĩa, khái niệm để vận dụng giải bài tập hoặc tiếp thu tri thức mới, ghi nhớ này buộc học sinh phải sử dụng
cả hai phương pháp của trí nhớ có chủ định: ghi nhớ máy móc và ghi nhớ ý nghĩa
- Trí nhớ trực quan hình ảnh phát triển mạnh hơn trí nhớ từ ngữ trừu tượng nghĩa là tài liệu, bài học có kèm theo tranh ảnh thì học sinh ghi nhớ tốt hơn so sới tài liệu, bài học không có tranh ảnh
c) Tưởng tượng của học sinh tiểu học
Trang 28sự vật bị biến đổi nằm trong mối quan hệ mới Tập hợp, sáng tạo, khái quát các đặc điểm điển hình đại diện cho một lớp đối tượng sự vật cùng loại
* Đặc điểm tưởng tượng của học sinh tiểu học
- Tính có mục đích, có chủ định của tưởng tượng học sinh tiểu học tăng lên rất nhiều so với trước 6 tuổi Do yêu cầu của hoạt động học, học sinh muốn tiếp thu tri thức mới thì phải tạo cho mình các hình ảnh tưởng tượng
- Hình ảnh tưởng tượng còn rời rạc, đơn giản chưa ổn định thể hiện rõ ở những học sinh cấp đầu tiểu học Do những nguyên nhân sau:
+ Học sinh thường dựa vào những chi tiết hấp dẫn, những đặc điểm hấp dẫn, mới lạ bề ngoài của sự vật, hiện tượng để tạo ra hình ảnh mới
+ Vốn kinh nghiệm của học sinh hạn chế vì tưởng tượng phải dựa vào hình ảnh đã biết
+ Tư duy của học sinh đầu cấp tiểu học vẫn còn là tư duy cụ thể, ở cuối cấp học hình ảnh tưởng tượng hoàn chỉnh hơn về kết cấu, chi tiết, tính lôgic
- Tính trực quan trong hình ảnh tưởng tượng giảm dần từ lớp 1 đến lớp 5;
ở học sinh đầu cấp tiểu học tính trực quan thể hiện rất rõ trong hình ảnh trừu tượng Đến lớp 4,5 hình ảnh trừu tượng bắt đầu mang tính khái quát
d) Tư duy của học sinh tiểu học
* Khái niệm tư duy của học sinh tiểu học
Tư duy của học sinh tiểu học là quá trình các em hiểu được, phản ánh được bản chất của đối tượng, của các sự vật, hiện tượng được xem xét nghiên cứu trong quá trình học tập ở học sinh
Có hai loại tư duy: Tư duy kinh nghiệm (tư duy cụ thể) chủ yếu hướng vào giải quyết các nhiệm vụ cụ thể dựa vào vật thật hoặc các hình ảnh trực quan Tư duy trừu tượng (tư duy lí luận) hướng vào giải quyết các nhiệm vụ lí luận dựa vào ngôn ngữ, sơ đồ, các kí hiệu quy ước
* Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học
Trang 29Do hoạt động học đƣợc hình thành ở học sinh tiểu học qua hai giai đoạn nên tƣ duy của học sinh cũng đƣợc hình thành qua hai gai đoạn
- Giai đoạn 1: Đặc điểm tƣ duy học dinh lớp 1, 2, 3
Ở giai đoạn này tƣ duy cụ thể của học sinh vẫn đƣợc hình thành và phát triển và tƣ duy trừu tƣợng bắt đầu đƣợc hình thành Tƣ duy cụ thể đƣợc thể hiện rõ ở học sinh lớp 1, lớp 2 nghĩa là học sinh tiếp thu tri thức mới phải tiến hành các thao tác với vật thật hoặc các hình ảnh trực quan
VD: Khi dạy về cấu tạo ngữ âm của tiếng, học sinh phải dựa vào hệ chữ cái tiếng Việt
Tƣ duy trừu tƣợng bắt đầu đƣợc hình thành bởi tri thức các môn học là các tri thức khái quát
-Giai đoạn 2: Đặc điểm tƣ duy của học sinh lớp 4, lớp 5
+ Tƣ duy trừu tƣợng bắt đầu chiếm ƣu thế so với tƣ duy cụ thể nghĩa là học sinh tiếp thu tri thức của các môn học bằng cách tiến hành các thao tác tƣ duy với ngôn ngữ, với các loại kí hiệu quy tắc
VD: Học sinh sử dụng công thức tính diện tích hình tam giác để tìm công thức tính diện tích hình thang
+ Các thao tác tƣ duy đã liên kết với nhau thành một chỉnh thể có cấu trúc hoàn chỉnh
+ Thao tác phân loại không gian, thời gian phát triển mạnh
+ Đặc điểm khái quát hóa
+ Đặc điểm phán đoán suy luận
Học sinh biết chấp nhận giả thiết trung thực
Học sinh không chỉ xác lập từ nguyên nhân đến kết quả mà còn xác lập
khái niệm từ kết quả đến nguyên nhân
1.1.5.2 Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học
a) Nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học
Trang 30* Khái niệm nhu cầu nhận thức
Nhu cầu nhận thức là một loại nhu cầu của hoạt động học hướng tới tiếp thu tri thức mới và phương pháp đạt được tri thức đó
Nhu cầu nhận thức bao giờ cũng tồn tại trong đầu học sinh dưới dạng câu hỏi tại sao? Cái đó là cái gì?
* Đặc điểm của nhu cầu nhận thức
- Nhu cầu nhận thức được hình thành và phát triển mạnh ở học sinh tiểu học
- Nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học hình thành qua hai giai đoạn b) Năng lực của học sinh Tiểu học
* Khái niệm
Năng lực học tập của học sinh là tổ hợp các thuộc tính tâm lí của học sinh đáp ứng được yêu cầu của hoạt động học đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra
có hiệu quả
Năng lực học tập của học sinh bao gồm:
- Biết định hướng nhiệm vụ học, phân tích nhiệm vụ học thành các yếu tố, mối liên hệ giữa chúng từ đó lập kế hoạch giải quyết
- Hệ thống kĩ năng, kĩ xảo cơ bản: phẩm chất nhân cách, năng lực quan sát, ghi nhớ, các phẩm chất tư duy: tính đọc lập, tính khái quát, linh hoạt
* Đặc điểm năng lực học tập của học sinh tiểu học
- Nhờ thực hiện hoạt động học mà hình thành ở học sinh những năng lực học tập với cách học và hệ thống kĩ năng học tập cơ bản
- Năng lực học tập của học sinh được chia ra làm 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn hình thành (tiếp thu cách học)
+ Giai đoạn luyện tập (vận dụng tri thức mới, cách học mới )
+ Giai đoạn vận dụng (vận dụng cách học để giải các bài tập trong vốn sống)
Để đánh giá năng lực học tập của học sinh, ta dựa vào các chỉ số sau: + Tốc độ tiến bộ của học sinh trong học tập
Trang 31+ Chất lƣợng học tập biểu hiện ở kết quả học tập
- Tình cảm đạo đức: là thái độ của học sinh đối với chuẩn mực và hành vi đạo đức
- Tình cảm trí tuệ: là những thái độ của học sinh đối với các quá trình nhận thức
- Tình cảm thẩm mĩ: là thái độ của học sinh với cái đẹp
- Tình cảm hoạt động: là thái độ đối với việc học
* Đặc điểm tình cảm của học sinh tiểu học
- Tình cảm của học sinh tiểu học gắn liền với tính trực quan hình ảnh cụ thể hay nói cách khác đối tƣợng gây ra tình cảm của học sinh là những sự vật
Trang 32- Do hứng thú với môn học chưa ổn định
- Cảm xúc chưa có quá trình liên kết, trải nghiệm
Như vậy lứa tuổi tiểu học là bước ngoặt lớn của trẻ thơ Môi trường thay đổi đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 đến 35 phút, chuyển từ hiếu kì, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá, bước đầu kiềm chế được tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỉ luật, nề nếp, chấp hành nội quy học tập Tất cả đều là thử thách của trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những điều này thì cần phải có sư quan tâm, giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học
1.2 Cơ sở thực tiễn
Cơ sở thực tiễn của hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5 là chương trình phân môn Luyện từ và câu trong sách tiếng Việt 5, thực trạng dạy và học phân môn này
và năng lực từ ngữ cho học sinh lớp 5 hiện nay
1.2.1 Thực trạng dạy học phân môn Luyện từ và câu trong sách tiếng Việt 5
Trong thời gian đi kiến tập, thực tập tại một số trường tiểu học, chúng tôi
đã tiến hành khảo sát về thực trạng dạy – học phân môn Luyện từ và câu hiện nay Do điều kiện không cho phép, chúng tôi chưa điều tra được rộng rãi ở tất
cả các trường nhưng bước đầu đã có những đánh giá sơ lược về thực trạng
dạy – học phân môn này
Trang 331.2.1.1 Thực trạng dạy của giáo viên
Bằng cách thức dự giờ lên lớp, chúng tôi đã có những kết luận bước đầu
về thực trạng dạy phân môn Luyện từ và câu trong sách tiếng Việt 5 của giáo viên như sau:
- Về lịch giảng dạy : Giáo viên thực hiện tương đối tốt lịch giảng dạy đã quy định
- Về việc soạn giáo án: Thực tế điều tra cho thấy 100% giáo viên chuẩn bị giáo án trước khi lên lớp Tuy nhiên nội dung bài soạn còn chưa sáng tạo, còn
lệ thuộc nhiều vào sách giáo khoa và sách hướng dẫn dành cho giáo viên
- Về phân bố thời gian trong một tiết học: Hầu hết các giáo viên đều biết phân chia thời gian phù hợp với dung lượng kiến thức cần trình bày
- Về phương pháp giảng dạy: Khi dạy những tiết học cụ thể, giáo viên đã
cố gắng tìm những phương pháp giảng dạy sao cho thích hợp với nội dung kiến thức cần truyền đạt, có những phương pháp được sử dụng thừng xuyên như: phương pháp đàm thoại, phương pháp thuyết trình, phưng pháp thảo luận nhóm
Ngoài những phương pháp dùng chung cho các môn học này còn thấy giáo viên sử dụng những phương pháp đặc thù: phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp phân tích theo mẫu
Sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học là việc làm cần thiết và nếu biết sử dụng các phương pháp dạy học này đúng lúc, đúng chỗ trong tiết học
sẽ mang lại hiệu quả cao trong giờ học
Thực tế điều tra của chúng tôi cho thấy: tuy có sử dụng các phương pháp dạy học nhưng khi thể hiện các phương pháp thì không phải giáo viên nào cũng thể hiện tốt Có những phương pháp dạy học mới như phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp sử dụng trò chơi ngôn ngữ, giáo viên sử dụng chưa được tốt Một số phương pháp dạy học truyền thống như phương pháp đàm
Trang 34thoại, giảng giải hầu như được giáo viên sử dụng tốt trong các tiết dạy nhưng
không phải giáo viên nào cũng sử dụng thuần thục
1.2.1.2 Thực trạng học phân môn Luyện từ và câu trong sách tiếng Việt 5
của học sinh, năng lực từ ngữ của học sinh lớp 5
a) Về thực trạng học
Điều tra của chúng tôi cho thấy nhiều em ở cấp tiểu học nói chung và ở lớp 5 nói riêng chưa có ý thức học tập Còn có nhiều em chưa hứng thú học phân môn này vì theo các em đây là một phân môn khó nhất trong chương trình môn Tiếng Việt Trên lớp các em thường học một cách thụ động: giáo viên giảng, học sinh nghe và ghi chép Khi giáo viên đưa ra bài tập, có em chỉ làm qua loa, có em không làm bài ngồi đợi các bạn và thầy cô giáo chữa bài
và chép kết quả
b)Năng lực từ ngữ của học sinh lớp 5
Khó có thể kết luận năng lực từ ngữ của học sinh lớp 5 một cách chính xác và toàn diện, bởi lẽ khảo sát vốn từ cũng như khả năng sử dụng vốn từ đó của các em là một việc làm khó khăn và phức tạp Song qua nhiều kiểu lỗi dùng từ mà học sinh lớp 5 thường mắc phải trong khi làm bài và trong giao tiếp hằng ngày có thể thấy rằng năng lực từ ngữ của các em còn chưa được tốt Nhiều em còn nhầm lẫn giữa từ đồng âm, từ gần âm Một số từ các em dùng chưa đúng do không hiểu nghĩa hoặc chưa nắm được quy tắc kết hợp
với các từ khác
1.2.2 Thực trạng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ trong sách giáo khoa
tiếng Việt 5
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát và đã thống kê được 187 bài tập Luyện từ
và câu Hệ thống bài tập này được chia làm 2 nhóm:
- Bài tập luyện từ: 138/187 bài, chiếm 73,8%
- Bài tập luyện câu: 49/187 bài, chiếm 26,2%