Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên trong điều kiện mới (LA tiến sĩ)Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên trong điều kiện mới (LA tiến sĩ)Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên trong điều kiện mới (LA tiến sĩ)Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên trong điều kiện mới (LA tiến sĩ)Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên trong điều kiện mới (LA tiến sĩ)Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên trong điều kiện mới (LA tiến sĩ)Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên trong điều kiện mới (LA tiến sĩ)Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên trong điều kiện mới (LA tiến sĩ)Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên trong điều kiện mới (LA tiến sĩ)Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên trong điều kiện mới (LA tiến sĩ)Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên trong điều kiện mới (LA tiến sĩ)Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên trong điều kiện mới (LA tiến sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN VĂN AN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở
TỈNH ĐIỆN BIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN MỚI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI – 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN VĂN AN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở
TỈNH ĐIỆN BIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN MỚI
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 62 34 04 03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS Nguyễn Đăng Thành PGS.TS Đoàn Minh Huấn
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 06 tháng 9 năm 2017
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Văn An
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 11 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 11
1.1.1 Các nghiên cứu về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC và kinh nghiệm nâng cao chất lượng CBCC người DTTS ở nước ngoài 11 1.1.2 Các nghiên cứu về xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung và đội ngũ CBCC người DTTS nói riêng 15 1.1.3 Các công trình nghiên cứu về xây dựng và nâng cao chất lượng CBCC cấp cơ sở/cấp xã 18 1.1.4 Các nghiên cứu về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp
cơ sở /cấp xã là người DTTS 20 1.1.5 Các nghiên cứu về nâng cao chất lượng CBCC cấp xã nói chung và CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên 21
1.2 Đánh giá chung về các công trình đã tổng quan và hướng nghiên cứu tiếp theo của luận án 23
1.2.1 Các giá trị có thể kế thừa 23 1.2.2 Các vấn đề liên quan đến luận án nhưng chưa được đề cập, luận giải trong các công trình đã tổng quan 23 1.2.3 Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài 26
Kết luận chương 1 27 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG ĐIỀU KIỆN MỚI 28 2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò, vị trí của đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã người dân tộc thiểu số 28
2.1.1 Khái niệm CBCC cấp xã người DTTS 28 2.1.2 Đặc điểm của CBCC cấp xã người DTTS 31
Trang 52.1.3 Vị trí, vai trò của đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS 34
2.2 Khái niệm và yêu cầu về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức câp xã người dân tộc thiểu số trong điều kiện mới 35
2.2.1 Khái niệm chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS 35
2.2.2 Điều kiện mới và yêu cầu chất lượng đối với đội ngũ CBCC câp xã người DTTS 38
2.2.3 Sự cần thiết nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS 44
2.3 Hệ tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số 45
2.3.1 Nhóm tiêu chí về phẩm chất 45
2.3.2 Nhóm tiêu chí về trình độ 47
2.3.3 Nhóm tiêu chí về kỹ năng nghề nghiệp 51
2.3.4 Tiêu chí về kinh nghiệm công tác 57
2.3.5 Nhóm tiêu chí về khả năng nhận thức và mức độ sẵn sàng đáp ứng sự thay đổi của CBCC cấp xã người DTTS 58
2.3.6 Nhóm tiêu chí về cơ cấu 58
2.3.7 Nhóm tiêu chí phản ánh sự phối hợp giữa các CBCC cấp xã người DTTS trong thực hiện nhiệm vụ 59
2.3.8 Nhóm tiêu chí phản ánh kết quả thực hiện nhiệm vụ của CBCC cấp xã người DTTS và sự hài lòng của người dân 60
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số 61
2.4.1 Các yếu tố khách quan 61
2.4.2 Các yếu tố chủ quan 65
2.5 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở một số địa phương và các bài học rút ra 66
2.5.1 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng CBCC cấp xã người DTTS 66
2.5.2 Một số bài học rút ra từ nghiên cứu kinh nghiệm nâng cao chất lượng CBCC cấp xã người DTTS ở một số địa phương 71
Kết luận chương 2 72
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN 74
3.1 Khái quát về tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội tỉnh Điện Biên 74
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 74
Trang 63.1.2 Đặc điểm dân cư, dân tộc, hành chính 74
3.1.3 Đặc điểm kinh tế 75
3.1.4 Đặc điểm văn hóa – xã hội 76
3.1.5 Hệ thống giáo dục, y tế 77
3.2 Đặc điểm đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên 79
3.2.1 Số lượng CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên 79
3.2.2 Đặc điểm đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên 79
3.3 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên hiện nay 80
3.3.1 Về phẩm chất 80
3.3.2 Về trình độ 81
3.3.3 Về kỹ năng nghề nghiệp 95
3.3.4 Về kinh nghiệm công tác 104
3.3.5 Nhận thức về sự thay đổi trong tương lai và mức độ sẵn sàng đáp ứng sự thay đổi 105
3.3.6 Về cơ cấu 106
3.3.7 Khả năng phối hợp trong công việc của CBCC cấp xã người DTTS 108
3.3.8 Kết quả thực hiện nhiệm vụ QLNN ở địa phương của CBCC cấp xã người DTTS và sự hài lòng của người dân 109
3.4 Đánh gía chung về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên 114
3.4.1 Ưu điểm và nguyên nhân của ưu điểm 114
3.4.2 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 117
Kết luận chương 3 121
CHƯƠNG 4: MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN 122
4.1 Mục tiêu, quan điểm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên 122
4.1.1 Mục tiêu 122
4.1.2 Quan điểm nâng cao chất lượng CBCC cấp xã người DTTS tỉnh Điện Biên trong điều kiện mới 122
Trang 74.1.3 Dự báo biến động của các nhân tố, điều kiện có thể tác động tới chất
lượng CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên 130
4.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên 132
4.2.1 Đổi mới nhận thức, cách tiếp cận vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên 132
4.2.2 Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách cho CBCC cấp xã nói chung và CBCC cấp xã người DTTS nói riêng 133
4.2.3 Đổi mới công tác quản lý CBCC cấp xã người DTTS 134
4.2.4 Nhóm giải pháp khai thác, phát huy, sử dụng tri thức bản địa các dân tộc Thái, Mông, Dao, Khơ Mú, Hà Nhì, v.v trong tăng cường năng lực CBCC cấp xã người DTTS tỉnh Điện Biên 140
4.2.5 Mở rộng hợp tác công tư (PPP) hoặc xã hội hóa một số hoạt động nâng cao chất lượng CBCC cấp xã người DTTS 141
4.2.6 Tạo môi trường làm việc tốt, xây dựng văn hoá tổ chức, nâng cao nhận thức và năng lực tự hoàn thiện của đội ngũ CBCC cấp xã là người DTTS 142
4.2.7 Tổ chức và thực hiện quản lý chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên 143
4.3 Các điều kiện bảo đảm để thực hiện các giải pháp 146
Kết luận chương 4 147
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 160
PHỤ LỤC 1: BẢNG HỎI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 160
PHỤ LỤC 2: BẢNG HỎI NGƯỜI DÂN 168
PHỤ LỤC 3: GỢI Ý PHỎNG VẤN SÂU 171
PHỤ LỤC 4: GỢI Ý THẢO LUẬN NHÓM 174
Trang 8KH&CN Khoa học và công nghệ
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Trình độ học vấn của CBCC cấp xã người DTTS 83
Bảng 3.2 Trình độ chuyên môn của CBCC cấp xã người DTTS 84
Bảng 3.3 Trình độ LLCT của đội ngũ CBCC cấp xã ngừời DTTS 87
Bảng 3.4 Trình độ QLNN của CBCQ và CC cấp xã người DTTS 89
Bảng 3.5 Trình độ ngoại ngữ, tin học của CBCC cấp xã người DTTS 90
Bảng 3.6 Tỷ lệ CBCC và CC cấp xã người DTTS đã bồi dưỡng AN-QP 94
Bảng 3.7 Kỹ năng sử dụng các chương trình thông thường trên máy tính của đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS 96
Bảng 3.8 Đánh giá một số kỹ năng của CBCC cấp xã người DTTS 100
Bảng 3.9 Đánh giá kỹ năng của cán bộ chính quyền cấp xã người DTTS 101
Bảng 3.10 Nhận thức của CBCC cấp xã người DTTS về sự thay đổi công việc trong 5 năm tới và khả năng thích ứng với thay đổi 105
Bảng 3.11 Cơ cấu độ tuổi, giới tính và dân tộc của đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên 108
Bảng 3.12 Đánh giá hiệu quả QLNN của CBCC cấp xã người DTTS 110
Bảng 3.13 Tỷ lệ % người dân hài lòng về kết quả QLNN của CBCC cấp xã người DTTS 114
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Trình độ học vấn của CBCQ và công chức cấp xã người DTTS 82
Hình 3.2 Trình độ chuyên môn của CBCQ và CC cấp xã người DTTS 85
Hình 3.3 Trình độ LLCT của CBCQ và công chức cấp xã người DTTS 88
Hình 3.4 Trình độ QLNN của CBCQ và công chức cấp xã người DTTS 89
Hình 3.5 Trình độ ngoại ngữ của CBCQ và CC cấp xã người DTTS 91
Hình 3.6 Trình độ tin học của CBCQ và công chức cấp xã người DTTS 92
Hình 3.7 Tỷ lệ CBCQ và CC cấp xã người DTTS đã bồi dưỡng AN-QP 94
Hình 3.8 So sánh kỹ năng sử dụng các chương trình thông thường trên máy tính giữa cán bộ chính quyền với công chức cấp xã người DTTS 97
Hình 3.9 Kỹ năng tổ chức cuộc họp và điều hành công sở của CBCQ cấp xã người DTTS 102
Hình 3.10 Kỹ năng giải quyết khiếu nại, tố cáo và giải quyết tranh chấp của CBCQ cấp xã người DTTS 103
Hình 3.11 Cơ cấu dân tộc của CBCQ và công chức cấp xã người DTTS 107
Hình 3.12 Cơ cấu tuổi của CBCQ và công chức cấp xã người DTTS 107
Hình 3.13 Tỷ lệ % ý kiến tự đánh giá của CBCC cấp xã người DTTS về các lĩnh vực QLNN đạt hiệu quả thấp 111
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bất cứ quốc gia nào muốn phát triển đều cần có nguồn lực con người Trong thời đại ngày nay, con người được coi là ''tài nguyên đặc biệt'', một nguồn lực không gặp trần giới hạn trong tăng trưởng và phát triển Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia
Đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) hành chính là một loại nguồn nhân lực đặc biệt, có vai trò thực thi pháp luật, bảo đảm hiện thực hóa ý chí của thể chế cầm quyền và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) Thời gian qua, đội ngũ CBCC đã có nhiều đóng góp cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt
từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới và hội nhập, đội ngũ CBCC chưa có chất lượng cao, nhất là về phẩm chính trị, đạo đức công vụ, trình độ chuyên môn, kỹ năng tác nghiệp, vốn hiểu biết về KTTT và luật pháp, khả năng dự báo và xử lý các tình huống trong lãnh đạo, quản lý Một bộ phận cán bộ chủ quan, tự mãn, bảo thủ, trì trệ, mắc bệnh thành tích; số khác thiếu tâm huyết với công việc, thiếu gương mẫu, nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm; ý thức tự phê bình, phê bình và tính chiến đấu kém; lợi dụng chức quyền để vun vén lợi ích cá nhân
Trong hệ thống chính quyền 4 cấp ở nước ta, chính quyền cấp cơ sở có một
vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp từ hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân thông qua đội ngũ CBCC cấp xã Đội ngũ này là người gần dân, sát dân nhất; mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước có đến được với nhân dân, đến đúng, đến đủ và có được nhân dân tiếp thu đúng đắn hay không đều thông qua cấp cơ sở Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị cơ sở nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ CBCC cấp xã Chính vì đội ngũ CBCC cấp xã
có vai trò quan trọng trong bộ máy chính quyền cơ sở nên việc xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã vững vàng về chính trị, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực để thực hiện các nhiệm vụ được giao luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước Đây cũng là một nội dung rất quan trọng của công tác cán bộ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa IX) đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của hệ thống chính trị và đội ngũ CBCC cấp xã đối với sự nghiệp công
Trang 12nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước Đầu tư xây dựng đội ngũ CBCC
có phẩm chất, đạo đức và năng lực ngang tầm sự nghiệp đổi mới mang ý nghĩa là đầu tư cho phát triển [17] Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định:
“Cán bộ phải là người có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, hết lòng phấn đấu vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc; có bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trước những khó khăn, thử thách; có năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, có nhân cách và lối sống mẫu mực, trong sáng; có ý thức
tổ chức kỷ luật cao, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân” [18, tr.136] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh cần phải “xây dựng đội ngũ CBCC trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới” [20, tr.252] Có như thế mới tạo ra được một đội ngũ CBCC “vừa hồng, vừa chuyên” đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới
CBCC cấp xã người dân tộc thiểu số (DTTS) là một bộ phận trong đội ngũ
CBCC cấp xã nhưng là một đối tượng đặc thù do trình độ mọi mặt thấp hơn mặt
bằng chung, văn hoá tộc người đa dạng và các thế lực thù địch đang ra sức lôi kéo, kích động, chống phá, v.v Xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS không chỉ thuần tuý thuộc phạm trù công tác tổ chức cán bộ bao hàm cả mặt lượng lẫn mặt chất mà còn là chính sách dân tộc của thể chế cầm quyền
Cán bộ và công tác cán bộ luôn là “khâu then chốt trong vấn đề then chốt” của toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng Do vậy, xây dựng đội ngũ CBCC nhà nước nói chung, CBCC cấp xã nói riêng, đặc biệt là CBCC cấp xã người DTTS vững mạnh là công việc hết sức quan trọng và đòi hỏi phải làm thường xuyên, nhất
là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế Xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ, có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất cách mạng, có năng lực trí tuệ và tổ chức thực tiễn là việc làm vừa cơ bản, vừa cấp bách, vừa là công tác thường xuyên và lâu dài Mặc dù Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm, ban hành nhiều chính sách trong công tác cán bộ đối với CBCC cấp xã, nhưng thực tế hiện nay đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS còn nhiều hạn chế từ trình độ, kỹ năng, năng lực đến phẩm chất tâm lý – xã hội để hoạt động một cách chuyên nghiệp Do
đó, đòi hỏi phải triển khai một hệ thống giải pháp đồng bộ trong đó vấn đề phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt với đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS là một giải pháp có
ý nghĩa chiến lược lâu dài và cấp bách
Trang 13Về học thuật, nghiên cứu chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở nước ta bấy lâu nay dù đã được quan tâm nhưng kết quả thu được vẫn còn giới hạn
Sự hạn chế đó có thể do thiếu năng lực nghiên cứu liên ngành, thiếu phương pháp tiếp cận phù hợp, chưa có đội ngũ chuyên sâu cho các nghiên cứu này, v.v nhưng quan trọng là do thiếu khung lý thuyết hiện đại và mức độ hạn chế trong đầu tư cho nghiên cứu một chủ thể đặc biệt của hệ thống quản trị công là CBCC cấp xã người DTTS Chủ thể đặc biệt này chịu chi phối của ba chiều kích: Một là, nằm trong hệ thống chính trị do một Đảng lãnh đạo; hai là, tổ chức thực thi quản lý công ở đơn vị hành chính cấp cơ sở; ba là, căn tính tộc người có nhiều đặc trưng chế định đến tổ chức và hoạt động Do đó, nghiên cứu vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS cần đến một khung lý thuyết hiện đại, một cách tiếp cận hợp lý
và trong động thái mới, v.v để nhận diện cả tầng nổi và tầng sâu, cấu trúc và chức năng, hệ thống và phân hệ
Điện Biên là tỉnh miền núi cao, biên giới thuộc vùng Tây Bắc, địa hình hiểm trở, cách thủ đô Hà Nội gần 500 km; người DTTS chiếm hơn 80% với 19 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đông nhất là dân tộc Thái (38,0%) và dân tộc Mông (34,8%) Các DTTS tập trung cư trú ở vùng cao, điều kiện hạ tầng KTXH còn nhiều khó khăn nhưng là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế - xã hội (KTXH), quốc phòng, an ninh và môi trường Với một địa bàn như vậy, việc xây dựng, quản lý, phát triển đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS là hướng tiếp cận cơ bản để củng cố chính quyền cơ sở Tuy nhiên, theo đánh giá của các cơ quan quản
lý, hiện nay chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã nói chung, CBCC cấp xã người DTTS
ở tỉnh Điện Biên còn nhiều yếu kém, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Điện Biên đang đẩy mạnh CCHC sâu rộng, do đó yêu cầu cao hơn về chất lượng CBCC cấp xã không chỉ về trình độ, mà cả năng lực, phẩm chất chính trị
và phẩm chất đạo đức, v.v Để có thể xây dựng được đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS đảm bảo được yêu cầu đó, cần nghiêm túc đánh giá thực trạng, tìm ra nguyên nhân yếu kém, đề xuất giải pháp khả thi để nâng cao chất lượng trong điều kiện mới Điều này đòi hỏi phải có những nghiên cứu chuyên sâu với cách tiếp cận hệ thống, toàn diện Đề tài “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
người DTTS ở tỉnh Điện Biên trong điều kiện mới” chính vì vậy là một nghiên cứu
rất cần thiết và cấp bách
Trang 142 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Trên cơ sở khung lý thuyết về chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã nói chung, CBCC cấp xã người DTTS nói riêng, Luận án tập trung làm rõ thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên trong điều kiện mới
2.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, Luận án tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, từ đó chỉ ra những giá trị có thể kế thừa, những khoảng trống cần khỏa lấp, những vấn đề cần tiếp tục phát triển trong nghiên cứu
- Hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã nói chung và CBCC cấp xã người DTTS nói riêng;
- Nghiên cứu kinh nghiệm nâng cao chất lượng CBCC cấp xã người DTTS
ở một số địa phương, từ đó rút ra các giá trị tham khảo có thể áp dụng để nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS tỉnh Điện Biên;
- Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên, làm rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế;
- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển KTTT hiện đại, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và hội nhập quốc tế
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên trong điều kiện mới
3.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của đề tài là đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS tỉnh Điện Biên
3.3 Phạm vi nghiên cứu
cứu bao gồm các nội dung về phẩm chất chính trị, trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm công tác
Trang 15- Về khách thể nghiên cứu: Theo quy định của Luật CBCC năm 2008, đội
ngũ CBCC cấp xã người DTTS bao gồm cả chức danh trong tổ chức Đảng, chính quyền và tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở CBCC cấp xã ở mỗi loại hình tổ chức có yêu cầu khác nhau về chất lượng Do đó, để đảm bảo tính đồng nhất và đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài giới hạn khách thể nghiên cứu chỉ là nhóm CBCC chính quyền cấp xã là người DTTS Theo đó, đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS được đề cập trong đề tài bao gồm nhóm cán bộ được hình thành do bầu cử (Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân (HĐND) và Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) và nhóm công chức chuyên môn được hình thành do tuyển dụng
xã ở 112 xã của tỉnh Điện Biên
- Về thời gian: Đề tài tổng kết, đánh giá các dữ liệu từ khi chia tách tỉnh
Điện Biên (11/2003) đến 2016 và đề xuất giải pháp cho những năm tiếp theo
- Về điều kiện mới: Chất lượng CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên được
đặt trong điều kiện mới là điều kiện phát triển nền KTTT hiện đại, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, hội nhập quốc tế và cải cách hành chính nhà nước (CCHCNN)
4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu của luận án
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS của tỉnh Điện Biên hiện nay như thế nào? Đã đáp ứng được ở mức độ nào so với yêu cầu đặt ra trong điều kiện phát triển nền KTTT hiện đại, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, hội nhập quốc tế và CCHCNN
- Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên, đặc biệt là những yếu tố tác động làm cho chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra?
- Cần thực hiện những giải pháp nào để nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS của tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu đặt ra trong điều kiện mới?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên còn nhiều hạn chế, yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong bối cảnh phát triển nền KTTT hiện đại, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, hội nhập quốc tế và CCHCNN
Trang 16Thực trạng này do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan tác động, trong đó
có các yếu tố đặc thù gắn liền với đội ngũ CBCC cấp xã là người DTTS
Muốn nâng cao chất lượng đội ngũ này cần có cách tiếp cận hệ thống với một hệ giải pháp đồng bộ, gắn liền với tính đặc thù của đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập thông tin
5.1.1 Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp
Khai thác các tài liệu thứ cấp bao gồm các thông tin, số liệu về thực trạng chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên được phản ánh trong các công trình nghiên cứu liên quan, tài liệu, báo chí, báo cáo hành chính của các sở, ban, ngành và các cơ quan hữu quan, niên giám thống kê của trung ương và tỉnh Các thông tin, tài liệu được lựa chọn có nguồn cung cấp chính thống, tin cậy, cập nhật, được xử lý, phân tích thận trọng, đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy cao khi trích dẫn, so sánh, đối chiếu
5.1.2 Phương pháp nghiên cứu định tính
Luận án sử dụng 2 kỹ thuật cơ bản trong phương pháp nghiên cứu định tính
đó là phỏng vấn sâu (PVS) cá nhân và thảo luận nhóm (TLN) tập trung Bên cạnh
đó, luận án còn sử dụng phương pháp chuyên gia
PVS là phỏng vấn trực tiếp người cung cấp thông tin theo cách đưa ra các câu hỏi để tìm câu trả lời theo chủ đích nhằm thu thập các thông tin về chất lượng
và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS tỉnh Điện Biên Tùy theo đối tượng mà có các gợi ý nội dung phỏng vấn về thực trạng chất lượng CBCC cấp xã người DTTS, công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ, phương thức đào tạo; đánh giá các chính sách liên quan, các quan điểm, định hướng, giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên, v.v Đối tượng PVS bao gồm chủ yếu các nhóm đối tượng là lãnh đạo cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh, CBCC cấp xã người DTTS và không phải DTTS và người dân (Phụ lục 3)
TLN tập trung (mỗi nhóm có 6-10 người cung cấp thông tin và 2 cán bộ hướng dẫn) được thực hiện theo các gợi ý nội dung định trước, nhằm làm rõ thêm các thông tin về thực trạng chất lượng, quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng
Trang 17(ĐTBD), bố trí, sử dụng, đánh giá CBCC cấp xã người DTTS; các quan điểm, định hướng, giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên Đối tượng TLN bao gồm chủ yếu là nhóm CBCC cấp xã người DTTS và không phải DTTS và người dân (Phụ lục 4)
Phương pháp chuyên gia được sử dụng để thu thập ý kiến của các chuyên gia
và các nhà quản lý thông qua phỏng vấn, tọa đàm, hội thảo để tìm hiểu về công tác tuyển dụng, sử dụng, ĐTBD, chính sách, chế độ, giám sát, đánh giá và các nhân tố tác động đến thực trạng chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã nói chung và đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS nói riêng
5.1.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng
- Luận án sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc để phỏng vấn trực tiếp 2 nhóm đối tượng là CBCC cấp xã và người dân, nhằm thu thập các số liệu, thông tin định lượng để chủ yếu đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên
+ Thiết kế bảng hỏi bán cấu trúc: Bảng hỏi được thiết kế làm 2 loại dành cho
2 nhóm đối tượng đã nêu trên
Bảng hỏi 1 được thiết kế để thu thập thông tin từ nhóm đối tượng là CBCC cấp xã người DTTS và CBCC cấp xã không là người DTTS, bao gồm các nội dung chủ yếu là tự đánh giá về trình độ, nhận thức, phẩm chất, kỹ năng nghề nghiệp, kết quả công tác QLNN của CBCC cấp xã và nguyện vọng về nâng cao chất lượng, v.v của CBCC cấp xã ở tỉnh Điện Biên (Phụ lục 1)
Bảng hỏi 2 được thiết kế để thu thập thông tin từ nhóm đối tượng là người dân vùng DTTS, gồm các câu hỏi đánh giá mức độ hài lòng của người dân đối với trình độ, năng lực, phẩm chất của đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS tại địa phương của họ và các dịch vụ công được cung cấp bởi đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS (Phụ lục 2)
- Điều tra chính thức:
Luận án chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên để vừa đảm bảo tính khách quan vừa đảm bảo tính đại diện của mẫu nghiên cứu ở tất cả các xã, thị trấn thuộc địa bàn nghiên cứu
Thu thập thông tin thực địa được tiến hành tại một số đơn vị cấp tỉnh và 7 đơn vị cấp huyện là Tuần Giáo, Tủa Chùa, Điện Biên, Mường Chà, Điện Biên
Trang 18Đông, Mường Ảng, Mường Nhé Đề tài lựa chọn các mẫu nghiên cứu đảm bảo các tiêu chí: vùng thấp và vùng cao, đô thị và nông thôn, các DTTS sinh sống xen kẽ ở mức độ khác nhau, địa bàn các DTTS chiếm tỷ lệ dân số đông, v.v
Tại tỉnh, tiến hành PVS các đối tượng lãnh đạo, chuyên viên phụ trách lĩnh vực ở Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở Nội vụ, Sở Giáo dục & đào tạo, Trường Chính trị tỉnh, Ban Dân tộc tỉnh
Tại các huyện, tiến hành PVS các đối tượng lãnh đạo, chuyên viên phụ trách lĩnh vực ở Ban Tổ chức Huyện ủy, Ban Tuyên giáo Huyện ủy, Phòng Nội vụ, Phòng Dân tộc, Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện
Tại các xã, tiến hành PVS các đối tượng cán bộ lãnh đạo UBND, công chức
và TLN tập trung các CBCC cấp xã Tại thôn/ bản tiến hành PVS cán bộ thôn/bản, người dân, phỏng vấn bảng hỏi bán cấu trúc các đại diện hộ gia đình và TLN tập trung người dân
Số lượng phiếu ở tỉnh: 13 PVS; ở 7 huyện: 35 PVS; ở 70 xã: 770 bảng hỏi CBCC cấp xã, 140 bảng hỏi người dân và 90 phiếu PVS và TLN CBCC cấp xã, thôn/bản và người dân Số phiếu được phát ra là 1.000 phiếu, bao gồm 910 bảng hỏi
và 90 phiếu PVS, TLN; số phiếu thu về và xử lý thống kê là 983 cho tất cả các loại Thông tin được thu thập theo hai cách: Đến một số xã (trường hợp PVS, TLN tập trung CBCC và bảng hỏi người dân), đến cơ sở đào tạo CBCC cấp xã tại tỉnh và
huyện (trường hợp PVS và TLN các CBCC cấp xã)
5.2 Các phương pháp xử lý thông tin, số liệu
- Luận án sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp lịch
sử kết hợp với phương pháp lôgíc, phương pháp phân tích chính sách, phương pháp
mô hình hóa và đánh giá SWOT, v.v để xử lý các thông tin, dữ liệu định tính về chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng đối với các thông tin từ
các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài, bao gồm các văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước trung ương và chính quyền địa phương, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã được công bố liên quan đến chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên, v.v
Trang 19+ Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgíc được sử dụng để vừa
thấy được quá trình diễn biến của sự kiện, vừa rút ra những nhận định khái quát về chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên
+ Phương pháp phân tích chính sách là phương pháp cần thiết để nghiên cứu
hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý CBCC cấp xã được sử dụng nhằm phân tích, so sánh mức độ đồng bộ hóa, tính phù hợp của hệ thống chính sách, pháp luật với thực tiễn, những khoảng trống hoặc sai sót cần khỏa lấp, các chủ thể chính và phối hợp trong hoạch định, thực hiện chính sách quản lý đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên, v.v
+ Phương pháp đánh giá SWOT dùng để phân tích điểm mạnh (Strengths),
điểm yếu (Weaknesses), cơ hội (Opportunities), rủi ro – nguy cơ (Threats) giúp đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS làm cơ sở đề xuất giải pháp phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, nắm bắt cơ hội, lường trước, giảm nhẹ hoặc triệt tiêu rủi ro từ những hạn chế về chất lượng của CBCC cấp
xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên
- Đối với các thông tin định lượng từ bảng hỏi: Luận án sử dụng phương pháp thống kê thông qua phần mềm SPSS 12.0 và phần mềm Excel 2007 để xử
lý, phân tích và lập bảng biểu thống kê, vẽ các biểu đồ minh họa
6 Những đóng góp mới của luận án
6.1 Về mặt khoa học
Luận án đã hình thành được khung lý thuyết và định dạng các đặc điểm của CBCC cấp xã người DTTS tỉnh Điện Biên; đưa ra các nhận xét, kết luận mới về chất lượng CBCC người DTTS tỉnh Điện Biên hiện nay; hình thành hệ tri thức mới
về cấu trúc, chức năng, động thái của CBCC cấp xã người DTTS tỉnh Điện Biên trong tương quan với bối cảnh phát triển KTTT định hướng XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, hội nhập quốc tế và CCHCNN
6.2 Về mặt thực tiễn
Luận án đã hình thành được bộ tiêu chí công cụ đánh giá, kiểm định, kiểm soát, ĐTBD, nâng cao chất lượng CBCC cấp xã người DTTS; đề xuất một hệ giải pháp với những hình thức, phương pháp, cách thức, xác định chủ thể và nguồn lực
cụ thể để nâng cao chất lượng CBCC cấp xã người DTTS tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu điều kiện mới
Trang 207 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
8 Cấu trúc của luận án
Nội dung chính của luận án có cấu trúc gồm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2 Cơ sở khoa học về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã người dân tộc thiểu số trong điều kiện mới
Chương 3 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người
dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên
Chương 4 Mục tiêu, quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên
Trang 21CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các nghiên cứu lý thuyết về chất lượng và đo lường chất lượng con người, nguồn nhân lực, về CBCC người DTTS và vai trò của CBCC cấp xã, về vấn đề dân tộc và xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở các vùng, trong đó có tỉnh Điện Biên khá phong phú Có thể khái quát thành một số nhóm như sau:
1.1.1 Các nghiên cứu về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC và kinh nghiệm nâng cao chất lượng CBCC người DTTS ở nước ngoài
Các nghiên cứu thuộc nhóm này được chia thành 2 nhóm nhỏ chủ yếu
Nhóm 1: Những nghiên cứu chung về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC
Trịnh Cư, Nguyễn Duy Hùng, Lê Văn Yên (2009) trong công trình "Kinh
nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ ở Trung Quốc" [8] đã đề cập đến công tác tổ chức,
xây dựng đội ngũ cán bộ ở Trung Quốc với các nội dung chính như chế độ CBCC, cải cách thể chế chính trị, vai trò của Đảng Cộng sản (ĐCS) Trung Quốc với việc nâng cao chất lượng và năng lực của đội ngũ CBCC, xây dựng đội ngũ CBCC, công tác ĐTBD, tuyển cử, lựa chọn, đề bạt, sử dụng và nhận xét đánh giá, quản lý CBCC, v.v Để nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC, Trung Quốc nhấn mạnh đến cải cách công tác cán bộ với các giải pháp cơ bản sau: (i) cải cách công tác tuyển chọn,
bổ nhiệm CBCC; (ii) hoàn thiện chế độ thi sát hạch CBCC; (iii) thúc đẩy công tác luân chuyển cán bộ; (iv) tăng cường công tác giám sát cán bộ lãnh đạo và công tác tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ; (v) hoàn thiện chế độ ĐTBD CBCC
Cuốn chuyên khảo "Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" do PGS.TS
Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm đồng chủ biên (2001) [72] đóng góp rất quan trọng trên cả phương diện lý luận và thực tiễn về xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước; Kinh nghiệm xây dựng đội ngũ CBCC trong lịch
Trang 22sử nước ta và một số nước trên thế giới; Khái quát thực trạng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ ở nước ta Cuốn chuyên khảo đã làm rõ các khái niệm công cụ, cung cấp
phương pháp tiếp cận để đi sâu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc
xây dựng đội ngũ cán bộ ở các vùng đặc thù và cán bộ DTTS nói riêng Tuy nhiên, do quy mô đặt ra là giải quyết những vấn đề chung nhất của công tác cán bộ thời kỳ CNH, HĐH đất nước nên công trình này chưa có điều kiện đi sâu tìm hiểu đội ngũ cán bộ ở những vùng đặc thù (trong đó có cán bộ DTTS)
Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương trong công trình “Cơ sở lý luận và
thực tiễn xây dựng đội ngũ CBCC” (2005) [45] đã phân tích yêu cầu cơ bản của
việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trong việc xây dựng đội ngũ CBCC và bài học kinh nghiệm của một số nước trên thế giới Tuy nhiên, công trình này chỉ đi vào khái quát công tác xây dựng đội ngũ CBCC nói chung mà không đi sâu vào nghiên cứu đội ngũ CBCC cấp cơ sở
Đề tài “Xây dựng và phát triển nguồn lực trong các cơ quan hành chính cấp
quận (huyện), phường (xã) trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” của PGS.TS Võ
Xuân Tiến (2007) [67] đã làm rõ một số vấn đề về lý luận, nội dung và tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực trong lĩnh vực hành chính; đánh giá thực trạng đội ngũ CBCC hiện có trong các cơ quan hành chính quận (huyện), phường (xã) trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Trên cơ sở những điểm mạnh, điểm yếu, đề tài đã đề xuất những giải pháp có tính khoa học nhằm hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực hành chính
đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ theo yêu cầu CNH, HĐH đất nước
Nhóm 2: Các nghiên cứu về các công cụ xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC và kinh nghiệm nước ngoài
Các công trình này tập trung nghiên cứu những công cụ chủ yếu để xây dựng
và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC như: tuyển chọn, ĐTBD; quy hoạch; sử dụng CBCC
Bài viết “Public Service Education: Adding Value in the Public Interest” của
Kathryn E Newcomer, Heather Allen[96] đã xác định mục đích đào tạo công vụ là chuẩn bị cho học viên phục vụ lợi ích công Việc đo lường kết quả học tập là biện pháp quan trọng để xác định xem các chương trình đào tạo có thực sự đạt được mục
Trang 23tiêu hay không Bài báo cung cấp “Mô hình kết quả học tập của đào tạo trong khu vực công” được xây dựng dựa trên những kiến thức về đánh giá kết quả và nghiên cứu về những giá trị của đào tạo công vụ đối với cá nhân, tổ chức và chính quyền
The World Bank (2009) trong bài “Country Social Analysis Ethnicity and
Development in Vietnam [99] đã phân tích đánh giá tình hình phát triển các cộng
đồng DTTS ở Việt Nam, bao gồm cả tình trạng đói nghèo, cơ hội tham dự chính trị, những thách thức trong phát triển, bao gồm cả thách thức đối với nguồn nhân lực nói chung và đội ngũ các nhà quản lý người DTTS trên các vùng, miền Các tỉnh miền núi Tây Bắc luôn được phân tích như một trường hợp điển hình của nghèo đói
và đối diện với nhiều thách thức gay gắt của phát triển nguồn nhân lực
Hội thảo khoa học giữa Phân viện Hà Nội – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh với Học viện Hành chính Vân Nam – Trung Quốc (2001) đã tập hợp
nhiều bài viết của học giả Trung Quốc như: “Lý luận và thực tiễn của việc ra sức
đào tạo cán bộ DTTS (Kết hợp bàn về công tác đào tạo cán bộ DTTS tỉnh Vân Nam)” của Vi Thừa Nhị, “Một số suy nghĩ về đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc có trình độ cao” của Lưu Khu; “Thử bàn về cơ chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số” của Mai Nghị Toàn và La Kiếm Anh; “Phân tích về tố chất cán bộ dân tộc thiểu số tỉnh Vân Nam” của Ngô Gia Ký, v.v Các nghiên cứu này đã cung cấp
một số dữ liệu về cán bộ DTTS ở Vân Nam nói riêng và Trung Quốc nói chung, nhấn mạnh một số đặc điểm công tác cán bộ DTTS ở Trung Quốc trên các mặt ĐTBD, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ Trong đó có nhấn mạnh: Khi tuyển chọn cán bộ DTTS, cần phải nắm vững và hiểu biết toàn bộ tình hình của họ một cách chính xác và toàn diện, tức là vừa phải kiên trì nguyên tắc “tài đức vẹn toàn”, vừa phải xuất phát từ thực tế, chiếu cố hợp lý, đề phòng thiên hướng cầu toàn, yêu cầu quá cao, dẫn đến cản trở công tác đào tạo và sử dụng rộng rãi đối với cán bộ
DTTS Về sử dụng cán bộ, Trung Quốc xưa nay vẫn kiên trì đường lối “nhiệm nhân
duy hiền” (sử dụng người chỉ coi trọng đức tài) nghĩa là tuyển chọn bổ nhiệm cán
bộ “tài đức vẹn toàn”, phản đối “nhiệm nhân duy thân” (sử dụng người chỉ coi trọng
quan hệ thân quen) Chữ “Đức” ở đây là chỉ phẩm chất chính trị; chữ “Tài” ở đây là chỉ kiến thức nghiệp vụ và tài năng công tác “Tài đức vẹn toàn” nghĩa là thống nhất giữa chính trị và nghiệp vụ, vừa hồng vừa chuyên [44]
Trang 24Mã Lệ Quyên trong bài “Kinh nghiệm của Vân Nam – Trung Quốc về việc
bồi dưỡng cán bộ nhân tài nhân dân tộc thiểu số” (2011) đã nhấn mạnh việc dựa
vào các trường đại học dân tộc, lựa chọn kỹ càng từ cơ sở, có ưu đãi hợp lý, thông qua thực tiễn để rèn luyện cán bộ, trong đó có việc luân chuyển vị trí công tác để thích ứng với nhiều môi trường khác nhau, coi trọng hình thức đào tạo tại chức, v.v [53, tr.175-176]
GS.TS Nguyễn Đăng Thành trong bài “Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công
chức phục vụ cải cách hành chính: Thách thức và định hướng” (2012) [59] đã đánh
giá những thách thức đặt ra và nêu định hướng đổi mới hoạt động ĐTBD CBCC của Học viện Hành chính Quốc gia - trung tâm quốc gia đầu ngành về ĐTBD CBCC Những thách thức cơ bản được phân tích như: Sự bất cập về thể chế, với hệ thống thể chế pháp lý cho việc triển khai công tác ĐTBD còn rất thiếu hụt, thiếu tính hệ thống và nhất quán; Thách thức xuất phát từ bản thân nền hành chính Việt Nam; Mâu thuẫn về nhu cầu rất lớn về số lượng trong ĐTBD với việc đảm bảo chất lượng, trong khi điều kiện vật chất, giảng viên, nguồn lực của Học viện còn thiếu hụt, v.v Từ những phân tích này, tác giả đưa ra những định hướng đổi mới hoạt động ĐTBD tại Học viện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới
TS Ngô Thành Can trong bài “Vai trò, trách nhiệm và năng lực của giảng
viên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức” (2014) [7] đã khẳng định giảng
viên có vai trò quan trọng trong công tác ĐTBD CBCC, do đó muốn xây dựng đội ngũ CBCC chuyên nghiệp, trách nhiệm, trong sạch, năng động và hiệu quả phải có một đội ngũ giảng viên có kiến thức chuyên môn tốt, thành thạo kỹ năng giảng dạy
và có thái độ đúng đắn với nghề nghiệp Trên cơ sở những đánh giá, nhận định về thực trạng đội ngũ giảng viên tham gia ĐTBD CBCC hiện nay với các hạn chế cơ bản như năng lực sư phạm chưa cao, thiếu kiến thức thực tiễn, chưa sử dụng tốt giáo án điện tử, ít được bồi dưỡng về phương pháp sư phạm, tác giả đã đưa ra một
số giải pháp nâng cao năng lực nghiệp vụ cho đội ngũ giảng viên như: cần được bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn nghiệp vụ, cập nhật về phương pháp giảng dạy hiện đại, tự bồi dưỡng về thiết kế bài giảng, tổ chức bài giảng, v.v
Trang 25PGS.TS Đào Thị Ái Thi (2012) trong bài “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức lãnh đạo theo vị trí việc làm” đã bàn về khái niệm xác định vị trí việc làm;
phân tích quy trình ĐTBD CBCC lãnh đạo theo vị trí việc làm theo các bước: lập kế hoạch; xác định năng lực thực tế cần đào tạo, bồi dưỡng CBCC lãnh đạo theo vị trí việc làm; Tiến hành ĐTBD [61]
1.1.2 Các nghiên cứu về xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung và đội ngũ CBCC người DTTS nói riêng
Những nghiên cứu về xây dựng đội ngũ CBCC người DTTS nước ta đề cập ở
các quy mô, mức độ, góc cạnh khác nhau và có giá trị tổng kết thực tiễn nhất định
Cũng giống như các nghiên cứu về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC nói chung, các công trình này có thể chia thành 2 nhóm sau:
- Nhóm nghiên cứu chung về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC người DTTS
Tôn Ý (Sun Yi) trong chuyên khảo “Lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ
cán bộ DTTS của Trung Quốc” (2012) [97] đã nghiên cứu một cách hệ thống lý
luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS các cấp ở Trung Quốc từ khi thành lập ĐCS Trung Quốc đến nay Trên cơ sở khái thuật các thành quả nghiên cứu đi trước, cũng như nền tảng tư tưởng và chính sách cán bộ của ĐCS Trung Quốc, cuốn sách đã sử dụng hệ thống số liệu điều ra khá phong phú để miêu tả, phân tích khá cụ thể về quá trình xây dựng và phát triển của đội ngũ cán bộ DTTS các cấp của Trung Quốc, trong đó nhấn mạnh đến quá trình hình thành và phát triển các chính sách về xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS các cấp ở Trung Quốc; thực trạng và đặc điểm đội ngũ cán bộ DTTS các cấp ở Trung Quốc; một số trường hợp cụ thể trong xây dựng
và phát triển đội ngũ cán bộ các cấp ở các khu vực DTTS của Trung Quốc
Vương Triêm Vân (Wang Zhanyun) trong bài “Suy ngẫm về đổi mới công
tác xây dựng đội ngũ cán bộ khu vực DTTS (2015) [98] cho thấy, trên mặt trận
chính trị, cán bộ chính là nhân tố quyết định, trong đó cán bộ DTTS là người thực thi, cụ thể hóa phương châm, chính sách của Đảng ở các khu vực dân tộc, lại vừa là người tổ chức và lãnh đạo phát triển về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội ở địa phương Vì vậy, đổi mới công tác xây dựng đội ngũ CBCC khu vực DTTS là yêu
Trang 26cầu bức thiết, trực tiếp ảnh hưởng đến sự phồn thịnh và phát triển của các khu vực dân tộc, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng và sâu sắc trong việc xây dựng toàn diện xã hội tiểu khang Bài viết nêu ra ba điểm cần nhấn mạnh trong xây dựng đội ngũ cán
bộ ở Trung Quốc, đó là: (1) Cần đổi mới tư duy trong xây dựng đội ngũ cán bộ; (2) Đổi mới cơ chế xây dựng đội ngũ CBCC; (3) Đổi mới môi trường xây dựng đội ngũ cán bộ Ba vấn đề cần làm tốt trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS đó là: (1) cần xử lý tốt mối quan hệ giữa thực hiện mục tiêu trước mắt và thực hiện mục tiêu lâu dài; (2) cần xử lý hiệu quả mối quan hệ giữa sử dụng hợp lý nguồn cán bộ hiện có và thu hút hiệu quả các nguồn nhân lực chất lượng cao; (3) xử lý hiệu quả mối quan hệ giữa điều chỉnh kết cấu cán bộ với điều chỉnh kết cấu kinh tế
Cuốn chuyên khảo "Giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở các
tỉnh miền núi nước ta hiện nay”của PGS.TS Tô Huy Rứa và đồng sự (2003) [54] tuy
có đề cập đến cán bộ DTTS và xây dựng đội ngũ CBCC nói chung, trong đó có người DTTS như một giải pháp nhằm đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở các tỉnh miền núi nhưng công trình này chưa đi sâu làm sáng tỏ những khía cạnh cụ thể của đội ngũ CBCC người DTTS; hướng trọng tâm vào đội ngũ cán bộ hệ thống chính trị, còn công chức hầu như ít được chú ý
Lê Phương Thảo và đồng sự trong cuốn “Xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS ở
nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH - Luận cứ và giải pháp” (2005) [60] đã
tập trung luận giải các cơ sở lí luận và thực tiễn, phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ
và công tác cán bộ DTTS, đề xuất quan điểm, giải pháp đổi mới công tác cán bộ DTTS, tuân thủ nguyên tắc chung của công tác cán bộ, đặc thù cán bộ DTTS
Vũ Đình Hòe và Đoàn Minh Huấn (2008) trong công trình Nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực DTTS ở các tỉnh phía Bắc và Tây Nguyên hiện nay đã chỉ rõ
những rào cản, thách thức cho phát triển nguồn nhân lực trong các DTTS, nhu cầu cần thiết phải nâng cao cả về thể lực, tâm lực và trí lực, cơ chế và phương thức cho nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là thông qua đào tạo và đổi mới thể chế, môi trường hoạt động Công trình đã gợi mở một số định hướng và giải pháp đặc thù cho nâng cao chất lượng CBCC người DTTS gồm cả mô hình ĐTBD, phương thức tuyển chọn, chính sách đãi ngộ, vai trò của tri thức bản địa [28]
Trang 27Cuốn sách Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp
huyện người các dân tộc ở Tây Nguyên của GS.TS Lê Hữu Nghĩa (2001) đã tập
trung phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện người DTTS
ở Tây Nguyên và đề xuất quy hoạch, ĐTBD, bố trí, sử dụng, v.v đội ngũ cán bộ ở Tây Nguyên Tài liệu này nhấn mạnh về vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp huyện người dân tộc chứ không đề cập đến đội ngũ CBCC cấp xã [38]
Ngoài ra, cùng chủ đề này có bài “Vấn đề đặt ra trong công tác xây dựng đội
ngũ cán bộ DTTS (qua nghiên cứu đặc trưng văn hoá tộc người)” của Lâm Bá Nam
(2001) Bài viết đã chỉ ra những vấn đề cần giải quyết trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS nhìn từ góc độ văn hóa tộc người Tuy nhiên, bài viết chưa tập trung đi sâu vào đội ngũ cán bộ cấp xã người DTTS [36]
- Các công trình nghiên cứu về các phương thức, công cụ nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC là người DTTS
Nhóm công trình này tập trung nghiên cứu về quy hoạch, ĐTBD, sử dụng CBCC người DTTS Tiêu biểu là các công trình sau:
TS Hoàng Văn Hoan (2010) trong bài “Một số vấn đề quy hoạch đội ngũ
cán bộ ở các tỉnh miền núi hiện nay” đã đặt vấn đề nâng cao chất lượng, hiệu quả
ĐTBD cán bộ vùng dân tộc và miền núi; ban hành quy chế để đưa công tác đào tạo cán bộ vùng dân tộc và miền núi đi vào nền nếp và đảm bảo đúng quy hoạch, ĐTBD cán bộ gắn với việc bố trí, sử dụng; đa dạng hóa phương thức và loại hình đào tạo, phù hợp với trình độ và khả năng tiếp thu kiến thức của cán bộ; gắn việc đào tạo lý luận với thực hành [27]
Đề tài cấp bộ “Xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận người DTTS trong thời kỳ
mới” do TS Thào Xuân Sùng làm chủ nhiệm (2015), đã đánh giá thực trạng đội ngũ
dân vận các cấp, bao gồm cả cán bộ chính quyền làm chức năng dân vận, đặc biệt là nhấn mạnh các ưu thế và hạn chế của đội ngũ này Trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận người DTTS, bao gồm từ tác động đến công tác ĐTBD, cơ cấu lại và sửa đổi, bổ sung chính sách đối với cán bộ [58]
Long Ngũ (2014) trong bài “Cần có chính sách đặc thù trong ĐTBD, sử dụng
cán bộ người DTTS” đã nhận định: Chất lượng đội ngũ cán bộ người DTTS so với
Trang 28mặt bằng chung còn thấp, do được đào tạo về LLCT rất hạn chế, số chưa được đào tạo chiếm trên 60%; năng lực chỉ đạo, điều hành, quản lý của cán bộ DTTS còn nhiều bất cập; công tác ĐTBD cán bộ DTTS chưa thực sự gắn với nhu cầu thực tế, một số chuyên ngành cần tuyển nhưng không có nguồn nhân lực, v.v [40]
Bùi Ngọc Diệp (2004) trong bài “Vấn đề đào tạo cán bộ DTTS phục vụ sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước” đã khẳng định vấn đề ĐTBD CBCC người DTTS là
một nhiệm vụ cấp bách, cần quan tâm về tổ chức ĐTBD, bảo đảm hiệu quả ĐTBD
CBCC [23] Nguyễn Hữu Ngà (2005) trong bài “ĐTBD CBCC DTTS trong thời kỳ
đẩy mạnh CNH, HĐH” đã tiếp cận vấn đề ĐTBD CBCC người DTTS dưới góc độ
vai trò xây dựng năng lực quản lý của hệ thống chính trị nơi CBCC làm việc [37]
Ngoài ra, còn rất nhiều nghiên cứu đi sâu đánh giá về kinh nghiệm ĐTBD
CBCC người DTTS ở địa phương như: “Giáo dục hướng nghiệp tạo nguồn đào tạo
cán bộ cấp xã, phường người DTTS ở trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sơn La” của Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2009) [77]; “Công tác ĐTBD CBCC người dân tộc
ở tỉnh Quảng Nam” của Võ Công Khôi (2006) [32]; “Đắk Lắc quy hoạch và đào tạo cán bộ DTTS” của Nguyễn Minh Thư (2004) [62]; “Lai Châu đào tạo cán bộ DTTS” của Nguyễn Văn Chương (2005) [15], v.v Các nghiên cứu đã tiếp cận theo
logic các vấn đề lý luận về ĐTBD CBCC người DTTS, nhấn mạnh sự gắn kết ĐTBD với đặc điểm của CBCC người DTTS Các nghiên cứu tuy đi vào địa phương nhưng chưa làm nổi bật tính đặc thù của địa bàn, đề xuất mang tính vĩ mô, chưa thực sự chú ý đến các giải pháp cụ thể phù hợp với từng địa phương, dân tộc
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về xây dựng và nâng cao chất lượng CBCC cấp cơ sở/cấp xã
Cấp cơ sở/cấp xã có vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống chính trị - hành chính 4 cấp ở nước ta Vì vậy, đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở nói chung và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị, nên các công trình nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn về vấn đề này cũng tương đối phong phú và đa dạng
Trong cuốn sách “Luận cứ khoa học và một số giải pháp xây dựng đội ngũ
cán bộ lãnh đạo phường hiện nay”, Nguyễn Duy Hùng (2008) đã trình bày cơ sở lý
Trang 29luận và thực tiễn về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường, đồng thời giới thiệu một số giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường trong giai đoạn hiện nay Mặc dù đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường cũng là một bộ phận của CBCC cấp xã nhưng do xã và phường có những đặc thù riêng, nên các yêu cầu về chất lượng và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng CBCC phường và CBCC xã cũng có những điểm khác nhau Do đó, công trình này chưa tiếp cận được chất lượng và các giải pháp đặc thù để nâng cao chất lượng CBCC xã [29]
Hồ Công Dũng (2006) trong đề tài “Xây dựng đội ngũ CBCC cơ sở Tây
Nguyên giai đoạn 2006-2010” đã đề cập thực trạng đội ngũ CBCC người DTTS cơ
sở ở các tỉnh Tây Nguyên cho thấy công tác đào tạo còn chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn quản lý hành chính ở cơ sở Công tác ĐTBD CBCC cơ sở còn dàn trải, chưa đầu tư đúng mức cho nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và QLNN; chương trình ĐTBD còn nặng về lý thuyết, nội dung thiếu đổi mới, chưa thật sát với thực tế Tuy có quy định đặc thù về chế độ đối với cán bộ cấp xã, nhưng vẫn chưa phù hợp với tình hình KTXH ở mỗi địa phương, chế độ tiền lương và phụ cấp ở các
xã miền núi còn thấp, chưa thu hút được cán bộ về cơ sở [25]
Nguyễn Đức (2008) trong bài “Về đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn” nhận
định: Đội ngũ CBCC cấp xã nhìn chung còn yếu, tỷ lệ đã chuẩn hóa thấp và chưa đáp ứng mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ mà Nghị quyết số 17/NQ-TW đề ra Nhiều CBCC cấp xã chưa đào tạo cơ bản và có hệ thống, tỷ lệ cán bộ chưa đạt chuẩn còn cao Tác giả đề xuất các giải pháp đổi mới mạnh nội dung, hình thức quản lý chất lượng CBCC cấp xã theo chức danh; đổi mới, bổ sung, hoàn thiện giáo trình, tài liệu ĐTBD CBCC cơ sở sát với chức năng, nhiệm vụ của từng đối tượng [24]
Liên quan tới các nghiên cứu về xây dựng và nâng cao chất lượng CBCC cấp
cơ sở/cấp xã còn phải kể tới các công trình:“Đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở:
thực trạng và giải pháp” của TS Hà Quang Ngọc (1999) [39]; “Một số giải pháp tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở”của GS.TSKH Vũ Huy Từ (2002) [74];
“Nâng cao chất lượng CBCC cơ sở ở đồng bằng sông Cửu Long” của Nguyễn Huy
Kiệm [33]; “Nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC chính quyền cấp xã ở tỉnh Quảng
Trị hiện nay”của Dương Hương Sơn (2004), v.v [57] Nhìn chung, các công trình
Trang 30đều đề cập đến đội ngũ cán bộ cấp cơ sở nhưng trên các phương diện chung nhất và đặt trong phạm vi nghiên cứu tổ chức hoạt động của bộ máy chính quyền cơ sở
1.1.4 Các nghiên cứu về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp
cơ sở /cấp xã là người DTTS
Đây là nhóm công trình gần nhất với luận án của tác giả Nhóm công trình này cũng nghiên cứu dựa trên 2 cách tiếp cận: tiếp cận chung và tiếp cận từng nội dung cụ thể về nâng cao chất lượng CBCC cấp xã người DTTS
- Các công trình nghiên cứu chung về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS
Cuốn sách "Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hoá đời sống xã hội nông
thôn miền núi, vùng DTTS các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta" của TS Nguyễn Quốc
Phẩm (2000) đã tập trung trình bày thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở vùng nông thôn miền núi, vùng DTTS các tỉnh miền núi phía Bắc trước yêu cầu thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, những tác động từ thiết chế xã hội truyền thống đối với tổ chức và hoạt động của qui chế dân chủ ở cơ sở vùng nông thôn miền núi phía Bắc hiện nay, đồng thời kiến nghị những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm kiện toàn tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị, thực hiện quy chế dân chủ ở những địa bàn nói trên [43]
Cầm Thị Lai (2011) trong luận án “ĐTBD LLCT, hành chính cho đội ngũ
cán bộ chuyên trách cấp xã ở các tỉnh Tây Bắc giai đoạn hiện nay” đã đưa ra kinh
nghiệm ĐTBD LLCT-Hành chính (HC) cho cán bộ chuyên trách cấp xã (CBCTCX) là: (i) phải xây dựng được quy hoạch, kế hoạch ĐTBD LLCT-HC cụ thể, sát thực tế; (ii) chỉ đạo sát sao và kết hợp nhịp nhàng giữa các cấp lãnh đạo, đơn vị chức năng, đơn vị sử dụng cán bộ và cơ sở đào tạo; (iii) đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ giảng viên có trình độ, chuyên môn vững vàng, am hiểu thực tiễn; (iv) nắm chắc đặc điểm từng loại học viên để có phương pháp giảng dạy, quản lý phù hợp; (v) không ngừng đổi mới nội dung, chương trình ĐTBD LLCT-HC Giải pháp đẩy mạnh ĐTBD LLCT-HC cho CBCTCX ở Tây Bắc đến năm 2020 là: (i) bảo đảm kinh phí và cơ sở vật chất; nâng cao chất lượng giảng viên LLCT-HC; thực hiện đồng bộ các chế độ, chính sách; (ii) đề cao tự ĐTBD, tự rèn luyện; phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên tự học tập, tu dưỡng, v.v [34]
Trang 31Thạc sĩ Trần Thị Hạnh (2015) trong bài viết “Chất lượng đội ngũ CBCC cấp
xã từ sau Hội nghị Trung ương 5 khóa IX và một số kiến nghị” cho thấy trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ CBCC cấp xã nhìn chung thấp hơn so với mặt bằng chung của đội ngũ CBCC các cấp, không ít CBCC cấp xã chỉ ở trình độ "cầm tay chỉ việc", nên khi tham mưu QLNN và giải quyết các thủ tục hành chính còn nhiều lúng túng, dẫn đến sai phạm gây bức xúc, khiếu kiện trong nhân dân Bài viết của tác giả nói khá kỹ về chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã cả nước nhưng lại chưa phân tích sâu về nhóm CBCC cấp xã là người DTTS [26]
1.1.5 Các nghiên cứu về nâng cao chất lượng CBCC cấp xã nói chung và CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên
TS Nguyễn Thị Lan Hương trong bài viết “Thực trạng ĐTBD CBCC ở Việt
Nam hiện nay” đã cho thấy, đến tháng 8/2004, CBCC cấp xã ở Điện Biên phải quản
lý trên địa bàn rộng, hiểm trở, dân cư thưa thớt, trình độ dân trí thấp và thường xuyên phải giải quyết những vấn đề phức tạp Trong khi đó, trình độ của họ lại rất kém: học vấn tiểu học chiếm 40%, THCS chiếm 47%, THPT 13%; trình độ chuyên môn sơ cấp 7%, cao đẳng, đại học 1%, chưa qua đào tạo 86%; trình độ LLCT sơ cấp 12%, trung cấp 26%, cao cấp 0,2%, chưa qua đào tạo 61,8% Phần lớn CBCC cấp xã chưa qua đào tạo về kiến thức, kỹ năng QLNN Năng lực hoạt động của CBCC còn yếu kém, chưa ngang tầm nhiệm vụ ĐTBD thiếu cân đối, đồng bộ, thiên
về LLCT, QLNN, còn văn hoá, kỹ năng chuyên môn chưa được chú ý [30]
Lê Hữu (2010) trong bài “Điện Biên: Chú trọng đào tạo cán bộ người
DTTS” cho thấy sau gần 20 năm tạo nguồn cán bộ người DTTS, Điện Biên đã có
gần 900 học sinh cử tuyển tốt nghiệp ĐH, CĐ và THCN Hầu hết số sinh viên sau khi ra trường đã được phân công công việc hợp lý và trở thành nguồn cán bộ DTTS, phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển KTXH, XĐGN trên địa bàn [31]
ThS Phạm Minh Thủy (2012) trong bài“Công tác ĐTBD CBCC cấp xã tỉnh
Điện Biên 5 năm qua” đã chỉ ra: Đến 30/6/2011, trình độ của CBCC còn rất thấp so
với qui định: 8,6% có trình độ tiểu học, 30% chưa qua đào tạo chuyên môn, nghiệp
vụ, 54,6% chưa được đào tạo LLCT, 64% chưa được bồi dưỡng kiến thức QLNN Các lĩnh vực ĐTBD chưa đạt mục tiêu Kế hoạch 665/KH-UBND ngày 16/8/2006
Trang 32của UBND tỉnh Điện Biên Các lớp bồi dưỡng CBCC cấp xã tại huyện do nhiều cơ
sở đào tạo cùng thực hiện dẫn đến chồng chéo, lãng phí Nguồn kinh phí phân bổ cho các cơ sở đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế Chỉ tiêu phân bổ của một
số loại hình bồi dưỡng thường đến muộn Chất lượng ĐTBD chưa đáp ứng yêu cầu, kết hợp học với hành còn hạn chế CBCC cấp xã còn lúng túng khi vận dụng kiến thức đã học để giải quyết công việc cụ thể Chế độ, chính sách hỗ trợ cho CBCC cấp xã theo quyết định 17/2007/QĐ-UBND ngày 10/9/2007 của UBND tỉnh thấp và không còn phù hợp Xã hội hóa ĐTBD hầu như không thực hiện được, v.v [66]
Trường Chính trị tỉnh Điện Biên (2013) trong công trình “Công tác ĐTBD
CBCC cấp xã tỉnh Điện Biên – Thực trạng và giải pháp” đã nhận định rằng kết quả
ĐTBD của tỉnh đã tạo ra sự chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng CBCC cấp xã; cơ cấu đội ngũ CBCC cấp xã ngày càng hợp lý; các phẩm chất chính trị ngày càng đáp ứng; năng lực công tác ngày càng nâng cao, v.v Tuy vậy, trình độ mọi mặt của đội ngũ CBCC cấp xã vẫn còn thấp, 15% có trình độ tiểu học, trình độ THCS chiếm 61%; cán bộ dưới chuẩn về chuyên môn là 59%; 35% cán bộ và trên 80% công chức chưa qua ĐTBD LLCT; trên 64% chưa qua ĐTBD kiến thức QLNN; 79% chưa qua ĐTBD về tin học Đề tài đã xây dựng 5 nhóm giải pháp về ĐTBD CBCC cấp xã: ĐTBD gắn với quy hoạch, sử dụng; ĐTBD gắn với nâng cao
uy tín; Phát huy các nguồn lực; Nâng cao trình độ tin học; Xã hội hóa Đây là báo cáo khá toàn diện về ĐTBD CBCC cấp xã ở tỉnh Điện Biên, nhưng chưa phân tích sâu và toàn diện về chất lượng CBCC cấp xã người DTTS [73]
Nguyễn Thanh Tuyền (2009) trong luận văn “Chất lượng CBCC chính
quyền cấp xã ở tỉnh Điện Biên” đã đánh giá đội ngũ CBCC chính quyền cấp xã của
tỉnh Điện Biên (2004-2008) như sau: Đa số CBCC cấp xã có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, trung thành với lý tưởng, có lối sống giản dị, trong sáng, am hiểu đời sống nhân dân, tâm huyết với cơ sở CBCC cấp xã đã nỗ lực lớn trong học tập, rèn luyện, tu dưỡng, cho nên trình độ ngày càng cao, một số CBCC có tư duy mới (dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm), kỹ năng QLNN ngày càng thành thạo Bên cạnh đó, CBCC cấp xã vẫn còn một số hạn chế, bất cập Nguyên nhân chủ yếu là do chưa xây dựng được quy hoạch có tính chiến lược về cán bộ, nhất là tạo nguồn cán
bộ cơ sở, chưa chú trọng ĐTBD, rèn luyện kỹ năng QLNN cho CBCC cơ sở [76]
Trang 331.2 Đánh giá chung về các công trình đã tổng quan và hướng nghiên cứu tiếp theo của luận án
1.2.1 Các giá trị có thể kế thừa
Thông qua tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã nói chung và CBCC cấp xã người DTTS nói riêng, tác giả luận án nhận thấy có thể kế thừa một số nội dung sau:
- Các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp những lý luận khá toàn diện về chất lượng, nâng cao chất lượng CBCC nói chung và CBCC cấp xã nói riêng
- Các công trình nghiên cứu của nước ngoài đã cung cấp các bài học kinh nghiệm về nâng cao chất lượng của đội ngũ CBCC nói chung và CBCC cấp xã nói riêng Những kinh nghiệm đó giúp cho tác giả luận án hình thành các ý tưởng, lựa chọn những kinh nghiệm phù hợp để đề xuất áp dụng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS trên địa bàn nghiên cứu
- Thực trạng chất lượng CBCC nói chung và CBCC cấp xã nói riêng đã được các công trình phân tích làm rõ, với nguồn số liệu khá phong phú có thể giúp tác giả đối chiếu, so sánh khi đánh giá thực trạng chất lượng CBCC cấp xã nói chung
và CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên nói riêng Trên cơ sở đó, đề tài xác định được hướng nghiên cứu thực tiễn chính, những số liệu cần tiếp cận để xây dựng kế hoạch khảo sát, thu thập thông tin cần thiết cho đề tài
Luận án kế thừa các quan điểm và cách tiếp cận khác nhau về chất lượng đội ngũ CBCC, CBCC cấp xã và CBCC cấp xã người DTTS, từ đó phân tích, luận giải đưa ra cách tiếp cận riêng về chất lượng CBCC cấp xã người DTTS tỉnh Điện Biên
1.2.2 Các vấn đề liên quan đến luận án nhưng chưa được đề cập, luận giải trong các công trình đã tổng quan
Các công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan đến xây dựng
và nâng cao chất lượng CBCC, CBCC cấp xã nói chung và CBCC cấp xã người DTTS nói riêng khá đa dạng và phong phú, tập trung vào 5 nhóm chủ yếu
Nhóm thứ nhất, các công trình nghiên cứu chung về xây dựng và nâng cao
chất lượng CBCC hoặc nghiên cứu từng công cụ để nâng cao chất lượng CBCC tương đối nhiều trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, các công trình
Trang 34đó chủ yếu tập trung vào CBCC nói chung mà không đề cập đến CBCC cấp xã như một nhóm mang tính đặc thù riêng, do đó cần có cách tiếp cận và các tiêu chí đánh giá riêng Tính đặc thù của đội ngũ CBCC và đội ngũ CBCC cấp xã là người DTTS cũng chưa được đề cập Một số công trình bàn về ĐTBD CBCC trong bối cảnh CCHCNN, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, hội nhập quốc tế có thể coi là nguồn tài liệu quý Tuy nhiên, các công trình này còn dừng ở quy mô nhỏ, nội dung tản mạn, thiếu tính hệ thống
Nhóm thứ hai, các công trình nghiên cứu về xây dựng và nâng cao chất
lượng CBCC người DTTS cũng đề cập đến các một số tiêu chí đánh giá cũng như giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của CBCC và đội ngũ CBCC người DTTS Tuy nhiên, nhóm CBCC người DTTS còn được đề cập một cách hạn chế, chỉ nêu các vấn đề chung mà chưa cụ thể cho từng đối tượng, vùng miền, cấp độ quản lý
Nhóm thứ ba, các công trình nghiên cứu về xây dựng và nâng cao chất lượng
đội ngũ CBCC cấp xã cũng rất phong phú Đây cũng là nhóm công trình tương đối gần với đề tài luận án nhưng các số liệu thu thập hầu hết ở thời gian xa, chưa làm rõ được những điểm thật sự đặc thù của CBCC cấp xã người DTTS, các quan hệ lớn cần phải giải quyết về tính đặc thù khi nâng cao chất lượng Đặc biệt là hầu hết công trình không nêu được kết quả nghiên cứu đạt được bằng phương pháp gì, sử dụng công cụ lý thuyết nào Một số công trình tiếp cận các nội dung xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã mang tính tổng hợp và hệ thống Những công trình này có ưu điểm là đưa ra được bức tranh tổng thể về chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã, đề xuất được hệ giải pháp chung nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ này Tuy nhiên, các giải pháp rất chung chung do không gắn liền với vùng, miền, địa phương, đối tượng, nên có những hạn chế nhất định khi áp dụng vào một địa bàn cụ thể với những đặc thù riêng Một số công trình tiếp cận cụ thể các công cụ nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã như tuyển chọn, ĐTBD, quy hoạch, sử dụng, v.v Tuy các công trình này nghiên cứu rất chuyên sâu về một nội dung cụ thể nhưng lại thiếu tính đồng bộ và hệ thống trong việc giải quyết các vấn đề nâng cao chất lượng của đội ngũ CBCC cấp xã Một số công trình chỉ nghiên cứu đội ngũ cán
bộ hoặc hẹp hơn là cán bộ lãnh đạo phường mà không đề cập đến đội ngũ công
Trang 35chức xã, do đó chưa thể hiện được tính đại diện về chất lượng đội ngũ CBCC cấp
xã Hơn nữa, tất cả các công trình không đề cập đến tính đặc thù của CBCC là người DTTS (đặc biệt là DTTS ở miền núi phía Bắc) trong nghiên cứu chất lượng đội ngũ Theo đó, các kết quả nghiên cứu không gắn với đặc trưng dân tộc, văn hoá, tín ngưỡng, tri thức bản địa, điều kiện môi trường và các yêu cầu đối với chất lượng của CBCC cấp xã người DTTS và CBCC cấp xã người DTTS ở miền núi phía Bắc
Nhóm thứ tư gồm các công trình nghiên cứu về xây dựng và nâng cao chất
lượng đội ngũ CBCC cấp xã là người DTTS Có thể thấy số lượng các công trình này không nhiều nhưng rất gần với đề tài luận án, vì vậy luận án có thể kế thừa một
số tư liệu và các đánh giá, nhận xét có giá trị Tuy các công trình này thể hiện được đặc trưng của đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS nhưng chủ yếu chỉ xem chất lượng đội ngũ CBCC như một giải pháp đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở, hoặc nghiên cứu chuyên sâu một hoạt động cụ thể nhằm nâng cao chất lượng CBCC Còn trống vắng các công trình nghiên cứu vừa có tính hệ thống, vừa chuyên sâu về chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS, mà chủ yếu vẫn là các bài viết đơn lẻ công bố trên báo, tạp chí Thậm chí các phản ánh dạng báo nhiều hơn các nghiên cứu học thuật công bố trên tạp chí khoa học hay báo cáo đề tài, sách chuyên khảo
Nhóm thứ năm, các công trình nghiên cứu về nâng cao chất lượng CBCC cấp
xã nói chung và CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên là những công trình nghiên cứu gần nhất với đề tài nhưng chủ yếu tiếp cận về hoạt động ĐTBD CBCC cấp xã Công trình dưới dạng luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thanh Tuyền cũng nghiên cứu về nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã ở tỉnh Điện Biên, nhưng chưa đề cập đến tính đặc thù của CBCC cấp xã là người DTTS Hơn nữa, do ở mức
độ luận văn, nên chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã chưa được phân tích, luận giải một cách hệ thống, số liệu cũng đã cũ vì thực hiện từ năm 2009 Nhìn chung, các công trình nghiên cứu có tính chiều sâu, mang tính học thuật còn rất trống vắng, phản ánh đây là lĩnh vực chưa được đề cập một cách cơ bản và có hệ thống
Các công trình nghiên cứu của nước ngoài góp phần không nhỏ trong việc cung cấp các kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC Tuy nhiên, các công trình này phản ánh tình hình nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC trong môi trường
Trang 36có sự khác nhau về thể chế chính trị, pháp lý, điều kiện kinh tế, văn hoá - xã hội với nước ta, cho nên cần tham khảo, nghiên cứu tìm ra những giá trị phù hợp để tiếp thu
và vận dụng cho Việt Nam nói chung và Điện Biên nói riêng
Từ những nhận xét, đánh giá trong phần tổng quan có thể thấy, nhìn chung các nghiên cứu trong và ngoài nước về chất lượng đội ngũ CBCC rất phong phú ở tầm vĩ mô và vi mô Tuy nhiên, các nghiên cứu về chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS nói chung và CBCC cấp xã người DTTS ở miền núi phía Bắc nói riêng còn hạn chế Đặc biệt chưa có nghiên cứu riêng ở tầm chuyên khảo hay luận án tiến
sĩ về chất lượng CBCC cấp xã người DTTS và đề xuất giải pháp toàn diện để nâng cao chất lượng CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên Hơn nữa, các công trình đó ít gắn với điều kiện phát triển KTTT, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và hội nhập quốc tế Tính đặc thù trong các tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ CBCC người DTTS ở tỉnh Điện Biên cũng chỉ mới đề cập một cách giản lược Mối quan hệ và sự khác biệt giữa chất lượng CBCC cấp xã người DTTS và chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã ở tỉnh Điện Biên cũng chưa được giải thích rõ ràng Đây chính là những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trên cả phương diện lý luận và thực tiễn
1.2.3 Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài
Từ những luận giải ở trên cho thấy, hiện đang có một khoảng trống cả về lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu về chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS nói chung và đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên nói riêng (như đã chỉ ra ở mục 1.2.2) Luận án này được thực hiện nhằm làm rõ những vấn đề
lý luận và thực tiễn đó Đây cũng chính là điểm mới và khác biệt của đề tài này với các công trình nghiên cứu trước đó
Do vậy, hướng nghiên cứu của đề tài được xác định như sau:
Một là, sử dụng cách tiếp cận hệ thống và gắn liền với tính đặc thù của đội
ngũ CBCC cấp xã người DTTS để nghiên cứu chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên
Hai là, đặt trong điều kiện mới là phát triển KTTT hiện đại, xây dựng nhà
nước pháp quyền XHCN, hội nhập quốc tế để xác định những yêu cầu về chất
Trang 37lượng đối với đội ngũ CBCC cấp xã là người DTTS ở tỉnh Điện Biên, từ đó xây dựng các tiêu chí để đo lường, đánh giá chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã người DTTS tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ mới
Ba là, xem xét, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ
CBCC cấp xã người DTTS ở tỉnh Điện Biên, đặc biệt nhấn mạnh vào các yếu tố gắn với bối cảnh phát triển nền KTTT hiện đại, CCHCNN và hội nhập quốc tế sâu rộng, với đặc thù cấp xã ở tỉnh Điện Biên - một tỉnh miền núi phía Bắc và đội ngũ CBCC cấp xã là người DTTS
Bốn là, tìm kiếm những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã
người DTTS ở tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới trong đó đặc biệt
Thông qua tổng quan, từng công trình và nhóm công trình đã được nhận xét, đánh giá chỉ ra những những ưu điểm, hạn chế, khung lý thuyết và phương pháp được sử dụng Qua đó khẳng định các giá trị luận án có thể kế thừa trên cả mặt tư liệu, lý thuyết tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, các nhận định, kết luận; chỉ ra những vấn đề còn khoảng trống hoặc chưa đầy đủ cần phải tiếp tục nghiên cứu, đồng thời xác định hướng nghiên cứu của đề tài luận án trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn
Kết quả của chương 1 có ý nghĩa quan trọng cho định hình khung lý thuyết ở chương 2 và kế thừa dữ liệu cho triển khai chương 3 và chương 4 của luận án, đồng thời là cơ sở để khẳng định điểm mới của đề tài không trùng lắp với những công trình nghiên cứu trước
Trang 38CHƯƠNG 2
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG
ĐIỀU KIỆN MỚI
2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò, vị trí của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số
2.1.1 Khái niệm CBCC cấp xã người DTTS
- Khái niệm cán bộ, công chức
Cán bộ, công chức là khái niệm mang tính chính trị, pháp lý, lịch sử, xã hội
Vì vậy, tuỳ thuộc vào thể chế chính trị, lịch sử, xã hội của mỗi quốc gia mà khái niệm về cán bộ, công chức có cách hiểu và luận giải khác nhau
Ở nước ta, chỉ đến năm 1950 mới có quy định về công chức Việt Nam Còn
“cán bộ” là thuật ngữ được du nhập từ Trung Quốc, sử dụng phổ biến thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ban đầu chỉ các sĩ quan quân đội để phân biệt với chiến sĩ, sau
mở rộng chỉ những người thoát ly khỏi sản xuất nông nghiệp Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Chính phủ chỉ xác định “công chức”, còn “cán bộ” không được
đề cập Đến Pháp lệnh CBCC (1998), thuật ngữ “cán bộ, công chức” mới được sử dụng chung, nhưng chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa cán bộ và công chức
Giai đoạn 1998-2003, công chức được xác định trong cả hai khu vực hành chính nhà nước và sự nghiệp Nghị định số 95/1998/NĐ-CP đã cụ thể hóa công
chức:“là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước, bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp; những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng” [9]
Sau khi Luật CBCC (2008) [50] ra đời, các khái niệm cán bộ và công chức
được phân biệt khá rõ ràng Khoản 1 Điều 4 Luật CBCC (2008) quy định cán bộ là
công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của ĐCS Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở
Trang 39trung ương, ở cấp tỉnh, ở cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Khoản 2 Điều 4 Luật CBCC (2008) quy định công chức là công dân Việt
Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của ĐCS Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc công
an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công theo quy định của pháp luật [50] Tóm lại, cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn,
bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; còn công chức thì gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh
- Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã
Theo khoản 3 Điều 4 của Luật CBCC (2008) [50], cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị
- xã hội Cán bộ cấp xã có các chức vụ: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, UBND; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc (UBMTTQ); Bí thư Đoàn Thanh niên (ĐTN); Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ (HPN); Chủ tịch Hội Nông dân (HND, áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức HND); Chủ tịch Hội Cựu chiến binh (HCCB)
Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Công chức cấp xã có các chức danh: Trưởng Công an (CA); Chỉ huy trưởng Quân sự (QS); Văn phòng - thống kê (VP-TK); Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa -
xã hội [50] Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý CBCC cấp xã bao gồm cả CBCC được luân chuyển, điều động, biệt phái về
Trang 40Trong luận án này, nội hàm khái niệm CBCC cấp xã được hiểu theo khái niệm CBCC cấp xã quy định trong Luật CBCC (2008) [50]
- Khái niệm CBCC cấp xã người DTTS
Khái niệm DTTS dùng để chỉ sự tương quan về dân số giữa các dân tộc - tộc người trong một quốc gia đa dân tộc - tộc người Khái niệm này xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển mà chỉ bị chi phối bởi điều kiện kinh tế, chính trị, lịch sử của từng dân tộc Theo đó, DTTS là những dân tộc có dân số chiếm tỷ lệ thấp trong tương quan dân số cả nước Đây là một cách tính quan trọng, bởi trong rất nhiều trường hợp, một DTTS trên phạm vi toàn quốc nhưng tại một địa phương cụ thể lại trở thành đa số, như người Nùng ở Lạng Sơn, người Thái ở Sơn La Trong hơn 90 triệu người dân Việt Nam có hơn 80% là người Kinh được gọi là dân tộc đa số, 53 dân tộc còn lại chiếm hơn 10% dân số được gọi là người DTTS trong cộng đồng dân tộc Việt Nam
Từ phân tích, luận giải về khái niệm CBCC, CBCC cấp xã có thể xác định
CBCC cấp xã người DTTS là những CBCC trong một tổ chức xác định của hệ
thống chính trị cấp xã, có thành phần xuất thân từ các dân tộc – tộc người thiểu số Việt Nam, được phân biệt trong tương quan với dân tộc Kinh là dân tộc đa số
Như đã trình bày trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, khái niệm CBCC cấp
xã theo quan niệm trong các văn bản pháp lý hiện hành ở Việt Nam có phạm vi rất rộng bao gồm không chỉ những người làm việc trong các cơ quan QLNN mà cả những người làm việc trong tổ chức chính trị, chính trị - xã hội Tuy nhiên, do mục tiêu, tính chất, đặc điểm công việc của cơ quan QLNN khác với tổ chức chính trị, chính trị - xã hội nên yêu cầu về chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã trong cơ quan QLNN và chất lượng đội ngũ CBCC trong tổ chức chính trị, chính trị - xã hội cũng khác nhau Vì vậy, để đảm bảo tính khoa học, hợp lý và đạt được mục tiêu nghiên cứu đặt ra, đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu đội ngũ CBCC chính quyền cấp xã người DTTS bao gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND và 7 chức danh công chức xã là người DTTS