Tổ chức hạch toán tài sản cố định với vấn đề quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại Công ty thực phẩm miền Bắc
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Tài sản cố định là yếu tố cơ bản tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật của toàn
bộ nền kinh tế quốc dân Đối với mỗi doanh nghiệp tài sản cố định (TSCĐ) là bộ
phận cơ bản của vốn kinh doanh, là hình thái biểu hiện của vốn cố định, nó thể
hiện trình độ công nghệ, năng lực và thế mạnh của doanh nghiệp trong sản xuất
kinh doanh, đồng thời là điều kiện cần thiết để giảm bớt sức lao động và nâng
cao năng suất lao động TSCĐ gắn liền với doanh nghiệp trong mọi thời kỳ phát
triển của nền kinh tế, đặc biệt trong điều kiện hiện nay khi mà khoa học kỹ thuật
trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì vai trò của TSCĐ lại càng quan trọng
Trongnền kinh tế thị trường các doanh nghiệp không chỉ đơn thuần ở việc
có và sử dụng TSCĐ mà điều quan trọng là phải bảo toàn, phát triển và sử dụng
có hiệu quả các tài sản cố định hiện có Vì vậy các doanh nghiệp phải có chế độ
quản lý thích đáng, toàn diện đối với TSCĐ từ tình hình tăng giảm cả về số
lượng và giá trị đến tình hình sử dụng, hao mòn và sửa chữa TSCĐ, phải sử
dụng hợp lý, đầy đủ, phát huy hết công suất của TSCĐ tạo điều kiện hạ giá
thành sản phẩm, thu hồi vốn đầu tư nhanh để tái sản xuất trang bị và đổi mới
công nghệ, từ đó góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, từng bước cải thiện đời
sống cho người lao động
Xuất phát từ đặc điểm riêng của TSCĐ là có giá trị lớn và thời gian sử
dụng lâu dài, cũng như vị trí quan trọng của TSCĐ trong quá trình sản xuất kinh
doanh, đòi hỏi công tác kế toán TSCĐ ngày càng được chú trọng và nâng cao,
tạo điều kiện củng cố và hoàn thiện công tác quản lý TSCĐ của nhà nước nói
chung và của mỗi doanh nghiệp nói riêng, đồng thời phát huy được khả năng mở
rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp thông qua trang bị TSCĐ
Công ty thực phẩm miền Bắc là một doanh nghiệp cùng hoạt động kinh
doanh tự chủ với hàng ngàn doanh nghiệp khác trong nền kinh tế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước, đang đứng trước một vấn đề cấp bách là: phải quản lý
và sử dụng có hiệu quả năng lực sản xuất của TSCĐ hiện có
Trang 2Sau một thời gian thực tập tại Công ty thực phẩm miền Bắc trên cơ sở
những kiến thức đã được học, với sự hướng dẫn giúp đỡ của thầy cô giáo em xin
chọn đề tài
"Tổ chức hạch toán tài sản cố định với vấn đề quản lý và nâng cao hiệu
quả sử dụng tài sản cố định tại Công ty thực phẩm miền Bắc"
Thông qua đó, bản thân em có điều kiện vận dụng những kiến thức đã học
vào thực tiễn trong một cơ sở nhất định để khi ra trường có thể phát huy được
năng lực thực hành nghề nghiệp chuyên môn trước yêu cầu ngày càng cao của
xã hội
Kết cấu của bản chuyên đề gồm 3 phần chính :
Phần I: Cơ sở lý luận chung về tổ chức hạch toán TSCĐ và các biện
pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp
Phần II: Tổ chức hạch toán TSCĐ và quản lý TSCĐ tại Công ty thực
phẩm miền Bắc
Phần III: Phương hướng hoàn thiện công tác kế toán và quản lý TSCĐ
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ tại Công ty Thực phẩm miền Bắc
Trang 3PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC HẠCH TOÁN TSCĐ VÀ CÁC
BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TSCĐ
TRONG DOANH NGHIỆP
I VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH
1 Khái niệm tài sản cố định
Trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử, lao động sản xuất là hoạt động cơ
bản của loài người để tạo ra sản phẩm làm cơ sở cho xã hội tồn tại và phát triển
Sản xuất là sự tác động qua lại của 3 yếu tố cơ bản: sức lao động, tư liệu
lao động và đối tượng lao động Trong các yếu tố hợp thành tư liệu lao động thì
TSCĐ là một bộ phận bao gồm toàn bộ những tư liệu lao động có giá trị lớn và
có thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh
Hình thái vật chất ban đầu của TSCĐ được giữ nguyên trong suốt quá trình sản
xuất cho đến lúc chúng bị hỏng, chỉ có giá trị của chúng bị hao mòn dần và được
dịch chuyển từng phần vào chi phí sản xuất Tiêu chuẩn giá trị và thời gian sử
dụng quy định cho TSCĐ có sự thay đổi theo sự phát triển của nền sản xuất xã
hội và tuỳ thuộc vào quy định của mỗi quốc gia ở nước ta hiện nay đang quy
định TSCĐ là những tư liệu lao động có giá trị từ 5.000.000đ trở lên và thời gian
sử dụng trên một năm Ngoài những tiêu chuẩn nêu trên trong thực tế có một số
tư liệu lao động riêng biệt có thể không đủ những tiêu chuẩn về giá trị và thời
gian sử dụng như trên nhưng khi sử dụng chúng đòi hỏi phải được tập hợp
thành tổ hợp sử dụng đồng bộ và tổ hợp này thoả mãn cả hai tiêu chuẩn của tài
sản cố định Ví dụ: những thiết bị dây chuyền máy móc
Tiêu thức để phân biệt đối tượng lao động với TSCĐ không chỉ đơn
thuần dựa vào thuộc tính vật chất của chúng mà phải chủ yếu dựa vào tính chất
tham gia và tác dụng của nó trong sản xuất kinh doanh Điều này được khẳng
định trên thực tế cùng một tài sản trong trường hợp này nó được coi là TSCĐ,
trong trường hợp khác nó được coi là đối tượng lao động Chẳng hạn súc vật
trong nông nghiệp nếu để lấy sữa, kéo cày, sinh sản thì chúng là TSCĐ Còn nếu
Trang 4nuôi béo để lấy thịt thì chúng là đối tượng lao động Trong công nghiệp, xây
dựng thì những máy móc, thiết bị, công trình chưa bàn giao không phải là
TSCĐ nếu chúng nằm trong kho tàng chờ tiêu thụ, chờ thủ tục bàn giao thanh
toán hay chúng là đối tượng để nghiên cứu, thí nghiệm
Do tài sản cố định có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài nên cần có
nguồn vốn nói riêng, nguồn vốn để xây dựng và mua sắm TSCĐ là nguồn vốn
xây dựng cơ bản và quỹ đầu tư phát triển
2 Đặc điểm của tài sản cố định
Tài sản cố định tham gia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào nhiều chu
kỳ sản xuất kinh doanh Trong qúa trình đó, mặc dù tài sản cố định bị hao mòn
về mặt giá trị, song chúng vẫn giữ nguyên được hình thái vật chất ban đầu, chỉ
khi đã bị hư hỏng hoặc hao mòn hoàn toàn thì chúng mới cần được thay thế đổi
mới
Trong quá trình sử dụng phần giá trị của TSCĐ được chuyển dịch dần vào
chi phí giá thành của sản phẩm làm ra và được gọi là trích khấu hao TSCĐ và
khi thành phẩm được tiêu thụ thì phần hao mòn TSCĐ được chuyển thành vốn
tiền tệ Vốn này hàng tháng được tích luỹ lại thành nguồn vốn khấu hao để tái
sản xuất TSCĐ khi cần thiết
TSCĐ là sản phẩm lao động nó vừa có giá trị và giá trị sử dụng nếu nó là
hàng hoá như mọi hàng hoá thông thường khác Thông qua mua bán trao đổi,
TSCĐ có thể được chuyển quyền sử dụng và quyền sở hữu từ chủ thể này sang
chủ thể khác trên thị trường tư liệu sản xuất
Xuất phát từ đặc điểm mà tài sản cố định nên trong sản xuất kinh doanh
nó có một vai trò rất quan trọng ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp
3 Vai trò của TSCĐ trong sản xuất kinh doanh và yêu cầu của việc
quản lý tài sản cố định
Tài sản cố định gắn liền với doanh nghiệp trong suốt quá trình tồn tại và
phát triển, doanh nghiệp có thể nhỏ, tài sản có thể ít, giá trị có thể không lớn
nhưng vai trò của TSCĐ thì không nhỏ Việc tăng cường đổi mới TSCĐ, nâng
Trang 5cao chất lượng, xây dựng, lắp đặt TSCĐ là một trong những biện pháp có tính
theo chốt để tăng năng xuất lao động, tạo ra sản phẩm chất lượng cao, giá thành
hạ do đó mới có đủ sức cạnh tranh trên thị trường, tạo điều kiện cho doanh
nghiệp phát triển, thực hiện tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước, góp phần cải thiện
đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động
Xuất phát từ những đặc điểm cơ bản và vai trò vô cùng quan trọng của tài
sản cố định mà dẫn đến yêu cầu việc quản lý TSCĐ phải có phương pháp riêng,
được xây dựng một cách khoa học, hợp lý để có thể quản lý chặt chẽ, khai thác
có hiệu quả nhất Việc tổ chức công tác hạch toán để thường xuyên theo dõi,
nắm bắt tình hình tăng giảm tài sản cố định và sốlượng và giá trị, tình hình sử
dụng và hao mòn tài sản cố định có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác quản
lý và sử dụng đầy đủ hợp lý công suất của TSCĐ góp phần phát triển sản xuất,
thu hồi vốn đầu tư nhanh để tái sản xuất, trang bị thêm và không ngừng đổi mới
TSCĐ
Hạch toán tài sản cố định trong các doanh nghiệp phải đảm bảo các nhiệm
vụ chủ yếu sau:
- Ghi chép, phản ánh tổng hợp chính xác kịp thời số lượng, giá trị tài sản
cóo định hiện có, tình hình tăng giảm, cững như tại từng bộ phận sử dụng tài sản
cố định, tạo điều kiện cung cấp thông tin để kiểm tra, giám sát thường xuyên
việc giữ gìn, bảo quản, bảo dưỡng tài sản cố định và kế hoạch đầu tư đổi mới tài
sản cố định trong từng đơn vị
- Tính toán và phân bổ chính xác mức khấu hao tài sản cố định vào chi
phí sản xuất - kinh doanh theo mức độ hao mòn của tài sản và chế độ quy định
- Tham gia lập kế hoạch sửa chữa và dự toán chi phí sửa chữa TSCĐ,
giám sát việc chửa chữa TSCĐ về chi phí và kết quả của công việc sửa chữa
- Tính toán phản ánh kịp thời, chính xác tình hình xây dựng trang thiết bị
đổi mới, nâng cấp hoặc tháo dỡ bớt làm tăng giảm nguyên tài sản cố định cũng
như tình hình thanh lý, nhượng bán tài sản cố định
Trang 6- Hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị, các bộ phận phụ thuộc trong các doanh
nghiệp thực hiện đầy đủ chế độ ghi chép ban đầu về tài sản cố định, mở các sổ,
thẻ kế toán cần thiết và hạch toán tài sản cố định đúng chế độ quy định
- Tham gia kiểm tra đánh giá lại tài sản cố định theo quy định của Nhà
nước và yêu cầu bảo quản vốn, tiến hành phân tích tình hình trang bị, huy động
bảo quản, sử dụng tài sản cố định tại đơn vị
II PHÂN LOẠI VÀ ĐÁNH GIÁ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH
1 Phân loại tài sản cố định
Tài sản cố định là một biểu hiện của vốn cố định Tài sản cố định có nhiều
loại, nhiều thứ có đặc điểm và yêu cầu quản lý rất khác nhau Để thuận tiện cho
công tác quản lý và hạch toán tài sản cố định, cần thiết phải phân loại tài sản cố
định Phân loại TSCĐ là sắp xếp lại tài sản cố định thành từng loại, từng nhóm
theo những đặc trưng nhất định phù hợp với các yêu cầu khác nhau của quản lý
Tài liệu phân loại được dùng để lập kế hoạch sản xuất, mua sắm, sửa chữa, hiện
đại hoá tài sản Phân loại chính xác sẽ tạo điều kiện phát huy tác dụng của tài
sản cố định trong qúa trình sử dụng, đồng thời phục vụ tốt công tác thống kê kế
toán tài sản cố định ở các doanh nghiệp Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ
thuật sự ra đời nhiều loại tài sản mới, cùng sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh
tế mà nhiều tiêu thức phân loại tài sản cố định mới được đưa ra, song trong thực
tế có các cách phân loại sau
1.1 Phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện kết hợp với đặc
trưng kỹ thuật và kết cấu TSCĐ
Trong thực tế, ngoài các tài sản mang hình thái vật chất cụ thể, còn có
các tài sản tuy không mang hình thái vật chất nhưng vẫn đóng góp vai trò quan
trọng vào qúa trình sản xuất và mang lại lợi nhuận cho các doanh nghiệp
Theo cách phân loại này toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành
2 loại
Loại 1: TSCĐ hữu hình
TSCĐ hữu hình là những tư liệu lao động có hình thái vật chất cụ thểm có
đủ tiêu chuẩn giá trị và thời gian sử dụng theo chế độ quy định hiện nay là giá trị
Trang 7từ 5.000.000 đ trở lên, thời gian sử dụng trên 1 năm Thuộc loại TSCĐ hữu hình
bao gồm:
- Nhà cửa vật kiến trúc: bao gồm các công trình xây dựng cơ bản như nhà
cửa, vật kiến trúc hàng đầu , bể tháp nước, các công trình cơ sở hạ tầng như
đường xá, cầu cống phục vụ hạch toán kinh doanh
- Máy móc thiết bị: bao gồm các loại máy móc thiết bị dùng trong hoạt
động sản xuất kinh doanh như máy móc chuyên dùng, thiết bị văn phòng, dây
truyền công nghệ
- Thiết bị phương tiện vận tải truyền dẫn: là các phương tiện dùng để vận
chuyển như các loại đầu máy, đường ống và phương tiện khác (ô tô, máy kéo, xe
goòng, xe tải )
- Thiết bị, dụng cụ dùng cho quản lý: gồm các thiết bị dụng cụ phục vụ
cho quản lý như dụng cụ đo lường, máy tính, máy điều hoà
- Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm: gồm các loại cây lâu
năm (chè, cà phê, cao su ) súc vật làm việc (với, bò, ngựa cày kéo ) và súc vật
nuôi để lấy sản phẩm (bò sữa, súc vật sinh sản )
- Tài sản cố định hữu hình khác: bao gồm những TSCĐ mà chưa được
quy định, phản ánh vào các loại tên tác phẩm nghệ thuậ, sách chuyên môn kỹ
thuật
Loại 2: Tài sản cố định vô hình:
Là các tài sản cố định không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá
trị kinh tế lớn liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh như: quyền sử
dụng đất, chi phí thành lập chuẩn bị sản xuất, bằng phát minh sáng chế
- Quyền sử dụng đất: Bao gồm toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra liên
quan đến việc giành quyền sử dụng đất đai, mặt nước trong một khoảng thời
gian nhất định
- Chi phí thành lập, chuẩn bị sản xuất: bao gồm các chi phí liên quan đến
việc thành lập, chuẩn bị sản xuất, chi phí khai hoang như chi cho công tác
nghiên cứu thăm dò, lập dự án đầu tư, chi phí về huy động vốn ban đầu, chi phí
đi lại, hội họp, quảng cáo khai trương
Trang 8- Bằng phát minh sáng chế: là các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để
mua lại các bản quyền tác giả, bằng sáng chế hoặc trả cho các công trình nghiên
cứu, sản xuất thử được nhà nước cấp bằng phát minh sáng chế
- Chi phí nghiên cứu phát triển: là các chi phí cho việc nghiên cứu, phát
triển doanh nghiệp do đơn vị tư thực hiện hoặc thuê ngoài
- Lợi thế thương mại: là các khoản chi phí về lợi thế thương mại do doanh
nghiệp phải trả thêm ngoài giá trị thực tế của các TSCĐ hữu hình bởi sự thuận
lợi của vị trí thương mại, sự tín nhiệm của khách hàng hoặc danh tiếng của
doanh nghiệp
- TSCĐ vô hình khác, bao gồm những loại TSCĐ vô hình khác chưa quy
định phản ánh ở trên như: quyền đặc nhượng, quyền thuê nhà, bản quyền tác giả,
quyền sử dụng hợp đồng độc quyền nhãn hiệu và tên hiệu
1.2 Phân loại tài sản cố định theo quyền sở hữu
Theo cách này toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp được phân thành TSCĐ
tự có và TSCĐ thuê ngoài
* Tài sản cố định tự có: là những TSCĐ xây dựng, mua sắm hoặc chế tạo
bằng nguồn vốn của doanh nghiệp do ngân sách cấp, do đi vay của ngân hàng,
bằng nguồn vốn tự bổ sung, nguồn vốn liên doanh
* Tài sản cố định đi thuê: là tất cả các TSCĐ mà doanh nghiệp thuê ngoài
để phục vụ cho yêu cầu sản xuất kinh doanh TSCĐ đi thuê lại được phân thành
- TSCĐ thuê hoạt động: là những TSCĐ đơn vị đi thuê của các đơn vị
khác để sử dụng trong một thời gian nhất định theo hợp đồng ký kết
- TSCĐ đi thuê dài hạn: thực chất đang là sự thuê vốn, là những TSCĐ
mà doanh nghiệp có quyền sử dụng, còn quyền sở hữu sẽ thuộc về doanh nghiệp
nếu trả hết nợ
1.3 Tài sản cố định phân theo nguồn hình thành
Theo cách phân loại này TSCĐ được phân thành:
- TSCĐ mua sắm, xây dựng bằng vốn được cấp (ngân sách hoặc cấp trên)
- TSCĐ mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn tự bổ sung của đơn vị (quỹ
phát triển sản xuất, quỹ phúc lợi )
Trang 9- TSCĐ nhận góp vốn liên doanh bằng hiện vật
Phân loại TSCĐ theo nguồn hình thành doanh nghiệp có thể sử dụng và
phân phối nguồn vốn khấu hao chính xác để trả tiền vay, trả vốn góp liên doanh,
nộp ngân sách hay để lại doanh nghiệp
1.4 Phân loại tài sản theo công dụng và tình hình sử dụng
Theo cách phân loại này TSCĐ được phân thành các loại sau:
- TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh: là những tài sản cố định đang
thực tế sử dụng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị Những
TSCĐ này bắt buộc phải trích khấu hao và tính vào chi phí sản xuất kinh doanh
- TSCĐ hành chính sự nghiệp: là TSCĐ của các đơn vị hành chính sự
nghiệp (như đoàn thể quần chúng, tổ chức y tế, văn hoá, thể thao )
- TSCĐ phúc lợi: là những TSCĐ của đơn vị dùng cho nhu cầu phúc lợi
công cộng như nhà văn hoá, nhà trẻ, câu lạc bộ, xe ca phúc lợi
- TSCĐ chờ xử lý: bao gồm những TSCĐ không cần dùng, chưa cần dùng
vì thừa so với nhu cầu sử dụng hoặc vì không thích hợp với sự đổi mới quy trình
công nghệ, bị hư hỏng chờ thanh lý TSCĐ tranh chấp chờ giải quyết Những
TSCĐ này cần xử lý nhanh chóng để thu hồi vốn sử dụng cho việc đầu tư đổi
mới TSCĐ
Tất cả TSCĐ của đơn vị phải được tổ chức quản lý và hạch toán theo từng
đối tượng riêng biệt gọi là đối tượng ghi TSCĐ Đối tượng ghi TSCĐ là những
tài sản có kết cấu độc lập và thực hiện một chức năng nhất định hoặc có thể là
một tổ hợp liên kết nhiều bộ phận phối hợp với bộ phận chính thành một chính
thể để thực hiện một chức năng không thể tách rời
Để thuận tiện cho công tác hạch toán và quản lý mới đối tượng ghi TSCĐ
phải đánh số ký hiệu riêng biệt gọi là số hiệu TSCĐ
2 Đánh giá tài sản cố định
Đánh giá TSCĐ là biểu hiện giá trị TSCĐ bằng tiền theo những nguyên
tắc nhất định Nói một cách khác đánh giá TSCĐ là việc xác định giá trị ghi sổ
tài sản cố định Đây là điều kiện cần thiết để kế hoạch hoá và hạch toán tài sản
cố định, tính và phân bổ chính xác khấu hao và phân tích hiệu quả sử dụng vốn
Trang 10cố định trong đơn vị Theo quy định hiện hành, tài sản cố định được hạch toán
theo nguyên giá Việc tính tài sản cố định theo nguyên giá là một hình thức đo
lường của hạch toán bằng tiền, vừa có tác dụng tổng hợp toàn bộ tài sản cố định
của đơn vị và đánh giá năng lực sản xuất, vừa là cơ sở cho tính toán về chi phí,
về vốn trong đơn vị
Ngoài ra từ nguyên giá ta có thể tính được giá trị còn lại bằng cách lấy
nguyên giá trừ đi hao mòn Gía trị còn lại của tài sản cố định một mặt phản ánh
tình trạng của TSCĐ mặt khác phản ánh được quy mô nguồn vốn hiện tại của
đơn vị
2.1 Nguyên giá TSCĐ: bao gồm toàn bộ các chi phí liên quan đến việc
xây dựng, mua sắm TSCĐ kể cả chi phí vận chuyển lắp đặt chạy thử trước khi
dùng và được quy định theo từng trường hợp cụ thể như sau:
2.1.1 Xác định nguyên giá tài sản cố định hữu hình:
- Tài sản cố định mua sắm mới (hoặc đã qua sử dụng);
Nguyên giá gồm giá mua theo hoá đơn của người bán trừ đi các khoản
giảm giá, chiết khấu mua hàng (nếu có) và các khoản phí tổn khác như: chi phí
vận chuyển, lắp đặt, chạy thử
- Tài sản cố định do xây dựng cơ bản bàn giao: Nguyên giá bao gồm giá
trị thực tế (giá trị quyết toán) của TSCĐ tự xây dựng và chi phí lắp đặt, chạy thử
(nếu có)
- Tài sản cố định được cấp, được điều chuyển đến: Nguyên giá gồm giá trị
còn lại trên sổ kế toán ở đơn vị cấp, đơn vị điều chuyển hoặc gía trị theo đánh
giá thực tế của hội đồng giao nhận, các chi phí tân trang, chi phí sửa chữa, chi
phí vận chuyển, bốc dỡ, lắp đặt, chạy thử, lệ phí trước bạ (nếu có) mà bên nhận
tài sản phải chi ra trước khi đưa tài sản cố định vào sử dụng
Riêng nguyên giá tài sản cố định điều chuyển giữa các đơn vị thành viên
hạch toán phụ thuộc trong doanh nghiệp là nguyên giá phản ánh ở đơn vị điều
chuyển phù hợp với bộ hồ sơ của tài sản cố định đó (bộ hồ sơ gồm: biên bản
giao nhận tài sản cố định, hợp đồng, hoá đơn mua tài sản cố định và các giấy tờ
khác có liên quan) Đơn vị nhận tài sản cố định căn cứ vào nguyên giá, số khấu
Trang 11hao luỹ kế, giá trị còn lại trên sổ kế toán để xác định các chỉ tiêu nguyên giá, hao
mòn và giá trị còn lại Các chi phí liên quan đến việc điều chuyển tài sản cố định
giữa các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc không hạch toán tăng nguyên
giá tài sản cố định mà hạch toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ
- Tài sản cố định được cho, được biếu tặng, nhận góp vốn liên doanh:
Nguyên giá TSCĐ gồm giá trị theo đánh giá thực tế của hội đồng giao
nhận hoặc giá thực tế của TSCĐ trên thị trường công thêm với các chi phí tâm
trang, sửa chữa, vận chuyển, bốc dỡ mà bên cạnh phải chi ra trước khi tài sản
có thể phục vụ
2.1.2 Xác định nguyên giá tài sản cố định vô hình
Nguyên giá TSCĐ vô hình là tổng số tiền chi trả hoặc chi phí thực tế đã
chi ra có liên quan trực tiếp tới đất sử dụng, thăm dò, xây dựng các kế hoạch đầu
tư dài hạn nhằm đem lại lợi ích dài cho doanh nghiệp, bằng phát minh sáng
chế, bản quyền tác giả, mua bản quyền tác giả, nhận chuyển giao công nghệ, lợi
thế kinh doanh
Nguyên giá TSCĐ hữu hình chỉ thay đổi khi:
- Đánh giá lại TSCĐ
- Xây lắp trang bị thêm TSCĐ
- Cải tạo, nâng cấp làm tăng năng lực và kéo dài thời gian sử dụng của
TSCĐ
- Tháo dỡ 1 hay một bộ phận của TSCĐ
Nguyên giá TSCĐ là cơ sở để tính khấu hao và lập bảng cân đối tài sản
Tuy nhiên hạn chế của nó là không phản ánh được giá trị còn lại, trạng thái kỹ
thuật của TSCĐ
2.2 Giá trị hao mòn của TSCĐ
Giá trị hao mòn của TSCĐ phản ánh phần vốn đầu tư đã thu hồi được
thông qua viêc chuyển dịch phần giá trị TSCĐ vào chi phí giá thành sản phẩm
trong quá trình tài sản này tham gia vào sản xuất kinh doanh
2.3 Giá trị còn lại của TSCĐ:
Trang 12Thể hiện phần giá trị chựa được chuyển dịch vào chi phí giá thành sản
phẩm của doanh nghiệp Chỉ tiêu này được xác định bằng cách lấy nguyên giá
trừ đi giá trị hao mòn của TSCĐ
Giá trị còn lại phản ánh đúng số vốn còn phải tiếp tục thu hồi trong quá
trình sử dụng tài sản cố định để đảm bảo vốn đầu tư cho việc mua sắm, xây
dựng tài sản Nhưng giá trị còn lại của TSCĐ cũng có nhược điểm ở chỗ khôlng
phản ánh được phần vốn mà ta thu hồi được
Mối liên hệ giưa 3 chỉ tiêu nêu trên:
Giá trị còn lại = Nguyên giá tài sản cố định - Giá trị hao mòn
TSCĐ
Mỗi loại giá có tác dụng phản ánh một chỉ tiêu nhất định, xong kèm theo
nó còn có những hạn chế Trong kế toán TSCĐ phải phản ánh được 3 chỉ tiêu
nói trên
Thông qua chỉ tiêu, tỷ lệ giữa giá trị còn lại với nguyên giá TSCĐ vẽ
phương diện kỹ thuật có thể phản ánh một cách tương đối tình trạng chất lượng
của tài sản hiện có Tuy nhiên trên thực tế do tốc độ trích khấu hao cơ bản có bị
chi phối bởi một số yếu tố chủ quan của con người (như khấu hao nhanh để
chóng thu hồi hoặc khấu hao chậm để giảm giá thành sản xuất) từ đó mức độ
hao mòn không phản ánh đúng thực chất vẽ tình trạng TSCĐ
Qua phân tích trên ta thấy việc hạch toán tài sản cố định theo cả 3 loại giá:
giá trị ban đầu, giá trị hao mòn luỹ kế, giá trị còn lại không chỉ là cần thiết mà
là yêu cầu bắt buộc để phục vụ cho công tác quản lý TSCĐ Đánh giá chính xác
tài sản cố định sẽ là bước khởi đầu quan trọng cho toàn bộ công tác hạch toán tài
sản cố định của doanh nghiệp
III HẠCH TOÁN TĂNG GIẢM TÀI SẢN CỐ ĐỊNH
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản cố định của doanh nghiệp
thường xuyên biến động, do đó để quản lý tốt TSCĐ kế toán cần thiết phải theo
dõi chặt chẽ, phản ánh mọi biến động của TSCĐ
1 Hạch toán tăng giảm TSCĐ hữu hình
Trang 131.1 Tài khoản sử dụng: Theo chế độ hiện hành việc hạch toán tài sản cố
định được theo dõi trên các tài khoản chủ yếu sau đây:
* Tài khoản 211 "Tài khoản cố định hữu hình" Tài khoản này dùng để
phản ánh giá trị hiện có và biến động tưang giảm của toàn bộ TSCĐ hữu hinhf
của doanh nghiệp theo nguyên giá
Kết cấu nội dung phản ánh của tài khoản 211
Bên nợ: Phản ánh nguyên giá của TSCĐ hữu hình tăng do được cấp, mua
sắm, XDCB hoàn thành bàn giao, do các đơn vị tham gia liên doanh góp vốn,
do được biếu tặng, viện trợ
+ Điều chỉnh tăng nguyên giá của TSCĐ do xây lắp, trang bị thêm, do cải
tạo nâng cấp
+ Điều chỉnh tăng nguyên giá TSCĐ do đánh giá lại
Bên có: Phản ánh nguyên giá của TSCĐ giảm do điều chuyển cho đơn vị
khác, nhượng bán, thanh lý hoặc đem góp liên doanh
+ Nguyên giá giảm do tháo dỡ bớt một số bộ phận hoặc do đánh giá lại
Số dư bên nợ : Nguyên giá TSCĐ hữu hình hiện có ở đơn vị
Tài khoản 211 có 6 tài khoản cấp II sau:
* Tài khoản 411 "Nguồn vốn kinh doanh": Tài khoản này dùng để phản
ánh số nguồn vốn kinh doanh hiện có và tình hình tăng, giảm nguồn vốn kinh
doanh của doanh nghiệp
Bên nợ: Nguồn vốn kinh doanh giảm do trả vốn cho ngân sách nhà nước,
trả vốn cho các bên tham gia liên doanh, các cổ đông
Trang 14Bên có: Nguồn vốn kinh doanh hiện có của doanh nghiệp tài khoản 411
được chi tiết theo từng nguồn hình thành vốn Trong đó cần theo dõi chi tiết cho
từng tổ chức, từng cá nhân tham gia góp vốn
1.2 Hạch toán tăng TSCĐ hữu hình
TSCĐ hữu hình của doanh nghiệp tăng do rất nhiều nguyên nhân như
được cấp vốn, mua sắm, xây dựng, được viện trợ, biếu tặng
* TSCĐ hữu hình được cấp (cấp vốn bằng TSCĐ) được điều chuyển từ
đơn vị khác hoặc tặng biếu
Nợ TK 211
Có TK 411
* TSCĐ hữu hình tăng do mua sắm, căn cứ vào các chứng từ liên quan
đến việc mua tài sản (hoá đơn, phiếu chi ) kế toán xác định nguyên giá của
TSCĐ, lập hồ sơ kế toán, lập biên bản giao nhận TSCĐ và tiến hành ghi sổ:
* Nếu tài sản cố định hữu hình được mua sắm bằng nguồn vốn xây dựng
cơ bản hoặc các quỹ của doanh nghiệp thì đồng thời với việc ghi tăng TSCĐ kế
toán phải ghi tăng nguồn vốn kinh doanh và ghi giảm các nguồn vốn tương ứng
Nợ TK 414
Nợ TK 441
Có TK 411 Nếu TSCĐ mua sắm bằng nguồn vốn kinh doanh, bằng vốn khấu hao
TSCĐ, bằng vốn vay, khi hoàn thành đưa vào sử dụng cho hoạt động sản xuất
kinh doanh thì chỉ ghi tăng giá trị TSCĐ (nợ TK 211/có TK 111, 112, 331 )
không ghi tăng nguồn vốn kinh doanh (có TK 411)
Trang 15* Khi mua sắm TSCĐ bằng nguồn vốn đầu tư XDCB, bằng nguồn kinh
phí sự nghiệp, bằng nguồn vốn kinh phí sự nghiệp, bằng nguồn vốn kinh phí dự
án, dùng vào hoạt động sự nghiệp hoặc hoạt động dự án, ghi:
Nợ TK 211
Có TK 111, 112, 131 Đồng thời ghi:
Nợ TK 4312
Có TK 4313
* Đối với công trình xây dựng cơ bản đã hoàn thành, nghiệm thu và bàn
giao đưa vào sử dụng
+ Căn cứ giá trị quyết toán của công trình đã được duyệt y ghi
Nợ TK 211
Có TK 241 + Tuỳ thuộc vào nguồn sử dụng để đầu tư, kế toán ghi tăng nguồn vốn
kinh doanh, ghi giảm nguồn vốn đầu tư XDCB và quỹ doanh nghiệp
* Nhận vốn tham gia liên doanh của các đơn vị khác bằng TSCĐ hữu
hình: căn cứ giá trị TSCĐ được các bên tham gia liên doanh đánh giá và các chi
phí khác (nếu có) kế toán tính toán nguyên giá của TSCĐ và ghi sổ
Nợ TK 211
Có TK 411
Trang 16* Nhận lại TSCĐ hữu hình trước đây đã góp vốn liên doanh với đơn vị
khác, căn cứ vào giá trị TSCĐ do hai bên liên doanh đánh giá khi trao đổi để ghi
tăng TSCĐ hữu hình và ghi giảm giá trị góp vốn liên doanh
Nợ TK 211
Có TK 222
* Trường hợp TSCĐ phát hiện thừa phải xác định nguyên nhân để giải
quyết
- Trường hợp TSCĐ thừa do để ngoài sổ sách (chưa ghi sổ) kế toán phải
căn cứ hồ sơ TSCĐ để ghi tăng, cụ thể:
+ Nếu TSCĐ thừa đang sử dụng thì ngoài nghiệp vụ ghi tăng TSCĐ hữu
hình phải căn cứ vào nguyên giá và tỷ lệ khấu hao để xác định giá trị hao mòn
làm căn cứ tính, trích bổ xung khấu hao TSCĐ và chi phí kinh doanh ghi:
Nợ TK 642
Có TK 214 + Nếu TSCĐ phát hiện thừa được xác định là TSCĐ của đơn vị khác thì
phải báo ngay cho đơn vị chủ tài sản đó biết Nếu chưa xác định được đơn vị
chủ tài sản, trong thời gian chờ xử lý, kế toán phải căn cứ vào tài liệu kiểm kê,
tạm thời phản ánh vào TK ngoài bảng cân đối kế toán để theo dõi giữ hộ
* Khi có quyết định của Nhà nước hoặc của cơ quan có thẩm quyền về
đánh giá lại tài sản và phản ánh số chênh lệch do đánh giá lại vào sổ kế toán
ghi:
- Phần nguyên giá điều chỉnh tăng:
Nợ TK 211
Có TK 412
Trang 17Nhận lại TSCĐ góp vốn liên doanh
cho thuê tài chính
TK 241
Xây dựng cơ bản hoàn thành, bàn giao
TK 412
Đánh giá tăng TSCĐ
Trang 181.3 Hạch toán giảm tài sản cố định hữu hình
TSCĐ của doanh nghiệp giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau như:
nhượng bán, thanh lý, đem góp vốn liên doanh, điều chuyển cho đơn vị khác,
tháo dỡ bộ phận
Trong mọi trường hợp giảm TSCĐ, kế toán phải làm đầy đủ thủ tục, xác
định đúng những khoản thiệt hại và thu nhập (nếu có) căn cứ vào các chứng từ
liên quan, kế toán ghi sổ theo từng trường hợp cụ thể sau:
a Thanh lý, nhượng bán tài sản cố định
* Nhượng bán TSCĐ: TSCĐ nhượng bán là những TSCĐ không cần dùng
hoặc xét thấy sử dụng không hiệu quả Khi nhượng bán TSCĐ phải làm đầy đủ
thủ tục (quyết định, biên bản, hợp đồng )
- Căn cứ chứng từ nhượng bán hoặc chứng từ thu tiền nhượng bán TSCĐ,
số tiền đã thu hoặc phải thu của người mua ghi:
- Căn cứ vào biên bản giao nhận TSCĐ, phản ánh phần giá trị còn lại vào
chi phí bất thường, ghi giảm nguyên giá và giá trị hao mòn, ghi:
Nợ TK 214
Nợ TK 821
Có TK 211
- Các chi phí liên quan đến việc nhượng bán TSCĐ (nếu có) cũng được
tập hợp vào bên nợ Tk 821 - chi phí bất thường
- Nếu TSCĐ đem nhượng bán được hình thành từ vốn vay ngân hàng, thì
số tiền thu được do nhượng bán TSCĐ trước hết phải trả nợ đủ vốn vay và lãi
vay ngân hàng, số còn lại đơn vị mới được sử dụng cho những mục đích thích
hợp
Khi trả nợ vốn vay ngân hàng
Trang 19Nợ TK 315
Nợ TK 341
Có TK 111 hoặc 112
- Khi nhượng bán TSCĐ dùng vào hoạt động sự nghiệp, dự án:
Nợ TK 466 - Nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ (giá trị còn lại)
TSCĐ thanh lý là những TSCĐ hư hỏng không thể tiếp tục sử dụng được,
những TSCĐ lạc hậu về mặt kỹ thuật hoặc không phù hợp với yêu cầu sản xuất
kinh doanh mà không thể nhượng bán được Khi có TSCĐ thanh lý đơn vị phải
ra quyết định thanh lý, thành lập ban thanh lý TSCĐ và lập biên bản thanh lý
TSCĐ Ban thanh lý TSCĐ nhiệm vụ thực hiện việc thanh lý TSCĐ và lập "biên
bản thanh lý TSCĐ" theo mẫu quy định Biên bản được thành lập 2 bản, 1 bản
chuyển cho phòng kế toán theo dõi và ghỉ sổ, 1 bản giao cho đơn vị đã quản lý,
sử dụng TSCĐ Văn cứ vào biên bản thanh lý và các chứng từ có liên quan kế
toán phản ánh tình hình về thanh lý TSCĐ như sau:
- Trường hợp TSCĐ thanh lý dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh
trường hợp nhượng bán TSCĐ
Trang 20b Kế toán giảm tài sản cố định do góp vốn liên doanh
Đầu tư góp vốn liên doanh được coi là một hoạt động đầu tư tài chính của
đơn vị nhằm mục đích kiếm lời TSCĐ hữu hình gửi đi góp vốn liên doanh với
đơn vị khác không còn thuộc quyền quản lý và sử dụng của đơn vị, giá trị của
chúng lúc này được thể hiện giá trị đầu tư góp vốn liên doanh và theo dõi trên tài
khoản 222 góp vốn liên doanh
Căn cứ vào các chứng từ kế toán có liên quan (hợp đồng, biên bản giao
nhận TSCĐ ) kế toán ghi giảm TSCĐ (nguyên giá và hao mòn TSCĐ) ghi tăng
giá trị đầu tư góp vốn liên doanh theo giá trị do 2 bên thống nhất đánh giá, đồng
thời số chênh lệch giữa giá trị vốn góp với giá trị còn lại của TSCĐ được phản
ánh vào TK 412 chênh lệch đánh giá lại tài sản
Căn cứ vào biên bản kiểm TSCĐ và kết luận của hội đồng kiểm kê để
hạch toán chính xác kịp thời theo từng nguyên nhân cụ thể:
- Trường hợp chờ quyết định xử lý:
Nợ TK 214
Trang 21Nợ TK 138
Có TK 211 Khi có quyết định xử lý sẽ ghi có TK 138 (1381) và ghi nợ các tài khoản
Nợ TK 411 (Nếu được phép ghi giảm vốn)
Nợ TK 821 (Nếu doanh nghiệp chịu tổn thất)
Có TK 211
c Trả lại TSCĐ cho các bên tham gia liên doanh: căn cứ vào biên bản
bàn giao kế toán ghi:
Nợ TK 411 (giá trị còn lại)
Nợ TK 214
Có TK 211 Phần chênh lệch giữa giá trị góp vốn với giá trị còn lại, thanh toán cho
đơn vị góp vốn, ghi:
Nợ TK 411
Có TK 111, 112, 338 Phần chênh lệch
d Những TSCĐ có nguyên giá dưới 5.000.000đồng (năm triệu đồng)
không đủ tiêu chuẩn là TSCĐ, theo quy định phải chuyển sang theo dõi, quản lý
và hạch toán như công cụ dụng cụ đang dùng ghi:
- Nếu giá trị còn lại của TSCĐ nhỏ thì tính toàn bộ giá trị còn lại vào chi
phí sản xuất kinh doanh trong kỳ:
Nợ TK 627, 641, 642 (giá trị còn lại)
Nợ TK 214
Có TK 211
- Nếu giá trị còn lại của TSCĐ lớn, cần phải phân bổ dần vào chi phí sản
xuất kinh doanh nhiều kỳ, ghi:
Trang 22TK 222, 228 Góp vốn liên doanh cho thuê
TK 411 Trả lại TSCĐ cho các bên
liên doanh cổ đông
Trang 232 Hạch toán tăng giảm tài sản cố định vô hình
2.1 Tài khoản sử dụng
Tài khoản 213 "Tài sản cố định vô hình"
Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động của
toàn bộ TSCĐ vô hình cuả doanh nghiệp
Kết cấu và nội dung của tài khoản
Bên nợ: Nguyên giá TSCĐ vô hình tăng thêm
Bên có: Nguyên giá TSCĐ vô hình giảm trong kỳ
Dư nợ: Nguyên giá TSCĐ vô hình hiện có ở doanh nghiệp
Tài khoản 213 - TSCĐ vô hình có 6 tài khoản cấp 2
2131 - Quyền sử dụng đất
2132 - Chi phí thành lập doanh nghiệp
2133 - Bằng phát minh sáng chế
2134 - Chi phí nghiên cứu phát triển
2135 - Chi phí về lợi thế thương mại
* Hạch toán tăng TSCĐ vô hình là lợi thế thương mại: thì lợi thế thương
mại thường gắn liền với TSCĐ hữu hình, vì vậy khi đầu tư vào những cơ sở
thương mại, cần xác định chính xác phần chi phí liên quan tới TSCĐ hữu hình
và phần chi về lợi thế thương mại, ghi:
Trang 24* Giá trị TSCĐ vô hình là các chi phí hình thành trong 1 quá trình (như
chi phí thành lập doanh nghiệp )
- Tập hợp chi phí thực tế phát sinh, kế toán ghil:
Nợ TK 241
Có TK 111
Có TK 112
- Kết thúc quá trình đầu tư, kế toán tổng hợp tính toán chính xác tổng sổ
chi phí thực tế phát sinh và ghi sổ:
Nhận lại TSCĐ góp vốn liên doanh
cho thuê tài chính
TK 111, 112
Nhận lại TSCĐ góp vốn liên doanh
TK 241 Tập hợp chi phí TSCĐ vô hình là các
chi phí hình thành
Trang 25* Giảm TSCĐ vô hình trong các trường hợp các như góp vốn liên doanh,
trả lại vốn góp liên doanh được phản ánh tương tự như TSCĐ hữu hình
* Giảm TSCĐ vô hình đã tích đủ khấu hao
Nợ TK 214 (2143)
Có TK 213
3 Hạch toán tăng giảm tài sản cố định thuê dài hạn
Do yêu cầu sản xuất kinh doanh, trong quá trình hạch toán doanh nghiệp
có thể không cần sử dụng hoặc có nhu cầu sử dụng thêm 1 số TSCĐ Đối với
TSCĐ không cần dùng thì doanh nghiệp có thể dùng để góp vốn liên doanh với
đơi vị khác, nhượng bán lại hoặc cho các đơn vị khác thuê Có những TSCĐ mà
doanh nghiệp không có nhưng lại có nhu cầu sử dụng do yêu cầu sản xuất đặt ra
và buộc phải đi thuê nếu chưa có điều kiện mua sắm
Tài sản cố định thuê dài hạn thực chất là thuê vốn Đây là những tài sản
cố định chưa thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp có
nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý, quản lý, bảo dưỡng, giữ gìn và sử dụng như
TSCĐ của doanh nghiệp Những TSCĐ thuê dài hạn buộc phải thoả mãn những
điều kiện nhất định Một giao dịch cho thuê tài chính phải thoả mãn một trong
Trang 26những điều kiện sau đây (Nghị định số 64 - C/P ngày 9 /10 /1995 của Chính phủ
ban hành quy chế tạm thời về tổ chức hoạt động của công ty cho thuê TC tại
Việt Nam)
- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên cho thuê được
chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận cuả
hai bên
- Nội dung hợp đồng thuê có quy định: Khi kết thúc thời hạn thuê, bên
thuê được quyền lựa chọn mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị
thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại
- Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần
thiết để khấu hao tài sản thuê
- Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê ít nhất phải
tương đương với giá của tài sản đó trên thị trường vào thời điểm ký hợp đồng
3.1 Đối với đơn vị đi thuê
Theo hình thức thuê TSCĐ tài chính, bên đi thuê ghi sổ kinh doanh giá trị
TSCĐ theo nguyên giá tại thời điểm đi thuê như đã được mua và ghi sổ nợ dài
hạn toàn bộ số tiền phải trả theo hợp đồng thuê TSCĐ (bao gồm nguyên giá
TSCĐ thuê và phần lãi trên vốn thuê phải trả) Việc xác định nguyên giá của
TSCĐ thuê tài chính tuỳ thuộc vào phương thức thuê (thuê mua, thuê trực tiếp,
thuê qua công ty cho thuê TSCĐ ) và tuỳ thuộc vào nội dung ghi trên hợp đồng
thuê Trường hợp hai bên chỉ thoả thuận tổng tiền thuê phải trả thì bên thuê phải
tính ra giá hiện tại của TSCĐ để ghi sổ Nguyên giá của TSCĐ thuê tài chính có
thể tính
- Theo nguyên giá hiện tại nếu đơn vị bỏ tiền ra mua ngay (tương đương
với giá mua TSCĐ trên thị trường)
- Lấy tổng giá TSCĐ đi thuê trừ lãi phải trả
Hàng tháng đơn vị phải trả tiền thuê TSCĐ, đồng thời khu sử dụng phải
tiến hành khấu hao và phân bổ trên lãi vào chi phí kinh doanh trong kỳ khi hết
thời hạn hợp đồng thuê TSCĐ thì nhận lại quyền sở hữu TSCĐ và thanh toán
nốt tiền cho bên cho thuê
Trang 27TK 212 "TSCĐ thuê tài chính": Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị
hiện có và tình hình biến động toàn bộ TSCĐ thuê tài chính của đơn vị
Bên nợ : Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính tăng
Bên có : Nguyên giá TSCĐ đi thuê giảm do chuyển trả lại cho bên thuê
khi hết hạn hợp đồng hoặc mua lại thành TSCĐ của doanh nghiệp
Số dư nợ, phản ánh nguyên giá của TSCĐ thuê tài chính hiện có
- Trong quá trình quản lý và sử dụng TSCĐ thuê tài chính bên đi thuê
phải tính chi phí TSCĐ vào chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của các đối
tượng có liên quan
+ Khi tính trích khấu hao TSCĐ ghi
Nợ TK 627, 641 hoặc 642
Có TK 214 (2142) + Tính lãi phải trả vào chi phí sản xuất kinh doanh
Nợ TK 627, 641 hoặc 642
Có TK 142 (1421)
- Hàng tháng hoặc theo định kỳ thoả thuận trong hợp đồng, trả tiền thuê
TSCĐ cho bên thuê, kế toán ghi:
Nợ TK 315
Nợ TK 342
Có TK 111 hoặc 112
Trang 28- Khi kết thúc thời hạn thuê TSCĐ:
Trường hợp 1: Nếu bên đi thuê được chuyển giao quyền sở hữu hoặc
được mua lại TSCĐ thuê
+ Trường hợp chuyển giao quyền sở hữu ghi chuyển TSCĐ thuê tài chính
thành TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
Ghi chuyển giá:
Nợ TK 211
Có TK 212 Ghi chuyển giá trị hao mòn:
Nợ TK 2142
Có TK 2141 (Nếu tài sản cố định thuê tài chính là TSCĐ thì đồng thời với việc ghi
chuyển TSCĐ thuê tài chính thành TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
thì phải phản ánh việc chi trả tiền và giá trị tăng thêm của TSCĐ, kế toán ghi:
Nợ TK 211
Có TK 111 hoặc 112 Trường hợp 2: Kết thúc hợp đồng thuê, bên đi thuê trả lại TSCĐ cho bên
thuê, thì căn cứ vào biên bản giao nhận TSCĐ để ghi giảm TSCĐ thuê tài
chính
Nợ TK 214 (2142)
Có TK 212 Nếu khấu hao chưa hết thì phải trích khấu hao cho đủ và tính vào chi phí
kinh doanh Trường hợp chưa trả hết nợ thì phải chuyển tiền thanh toán nốt
3.2 Đối với đơn vị cho thuê
TSCĐ cho thuê tài chính về thực chất là một khoản vốn bằng hiện vật
cho bên ngoài thuê, TSCĐ vẫn thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê Bên cho
thuê phải theo dõi TSCĐ đã cho thuê tài chính về mặt hiện vật và hạch toán giá
tại TSCĐ cho thuê như khoản đầu tư tài chính dài hạn khác
* Căn cứ hợp đồng cho thuê TSCĐ và biên bảo giao nhận tài sản cố định,
kế toán tính toán các chỉ tiêu cần thiết để ghi sổ kế toán
Trang 29* Định kỳ phản ánh giá trị TSCĐ cho thuê cần thu hồi trong quá trình đầu
tư, coi đây là một khoản chi phí đầu tư, kế toán ghi:
* Nếu kết thúc thời hạn cho thuê và nhận lại TSCĐ, căn cứ vào biên bản
giao nhận "TSCĐ " để xác định các chỉ tiêu phục hồi TSCĐ của doanh nghiệp
Nợ TK 211
Có TK 228 (phần giá trị đầu tư chưa thu hồi)
IV HẠCH TOÁN KHẤU HAO TSCĐ
Trong quá trình sử dụng TSCĐ bị hao mòn dần về giá trị và hiện vật,
phần giá trị hao mòn được chuyển dịch vào giá trị sản phẩm làm ra dưới hình
thức trích khấu hao
1 Khái niệm về hao mòn và khấu hao
Trang 30Khấu hao TSCĐ chính là sự biểu hiện bằng tiền của phân giá tại TSCĐ
đã hao mòn, hao mòn TSCĐ là hiện tượng khách quan làm giảm giá trị và giá trị
sử dụng của TSCĐ, còn mục đích của trích khấu hao TSCĐ là biện pháp chủ
quan nhằm thu hồi vốn đầu tư để tái tạo lại TSCĐ khi nó bị hư hỏng
Hao mòn TSCĐ có 2 loại: Hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình
Hao mòn hữu hình là sự giảm dần về giá trị sử dụng và giá trị do chúng
được sử dụng trong sản xuất hoặc do tác động của các yếu tố tự nhiên gây ra
biểu hiện ở chỗ hiệu suất của TSCĐ giảm dần, cuối cùng bị hư hỏng phải thanh
lý TSCĐ bị hao mòn hữu hình trước hết do nó trực tiếp hay gián tiếp tham gia
vào qúa trình sản xuất kinh doanh, trong trường hợp này mức độ hao mòn tỷ lệ
thuận với thời gian và cường độ sử dụng của chúng Ngoài nguyên nhân chủ yếu
nói trên trong khi sử dụng và cả trong khi không sử dụng tài sản còn bị hao
mòn hữu hình do tác động của các yếu tố tự nhiên như độ ẩm, khí hậu, thời tiết
Đặc biệt trong một số ngành như nông, lâm nghiệp, xây dựng, vận tải TSCĐ
phải hoạt động thường xuyên trong môi trường tự nhiên, do đó mức độ hao mòn
của chúng thường lớn hơn so với các ngành khác Hình thuế hao mòn này phát
sinh một cách thường xuyên, mức độ cao hay thấp tuỳ thuộc cường độ sử dụng,
chế độ bảo dưỡng, điều kiện môi trường, trình độ người quản lý và sử dụng Để
giảm bớt hao mòn hữu hình trong quá trình sử dụng TSCĐ phải bảo quản tốt,
lập kế hoạch bảo dưỡng thường xuyên, nâng cao trình độ người sử dụng đúng
với tính năng kỹ thuật vốn có của nó
Hao mòn vô hình là sự giảm thuần tuý về mặt gí trị của tài sản do có
những TSCĐ cùng loại nhưng được sản xuất với giá rẻ hơn hoặc hiện đại hơn,
nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hao mòn vô hình không phải do chúng được sử
dụng ít hay nhiều trong sản xuất mà do tiến bộ khoa học kỹ thuât Trong điều
kiện khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, người ta có thể sản xuất ra máy
móc thiết bị cùng loại nhưng giá hạ hơn hoặc giá không đổi nhưng có tính năng,
tác dụng, công suất cao hơn, tất yếu những máy móc được sản xuất ở thời gian
trước đây sẽ bị mất giá so với hiện tại Sự mất giá đó chính là hao mòn vô hình
Trang 31Hao mòn vô hình còn xuất hiện cả khi chu kỳ sống của sản phẩm nào đó
bị chấm dứt, dẫn đến những máy móc thiết bị để chế tạo sản phẩm đó cũng bị
lạc hậu, mất tác dụng
Như vậy, hao mòn là một tất yếu khách quan, nhất thiết phải thu hồi vốn
đầu tư vào tài sản cố định tương ứng với giá trị hao mòn của nó để tạo ra nguồn
vốn đầu tư tài sản cố định Trong quản lý doanh nghiệp phải thực hiện cơ chế
thu hồi vốn đầu tư và tài sản cố định gọi là khấu hao Khấu hao là tài sản cố định
biểu hiện bằng tiền phân giá trị hao mòn tài sản cố định
Hao mòn là khái niệm triù tượng còn khấu hao mang tính chất chủ quan
biểu hiện bằng một số tiền và là một khái niệm cụ thể Theo chủ nghĩa duy vật
biện chứng, hao mòn là nội dung bên trong, khấu hao là hình thức biểu hiện ra
bên ngoài Mà nội dung thì quyết định hình thức do đó mức độ khấu hao phải
trích phụ thuộc vào mức độ hao mòn của tài sản cố định
2 Các phương pháp xác định giá trị hao mòn TSCĐ và phương pháp
tính khấu hao TSCĐ
Việc tính khấu hao TSCĐ có thể tiến hành theo nhiều phương pháp khác
nhau Việc lựa chọn phương pháp khấu hao nào là tuỳ thuộc vào quy định của
nhà nước về chế độ quản lý tài sản đối với doanh nghiệp và yêu cầu quản lý của
doanh nghiệp
Từ ngày 1/1/1997 việc trích khấu hao tài sản cố định trong các doanh
nghiệp nhà nước được thực hiện theo quyết định số 1062 TC/QĐ/CSTC ngày
14/11/1996 của Bộ trưởng Bộ tài chính "Quy định chế độ quản lý sử dụng và
trích khấu hao TSCĐ" ngày 30/12/1999 Bộ tài chính đã ra quyết định số
166/1999/QĐ - BTC về ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao
TSCĐ, quyết định này có hiệu lực từ ngày 1/1/2000
Về nguyên tắc, mọi tài sản cố định trong các doanh nghiệp phải được huy
động sử dụng tối đa và phải trích khấu hồi đủ vốn trên cơ sở tính đúng, tính đủ
nguyên giá theo quy định hiện hành Việc tính mức khấu hao có nhiều phương
pháp Song thực tế hiện nay ở Việt Nam phương pháp khấu hao phổ biến là khấu
hao đều theo thời gian Theo phương pháp này việc tính khấu hao TSCĐ phải
Trang 32dựa trên nguyên giá TSCĐ và thời gian sử dụng tài sản đó Thời gian sử dụng tài
sản này do nhà nước quy định cụ thể Nhưng đối với một số doanh nghiệp do
yêu cầu sản xuất có thể quy định thời gian sử dụng tài sản dài hơn hoặc ngắn
hơn theo yêu cầu bảo toàn vốn của đơn vị nhưng phải nằm trong khoảng thời
gian tối đa và tối thiểu do nhà nước quy định
Mức trích khấu hao trung bình hàng năm cho TSCĐ được xác định theo
công thức sau:
Mức khấu hao bình quân
hàng năm của TSCĐ =
Nguyên giá TSCĐThời gian sử dụng
Mức khấu hao
bình quân tháng =
Mức khấu hao bình quân năm
Ngoài ra trong thực tế việc tính khấu hao TSCĐ có thể căn cứ vào khối
lượng sản phẩm, điều kiện môi trường hoạt động, mức huy động công suất
TSCĐ
Trong thực tế thời gian sử dụng TSCĐ được nhà nước quy định sẵn thời
gian tối thiểu và tối đa cho từng loại, từng nhóm TSCĐ, nhưng doanh nghiệp
phải căn cứ vào tình hình thực tế của mình để nâng cao mức trích khấu hao
trong giới hạn cho phép, đảm bảo không làm giá thành quá cao ảnh hưởng đến
giá bán và việc tiêu thụ sản phẩm cũng như ảnh hưởng các chính sách giá cả của
nhà nước
Theo quy định chung, để đơn giản cách tính thì TSCĐ tăng trong tháng,
tháng sau mới trích khấu hao, TSCĐ giảm trong tháng, tháng sau mới thôi
không phải trích khấu hao Do vậy để xác định khấu hao của tháng sau thì phải
căn cứ vào tình hình tăng giảm của tháng này Vì số khấu hao tháng này chỉ
khác tháng trước trong trường hợp có biến động tăng giảm TSCĐ
Để giảm bớt công việc tính toán hàng tháng người ta chỉ tính sổ khấu hao
tăng thêm hoặc giảm bớt trong tháng và căn cứ vào số khấu hao đã trích tháng
trước để xác định số khấu hao phải trích tháng này theo công thức sau:
Trang 33Số khấu hao phải
tính trong tháng =
Số khấu hao đã tínhtháng trước +
Số khấu hao tăngtrong tháng -
Số khấu hao giảm
trong tháng
Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã kiến
theo tốc độ hao mòn vô hình của tài sản cố định đặc biệt là các tài sản thuộc
lĩnh vực tin học, điện tử tăng lên rất nhanh Do vậy ở nhiều doanh nghiệp hiện
nay việc áp dụng phương pháp bình quân tỏ ra không hiệu quả bởi lẽ phương
pháp này tuy có ưu điểm là phần khấu hao được phân bổ một cách đều đặn vào
chi phí, đảm bảo cho doanh nghiệp có mức giá thành vàlợi nhuận ổn định song
nhược điểm của phương pháp naỳ là tốc độ thu hồi vốn đầu tư chậm nên khó
tránh khỏi hao mòn vô hình
Khắc phục tình trạng này chúng tacó thể tham gia khảo phương pháp
khấu hao nhanh hiện nay đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng rộng rãi
* Phương pháp số dư giảm dần
Theo phương pháp này số tiền khấu hao hàng năm được xác định nhờ một
tỷ lệ cố định nhân với giá trị còn lại của tài sản cố định Tỷ lệ này được tính dựa
trên tỷ lệ khấu hao theo phương pháp đường thẳng như sau:
Nếu thời gian sử dụng là từ 1 - 4 năm T = TK
Nếu thời gian sử dụng là từ 5 - 6 năm T = TK x 2
Nếu thời gian sử dụng là từ ) 6 năm T = TK x 2,5
Với T: Tỷ lệ khấu hao theo phương pháp số dư giảm dần
TK: Tỷ lệ khấu hao theo phương pháp số dư bình quân
Phương pháp này khắc phục được nhược điểm của phương pháp bình
quân cho phép khấu hao nhanh tài sản cố định song nó lại cũng có hạn chế là giá
trị khấu hao những năm đầu rất cao, do đó gây ra những biến động lớn về giá
thành sản phẩm và không thu hồi hết được nguyên giá tài sản cố định nên đến
năm cuối phải chuyển sang
Phương pháp tuyến tính cố định
* Phương pháp tổng số
Trang 34Theo phương pháp này số trích khấu hao hàng năm được xác định bằng
cách lấy nguyên giá của tài sản cố định nhân với tỷ lệ khấu hao hàng năm Tỷ lệ
đó được xác định bằng cách chia số năm còn lại của thời gian tài sản cố định
phục vụ cho tổng số dãy số thủ tục từ 1 cho tới số năm phục vụ
Tkt = 2 x (T - t + 1)T(T + 1)
Với T: Thời gian phục vụ của tài sản cố định theo năm
t : Thứ tự năm cần tính khấu hao
Tkt: Tỷ lệ trích khấu hao năm t
Phương pháp này cho phép vừa khâu hao nhanh mà tỷ lệ trích khấu hao
cũng không quá lớn và đảm bảo thu hết nguyên giá tài sản cố định
Trên thực tế nếu áp dụng một trong hai phương pháp khấu hao ở trên đã
trình bày thì có thể khắc phục được những rủi ro do hao mòn vô hình gây nên
hơn là khấu hao bình quân
a Tài sản sử dụng: Để theo dõi tình hình hiện có, biến động tăng, giảm
khấu hao, kế toán sử dụng TK 214
Tài khoản 214 - Hao mòn tài sản cố định
Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hao mòn của TSCĐ trong quá
trình sử dụng do trích khấu hao và những khoản tăng giảm hao mòn khác của
các loại TSCĐ của doanh nghiệp như TSCĐ hữu hình, đi thuê dài hạn và TSCĐ
vô hình
Kết cấu của tài khoản:
Bên nợ: Giá trị hao mòn TSCĐ giảm do các lý do giảm TSCĐ
(Thanh lý, nhượng bán, chuyển đi nơi khác )
Bên có: Giá trị hao mòn của TSCĐ tăng do trích khấu hao TSCĐ, do đánh
giá lại TSCĐ
Số dư có: Giá trị hao mòn của TSCĐ hiện có ở đơn vị
Tài khoản 214 có 3 tài khoản cấp 2
- TK 2141 Hao mòn TSCĐ hữu hình
- TK 2142 Hao mòn TSCĐ đi thuê
Trang 35- TK 2143 Hao mòn TSCĐ vô hình
b Nội dung và trình tự hạch toán:
* Định kỳ (tháng, quý) đơn vị tính trích khấu hao TSCĐ vào chi phí sản
xuất kinh doanh đồng thời phản ánh hao mòn TSCĐ ghi:
Nợ TK 627
Nợ TK 641
Nợ TK 642
Có TK 214 Đồng thời phản ánh tăng vốn khấu hao cơ bản - ghi đơn vào bên nợ TK
009 - Nguồn vốn khấu hao TK ngoài bảng cân đối kế toán
* Trường hợp phải nộp vốn khấu hao cho đơn vị cấp trên hoặc điều
chuyển cho đơn vị khác
- Trường hợp được hoàn trả lại Khi nộp vốn khấu hao ghi:
Nợ TK 136 (1368)
Có TK 112 Đồng thời ghi giảm nguồn vốn khấu hao, ghi đơn vào bên có TK 009 -
Nguồn vốn khấu hao
Khi nhận lại số vốn khấu hao hoàn trả ghi bút toán ngược lại
- Trường hợp không được hoàn trả lại, ghi:
Nợ TK 411
Có TK 111, 112 hoặc 338 (3388) Đồng thời ghi giảm nguồn vốn khấu hao cơ bản Ghi đơn vào bên có TK
009 - Nguồn vốn khấu hao
Khi nhận lại số vốn khấu hao hoàn trả ghi bút toán ngược lại
- Trường hợp không được hoàn trả lại, ghi:
Nợ TK 411
Có TK 111, 112 hoặc 338 (3388) Đồng thời gian giảm nguồn vốn khấu hao cơ bản Ghi đơn vào bên có TK
009
* Trường hợp cho các đơn vị khác vay vốn khấu hao, ghi:
Trang 36Nợ TK 128
Nợ TK 228
Có TK 111 hoặc 112 Đồng thời ghi đơn vào bên bán TK 009
- Những TSCĐ dùng cho hoạt động văn hoá khi tính hao mòn TSCĐ vào
thời điểm cuối năm, ghi:
* TSCĐ đánh giá lại theo quyết định của Nhà nước:
- Trường hợp đánh giá tăng nguyên giá của TSCĐ, kế toán ghi:
Nợ TK 214
Có TK 412 Trường hợp đánh giá giảm nguyên giá TSCĐ, ghi:
Nợ TK 412
Nợ TK 214
Có TK 211
* Trường hợp giảm tài sản cố định thì đồng thời với việc phản ánh giảm
nguyên giá TSCĐ phải phản ánh giúp giá trị hao mòn của TSCĐ
Trang 37* Đối với TSCĐ đã tính đủ khấu hao cơ bản thì không tiếp tục triết khấu
hao cơ bản nữa
* Đối với TSCĐ đầu tư, mua sắm bằng nguồn kinh phí sự nghiệp, kinh
phí dự án, bằng quỹ phúc lợi khi hoàn thành dùng vào hoạt động sự nghiệp, dự
án hoặc dùng vào văn hoá phúc lợi thì không trích khấu hao vào chi phí SXKP
mà chỉ trích khâiú hao TSCĐ 1 năm 1 lần
V HẠCH TOÁN SỬA CHỮA TÀI SẢN CỐ ĐỊNH
1 Đặc điểm sửa chữa tài sản cố định
Tài sản cố định trong các doanh nghiệp được cấu tạo bởi nhiều bộ phận
khác nhau Trong quá trình sử dụng tài sản cố định, các bộ phận này hư hỏng
hao mòn không đồng đều Để duy trì năng lực hoạt động của các tài sản cố định
đảm bảo cho các tài sản cố định này hoạt động bình thường, an toàn, doanh
nghiệp cần phải thường xuyên tiến hành việc bảo dưỡng sửa chữa tài sản cố định
khi bị hư hỏng
Tuỳ theo quy mô, tính chất công việc sửa chữa mà người ta chia làm 2
loại: sửa chữa thường xuyên, bảo trừ, bảo dưỡng tài sản cố định và sửa chữa lớn
TSCĐ khi hư hỏng năng hoặc kéo dài thời gian sử dụng của tài sản cố định
2 Nội dung hạch toán sửa chữa nhỏ
Hoạt động sửa chữa nhỏ là hoạt động sửa chữa mà các chi phí phát sinh
thường ít điểm ra thường xuyên nên không gây ra các biến động lớn đối với giá
thành sản phẩm Bởi vậy kế toán hạch toán các chi phí này trực tiếp vào chi phí
kinh doanh trong kỳ tương ứng với bộ phận sử dụng TSCĐ đó
Nợ TK 627,641,642
Có TK 111, 112
3 Nội dung hạch toán sửa chữa lớn TSCĐ
Hoạt động sửa chữa lớn, do thời gian sửac chữa kéo dài các chi phí phát
sinh cho một lần sửa chữa thường rất lớn nên không thể hạch toán toàn bộ vào
chi phí kinh doanh một kỳ được, nếu không nó sẽ gây các biến động lớn đối với
giá thành sản phẩm trong kỳ sửa chữa Mặt khác xét về mặt ý nghĩa kết quả của
việc sửa chữa sẽ phụcvụ cho nhiều kỳ sản xuất, đầu mỗi năm đơn vị lập kế
Trang 38hoạch sửa chữa lớn TSCĐ để lên dự toán chi phí sửa chữa Các khoản chi phí
này được phân bổ đều và được trước vào chi phí trong kỳ sản xuất
Công việc sửa chữa lớn TSCĐ cũng có thể tiến hành theo phương thức tự
làm hoặc giao thầu
* Theo phương thức tự làm, các chi phí phát sinh được tập hợp vào bên
nợ TK 241 (2413) chi tiết theo từng công việc sửa chưã lớn, căn cứ vào chứng
từ tập hợp chi phí, ghi:
Nợ TK 241 (2413)
Có TK 111, 112, 152 hoặc 214
* Theo phương thức giao thầu kế toán phản ánh số tiền phải trả theo thoả
thuận được ghi trong hợp đồng của công trình sửa chữa lớn:
Nợ TK 241 (2413)
Có TK 331
* Khi công việc sửa chữa lớn hoàn thành kế toán phải tính toánh giá thành
thực tế của từng công trình sửa chữa để quyết toán số chi phí này theo từng
hoạch trích trước) hoặc chi phí phải trả (nếu sửa chữa theo kế hoạch, doanh
nghiệp đã tính trước hàng háng)
Nợ TK 142
Nợ TK 335
Có TK 241 (2413)
* Trường hợp sửa chữa nâng cấp, hiện đại hoá hoặc kéo dài tuổi thọ của
tài sản cố định thì toàn bộ chi phí này được kết chuyển để tăng nguyên giá của
TSCĐ
Trang 39Nợ TK 211
Có TK 241 (2413)
Chú thích
1 Chi phí thực tế về sửa chữa thường xuyên theo phương thức tự làm
2 Chi phí thực tế về sửa chữa lớn thuê ngoài làm
3 Kết chuyển chi phí sửa chữa lớn về chi phí
4 Kết chuyển giá thành sửa chữa lớn ngài kế hoạch
5 Tính trước chi phí vào chi phí kinh doanh
6 Kết chuyển chi phí sửa chữa tăng nguyên giá tài sản cố định
7 Phân bổ chi phí sửa chữa lớn TSCĐ vào chi phí kinh doanh
8 Kết chuyển giá thành sửa chữa trong kế hoạch
VI KIỂM TRA VÀ ĐÁNH GIÁ LẠI TÀI SẢN CỐ ĐỊNH
1 Kiểm tra tài sản cố định
Trang 40Kiểm tra tài sản cố định theo định kỳ là công việc thường xuyên củacác
doanh nghiệp
Kiểm tra là sự đối chiếu giữa số liệu trên sổ kế toán với số liệu thựctế Khi
tiến hành kiểm khê doanh nghiệp phải thành lập hội đồng kiểm kê TSCĐbao
gồm: Giám đốc doanh nghiệp, kết toán trưởng, trưởng phòng kỹ thuật, Đại diện
nơi sử dụng TSCĐ và kế toán theo dõi TSCĐ
Đối với TSCĐ doanh nghiệp kiểm tra ít nhất1 năm 1 lần trước khi lập báo
cáo quyết toán năm (0 giờ ngày 31 tháng 12 ) Hội đồng kiểm tra phải lập kế
hoạch kiểm kê, chuẩn bị các nhân sự , phương tiện kiểm kê sau đó thực hiện
kiểm kê và phải lập biên bản kiểm kê để so sánh TSCĐ giữa sổ sách và thực tế
để xác định những tài sản cố định thừa, thiếu hoặc thay đổi về chất lượng, TSCĐ
cần dùng hay không cần dùng để kiến nghị với doanh nghiệp xử lý Biên bản
kiểm kê phải có đầy đủ chữ ký của những ngườicó liên quan
Dựa vào biên bản kiểm kê để kế toán xử lý kết quả kiểm kê:
* Tài sản cố định kiểm kê thừa:
- Trường hợp quên chưa ghi số kế toán: tìm lại xem TSCĐ tăng trong
trường hợp nào để ghi tăng TSCĐ theo trường hợp đó và trích khấu hao bổ xug
cho TSCĐ này
Nợ TK 627
Nợ TK 641
Nợ TK 642 Ghi đơn nợ Tk 009
- Trường hợp TSCĐ không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thì phải
có báo cáo cấp trên để chờ xử lý
Dùng tài khoản ghi đơn 002
Hoặc
Nợ TK 211
Có TK 338 (3381)
* TSCĐ thiếu trong kiểm kê
- Nếu chưa biết nguyên nhân thiết