1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại NHTMCP habubank chi nhánh hàng trống (2)

95 163 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, bảo lãnh còn được sử dụng rộng rãi trong nước do tính đa dạng của nó.Bảo lãnh không chỉ hỗ trợ cho các hợp đồng thương mại mà còn trong cả các giao dịchphi thương mại, tài chín

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã mang lại nhiều

cơ hội cho các ngành kinh tế Cùng với thời cơ là những thách thức, nhất là đối với cácdoanh nghiệp, các tổ chức tín dụng, phải đối mặt với sự cạnh tranh của các doanh nghiệp,các ngân hàng nước ngoài khi Việt Nam chính thức mở cửa thị trường

Trong hoạt động kinh doanh, rủi ro xuất hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau luôn

là yếu tố có khả năng xuất hiện và cản trở các hoạt động diễn ra một cách liên tục Cácbiện pháp đề ra nhằm hạn chế những rủi ro xảy ra không mong muốn luôn thôi thúcnhững người làm kinh doanh, và hoạt động “ bảo lãnh ngân hàng ” đã ra đời nhằm khắcphục những khó khăn đó Có thể nói ngày nay, bảo lãnh ngân hàng luôn được xem nhưtấm vé thông hành cho doanh nghiệp trong các hoạt động mua bán trả chậm Việc nàykhông những tạo thuận lợi cho kế hoạch của bạn mà các đối tác kinh doanh cũng sẽ có cơ

sở để tin tưởng doanh nghiệp của bạn hơn Với vai trò như vậy, bảo lãnh đã trở thành loạidịch vụ kinh doanh có nhiều tác động tích cực trong việc thúc đẩy các giao dịch về vốn,các giao dịch kinh doanh Hiện nay, bảo lãnh ngân hàng là một trong những dịch vụ ngânhàng hiện đại được sử dụng rộng rãi và tạo ra thu nhập không nhỏ cho ngân hàng,

Ngân hàng Habubank - Chi nhánh hàng Trống đang không ngừng đổi mới và pháttriển các nghiệp vụ ngân hàng, đặc biệt là nghiệp vụ bảo lãnh Trong những năm gần đây,hoạt động bảo lãnh tại ngân hàng Habubank - Chi nhánh Hàng Trống đã đạt được nhữngthành công nhất định nhưng vẫn tồn tại nhiều vướng mắc Vì vậy việc phân tích thựctrạng chất lượng hoạt động bảo lãnh, chỉ ra những thành công cũng như những tồn tại củahoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng Habubank - Chi nhánh Hàng Trống để từ đó nâng caochất lựợng hoạt động bảo lãnh ngân hàng là việc làm rất cần thiết

Trong quá trình thực tập, xuất phát từ thực tiễn trên em quyết định chọn đề tài

“Nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại NHTMCP Habubank - Chi nhánh Hàng Trống” cho chuyên đề tốt nghiệp của mình.

Mục đích của đề tài nghiên cứu này là thông qua nghiên cứu những lý luận cơ bản

về chất lượng bảo lãnh Ngân hàng, tìm hiểu và phân tích chất lượng hoạt động bảo lãnhtại NHTMCP Habubank - Chi nhánh Hàng Trống, nêu bật được thành công cũng như cáctồn tại và các nguyên nhân của nó, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng

Trang 2

hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại NHTMCP Habubank - Chi nhánh Hàng Trống.

Chuyên đề được chia thành 3 chương như sau :

Chương 1: Lý luận chung về chất lượng hoạt động bảo lãnh ngân hàng.

Chương 2: Thực trạng chất lượng hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại NHTMCP Habubank - Chi nhánh Hàng Trống.

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại NHTMCP Habubank - Chi nhánh Hàng Trống.

Mặc dù em đã hết sức cố gắng để hoàn thành chuyên đề này nhưng không thể tránhkhỏi những sai sót Vì vậy, em mong nhận được những ý kiến đóng góp, phê bình của quýthầy cô để chuyên đề có thể được hoàn thiện hơn nữa

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới PGS.TS Phạm Quang Trung đã tậntình giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện chuyên đề này Đồng thời em xin gửi lờicảm ơn tới các cán bộ Phòng Phát triển kinh doanh NHTMCP Habubank - Chi nhánhHàng Trống đã cung cấp những tài liệu cần thiết phục vụ cho chuyên đề

Em xin chân thành cảm ơn!

NGÂN HÀNG

Trang 3

1.1 Hoạt động bảo lãnh ngân hàng

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển bảo lãnh ngân hàng

Bảo lãnh ngân hàng xuất hiện lần đầu tiên ở khu vực Trung Đông dưới dạng bảolãnh thanh toán Các quốc gia sản xuất dầu hoả ở Trung Đông phát triển rất nhanh nhờvào việc ký kết những hợp đồng lớn với các công ty phương Tây cho những dự án lớnnhư cải tiến cơ sở hạ tầng, dự án công nông nghiệp, các chương trình công cộng, và

an ninh, quốc phòng

Sự giao lưu, buôn bán, hợp tác làm ăn không chỉ bó hẹp trong khuôn khổ một quốcgia nữa mà ngày càng mở rộng ra ngoài biên giới Thương mại quốc tế phát triển kéo theocác giao dịch kinh tế ngày càng mở rộng Ví dụ các công ty kiến trúc của Hà Lan và Anh cóthể tham gia liên doanh các công ty khác trong một dự án xây dựng một sân bay và một sốcông trình phụ trợ ở Arâp, mua thiếp bị từ nhà cung cấp ở Pháp Chính mức độ quan trọng,tầm cỡ và sự phức tạp của các giao dịch đòi hỏi thúc đẩy sự phát triển của dịch vụ bảolãnh ngân hàng

Bảo lãnh ngân hàng là một trong những nghiệp vụ ngân hàng hiện đại được sửdụng rộng rãi trên thế giới Tại Hà Lan, doanh số các loại bảo lãnh do các ngân hàng HàLan phát hành trong năm 1980 là 12.850 triệu NGL Con số này tăng lên 26 281 triệu NGLvào năm 1990.( Theo số liệu công bố ngày 10/7/1990 của Uỷ ban kiểm soát của Ngân hàngtrung ương Hà Lan) Còn theo Uỷ ban soạn thảo Điều khoản sửa đổi Luật thương mại HoaKỳ: Đến cuối 1995 số tiền bảo lãnh còn hiệu lực tại các ngân hàng Hoa Kỳ lên tới 500 tỷUSD trong đó bảo lãnh của khách hàng Mỹ là 250 tỷ Trị giá của từng loại bảo lãnh cũng lêntới hàng chục triệu USD

Ngoài ra, bảo lãnh còn được sử dụng rộng rãi trong nước do tính đa dạng của nó.Bảo lãnh không chỉ hỗ trợ cho các hợp đồng thương mại mà còn trong cả các giao dịchphi thương mại, tài chính, phi tài chính như: bảo lãnh thanh toán, hoàn trả tiền ứng trước,thực hiện hợp đồng, bảo lãnh bảo hành, bảo lãnh dự thầu…

Hiện nay bảo lãnh ngân hàng phát triển rộng rãi trên nhiều lĩnh vực, nó không đơnthuần chỉ là một loại hình dịch mà còn là một công cụ tài trợ cho doanh nghiệp Ta có thểchắc chắn rằng những hợp đồng kinh doanh lớn hiện nay không thể không có bảo lãnhngân hàng đi kèm

1.1.2 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng

Thuật ngữ bảo lãnh được sử dụng từ rất lâu từ thời phong kiến, sau đó bảo lãnh được

Trang 4

phát triển sang lĩnh vực dân sự và nhiều lĩnh vực khác của đời sống kinh tế xã hội

Xét về góc độ học thuật, bảo lãnh ngân hàng là một hình thức Tín dụng chữ ký, là một

hoạt động sinh lời mà không phải bỏ vốn của các ngân hàng

Trong pháp luật dân sự nước ta khái niệm bảo lãnh được nêu trong điều 366 Bộ luậtDân sự: “ Bảo lãnh là việc người thứ ba (gọi là người bảo lãnh) cam kết với bên có quyền(gọi là người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (gọi là ngườiđược bảo lãnh), nếu khi đến hạn mà nguời được bảo lãnh không thực hiện hoặc thựchiện không đúng nghĩa vụ ”

Trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế: “ Bảo lãnh tài sản là sự bảo đảm bằng tài sảnthuộc quyền sở hữu của người nhận bảo lãnh để chịu trách nhiệm tài sản thay cho ngườiđược bảo lãnh khi người này vi phạm hợp đồng kinh tế đã ký kết.”

Cho dù cách tiếp cận có thể khác nhau, song nhìn chung chúng đều thống nhất chung mộtquan điểm: bảo lãnh ngân hàng là một loại hình tín dụng của ngân hàng

Từ đó ta có thể hiểu bảo lãnh như sau :

“ Bảo lãnh là sự cam kết của người bảo lãnh sẽ thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thay cho bênxin bảo lãnh nếu người xin bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng với bênnhận bảo lãnh”

Như vậy, bảo lãnh cần thiết khi hai bên tham gia vào các mối quan hệ kinh tế, chính trịhay xã hội còn chưa tín nhiệm, tin cậy nhau và bên kia cũng không có đủ khả năng vềthời gian, chi phí cũng như trình độ nghiệp vụ để đánh giá về khánh hàng của mình Lúc

đó sự xuất hiện của bên trung gian có đủ uy tín đối với cả hai bên thực hiện bảo lãnh sẽ làrất cần thiết để đưa họ đi đến một thoả thuận thống nhất

*Khái niệm bảo lãnh ngân hàng: Theo điều 2 trong Quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh củacác ngân hàng( ban hành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 củaThống đốc Ngân hàng Nhà Nước)

“Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng ( bên bảo lãnh ) với bên có quyền ( bên nhận bảo lãnh ) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng ( bên được bảo lãnh ) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.”

Trong đó:

Bên bảo lãnh là các tổ chức tín dụng bao gồm:

- Các tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theo luật các tổ chức tín dụng: Ngân hàngthương mại Nhà nước, Ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng

Trang 5

phát triển, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoàitại Việt Nam, Ngân hàng hợp tác, các loại hình ngân hàng khác và các tổ chức tín dụngphi ngân hàng thành lập và hoạt động theo luật các tổ chức tín dụng ( gọi chung là tổ chứctín dụng)

- Các ngân hàng được NHNN cho phép hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện cácloại bảo lãnh mà bên nhận bảo lãnh là các tổ chức và cá nhân nước ngoài

Bên được bảo lãnh là các khách hàng bao gồm:

- Các doanh nghiệp đang hoạt đông kinh doanh hợp pháp tại Việt Nam như doanh nghiệpnhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệpliên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp tư nhân, hộkinh doanh cá thể

- Các tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo luật các tổ chức tín dụng

- Hợp tác xã và các tổ chức khác có đủ điều kiện quy định tại Điều 94 của Bộ Luật Dânsự

- Các tổ chức kinh tế nước ngoài tham gia các hoạt động hợp tác liên doanh và tham giađấu thầu các dự án đầu tư tại Việt Nam

Bên nhận bảo lãnh là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có quyền thụ hưởng các

cam kết bảo lãnh của các tổ chức tín dụng

1.1.3 Đặc điểm bảo lãnh ngân hàng

* Bảo lãnh ngân hàng là một mối quan hệ nhiều bên, phụ thuộc lẫn nhau.

Khi đồng ý bảo lãnh ngân hàng sẽ phát hành thư bảo lãnh Thư bảo lãnh “ là cam

kết đơn phương bằng văn bản của tổ chức tín dụng về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiệnnghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiệnkhông đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh” ( Điều 2 khoản 2a Quyết định số26/2006/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 26/ 6/2006 Về việc banhành Quy chế bảo lãnh ngân hàng ) Thư bảo lãnh là một hợp đồng giữa hai bên thường làgiữa ngân hàng và người thụ hưởng Hợp đồng này độc lập trong mối quan hệ với hợp đồng

cơ sở Tuy nhiên ta cần phải hiểu rằng bảo lãnh không chỉ là mối quan hệ giữa hai bên mà

là mối quan hệ nhiều bên bao gồm cả:

- Mối quan hệ hợp đồng giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng

- Mối quan hệ hợp đồng giữa người được bảo lãnh và ngân hàng

Hợp đồng bảo lãnh sẽ không thể tồn tại nếu không có mối quan hệ trên Ba mối quan hệnày liên hệ lẫn nhau và có ảnh hưởng đến nhau

Trang 6

* Tính độc lập.

Như ta đã biết mục đích của bảo lãnh ngân hàng là hoàn trả cho người thụ hưởngnhững thiệt hại từ việc không thực hiện hợp đồng của người được bảo lãnh nhưng việcthanh toán khoản bảo lãnh chỉ căn cứ vào các điều khoản đã quy định trong hợp đồng bảolãnh

Tính độc lập được thể hiện trong trách nhiệm thanh toán của ngân hàng phát hành Tráchnhiệm này hoàn toàn độc lập với mối quan hệ giữa ngân hàng và người được bảo lãnh Ngânhàng không được viện các lý do như: người được bảo lãnh bị phá sản, vẫn còn nợ ngânhàng để từ chối thanh toán

Bảo lãnh là giao dịch tách rời khỏi hợp đồng cơ sở hay các điều kiện mà bảo lãnhdẫn chiếu đến và bên bảo lãnh không hề quan tâm hay bị ràng buộc bởi hợp đồng hay cácđiều kiện đó, dù có tham chiếu đến chúng trong bảo lãnh hay không Trách nhiệm của bênbảo lãnh là phải trả số tiền như đã quy định khi bên thụ hưởng xuất trình yêu cầu thanhtoán bằng các văn bản và các chứng từ khác mà phù hợp với các quy định của bảo lãnh

Tính độc lập cũng đem lại lợi ích cho ngân hàng Điều này thể hiện ở chỗ: khi ngườithụ hưởng có yêu cầu đòi tiền theo thư bảo lãnh, ngân hàng chỉ có trách nhiệm xemxét, kiểm tra xem những điều khoản, điều kiện của thư bảo lãnh có được thoả mãn haykhông Do vậy ngân hàng không chịu trách nhiệm giải quyết những tranh chấp phát sinhtrong hợp đồng kinh tế giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh đã kí kết với nhau

Tuy nhiên tính chất độc lập của bảo lãnh cũng làm tăng rủi ro cho ngân hàng khiphải thanh toán hộ khi có sự không trung thực của bên yêu cầu bảo lãnh Điều đó còn phụthuộc vào đó là loại bảo lãnh nào, nó là loại bảo lãnh vô điều kiện hay bảo lãnh có điềukiện Nếu là bảo lãnh vô điều kiện, việc thanh toán được thực hiện theo yêu cầu đầu tiên,đảm bảo tính độc lập của bảo lãnh

1.1.4 Vai trò của bảo lãnh ngân hàng

Có thể nói ngày nay, bảo lãnh ngân hàng luôn được xem như tấm vé thông hành chodoanh nghiệp trong các hoạt động mua bán trả chậm Việc này không những tạo thuận lợicho kế hoạch của bạn mà các đối tác kinh doanh cũng sẽ có cơ sở để tin tưởng doanhnghiệp của bạn hơn Với vai trò như vậy, bảo lãnh đã trở thành loại dịch vụ kinh doanh cónhiều tác động tích cực trong việc thúc đẩy các giao dịch về vốn, các giao dịch kinhdoanh không chỉ ở trong lĩnh vực tín dụng mà cả trong dự thầu, thực hiện hợp đồng, bảođảm chất lượng sản phẩm

Trang 7

Như vây, hoạt động bảo lãnh không chỉ góp phần phát triển hoạt động của ngân hàng

mà còn có vai trò quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp nói riêng và đối với nềnkinh tế nói chung

1.1.4.1 Đối với ngân hàng

- Như ta đã biết hoạt động bảo lãnh là một trong những nghiệp vụ của ngân hàng Thôngqua hoạt động này, ngân hàng thu được một khoản phí bảo lãnh

Phí bảo lãnh = Tỷ lệ phí * Giá trị bảo lãnh * Thời gian bảo lãnh

Nguồn thu từ phí bảo lãnh trong những năm gần đây chiếm một phần không nhỏ trongtổng nguồn thu từ phí dịch vụ ngân hàng

Một ưu điểm mà ta thấy ở nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng là chỉ khi bên được bảo lãnhkhông hoàn thành hoặc chưa hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ của mình thì ngân hàng khi đómới thực hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng, khi đó ngân hàng mới phải xuất vốn củamình ra Nếu khách hàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình thì ngân hàng không phải

sử dụng đến vốn của mình, không phải trả chi phí huy động, không mất cơ hội kinh doanhkhác

- Bên cạnh việc đóng góp vào thu nhập cho ngân hàng, hoạt động bảo lãnh còn giúp ngânhàng không ngừng mở rộng mối quan hệ với khách hàng Hơn nữa, nghiệp vụ bảo lãnhnày còn tạo điều kiện cho ngân hàng hỗ trợ khách hàng trong các hoạt động thanh toánquốc tế ( bảo lãnh L/C trả chậm, bảo lãnh giao dịch ngoại tệ…) từ đó làm tăng khả năngđáp ứng nhu cầu của khách hàng, thúc đẩy giao dich về vốn, làm tăng các tài khoản giaodịch trong ngân hàng

- Nghiệp vụ bảo lãnh còn giúp ngân hàng không ngừng gia tăng uy tín và vị thế của mìnhtrên thị trường tiền tệ quốc tế Với việc thực hiện bảo lãnh nước ngoài thành công, ngânhàng đã từng bước nâng cao uy tín của mình đồng thời thu hút thêm khách hàng và đemlại lợi nhuận cho ngân hàng của mình

1.1.4.2 Đối với doanh nghiệp

* Đối với bên nhận bảo lãnh

- Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp đều có khả năng phải đối mặt với nhữngrủi ro khác nhau tồn tại dưới nhiều hình thức Do đó, bảo lãnh ngân hàng giúp các doanhnghiệp yên tâm khi ký kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng mà không tốn thêm nhiều thờigian

Trang 8

- Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng còn giúp các doanh nghiệp trong việc lựa chọn đối tácthích hợp và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh Khi bên được bảo lãnh khôngthực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh thì bênphía ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của mình, giúp bênnhận bảo lãnh được bù đắp thiệt hại một cách nhanh chóng và do đó hoạt đông kinhdoanh sẽ được diễn ra một cách bình thường.

* Đối với bên được bảo lãnh

- Bảo lãnh ngân hàng giúp doanh nghiệp tiếp cận thêm được tới những khách hàng mới.Trong quan hệ thương mại, ngoài những bạn hàng truyền thống, các doanh nghiệp luônluôn mở rộng thị phần của mình tới những vùng mới, với những đối tác mới Trong nhữnggiao dịch này, các bên còn chưa hoàn toàn tin tưởng lẫn nhau Để tạo an toàn và tăngthêm độ tin cậy, một bên thường sẽ yêu cầu bên kia phải có bảo lãnh ngân hàng Bảo lãnhngân hàng làm tăng uy tín cho doanh nghiệp vì được ngân hàng đứng ra bảo đảm

- Bảo lãnh ngân hàng giúp doanh nghiệp nghiêm túc hơn trong việc hoàn thành hợp đồng

- Nhiều trường hợp, bảo lãnh ngân hàng là giúp doanh nghiệp tiếp cận tới hợp đồng Bảolãnh ngân hàng giúp doanh nghiệp nhận được tài trợ từ đối tác ( bảo lãnh tiền ứng trước),hoặc từ các tổ chức tín dụng ( bảo lãnh vay vốn )… giúp doanh nghiệp tiết kiệm được mộtkhoản vốn đáng kể, và có thêm hình thức vay vốn mới để tài trợ cho nhu cầu vốn củadoanh nghiệp

1.1.4.3 Đối với nền kinh tế

Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng ra đời, tồn tại, và phát triển là một tất yếu khách quan Nóđóng vai trọng đối với nền kinh tế, thể hiện ở những khía cạnh sau:

- Bảo lãnh ngân hàng như là chất xúc tác, điều hòa và xúc tiến các mối quan hệ trọnghoạt động kinh tế Nhờ có sự tham gia của bảo lãnh ngân hàng, các bên yên tâm tham gia

ký kết hợp đồng và có trách nhiệm thực hiện các điều khoản đã ký kết Do vậy ta thấynghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng đã đem lại lợi ích cho các bên, góp phần thúc đẩy buôn bángiữa các bên, do đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển

- Bảo lãnh ngân hàng còn là công cụ đề phòng rủi ro cho doanh nghiệp Thông qua nghiệp

vụ bảo lãnh, các doanh nghiệp có thể yên tâm thực hiện hợp đồng và từ đó thúc đẩy cácdoanh nghiệp nhanh chóng thực hiện đúng hợp đồng như đã ký kết

- Bảo lãnh ngân hàng góp phần đáp ứng nhu cầu về vốn cho sản xuất trong và ngoài nước.Hầu hết các doanh nghiệp không có đủ uy tín đối với các tổ chức cho vay, thông qua bảo

Trang 9

lãnh ngân hàng, các doanh nghiệp có thể tiếp cận được với các khoản vay có lãi suất thấp.Với nguồn vốn này, các doanh nghiệp có thể đầu tư mua sắm, đổi mới trang thiết bị máymóc phục vụ cho hoạt động sản xuất Hiện nay, nước ta đang trong thời kì công nghiệphóa - hiện đại hóa, nhân tố về vốn, con ngưòi và công nghệ là điều kiện cần thiết để phục

vụ cho sự phát triển Sản xuất phát triển sẽ giúp nền kinh tế phát triển

- Bảo lãnh ngân hàng giúp tăng cường mối quan hệ kinh tế thương mại giữa các quốc gia

1.1.5 Chức năng của bảo lãnh ngân hàng

1.1.5.1 Bảo lãnh ngân hàng là công cụ tài trợ.

Trong hoạt động kinh tế, nhu cầu về vốn luôn là vấn đề cần thiết đối với mọi chủthể Đặc biệt là đối với những hợp đồng đòi hỏi vốn lớn, diễn ra trong thời gian dài thìviệc tìm nguồn tài trợ lại tỏ ra vô cùng cấp thiết trong khi các doanh nghiệp lại khó tiếpcận với các khoản vay dài hạn của các tổ chức tín dụng

Đa số các công trình xây dựng tham gia bảo lãnh ngân hàng đều có giá trị cao, và thờigian thi công dài, thêm vào đó các công ty xây dựng có thể gặp nhiều rủi ro khi phải hoànthành công trình hoặc từng hạn mục mới được chủ thầu thanh toán Do đó các công ty xâydựng thương lượng để được nhận một khoản tiền ứng trước Khoản tiền này chính là sự tàitrợ của chủ thầu dành cho công ty xây dựng Ngân hàng phục vụ bên phía công ty xây dựngphát hành thư bảo lãnh thanh toán để cho công ty nhận được khoản tiền ứng trước từ chủ đầu

tư Theo đó, ngân hàng phát hành bảo lãnh cam kết cho người thụ hưởng trong trường hợpcông ty xây dựng không thanh toán hoặc thanh toán chưa đủ số tiền ứng trước kia Ở đâyngân hàng không đứng ra cho vay mà chỉ dùng uy tín của mình để tài trợ cho công ty xâydựng được nhận khoản tiền ứng trước, đáp ứng nhu cầu về vốn trước mắt

Do vậy bảo lãnh ngân hàng đóng vai trò là công cụ tài trợ

1.1.5.2 Bảo lãnh ngân hàng là công cụ bảo đảm

Như ta đã biết, mục đích của bảo lãnh ngân hàng là thanh toán cho bên nhận bảo lãnhkhi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy nghĩa vụ của mình Mặc dùtrên thực tế bên nhận bảo lãnh không mong muốn bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng đểđược nhận bồi hoàn từ ngân hàng Họ chỉ coi nó như là một công cụ bảo đảm cho hợp đồngnếu bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng Hơn nữa bảo lãnh còn được dùng trong các hoạtđộng như: thi công, bảo hành sản phầm, dự thầu ….Do vậy bảo lãnh ngân hàng là công cụbảo đảm chứ không phải là công cụ thanh toán như L/C

1.1.5.3 Bảo lãnh là công cụ đánh giá

Trang 10

Trước khi đồng ý bảo lãnh, ngân hàng phải kiểm tra đánh giá toàn diện bên đượcbảo lãnh như: khả năng thực hiện hợp đồng, khả năng tài chính, uy tín…Đây là nhữngđiều mà bên nhận bảo lãnh ít có khả năng thẩm định được Do vậy thông qua bảo lãnhngân hàng, bên nhận bảo lãnh có những thông tinchính xác để đánh giá đúng đối tác củamình, tăng độ tin cậy giữa hai bên.

1.1.5.4 Bảo lãnh ngân hàng là công cụ đôn đốc hoàn thành hợp đồng

Trong bảo lãnh ngân hàng, Ngân hang chỉ thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khixuất hiện sự vi phạm hợp đồng của bên được bảo lãnh Trong suốt thời gian bảo lãnh cònhiệu lực, bên nhận bảo lãnh hoàn toàn có quyền yêu cầu ngân hàng phát hành bảo lãnhthanh toán hợp đồng Do đó ngân hàng luôn phải kiểm tra, giám sát, theo dõi việc thựchiện hợp đồng của bên được bảo lãnh Hơn nữa khi ngân hàng thanh toán cho bên nhậnbảo lãnh, thì bên được bảo lãnh phải có trách nhiệm bồi hoàn lại cho ngân hàng Đâyđược coi như là một khoản vay của bên đựợc bảo lãnh Do vậy ngân hàng phải luôn đốcthúc bên được bảo lãnh hoàn trả lại số tiền trên

1.1.6 Phân loại bảo lãnh ngân hàng

1.1.6.1 Phân loại theo mục đích bảo lãnh

* Bảo lãnh thanh toán

Bảo lãnh thanh toán: là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận bảo lãnh, về

việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàngkhông thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình khi đến hạn.

(Điều 5 khoản 1 Quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh của các ngân hàng, ban hành kèm theoQuyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước.)

Bảo lãnh thanh toán thường được sử dụng trong các hợp đồng mua bán trả chậmnhằm cung cấp sự đảm bảo cho người thụ hưởng có thể nhận được khoản thanh toán mộtcách thuận lợi, đầy đủ đúng hạn về các sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ đã cung ứng chongười được bảo lãnh Đây là loại bảo lãnh phổ biến ở các nước đang phát triển và có thể sửdụng thay thế cho phương pháp tín dụng chứng từ

* Bảo lãnh vay vốn

Bảo lãnh vay vốn: là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận bảo lãnh, về việc

sẽ trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không trả hoặc không trả đầy

đủ, đúng hạn nợ vay đối với bên nhận bảo lãnh.(Điều 5 khoản 2 Quy chế về nghiệp vụ

Trang 11

bảo lãnh của các ngân hàng, ban hành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày26/6/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước.)

Vì số tiền bảo lãnh thường lớn nên rủi ro của ngân hàng trong vai trò người bảo lãnh làrất cao Do đó ngân hàng cần phải xem xét kĩ lưỡng tính khả thi của dự án, tài sản thế chấp và

tư cách người vay để quyết định xem bảo lãnh có bảo lãnh hay không bởi vì ngân hàng là bên

có trách nhiệm trả tiền thay khi người vay không có khả năng hoàn trả các khoản nợ đến hạn

Số tiền và thời hạn bảo lãnh là số tiền, thời hạn ghi trong thư bảo lãnh theo đề nghịcủa bên đi vay phù hợp với hợp đồng vay vốn

Ngoài hình thức phát hành thư bảo lãnh, ngân hàng có thể bảo lãnh vay vốn bằngcách mở L/C trả chậm, ký bảo lãnh trên các hối phiếu và giấy nhận nợ theo yêu cầu củangười được bảo lãnh nợ đầy đủ, đúng hạn

Có 2 loại bảo lãnh vay vốn:

+ Bảo lãnh vay vốn trong nước

+ Bảo lãnh vay vốn nước ngoài

* Bảo lãnh dự thầu

Bảo lãnh dự thầu: là cam kết của của tổ chức tín dụng với bên mời thầu, để bảo

đảm nghĩa vụ tham gia dự thầu của khách hàng Trường hợp, khách hàng phải nộp phạt do

vi phạm quy định đấu thầu mà không nộp hoặc không nộp đầy đủ tiền phạt cho bên mời

thầu thì tổ chức tín dụng sẽ thực hiện thay (Điều 5 khoản 3 Quy chế về nghiệp vụ bảolãnh của các ngân hàng, ban hành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày26/6/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước.)

Sau khi công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt hồ sơ mời thầu đối với côngtrình đấu thầu, chủ đầu tư lập thư mời thầu gửi các nhà thầu liên quan Đến thời gian quyđịnh, nhà thầu phải gửi hồ sơ dự thầu để tham gia đấu thầu cho chủ đầu tư kèm theo thưbảo lãnh dự thầu của ngân hàng Trong thư bảo lãnh, ngân hàng phải ghi rõ tên nhà thầu,tên công trình, số tiền bảo lãnh, thời gian hiệu lực, nội dung bảo lãnh và lãnh đạo ngânhàng ký tên đóng dấu vào thư bảo lãnh, với số tiền bảo lãnh thường là 2% - 5% giá trị hợpđồng đấu thầu Mục đích bảo lãnh dự thầu là nhằm bù đắp những thiệt hại về thời igan,chi phí cho chủ thầu di những vi phạm của người dự thầu gây ra như: rút đơn thầu, trúngthầu nhưng bỏ không ký tiếp hợp đồng cung cấp, bổ sung thêm các điều kiện khi ký hợpđồng so với bản dự thầu… Nếu những vi phạm trên xảy ra, ngân hàng sẽ chịu trách nhiệmtrả cho chủ đầu tư tối đa là số tiền bảo lãnh xây dựng công trình là rất cần thiết, nhằmràng buộc nhà thầu về mặt kinh tế, phải tham gia đấu thầu thực sự Nếu nhà thầu không

Trang 12

tuân thủ theo quy chế đấu thầu, sẽ phải mất khoản tiền mà ngân hàng đã đứng ra bảo lãnh.Bảo lãnh dự thầu còn có tác dụng để cho bên chủ thầu thấy đơn dự thầu là một đề nghịnghiêm túc và bên dự thầu sẽ ký kết hợp đồng nếu trúng thầu Việc ngân hàng cấp bảolãnh dự thầu hàm ý năng lực tài chính của người dự thầu là lành mạnh, ngoài ra nếu trúngthầu ngân hàng sẽ xem xét tiếp các khoản bảo lãnh khác như bảo lãnh thực hiện hợpđồng, bảo lãnh đặt cọc.

Thời hạn bảo lãnh dự thầu kết thúc trong các trường hợp sau :

+ Người dự thầu trúng thầu và đã ký bảo lãnh thực hiện hợp đồng

+ Người dự thầu không trúng thầu

* Bảo lãnh thực hiện hợp đồng

Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận bảo

lãnh, bảo đảm việc thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của khách hàng theo hợp đồng

đã ký kết với bên nhận bảo lãnh Trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng và phải bồithường cho bên nhận bảo lãnh mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì tổ

chức tín dụng sẽ thực hiện thay ( Điều 5 khoản 4 Quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh của các

ngân hàng, ban hành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 củaThống đốc Ngân hàng Nhà Nước.)

Như vậy trong trường hợp hợp đồng do khách hàng cung cấp không đúng hạn,không đúng chất lượng cam kết thì đều gây tổn thất cho bên thứ ba Và bảo lãnh ngânhàng giúp bù đắp một phần tổn thất cho bên thứ ba (đảm bảo cho họ tránh được rủi ro) đồngthời thúc đẩy khách hàng thực hiện hợp đồng một cách nghiêm chỉnh

Giá trị bảo lãnh thực hiện hợp đồng từ 10 - 15 % tổng giá trị hợp đồng tùy theo loạihình và quy mô hợp đồng Mức bảo lãnh thực hiện hợp đồng có thể lên trên 15% nhưngphải được người có thẩm quyền quyết định đầu tư chấp thuận Tuy nhiên số tiền bảo lãnh

có thể giảm dần theo tiến độ thực hiện hợp đồng

Thư bảo lãnh sẽ có giá trị cho đến ngày hoàn thành hợp đồng Thời hạn hiệu lựcđược xác định cụ thể theo thoả thuận giữa hai bên Thời hạn bảo lãnh sẽ bắt đầu từ ngàykết thúc đấu thầu kéo dài cho đến khi hoàn thành hợp đồng như: đã giao xong hàng hoá, máymóc thiết bị đã được vận hành, công trình đã được đưa vào sử dụng…

* Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm

Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm: là cam kết của của tổ chức tín dụng với

bên nhận bảo lãnh, bảo đảm việc khách hàng thực hiện đúng các thoả thuận về chất lượng

Trang 13

của sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh Trường hợp khách hàng viphạm chất lượng sản phẩm và phải bồi thường cho bên nhận bảo lãnh mà không thực hiệnhoặc thực hiện không đầy đủ thì tổ chức tín dụng sẽ thực hiện thay (Điều 5 khoản 5 Quychế về nghiệp vụ bảo lãnh của các ngân hàng, ban hành kèm theo Quyết định số26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước.)

Mục đích của bảo lãnh này là nhằm bảo đảm cho nhà thầu/ nhà xuất khẩu sẽ sửa chữa những hỏng hóc phát sinh sau khi giao hàng, bàn giao công trình hoặc bồi thường được hàng hoá thiếu hụt, phẩm chất kém

Hiệu lực của bảo lãnh này là trong thời gian bảo hành sản phẩm Số tiền bảo lãnh thấp hơn nhiều so với bảo lãnh thực hiện hợp đồng, thường từ 2% -5% giá trị hợp đồng

Có 2 loại bảo lãnh chất lượng sản phẩm:

- Bảo lãnh bảo đảm chất lượng công trình Bảo lãnh bảo đảm chất lượng công trình được sửdụng nhiều trong hợp đồng xây lắp.Bảo lãnh này nhằm thuyết phục chủ đầu tư thanhtoán nốt số tiền mà họ đã giữ lại để bảo đảm nhà thầu sẽ sửa chữa những hỏng hóc có thểxảy ra trong thời gian bảo hành công trình

- Bảo lãnh bảo đảm chất lượng máy móc thiết bị và hàng hóa

* Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước:

Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước: là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận

bảo lãnh về việc bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước của khách hàng theo hợp đồng

đã ký kết với bên nhận bảo lãnh Trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng và phải hoàntrả tiền ứng trước mà không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ thì tổ chức tín dụng sẽthực hiện thay (Điều 5 khoản 6 Quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh của các ngân hàng, banhành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của Thống đốc Ngânhàng Nhà Nước.)

Trong hầu hết các hợp đồng lớn, nhà xuất khẩu/ nhà thầu thường được ứng trước

từ 5%- 20% giá trị hợp đồng để giúp họ có vốn ban đầu để sản xuất, nhanh chóng giaohàng, thực hiện hợp đồng, đặc biệt trong giai đoạn đầu thực hiện dự án Đổi lại nhà nhậpkhẩu/ chủ đầu tư thường yêu cầu nhà thầu phải nộp một thư bảo lãnh tiền ứng trước để bảođảm việc hoàn trả lại số tiền này trong trường hợp nhà thầu không thực hiện đúng hợp đồng

Mục đích của bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước nhằn đảm bảo cho nhà nhập khẩu/ nhàthầu được nhận lại số tiền đã đặt cọc hay ứng trước trong trường hợp nhà xuất khẩu khônghoàn thành nghĩa vụ hợp đồng, nghĩa là giao hàng đúng như quy định Mục đích bảo lãnhhoàn trả tiền ứng trước có thể rộng hơn bảo lãnh thực hiện hợp đồng Khi hai bên thoả thuận

Trang 14

huỷ bỏ hợp đồng hay hợp đồng không được thực hiện do lý do khách quan thì thư bảo lãnhtiền ứng trước sẽ bị đòi tiền Lý do là việc trả tiền theo thư bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trướcđược xem như là trả lại số tiền chủ thầu đã ứng cho nhà thầu, trong khi bảo lãnh thực hiệnhợp đồng lại chỉ đảm bảo những tổn thất do vi phạm hợp đồng Bảo lãnh hoàn trả tiền ứngtrước có hiệu lực khi người bán sử dụng khoản tiền này và hết hiệu lực khi người bán giaohàng lần cuối cộng với một số ngày để người thụ hưởng làm thủ tục đòi tiền nếu có.

Trong trường hợp, hợp đồng quy định hàng hoá được giao làm nhiều lần, thì tronghợp đồng bảo lãnh cần quy định điều khoản giảm dần giá trị bảo lãnh tương ứng với hànghoá được giao Để chứng minh rằng hàng hoá được giao, nhà cung ứng phải xuất trình saumỗi đợt giao hàng các chứng từ cho ngân hàng phát hành

Có 2 loại bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước gồm:

- Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước thi công công trình

- Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước sản xuất máy móc thiết bị

1.1.6.2 Phân loại theo hình thức phát hành

* Bảo lãnh trực tiếp.

Bảo lãnh trực tiếp là loại bảo lãnh mà trong đó bên bảo lãnh cam kết bồi thường

không huỷ ngang trực tiếp cho bên thụ hưởng bảo lãnh Theo đó bên bảo lãnh sẽ thanh toán

trực tiếp cho bên nhận bảo lãnh nêu bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng Trong bảo lãnhtrực tiếp, thông thường có 3 bên tham gia: bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh, bên nhận bảolãnh Nếu trong trường hợp bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh ở hai quốc gia khácnhau thì sẽ có thêm một ngân hàng khác ở cùng quốc gia với bên nhận bảo lãnh tham gia làmđại lý cho ngân hàng phát hành với nhiệm vụ thông báo thư bảo lãnh cho người thụ hưởng

Ngân hàng phát

Trang 15

( 3)

(2) (5) (4)

(1)

Sơ đồ 1.1: Quy trình bảo lãnh trực tiếp (1) Hai bên A-B kí kết hợp đồng trong đó quy định A phải mở bảo lãnh cho bên B.

(2) Dự vào hợp đồng cơ sở, bên A đến ngân hàng phục vụ mình đề nghị phát hành bảo

lãnh theo những điều khoản đã thoả thuận ký với ngân hàng một hợp đồng bảo lãnh (3) Nếu chấp thuận bảo lãnh, ngân hàng sẽ phát hành thư bảo lãnh trực tiếp cho người thụ hưởng hoặc thông báo qua ngân hàng thông báo

(4) Ngân hàng thông báo khi nhận được bảo lãnh từ ngân hàng phát hành phải kiểm tra tính chân thực của bảo lãnh sau đó thông báo cho người thụ hưởng Ngân hàng thông báo chỉ như là một đại lý của ngân hàng phát hành, thực hiện một nhiệm vụ được uỷ thác bởi ngân hàng phát hành

(5) Ngân hàng phát hành thực hiện bồi hoàn cho bên thụ hưởng khi có sự vi phạm của bên được bảo lãnh

* Bảo lãnh gián tiếp

Bảo lãnh gián tiếp là loại bảo lãnh mà trong đó người xin bảo lãnh yêu cầu ngân

hàng phục vụ mình ( ngân hàng chỉ thị ) đề nghị một ngân hàng khác phát hành thư bảo lãnh (gọi là bảo lãnh chính hay là bảo lãnh gốc) và chuyển cho người thụ hưởng bảo lãnh

Như vậy, bảo lãnh đối ứng là cam kết của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh đối ứng)

với bên bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính cho bên bảo lãnh, trong trường hợp bên bảo lãnh thực hiện bảo lãnh và phải trả thay cho khách hàng của bên bảo lãnh đối ứng với bên nhận bảo lãnh ( Điều 5 khoản 7 Quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh của các ngân hàng, ban hành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước.)

Người nhận bảo lãnh

Trang 16

Ngân hàng thông báo

Ngân hàng phát hành

Để bảo lãnh gián tiếp có hiệu lực thì ngân hàng chỉ thị phải phát hành một thư bảo lãnh cho ngân hàng phát hành bảo lãnh hưởng Thư bảo lãnh giữa hai ngân hàng này gọi là thư bảo lãnh đối ứng hay bảo lãnh giáp lưng Nội dung và các điều khoản của thư bảo lãnh đối ứng phải giống với nội dung và điều khoản của thư bảo lãnh gốc

(4 )

(7)

(3)

(6) (5)

(8) (2)

(1)

Sơ đồ 1.2: Quy trình bảo lãnh gián tiếp

(1) A và B thoả thuận ký một hợp đồng và B yêu cầu A mở một bảo lãnh

(2) Nếu B không tin tưởng vào tiềm lực tài chính của ngân hàng của A hoặc muốn ngân hàng phát hành bảo lãnh phải là một ngân hàng trong nước mình thì sẽ chỉ định ngân hàng phát hành bảo lãnh Nếu A không có quan hệ với ngân hàng phát hành bảo lãnh do B chỉ định thì chỉ thị cho ngân hàng của mình (ngân hàng trung gian) yêu cầu ngân hàng phát hành bảo lãnh mở bảo lãnh

(3) Ngân hàng trung gian nhận được chỉ thị phát hành sẽ yêu cầu ngân hàng phát hành bảo lãnh theo mẫu hoặc những điều khoản và điều kiện để thoả thuận đồng thời mở bảo lãnh đối ứng cho ngân hàng phát hành bảo lãnh

(4) Ngân hàng phát hành sẽ phát hành bảo lãnh và gửi bảo lãnh cho ngân hàng thông báo

Người được bảo lãnh

Ngân hàng phát hành

Người nhận bảo lãnh

Trang 17

hoặc cũng có thể phát hành bảo lãnh trực tiếp cho người thụ hưởng, căn cứ vào bảo lãnh đốiứng

(5) Ngân hàng thông báo sau khi nhận được bảo lãnh từ ngân hàng phát hành, thì kiểm tratính chân thực của bảo lãnh và thông báo cho người thụ hưởng

(6) Ngân hàng phát hành thanh toán cho người thụ hưởng nếu họ xuất trình những chứng từphù hợp với yêu cầu và trong thời hạn hiệu lực của bảo lãnh

(7) Ngân hàng trung gian bồi hoàn cho ngân hàng phát hành

(8) Bên được bảo lãnh đền bù cho ngân hàng trung gian

Người thụ hưởng hoàn toàn không có quyền yêu cầu ngân hàng trung gian thanhtoán bảo lãnh bởi vì giữa ngân hàng trung gian và người thụ hưởng hoàn toàn không cóquan hệ gì Như vậy thì ngân hàng phát hành bảo lãnh hoàn toàn không có quyền yêu cầungười được bảo lãnh bồi hoàn Chỉ có ngân hàng trung gian mới có nghĩa vụ bồi hoàn chongân hàng phát hành theo bảo lãnh đối ứng

Với bảo lãnh gián tiếp người được bảo lãnh thường phải chịu chi phí bảo lãnh caohơn so với bảo lãnh trực tiếp

* Đồng bảo lãnh

Đồng bảo lãnhlà việc nhiều tổ chức tín dụng cùng bảo lãnh cho một nghĩa vụ của khách hàng thông qua một tổ chức tín dụng đầu mối ( Điều 12 khoản 1 Quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh của các ngân hàng, ban hành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ-

NHNN ngày 26/6/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước.)

Các tổ chức tín dụng tham gia đồng bảo lãnh cùng chịu trách nhiệm liên đới trongviệc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc các bên thamgia bảo lãnh theo các phần độc lập Trường hợp, tổ chức tín dụng đầu mối phải thực hiệnnghĩa vụ bảo lãnh thay cho khách hàng thì các tổ chức tín dụng tham gia đồng bảo lãnh cótrách nhiệm hoàn lại cho tổ chức tín dụng đầu mối số tiền tương ứng theo tỷ lệ tham giađồng bảo lãnh mà các bên đã thoả thuận

( Điều 12 khoản 3 Quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh của các ngân hàng, ban hành kèm theoQuyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước)

NH1

Trang 18

(3)

(6) (2) (5) (4)

(1)

Sơ đồ 1.3: Quy trình đồng bảo lãnh

(1) Quan hệ hợp đồng giữa bên được bảo lãnh và bên được thụ hưởng

(2) Người được bảo lãnh chỉ thị cho ngân hàng bảo lãnh chính phát hành bảo lãnh

(3) Các ngân hàng thành viên phát hành bảo lãnh đối ứng cho ngân hàng bảo lãnh chính (4) Căn cứ vào các bảo lãnh đối ứng của các ngân hàng thành viên, ngân hàng phát hành bảo lãnh chính mở bảo lãnh Người thụ hưởng sẽ được thông báo thông qua ngân hàng thông báo nếu có

(5) Ngân hàng phát hành bảo lãnh chính bồi hoàn cho người thụ hưởng khi người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng

(6) Người được bảo lãnh bồi hoàn lại cho ngân hàng bảo lãnh chính

* Xác nhận bảo lãnh

Xác nhận bảo lãnh là cam kết bảo lãnh của tổ chức tín dụng (bên xác nhận bảo

lãnh) đối với bên nhận bảo lãnh, về việc bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của bên bảo lãnh đối với khách hàng ( Điều 5 khoản 8 Quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh của các ngân hàng, ban hành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước)

Nếu người thụ hưởng có thể muốn một ngân hàng trong nước của mình xác nhận bảo lãnh do một ngân hàng nước ngoài phát hành và như vậy người thụ hưởng có thể xuất trình những chứng từ theo yêu cầu của bảo lãnh đến ngân hàng xác nhận và được đề nghị thanh toán

Ngân hàng phát hành

Ngân hàng xác nhận

Người nhận bảo lãnh

Người được bảo lãnh NH3

NH2

Trang 19

(4)

(2) (3) (5)

(1)

Sơ đồ 1.4: Quy trình xác nhận bảo lãnh

(1) Hai bên ký kết hợp đồng gốc, là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh

(2) Người xin bảo lãnh làm đơn yêu cầu ngân hàng pháth ành thư bảol ãnh cho đối tác trong hợp đồng gốc thụ hưởng

(3) Ngân hàng bảo lãnh phát hành thư bảo lãnh cho người thụ hưởng Khi hợp đồng bị vi phạm, ngân hàng phát hành bảo lãnh bồi thường cho người thụ hưởng

(4) Ngân hàng phát hành bảo lãnh đề nghị ngân hàng xác nhận phát hành thư bảo

lãnh cho người thụ hưởng

(5) Ngân hàng xác nhận phát hành thư xác nhận bảo lãnh cho người thụ hưởng Khi ngân hàng phát hành bảo lãnh vi phạm hợp đồng, ngân hàng xác nhận sẽ bồi thường cho người

thụ hưởng.

1.1.6.3 Phân loại theo điều kiện bảo lãnh

* Bảo lãnh có điều kiện

Bảo lãnh có điều kiện là loại bảo lãnh mà việc thanh toán chỉ có thể được tiến

hành khi người thụ hưởng xuất trình kèm theo thư bảo lãnh một số chứng từ, kèm theo phán quyết của toà án hay giấy chứng nhận được quy định trước Các yêu cầu văn bản ở mỗi bảo lãnh cũng khác nhau có thể là thư tín dụng dự phòng, xác nhận của một chuyên gia, tổ chức trọng tài về việc vi phạm của người được bảo lãnh

Loại bảo lãnh này bảo vệ người được bảo lãnh tốt hơn, giúp họ tránh được việc giả dối, lạm dụng chứng từ hàng hoá hoặc việc khiếu nại không trung thực của bên nhận bảo lãnh Nhưng lại có nhược điểm đối với bên nhận bảo lãnh đó là sự chậm trễ trong việc trả tiền bồi

Ngân hàng phát hành

Người nhận bảo lãnh Người được bảo lãnh

Trang 20

thường cho bên nhận bảo lãnh khi có yêu cầu của người này, không đảm bảo lợi ích cho bênnhận bảo lãnh.

* Bảo lãnh vô điều kiện

Bảo lãnh vô điều kiện là loại bảo lãnh mà việc thanh toán sẽ được thực hiện ngay khi

ngân hàng nhận được yêu cầu đầu tiên bằng văn bản của bên nhận bảo lãnh thông báo rằngbên được bảo lãnh đã vi phạm hợp đồng mà không đòi hỏi phải có chứng từ kèm theo.Cần lưu ý là văn bản đòi tiền do người thụ hưởng đơn phương lập không cần có sự xácnhận của người được bảo lãnh hoặc của bên thứ ba nào khác

Bảo lãnh này có ưu điểm đối với bên nhận bảo lãnh đó là đảm bảo tuyệt đối quyềnlợi Ngân hàng phát hành không được viện dẫn bất ký lý do nào liên quan đến hợp đồnggốc để trì hoãn việc thanh toán Nhưng rất bất lợi cho ngân hàng và bên được bảo lãnh, họluôn ở thế bị động và dễ bị lợi dụng lừa đảo

1.1.6.4 Các loại bảo lãnh khác

* Thư tín dụng dự phòng

Để bảo vệ quyền lợi của nhà nhập khẩu trong trường hợp nhà xuất khẩu đã nhận đượcL/C, tiền đặt cọc và tiền ứng trước nhưng không có khả năng giao hàng, hoặc không hoànthành nghĩa vụ giao hàng như đã quy định trong L/C, đòi hỏi ngân hàng phục vụ nhà xuấtkhẩu phát hành một L/C trong đó cam kết với người nhập khẩu là sẽ hoàn trả lại số tiền đãđặt cọc, tiền ứng trước và chi phí mở L/C cho nhà nhập khẩu Như vậy thư tín dụng dự phòngthường được sử dụng với mục đích tương tự như bảo lãnh thanh toán nhằm bảo đảm an toànthanh toán trong trường hợp bên được bảo lãnh có thể không thực hiện hợp đồng

Thư tín dụng dự phòng khác với một thư tín dụng thông thường ở những điểm sau:

- Người làm đơn mở là người xuất khẩu và ngân hàng bên xuất khẩu sẽ phát hành thư bảo lãnh

- Người thụ hưởng là người nhập khẩu trong khi người thụ hưởng của thư tín dụng thôngthường là người xuất khẩu

- Thư tín dụng dự phòng là một phương tiện bảo lãnh trong khi thư tín dụng thông thường là một phương tiện thanh toán

Thư tín dụng dự phòng được áp dụng trong những trường hợp sau:

- Mua bán máy móc và thiết bị toàn bộ

- Mua bán đổi hàng, mua bán lại

- Mua bán nguyên vật liệu với khối lượng lớn, thời hạn dài

* Bảo lãnh vận đơn

Trang 21

Bảo lãnh vận đơn nhằm bảo vệ người có quyền lợi chính đáng trước việc lợi dụngvận đơn Số tiền bảo lãnh từ 100%-150% trị giá hàng hoá để có thể bù đắp những thiệt hạiphát sinh, thường cho tới khi chủ hàng có hàng mới

Có hai loại bảo lãnh vận đơn:

- Bảo lãnh vận đơn người xuất khẩu là người đề nghị phát hành: trong trường hợp này,ngân hàng cam kết với người nhập khẩu bồi thường mọi thiệt hại có thể xảy ra đối với họnếu vận đơn gốc không được xuất trình hoặc xuất trình hoặc xuất trình không kịp thời

- Bảo lãnh vận đơn người nhập khẩu là người đề nghị phát hành: ngân hàng cam kết vớingười chủ vận tải sẽ bồi thường mọi khoản thiệt hại nếu hàng hoá được giao cho một ngườikhông có quyền nhận hàng, do chứng từ thất lạc, đến chậm hơn tàu hoặc chủ hàng vận tảiđược uỷ nhiệm nhận hàng không có chứng từ để sử dụng

* Bảo lãnh hối phiếu

Là cam kết của ngân hàng trả tiền của ngân hàng cho bên thụ hưởng khi hối phiếuđến hạn trả tiền mà bên được bảo lãnh không thực hiện đúng các trách nhiệm tài chínhnhư đã quy định Với hình thức bảo lãnh này phải ghi rõ nội dung và kèm theo chữ ký củađại diện bên đứng ra bảo lãnh

Ngân hàng chịu trách nhiệm giống trách nhiệm của người được bảo lãnh đối với bên thụhưởng trừ khi ngân hàng đã quy định trên hối phiếu

* Bảo lãnh thuế quan

Mục đích của loại bảo lãnh này nhằm đảm bảo cho người có trách nhiệm nộp thuếtrước những đòi hỏi của cơ quan thuế quan do chưa được thực hiện nghĩa vụ thuế của mình,như trong trường hợp nhập hàng tạm thời để tham gia hội chợ, nhập máy móc công cụ để lắpráp công trình xây dựng

Giá trị bảo lãnh do cơ quan thuế quan ấn định tuỳ từng trường hợp cụ thể khácnhau Thời hạn bảo lãnh cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ nộp thuế

* Bảo lãnh sai sót trong chứng từ nhờ thu

Theo như đề nghị của nhà xuất khẩu, ngân hàng sẽ cam kết với người nhập khẩu rằng

sẽ bù đắp những thiệt hại phát sinh trong phương thức thanh toán nhờ thu do việc xuất trìnhchứng từ không phù hợp với những điều khoản của hợp đồng mua bán hay số lượng chứng

từ thiếu không được gửi tiếp theo

* Bảo lãnh phát hành chứng khoán

Trang 22

Là việc ngân hàng đứng ra bảo lãnh cho việc phát hành cổ phiếu của một công ty thường chưa có uy tín trên thị trường Với loại bảo lãnh này trách nhiệm của ngân hàng là phải thanh toán đủ mệnh giá.

1.1.7 Quy trình bảo lãnh ngân hàng

Quy trình bảo lãnh ngân hàng gồm có 5 bước sau :

Sơ đồ 1.5: Quy trình bảo lãnh ngân hàng

*Bước 1 : Tiếp nhận hồ sơ, hoàn chỉnh hồ sơ

- Hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ bao gồm hồ sơ chung và hồ sơ riêng đối với từng loạibảo lãnh

- Kiểm tra hoàn chỉnh hồ sơ Đối với hồ sơ chưa đầy đủ, báo cáo cầp quản lý trực tiếp để

có hướng giải quyết

* Bước 2 : Ngân hàng thẩm định hồ sơ và đưa ra quyết định bảo lãnh

- Ngân hàng thẩm định hồ sơ gồm có :

+ Kiểm tra tính đầy đủ hợp lệ của hồ sơ bảo lãnh

+ Kiểm tra năng lực pháp luật, hành vi của khách hàng

+ Kiểm tra tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của khách hàng

+ Đánh giá về tài sản đảm bảo

+ Phân tích hợp đồng kinh tế giữa khách hàng và bên thứ ba

+ Phân tích yêu cầu bảo lãnh của bên thứ ba

+ Đánh giá rủi ro của bảo lãnh

- Lâp tờ trình: sau khi thẩm định các nội dung trên, căn cứ vào ý kiến của các phòngnghiệp vụ liên quan, lập tờ trình lên các cấp quản lý và các cấp có thẩm quyền phê duyệt

* Bước 3 : Ngân hàng ký hợp đồng bảo lãnh và phát hành thư bảo lãnh

- Ngân hàng hoàn chỉnh hồ sơ bảo lãnh

- Thực hiện các biện pháp bảo đảm: ký hợp đồng bảo đảm, công chứng đăng ký giao dịchđảm bảo theo quy định của pháp luật hiện hành, nhập kho tài sản đảm bảo

ra quyết định bảo lãnh

NH ký hợp đồng bảo lãnhvà lập thư bảo lãnh

Quản lý sau khi phát hành thư bảo lãnh

Kết thúc bảo lãnh

Trang 23

- Soạn thư bảo lãnh theo mẫu của khách hàng hoặc theo mẫu của ngân hàng.

- Phong tỏa số tiền ký quỹ

- Thu phí bảo lãnh

- Cán bộ ngân hàng trình duyệt ký

* Bước 4 : Quản lý sau khi phát hành thư bảo lãnh.

Sau khi phát hành thư bảo lãnh, ngân hàng tiến hành kiểm tra, theo dõi quá trình thựchiện hợp đồng của bên được bảo lãnh để đưa ra các phương án giải quyết kịp thời trường hợpxảy ra Đồng thời hạch toán số dư bảo lãnh, thu phí bảo lãnh theo hợp đồng đã kí

* Bước 5: Kết thúc bảo lãnh

Sau khi thư bảo lãnh hết hiệu lực hoặc thông báo của bên nhận bảo lãnh về việchoàn thành nghĩa cụ của bên được bảo lãnh, ngân hàng tiến hành tất toán bảo lãnh, giảitỏa tài sản đảm bảo, đánh giá kết quả bảo lãnh, lưu trữ hồ sơ

1.1.8.Các yếu tố trong bảo lãnh ngân hàng

1.1.8.1 Nội dung thư và hợp đồng bảo lãnh ngân hàng.

• Nội dung thư bảo lãnh

Phát hành thư bảo lãnh chỉ là một trong các hình thức bảo lãnh của ngân hàng, tuy nhiênđây là hình thức phổ biến và thông dụng nhất Thông qua thư bảo lãnh chúng ta có thểhiểu rõ hơn một số khái niệm cũng như nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng

Tuy nhiên một thư bảo lãnh bao gồm các nội dung cơ bản như sau:

- Bên được bảo lãnh

- Bên nhận bảo lãnh

- Ngân hàng phát hành thư bảo lãnh

- Ngân hàng thông báo, ngân hàng chỉ thị, ngân hàng xác nhận ( nếu có )

- Dẫn chiếu hợp đồng cơ sở

- Số tiền tối đa và loại tiền bảo lãnh

- Điều kiện về yêu cầu thanh toán

- Thời gian hiệu lực của bảo lãnh

- Điều khoản giảm dần giá trị

- Cam kết bảo lãnh chính thức của ngân hàng

- Ngoài ra có thể có các điều khoản khác như dẫn chiếu luật áp dụng, thời gian thanh toán bảolãnh…

Một thư bảo lãnh thường bao gồm những nội dung sau:

* Tên, địa chỉ người nhận

Trang 24

* Phần mở đầu:

- Các thành viên tham gia hợp đồng, số hợp đồng, ngày ký hợp đồng

- Tên hàng, giá trị hàng (công trình)

- Mục đích bảo lãnh

Phần này có thể giới thiệu qua về nghiệp vụ chính từ đó dẫn tới thiết lập thư bảo lãnh ngânhàng Tuy nhiên, phần này không mang tính bắt buộc nhưng cần thiết để làm rõ các phần sau

* Phần nội dung: Tuyên bố trách nhiệm của ngân hàng:

- Ngân hàng đứng ra bảo lãnh: tên, địa chỉ

- Bên chỉ thị bảo lãnh:Tên, địa chỉ

- Bên thụ hưởng bảo lãnh: Tên, địa chỉ

- Hợp đồng cơ sở dẫn tới bảo lãnh

- Số tiền tối đa và loại tiền phải trả :

Nếu không quy định điều này người thụ hưởng có thể yêu cầu đòi tiền lớn hơn số tiềntrong thư bảo lãnh Số tiền tối đa này không bao gồm lãi suất phạt trong trường hợp ngânhàng trả chậm

Loại tiền trong thư bảo lãnh không nhất thiết phải là đồng tiền trong hợp đồng cơ sở

- Điều kiện đòi tiền: đây là điều khoản quan trọng nhất của một thư bảo lãnh vì nó thể hiệnmối quan hệ giữa các bên trong hợp đồng cơ sở và sự thoả thuận về phân chia rủi ro giữacác chủ thể này Thông thường trong thư bảo lãnh có các điều kiện sau:

+ Trả tiền theo yêu cầu đầu tiên

+ Trên cơ sở xuất trình chứng từ hoặc phán quyết của toà án

- Thời hạn hiệu lực: có ba cách quy định ngày hết hạn

+ Quy định ngày cụ thể theo lịch

+ Dựa trên một sự kiện xảy ra trong hợp đồng cơ sở Ví dụ như thư bảo lãnh tiền ứng trướctrong hợp đồng mua bán thường quy định ngày hết hiệu lực là ngày người xuất khẩu hoànthành nghĩa vụ giao hàng Việc quy định này thường dùng với các trường hợp không xácđịnh cụ thể ngày hoàn thành nghĩa vụ của người được bảo lãnh

+ Phối hợp hai cách trên: chẳng hạn thư bảo lãnh tiền ứng trước có thể quy định nó sẽ hết hiệulực khi kết thúc giao hàng lần cuối nhưng không được muộn hơn một ngày cụ thể nào đó

- Điều khoản khấu trừ (nếu có): điều khoản này có ý nghĩa làm giảm số tiền tối đa của thưbảo lãnh theo tiến độ thực hiện hợp đồng và do đó làm giảm trách nhiệm của ngân hàng vàngười được bảo lãnh theo thư bảo lãnh

Điều khoản này thường xuất hiện trong thư bảo lãnh tiền vay vốn, bảo lãnh tền ứngtrước

Trang 25

- Các nội dung khác như : thời gian trả tiền của ngân hàng, chuyển nhượng, luật áp dụng và cơquan tài phán

- Chữ ký của người có thẩm quyền: thư bảo lãnh có thể lập bằng văn bản có chữ ký củangười có thẩm quyền hoặc bằng Telex có khoá mã

• Hợp đồng bảo lãnh

Sau khi quyết định phát hành bảo lãnh, tổ chức tín dụng và khách hàng đề nghịbảo lãnh, các bên liên quan( nếu có ) ký hợp đồng bảo lãnh Hợp đồng bảo lãnh “là thoảthuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng và bên nhận bảo lãnh hoặc giữa tổ chức tíndụng, bên nhận bảo lãnh, khách hàng và các bên liên quan (nếu có) về việc tổ chức tíndụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiệnhoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh” ( Điều 2 khoản2b Quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh của các ngân hàng, ban hành kèm theo Quyết định số26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước)

Hợp đồng bảo lãnh gồm các nội dung sau:

- Tên, địa chỉ của tổ chức tín dụng và khách hàng

- Số tiền, thời hạn bảo lãnh và phí bảo lãnh

- Mục đích, phạm vi, đối tượng bảo lãnh

- Điều kiện thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

- Hình thức bảo đảm cho nghĩa vụ bảo lãnh, giá trị tài sản làm bảo đảm

- Quyền và nghĩa vụ của các bên

- Quy định về bồi hoàn sau khi tổ chức tín dụng thực hiện nghĩa bảo lãnh

- Giải quyết tranh chấp phát sinh

- Chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ của các bên

Nếu xét bảo lãnh dưới góc độ một sản phẩm dịch vụ thì phí bảo lãnh chính là giá cảcủa dịch vụ đó Phí bảo lãnh đề ra phải đảm bảo bù đắp được các chi phí mà ngân hàngphải bỏ ra, có tính đến các rủi ro mà ngân hàng có thể phải gánh chịu

Trang 26

Phí bảo lãnh theo tỷ lệ phí được tính theo công thức:

Phí bảo lãnh = Số tiền bảo lãnh * Tỷ lệ phí * Thời gian bảo lãnh

Trong đó:

Số tiền bảo lãnh: Là số tiền ngân hàng cam kết trả thay khi bên được bảo lãnh không thực

hiện đúng hợp đồng được ghi trong hợp đồng bảo lãnh và được ghi trong thư bảo lãnh

Tỷ lệ phí (%): Được quy định cụ thể với từng loại bảo lãnh, từng ngân hàng và từng quốc

gia khác nhau Tỷ lệ phí là cao hay thấp tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro của hợp đồng

Phí bảo lãnh được tính vào phí dịch vụ nói chung của ngân hàng và đóng góp trực tiếp vàolợi nhuận của ngân hàng

Trong trường hợp có bảo lãnh đối ứng, xác nhận bảo lãnh, mức phí bảo lãnh do cácbên thoả thuận, trên cơ sở mức phí bảo lãnh được khách hành chấp nhận thanh toán Các bên tham gia đồng bảo lãnh thoả thuận mức phí bảo lãnh mỗi bên đượchưởng, trên cơ sở thoả thuận về tỷ lệ tham gia đồng bảo lãnh của từng bên và mức phí bảolãnh thu được của khách hàng

Trường hợp tổ chức tín dụng bảo lãnh cho một nghĩa vụ mà nhiều khách hàng cùngtham gia thực hiện thì tổ chức tín dụng thoả thuận với từng khách hàng về mức phí phảitrả, trên cơ sở nghĩa vụ tương ứng của mỗi khách hàng trong hợp đồng liên đới tráchnhiệm giữa các khách hàng

( Điều 15 Quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh của các ngân hàng, ban hành kèm theo Quyết định

số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước)

Khách hàng chậm thanh toán phí bảo lãnh cho tổ chức tín dụng sẽ chịu lãi suất nợquá hạn không quá 150% lãi suất các khoản vay được bảo lãnh trong trường hợp bảolãnhvay vốn, hoặc lãi suất cho vay ngắn hạn mà tổ chức tín dụng đó đang thực hiện đối với sốphí chậm trả của các loại bảo lãnh khác

Ngay khi phát hành bảo lãnh, ngân hàng tiến hành thu phí bảo lãnh từ người xin bảolãnh

1.1.8.3 Tài sản đảm bảo trong bảo lãnh ngân hàng

- Căn cứ vào đặc điểm tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính và uy tín của kháchhàng, tổ chức tín dụng và khách hàng sẽ thỏa thuận áp dụng hoặc không áp dụng các biện phápbảo đảm cho khoản bảo lãnh Các hình thức bảo đảm bao gồm ký quý, cầm cố, thế chấp tài

sản, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba, bảo lãnh đối ứng của các tổ chức tín dụng khác và

các biện pháp đảm bảo phù hợp theo luật định

- Tài sản thế chấp là các bất động sản có khả năng chuyển nhượng dễ dàng, phải có chứng

Trang 27

nhận quyền sở hữu (bản gốc), có chứng nhận của cơ quan công chứng Nhà nước

- Tài sản cầm cố là các tài sản có giá trị như vàng, đá quý, trái phiếu, tín phiếu… vớivàng, đá quý phải được kiểm định của ngân hàng bảo lãnh hoặc cơ quan chuyên môn dongân hàng chỉ định, doanh nghiệp tự đóng gói có sự chứng kiến của ngân hàng trước khigiao cho ngân hàng bảo lãnh Với trái phiếu và tín phiếu phải đảm bảo còn thời hạn thanhtoán, do tổ chức có tín nhiệm phát hành, có thể chuyển nhượng dễ dàng và thuộc quyền sởhữu của bên được bảo lãnh

- Riêng đối với các doanh nghiệp Nhà nước, việc sử dụng tài sản hình thành bằng nguồnngân sách để thế chấp phải có sự đồng ý của cơ quan tài chính cung cấp, đồng ý bằng vănbản Trong thời gian bảo lãnh, ngân hàng phải chịu trách nhiệm quản lý, theo dõi số dư trêntài khoản ký quỹ và tài sản thế chấp, cầm cố của doanh nghiệp để đảm bảo luôn tương ứngvới số tiền còn đang được bảo lãnh Trường hợp tài sản đảm bảo là các giấy tờ có giá cóhạn trước khi thời hạn của bảo lãnh kết thúc thì khách hàng phải đổi tài sản khác đủ tiêuchuẩn để đảm bảo Nếu thực hiện không đúng, bên xin bảo lãnh sẽ phải chịu phạt tínhđến giá trị tài sản đảm bảo còn thiếu

1.1.9 So sánh bảo lãnh ngân hàng với các hình thức khác

* Phân biệt bảo lãnh ngân hàng với thư tín dụng

Mang chức năng bảo đảm Mang chức năng thanh toán

Trả tiền theo yêu cầu đầu tiên Thanh toán khi người thụ hưởng xuất trình

bộ chứng từ hợp lệTrả tiền khi có vi phạm Thanh toán khi hoàn thành nghĩa vụ

Không có điều lệ thống nhất

mà theo tập quán Theo điều lệ thống nhất của phòng thươngmại quốc tế.

Thông thường người đứng ra xin bảo

* Phân biệt bảo lãnh ngân hàng với bảo hiểm

Trang 28

Bảo lãnh ngân hàng Bảo hiểm

Người thụ hưởng là người ký kết hợp đồng

với người xin mở bảo lãnh

Người hưởng lợi là người tham gia muabảo hiểm

Do ngân hàng phát hành bằng việc phát

hành thư bảo lãnh

Do công ty bảo hiểm phát hành

Bảo lãnh ngân hàng thực chất là lấy số tiền

của bên được bảo lãnh cho bên nhận bảo

lãnh

Bảo hiểm thực chất là quá trình phân chiatổn thất của một số người cho tất cả các bêntham gia bảo hiểm

Bảo lãnh ngân hàng dùng để đề phòng rủi

ro

Bảo hiểm dùng để khắc phục rủi ro

Ngân hàng phải thanh toán ngay sau khi

bên nhận bảo lãnh thấy bên được bảo lãnh

vi phạm và gửi văn bản đến ngân hàng

Trong trường hợp xảy ra rủi ro, bảo hiểmphải mất một thời gian để xác định thiệthại, trách nhiệm thanh toán phụ thuộc vàocác bằng chứng thu thập được

1.1.10 Rủi ro trong bảo lãnh ngân hàng.

Hoạt động bảo lãnh cũng là một trong những nghiệp vụ tín dụng mà ngân hàng thực hiện, do đó từ hoạt động bảo lãnh ngân hàng ta có thể thấy ngân hàng phải đối mặt với những rủi ro như sau :

* Rủi ro tín dụng

Trong bảo lãnh ngân hàng có loại bảo lãnh bảo đảm hoàn trả vốn vay Tuy khôngphát tiền vay nhưng trách nhiệm, nghĩa vụ ngân hàng trong nghiệp vụ này cũng tương đương như nghiệp vụ cho vay Hoạt động bảo lãnh bảo đảm hoàn trả vốn vay đặt ngân hàng trước cùng một rủi ro như rủi ro của các món cho vay trực tiếp

Rủi ro tín dụng là rủi ro lớn nhất trong kinh doanh của ngân hàng thương mại Rủi

ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng do khách hàngvay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ gốc và lãi

* Rủi ro về lãi suất

Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi lãi suất thay đổi ngoài dựtính Rủi ro lãi suất có liên quan chặt chẽ với rủi ro tín dụng

Trong nền kinh tế thị trường lãi suất huy động vốn luôn biến động trong khi mứcphí bảo lãnh đã được xác định cố định trong suốt thời gian hiệu lực của bảo lãnh dẫn tới cókhả năng rủi ro lãi suất trong trường hợp lãi suất bình quân đầu vào tăng

* Rủi ro hối đoái

Trang 29

Tỷ giá hối đoái là quan hệ về giá trị giữa hai đồng tiền, hay nó là giá cả của đơn vị tiền

tệ này được thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ khác Rủi ro hối đoái là khả năng xảy ra tổnthất ngoài dự kiến của ngân hàng khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá dự tính Tỷ giá luônbiến động cộng với trạng thái hối đoái của ngân hàng có thể dẫn đến thâm hụt hoặc thặng

dư cho ngân hàng

* Rủi ro mất khả năng thanh toán

Tỷ lệ trích quỹ bảo lãnh là 5% giá trị bảo lãnh, nếu rủi ro thực tế lớn hơn 5% giá trịbảo lãnh thì khả năng thanh toán trong nghiệp vụ bảo lãnh sẽ không bảo đảm, gây tác độngxấu đối với khả năng thanh toán chung của ngân hàng Ngược lại khi khả năng thanh toánchung của ngân hàng không được đảm bảo, thì khả năng thanh toán trong bảo lãnh cũng

bị ảnh hưởng

1.2 Chất lượng bảo lãnh ngân hàng

1.2.1 Khái niệm chất lượng bảo lãnh ngân hàng

Thuật ngữ “chất lượng” đã xuất hiện từ lâu và được sử dụng rất rộng rãi và phổbiến trong cuộc sống thường ngày Hiện nay có rất nhiều quan niệm về định nghĩa chấtlượng sản phẩm, một số định nghĩa thường gặp là:

- Theo Tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu (European Organization for Quality

Control): “Chất lượng là mức độ phù hợp với yêu cầu người tiêu dùng”.

- Theo Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa (ISO) trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000, phần

thuật ngữ 9000 đã đưa ra định nghĩa: "Chất lượng sản phẩm là mức độ thỏa mãn của một tập hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu".

Chất lượng của một sản phẩm, dịch vụ khác nhau là khác nhau, điều đó tùy thuộcvào yêu cầu, kì vọng của mỗi người Khi đứng trên góc độ của mình, người sản xuất hayngười tiêu dùng lại có những quan niệm khác nhau về chất lượng Chất lượng sản phẩm

đã được hình thành từ quá trình nghiên cứu, triển khai và chuẩn bị sản xuất, trong quátrình tiến hành sản xuất và được duy trì trong suốt thời gian sử dụng Người cung cấp sảnphẩm dịch vụ luôn mong muốn sản phẩm của mình nhận được nhiều quan tâm, trong khi

đó, người tiêu dùng lại mong muốn sản phẩm mình mua phải tốt thuận tiện, tin cậy, cótính thẩm mỹ cao…Đặc biệt, giá cả của sản phẩm là một yếu tố quan trọng khi nói tớichất lượng Người tiêu dùng sẽ không mua một sản phẩm với giá quá cao so với họ Vậy

có sự mâu thuẫn trong quan điểm về chất lượng sản phẩm giữa người sản xuất sản phẩmdịch vụ và người tiêu dùng, bởi vì người sản xuất luôn mong muốn sẽ bán được với giá

Trang 30

cao để thu lợi nhuận lớn trong khi người sử dụng lại mong muốn mua được sản phẩm tốtvới giá thấp Nhưng trên thực tế không phải như vậy Nếu sản phẩm được bán ra với giáquá cao, người tiêu dùng sẽ không chấp nhận nó, doanh nghiệp sẽ không bán được hàng

và không thu được lợi nhuận Do vậy, giá cả phải có sự phù hợp với đặc tính của sảnphẩm

Như vậy chất lượng được đo bằng thỏa mãn nhu cầu Nếu vì một lý do nào đó mà sảnphẩm không đáp ứng được nhu cầu, thì sản phẩm đó phải bị coi là có chất lượng kém dùcho trình độ công nghệ tạo ra sản phẩm đó hiện đại đến đâu Khi đánh giá chất lượng củamột sản phẩm dịch vụ, ta phải xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sựthỏa mãn nhu cầu cụ thể Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ phíacác bên liên quan

Dịch vụ bảo lãnh bao gồm nhiều mối quan hệ khác nhau nên để đánh giá chất lượngchúng ta phải dựa trên quan điểm của các bên khác nhau

* Đối với bên được bảo lãnh

Chất lượng bảo lãnh là tốt khi mức phí phải trả cho hợp đồng bảo lãnh là thấp,cũng như khả năng đáp ứng kịp thời nhu cầu của họ trong thời gian ngắn nhất với thủ tụcđơn giản Hơn nữa, bên được bảo lãnh mong muốn rằng không phải ký quỹ, cầm cố, thếchấp hoặc ở mức thấp để có khoản bảo lãnh đó

* Đối với bên nhận bảo lãnh

Mục đích của dịch vụ bảo lãnh là dựa vào uy tín của ngân hàng để đảm bảo choquyền lợi của bên nhận bảo lãnh Do đó chất lượng bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh là

sự đáp ứng đúng mục đích của họ Mức độ tin tưởng thể hỉện ở mức độ tín nhiệm ngânhàng phát hành bảo lãnh và uy tín của chính ngân hàng đó Chất lượng bảo lãnh còn đượcđánh giá ở khả năng thanh toán, bồi thường từ phía ngân hàng một cách nhanh chóng kịpthời với thủ tục pháp lý đơn giản

* Đối với ngân hàng

Chất lượng bảo lãnh được thể hiện ở mức độ an toàn trong hoạt động chung củangân hàng, những rủi ro mà hoạt động bảo lãnh mang đến đều nằm trong dự phòng vàkhông làm ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng Ngoài ra chất lượng bảo lãnh còn thểhiện ở việc thu nhập của ngân hàng từ việc thu phí bảo lãnh Một khoản bảo lãnh có chấtlượng tốt nếu như nó vừa đảm bảo độ an toàn cao, vừa đem lại lợi nhuận cao cho ngânhàng, hơn thế nữa là nó đem lại lợi thế cạnh tranh, cũng như uy tín cho ngân hàng

Trang 31

* Đối với nền kinh tế

Chất lượng bảo lãnh đựợc đánh giá thông qua việc đóng góp của nó vào sự pháttriển chung của các doanh nghiệp, đem lại hiệu quả cao cho nền kinh tế, thúc đẩy mốiquan hệ giữa các ngành nghề

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá

Việc giám sát, đánh giá chất lượng giúp ta thấy được việc thực hiện nghiệp vụ nàyđang diễn ra như thế nào, đồng thời có hiểu biết thêm về khách hàng của mình mà còngiúp cho ngân hàng có những biện pháp điều chỉnh hợp lý để nâng cao chất lượng nghiệp

vụ, cạnh tranh với các ngân hàng khác

Trong bảo lãnh ngân hàng có sự tham gia của nhiều chủ thế khác nhau, do đó khiđánh giá chất lượng bảo lãnh tại một ngân hàng, ta phải kết hợp nhiều yếu tố, chỉ tiêukhác nhau để có những đánh giá đúng về chất lượng bảo lãnh của một ngân hàng Nhómchỉ tiêu này có thể phân thành nhóm chỉ tiêu định lượng và nhóm chỉ tiêu định tính

1.2.2.1 Chỉ tiêu định lượng

* Doanh số bảo lãnh

Chỉ tiêu này phản ánh tổng giá trị bảo lãnh của ngân hàng trong một khoảng thờigian nhất định Ta sẽ sử dụng số tương đối và tuyệt đối để so sánh năm sau so với nămtrước để thấy được quy mô và tốc độ tăng trưởng của hoạt động bảo lãnh Doanh số bảolãnh tăng lên trong một khoảng thời gian đủ dài chứng tỏ hoạt động này ngày càng đượcliên tục mở rộng và bền vững Điều đó đồng nghĩa với việc chất lượng bảo lãnh của ngânhàng được đánh giá cao Thêm vào đó, doanh số bảo lãnh cũng thể hiện uy tín của ngânhàng không ngừng được nâng lên và ngân hàng có thêm nhiều khách hàng tìm đến sửdụng dịch vụ này Ngược lại, sự giảm sút trong doanh số bảo lãnh của ngân hàng, ngoàiảnh hưởng của nền kinh tế đến hoạt động ngân hàng, chúng ta có thể thấy rằng chất lượngcủa hoạt động bảo lãnh giảm xuống, số khách hàng đề nghị ngân hàng bảo lãnh sẽ ít, uytín của ngân hàng đang giảm sút

Tuy nhiên một chỉ tiêu này chưa đủ để phản ảnh chất lượng bảo lãnh trong ngânhàng bởi vì nó còn phụ thuộc vào độ rủi ro của các khoản bảo lãnh, nếu giá trị của khoảnbảo lãnh lớn nhưng lại có độ rủi ro cao thì ngân hàng có thể phải thực hiện thanh toán chobên thụ hưởng, khi đó nó có thể sẽ trở thành một khoản nợ xấu cho ngân hàng, do đó cóthể gây ảnh hưởng không tốt đến hoạt động của ngân hàng

Trang 32

* Tỷ lệ bảo lãnh mà ngân hàng phải thực hiện thay

Tỷ lệ này phụ thuộc vào số tiền mà ngân hàng phải thanh toán cho bên nhận bảolãnh khi bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng

Số tiền NH trả thay cho KH

Tỷ lệ bảo lãnh mà NH phải thực hiện thay =

Tổng dư nợ bảo lãnh

Chỉ tiêu này phản ánh rõ nhất chất lượng bảo lãnh của ngân hàng Tỷ lệ này càngthấp càng tốt, bởi vì nó phản ánh việc thực hiện các khoản bảo lãnh đạt hiệu quả tốt, ngânhàng thu được lợi nhuận cao mà không phải chịu rủi ro thanh toán Và ngược lại, khi tỷ lệnày cao, thì ngân hàng buộc phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bên nhận bảo lãnh,ngoài việc ký quỹ của bên được bảo lãnh, ngân hàng có thể không thu hồi được khoản vay

từ phía được bảo lãnh, tạo rủi ro cho ngân hàng

* Nợ bảo lãnh quá hạn

Khi bên đựợc bảo lãnh không thực hiện được hoặc đúng hợp đồng với bên nhậnbảo lãnh thì ngân hàng cam kết đứng ra thanh toán cho bên nhận bảo lãnh, nhưng khiđến hạn thanh toán, bên được bảo lãnh không đủ khả năng trả, hoặc trả không đủ, hoặckhông chịu trả cho ngân hàng Mặc dù doanh số bảo lãnh được hạch toán vào ngoạibảng cân đối nhưng khi ngân hàng thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình thì số tiền

đó đó lại được hạch toán vào nội bảng, coi đó như là một khoản ngân hàng tài trợ chobên được bảo lãnh

Dư nợ bảo lãnh quá hạn cho ta thấy chất lượng hoạt động bảo lãnh không hiệu quả,ngân hàng đứng trước nguy cơ mất vốn Tuy nhiên phải chờ đến lúc khoản thanh toán củakhách hàng đến hạn thanh toán mới biết là có thực hiện thanh toán đúng hạn hay quá hạnhay không, do đó chỉ tiêu này vẫn có độ trễ nhất định Do đó chỉ tiêu này không giúp tađánh giá kịp thời chất lượng hoạt động bảo lãnh ngân hàng

Ngoài ra ta cũng có thể xem xét đến tỷ lệ nợ bảo lãnh quá hạn:

Dư nợ bảo lãnh quá hạn

Tỷ lệ bảo lãnh quá hạn =

Tổng dư nợ bảo lãnh đến hạn

Trang 33

Tỷ lệ này càng nhỏ càng tốt, điều đó thể hiện chất lượng bảo lãnh tại ngân hàng đạt hiệuquả cao, ngân hàng không phải gánh chịu rủi ro thanh toán, giúp ngân hàng tránh nguy cơmất vốn.

* Tỷ lệ bảo lãnh có tài sản đảm bảo hay ký quỹ

Công thức:

Số dư bảo lãnh có TSĐB hoặc ký quỹ

Tỷ lệ bảo lãnh có TSĐB hay ký quỹ =

* Mức phí bảo lãnh

Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng đang diễn ra ác liệt, các ngân hàng không ngừngđua nhau đưa ra những sản phẩm dịch vụ mới, đem tiện ích, công nghệ hiện đại đến chongười sử dụng mới mà còn có những chính sách hấp dẫn trong việc xây dựng biểu phídịch vụ ngân hàng Ngân hàng nào đem lại sự tiện ích cao, giá cả hấp dẫn thì sẽ thu hútđược nhiều khách hàng hơn Do vậy trong việc xây dựng biểu phí cho hoạt động bảo lãnh,ngân hàng cần chú trọng đến đối tượng, thị trường và mục tiêu phát triển của ngân hàng

để đưa ra mức phí cạnh tranh, đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng

Ngoài ra nhằm nâng cao chất lượng bảo lãnh, chúng ta cần so sánh giữa chi phí bỏ

ra để có khoản bảo lãnh và mức thu nhập từ bảo lãnh, tỷ lệ này càng thấp càng tốt Vì vậy,ngân hàng cần xem xét để sao cho tối thiểu hóa chi phí, tối đa hóa lợi nhuận, mức tăngcủa chi phí chậm hơn mức tăng của thu nhập để đạt được mục tiêu này, ngân hàng phảiluôn giữ vững mối quan hệ với khách hàng lâu năm, phát triển thêm nguồn khách hàngmới, đa dạng hoá các loại hình bảo lãnh khác nhau để đáp ứng cùng một lúc các nhu cầukhác nhau của khách hàng

1.2.2.2 Chỉ tiêu định tính

Trang 34

* Sự phong phú các loại hình bảo lãnh.

Một hoạt động dịch vụ có thể đánh giá được chất lượng thông việc khách hàng

được đáp ứng đến mức độ nào Một ngân hàng không thể coi là có chất lượng dịch vụ bảo

lãnh tốt nếu không phục vụ được yêu cầu của khách hàng trong các trường hợp khácnhau Ngân hàng được đánh giá là có chất lượng bảo lãnh tốt khi có cơ cấu bảo lãnh phùhợp với xu hướng phát triển kinh tế, đáp ứng nhu cầu của khách hàng Việc đánh giá chỉtiêu này còn giúp cho ngân hàng biết được loại hình bảo lãnh nào đang chiếm ưu thế.Thêm vào đó, việc đa dạng hóa các loại hình bảo lãnh là một biện pháp giúp ngân hàngphân tán rủi ro

* Thời gian đáp ứng dịch vụ bảo lãnh

Chất lựợng bảo lãnh ngân hàng cũng được thể hiện ở thời gian đáp ứng nhu cầucủa khách hàng Thủ tục càng đơn giản, càng nhanh gọn, việc ra quyết định càng kịp thờilinh hoạt thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng bấy nhiêu

* Thái độ phục vụ của cán bộ ngân hàng đối với khách hàng.

Đây là một yếu tố rất quan trọng trong việc đánh giá chất lượng bảo lãnh ngânhàng, cũng như thu hút thêm nhiều khách hàng và nâng cao tính cạnh tranh giữa các ngânhàng Cán bộ ngân hàng là người làm việc, tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, do đó nếuthái độ phục vụ và trình độ chuyên môn của nhân viên ngân hàng không đúng mực sẽ gâyảnh hưởng không tốt tới mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng, từ đó sẽ làm giảm

uy tín, giảm tính cạnh tranh của ngân hàng

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng bảo lãnh ngân hàng

1.2.3.1 Nhân tố chủ quan

* Năng lực tài chính của ngân hàng

Vốn của ngân hàng quyết định đến năng lực tài chính của ngân hàng nào Ngânhàng nào có vốn lớn thì có khả năng mở rộng quy mô, phát triển các món bảo lãnh có giátrị cao Theo điều 7 Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số26/2006/QĐ/ NHNN ngày 26/6/2006 “ tổng số dư bảo lãnh đối với một khách hàngkhông quá 15% vốn tự có của ngân hàng, tổng số dư bảo lãnh của chi nhánh ngân hàngnước ngoài đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng nướcngoài” Từ đó ta thấy ngân hàng nào có vốn càng lớn thì càng có thể cung cấp dịch vụ bảolãnh cho nhiều nhóm đối tượng khách hàng với những hợp đồng có giá trị lớn

Trang 35

Ngân hàng có vốn lớn sẽ có thêm điều kiện để đầu tư về con người, đầu tư về trangthiết bị công nghệ ngân hàng, tạo nên uy tín và sự cạnh tranh mạnh mẽ trong hệ thống các

tổ chức tín dụng Vốn của ngân hàng còn là điều kiện để ngân hàng mở rộng hoạt độngkinh doanh, thu hút thêm nhiều khách hàng và và có thể ký kết được các khoản bảo lãnh

trong ngành ngân hàng.

* Quy trình bảo lãnh

Mỗi một ngân hàng đều đề ra quy trình thực hiện bảo lãnh cho riêng mình, nếu quytrình thủ tục bảo lãnh linh hoạt, đơn giản sẽ tạo điều kiện giúp cán bộ giải quyết dễ dàng,nhanh chóng và kịp thời hơn nữa các hợp đồng bảo lãnh đồng thời tạo ra sự an toàn khithực hiện, từ đó nâng cao chất lượng bảo lãnh trong ngân hàng

* Công tác quản trị rủi ro

Những rủi ro trong hoạt động bảo lãnh có thể phát hiện được trong quá trình phântích, đánh giá cũng như trong việc đôn đốc, theo dõi việc thực hiện nghĩa vục của bênđược bảo lãnh Khả năng quản trị rủi ro có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng bảo lãnh.Nếu rủi ro không được đánh giá đúng và quản lý chặt chẽ, nó không những ảnh hưởngđến khả năng thanh toán khoản bảo lãnh nếu bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng mà cònảnh hưởng đến nhiều hoạt động khác của ngân hàng

* Đội ngũ cán bộ ngân hàng

Trong các yếu tố làm nên sự thành công trong kinh doanh thì yếu tố con người làyếu tố quyết định Nhân sự trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng gồm có cán bộ quản lý,cán bộ chuyên môn nghiệp vụ Việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực thể hiện ở thời gian

Trang 36

làm việc cũng như hiệu quả công việc đạt được Trong thời đại công nghệ hiện đại, ngoàiviệc hoàn thiện kiến thức chuyên môn, còn phải biết nắm bắt công nghệ, thêm vào đó cònphải biết ứng xử tốt, có tinh thần trách nhiệm làm việc Mức độ chuyên nghiệp, nhiệt tìnhcủa cán bộ ngân hàng, mức độ nhanh gọn trong thủ tục bảo lãnh giúp rất nhiều cho ngânhàng trong việc nâng cao chất lượng bảo lãnh Những sai sót cũng như gian dối trong việcthẩm định khách hàng có thể gây ảnh hưởng đến khách hàng cũng như uy tín của ngânhàng Chỉ những nhân viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi cũng như có đạo đứcnghề nghiệp tốt mới góp phần nâng cao chất lượng nghiệp vụ trong ngân hàng, nâng caotính cạnh tranh với các ngân hàng khác.

* Công tác thẩm định khách hàng

Về bản chất thì bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động tín dụng Do vậy công tácthẩm định các khoản bảo lãnh tương tự như các khoanr cho vay Khi ngân hàng chấp nhậnbảo lãnh, ngân hàng thu được một khoản phí, nguồn thu đó đem lại lợi nhuận cho ngânhàng Ngoài ra khi ngân hàng ký hợp đồng bảo lãnh tức là đã thể hiện cam kết của ngânhàng trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính cho bên nhận bảo lãnh thay cho khách hàngnếu như bên được bảo lãnh không thực hiện đủ nghĩa vụ của mình

Do vậy ngân hàng cần tiến hành thẩm định kĩ khoản trên phương diện như năng lực pháp

lý, năng lực tài chính, tính khả thi của dự án…trước khi quyết định có bảo lãnh hay khôngnhằm đảm bảo an toàn cho ngân hàng

* Mức phí bảo lãnh và yêu cầu về tài sản đảm bảo, ký quỹ

Trang 37

Nếu mức phí và tỷ lệ kí quỹ quá cao thì hoạt động bảo lãnh sẽ có thể không đạthiệu quả cao, ngân hàng sẽ không thu hút được nhiều khách hàng cũng như giảm tínhcạnh tranh của ngân hàng với các ngân hàng khác.

Mức ký quỹ và tài sản đảm bảo được ngân hàng xác định dựa trên mức độ rủi rocủa khoản bảo lãnh, nó là tấm đệm chống đỡ cho ngân hàng khi xảy ra sự cố Mức kí quỹ

và TSĐB càng cao sẽ càng giúp ngân hàng giảm thiểu được rủi ro Tuy nhiên cũng giốngnhư phí bảo lãnh, mức này quá cao sẽ làm giảm độ hấp dẫn với khách hàng Mức kĩ quỹlớn sẽ làm ứ đọng vốn của doanh nghiệp, gây bất lợi cho doanh nghiệp

- Rủi ro trong kinh doanh

Trong quá trình hoạt động của mình, doanh nghiệp vẫn có thể gặp phải những rủi

ro do đó làm giảm doanh thu của doanh nghiệp, từ đó dẫn đến khả năng thanh toán củakhách hàng giảm, gây rủi ro cho ngân hàng

- Tư cách đạo đức

Như ta đã biết, hoạt động bảo lãnh dựa trên uy tín và tin tưởng của các bên, do đóvấn đề đạo đức của bên được bảo lãnh có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng bảo lãnh trongngân hàng Nếu bên được bảo lãnh không cung cấp những thông tin chính xác, khôngtuân thủ các nguyên tắc của khách hàng, lừa dối, kéo dài thời gian không thanh toán chongân hàng thì sẽ không thể có khoản bảo lãnh có chất lượng được

* Từ phía bên nhận bảo lãnh

- Sự hợp tác của bên nhận bảo lãnh

Trang 38

Sự hợp tác và năng lực chuyên môn của bên nhận bảo lãnh sẽ giúp ngân hàng đánhgiá đúng năng lực bên được bảo lãnh cũng như kiểm soát được rủi ro tốt hơn Trong hợpđồng bảo lãnh có một điều khoản quy định rằng bất kì sự thay đổi nào giữa hai bên đềuphải thông báo cho ngân hàng biết để kịp thời sửa chữa cho phù hợp Vì vậy, khi ngânhàng không được thông báo về sự thay đổi này, họ sẽ không phải chịu trách nhiệm gì, vànhững khoản bảo lãnh dựa trên các hợp đồng này cũng không được coi là có chất lượng vì

nó không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Do vậy sự hợp tác của bên nhận bảolãnh có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng bảo lãnh trong ngân hàng

- Tư cách đạo đức

Nếu như bên nhận bảo lãnh cố tình lừa dối ngân hàng và bên được bảo lãnh đểđược nhận khoản tiền bồi hoàn thì ngân hàng sẽ có thể gặp phải rủi ro, gây tổn hại đếnchất lượng bảo lãnh

* Tình hình kinh tế

Nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng và các doanhnghiệp có những bước phát triển mạnh mẽ, sẽ góp phần thúc đẩy quy mô và chất lượngdịch vụ bảo lãnh Ngược lại, nếu nền kinh tế gặp phải nhiều biến động, thì khả năng gặpphải rủi ro trong bảo lãnh ngày càng cao Giá cả đầu vào của sản xuất thay đổi, thêm vào

đó những thay đổi trong chính sách sẽ tác động mạnh đến hoạt động của doanh nghiệp vàcủa ngân hàng, khi đó người được bảo lãnh sẽ khó có thể hoàn thành nghĩa vụ của mìnhnhư đã cam kết trong hợp đồng kinh tế với bên nhận bảo lãnh Tất cả những nhân tố trênđều có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng bảo lãnh

* Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động bảo lãnh

Khi ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng trực tiếp không những đối với người gửi tiền

và người vay tiền và sự phá sản của ngân hàng luôn có hiệu ứng lây lan và mang tính chấtdây truyền Bởi vậy khi một ngân hàng phá sản, trước hết nó có thể làm tổn hại đến nhữngngười gửi tiền và đồng thời hạn chế việc các công ty đến vay tiền tại ngân hàng này Việcmột ngân hàng đổ vỡ có thể tạo ra sự nghi ngờ của người gửi tiền về sự ổn định và khảnăng thanh toán của toàn hệ thống ngân hàng nói chung và có thể tạo ra sự náo loạn trong

xã hội.

Do hậu quả của việc phá sản đến nền kinh tế là rất nặng nề cũng như sự phát triểncủa hệ thống tài chính ngân hàng gắn liền với sự phát triển kinh tế của một đất nước cho

Trang 39

nên ngành ngân hàng chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước bằng các quy định, chính sách.Đối với hoạt động bảo lãnh cũng như các hoạt động khác, các cơ quan nhà nước sẽ xây dựngnhững chính sách, quy định về bảo lãnh để định hướng cho việc phát triển hoạt động bảolãnh tại các NHTM, qua đó để hạn chế rủi ro trong hoạt động bảo lãnh nhưng không làmmất đi tính linh hoạt trong quá trình thực hiện bảo lãnh Một hành lang pháp lý thông thoángnhững vẫn đảm bảo tính chặt chẽ, tính đồng bộ là yếu tố góp phần vào việc phát triển dịch

vụ bảo lãnh có chất lượng

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH NGÂN HÀNG TẠI NHTMCP HABUBANK – CHI NHÁNH

HÀNG TRỐNG2.1 Tổng quan về NHTMCP Habubank - Chi nhánh Hàng Trống

Trang 40

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Habubank - Chi nhánh Hàng Trống

Ngày 20/10/2006, Chi nhánh Habubank Hàng Trống chính thức đi vào hoạt động

Là chi nhánh ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân về các dịch vụngân hàng cũng như với mong muốn phục vụ tốt hơn đồng thời mở rộng mạng lưới hoạtđộng, được sự phê duyệt của NHNN Việt Nam và nhất trí của các ban ngành có liên quan,Hội đồng quản trị Ngân hàng Thương Mại cổ phần Nhà Hà Nội đã ra quyết định thành lậpChi nhánh Hàng Trống có trụ sở tại toà nhà 71B, phố Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm - HàNội Tạo lập và ngày càng khẳng định vị thế của một đơn vị hoạt động kinh doanh tiền tệtrên địa bàn thành phố tập trung nhiều tổ chức kinh tế lớn trong và ngoài nước là một lợithế nhưng cũng là thách thức đặt ra cho chi nhánh ngay từ những ngày đầu thành lập

Ngày đầu thành lập với cơ sở vật chất thiếu thốn, lực luợng cán bộ còn mỏng chỉvới 20 cán bộ, qua hơn 3 năm hoạt động đến nay chi nhánh đã có trên 40 cán bộ côngnhân viên với đội ngũ trẻ trung năng động, sáng tạo, có trình độ tương đối đồng đều vềchất lượng, chuyên môn, nghiệp vụ đã giúp chi nhánh Habubank - Hàng Trống từng bướcvượt qua mọi khó khăn, thử thách tự tin, đứng vững trên thương trường Cùng với việc ápdụng công nghệ tiên tiến, hiện đại vào hoạt động kinh doanh, góp phần giúp chi nhánhthực hiện đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ ngân hàng Đây là chi nhánh được phép thựchiện tất cả các nghiệp vụ ngân hàng, bao gồm huy động vốn của các tổ chức, cá nhânthuộc mọi thành phần kinh tế, cho vay, cung cấp dịch vụ thanh toán trong nước và quốc

tế, dịch vụ kiều hối, các dịch vụ ngân hàng tự động: thẻ Habubank Vantage, SMSBanking, Email Banking, Phone Banking Chi nhánh Hàng Trống còn có nhiệm vụ là đầumối thực thi chiến lược phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cá nhân củaHabubank Là chi nhánh thứ 8 trên địa bàn Hà Nội, Chi nhánh Hàng Trống sẽ là cầu nốigiữa các cá nhân, tổ chức, các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn Hà Nội và các vùnglân cận và sẽ là đầu mối liên hệ và tạo điều kiện cho các chi nhánh, phòng giao dịch pháttriển thuận lợi

2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy.

PHÒNG KIỂM SOÁT NỘI

PHÒNG HÀNH CHÍNH

Ngày đăng: 07/09/2017, 07:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Quy trình bảo lãnh trực tiếp - Nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại NHTMCP habubank   chi nhánh hàng trống (2)
Sơ đồ 1.1 Quy trình bảo lãnh trực tiếp (Trang 15)
Sơ đồ 1.3: Quy trình đồng bảo lãnh - Nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại NHTMCP habubank   chi nhánh hàng trống (2)
Sơ đồ 1.3 Quy trình đồng bảo lãnh (Trang 18)
Sơ đồ 1.4: Quy trình xác nhận bảo lãnh - Nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại NHTMCP habubank   chi nhánh hàng trống (2)
Sơ đồ 1.4 Quy trình xác nhận bảo lãnh (Trang 19)
Sơ đồ 1.5: Quy trình bảo lãnh ngân hàng - Nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại NHTMCP habubank   chi nhánh hàng trống (2)
Sơ đồ 1.5 Quy trình bảo lãnh ngân hàng (Trang 22)
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy. - Nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại NHTMCP habubank   chi nhánh hàng trống (2)
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy (Trang 40)
Bảng 2.3: Doanh số bảo lãnh và số món bảo lãnh năm 2007-2009 - Nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại NHTMCP habubank   chi nhánh hàng trống (2)
Bảng 2.3 Doanh số bảo lãnh và số món bảo lãnh năm 2007-2009 (Trang 68)
Bảng 2.4 : Dư nợ bảo lãnh theo loại hình bảo lãnh năm 2007- 2009. - Nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại NHTMCP habubank   chi nhánh hàng trống (2)
Bảng 2.4 Dư nợ bảo lãnh theo loại hình bảo lãnh năm 2007- 2009 (Trang 70)
Bảng 2.6: Dư nợ bảo lãnh theo thành phần kinh tế năm 2007- 2009. - Nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại NHTMCP habubank   chi nhánh hàng trống (2)
Bảng 2.6 Dư nợ bảo lãnh theo thành phần kinh tế năm 2007- 2009 (Trang 72)
Bảng 2.7:  Tỷ lệ bảo lãnh có tài sản đảm bảo hoặc ký quỹ năm 2007- 2009. - Nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại NHTMCP habubank   chi nhánh hàng trống (2)
Bảng 2.7 Tỷ lệ bảo lãnh có tài sản đảm bảo hoặc ký quỹ năm 2007- 2009 (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w