Tín dụng ngân hàng được định nghĩa như sau: Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng phản ánh một giao dịch về tài sản tiền hoặc hàng hoá giữa bên cho vay là ngân hàng hoặc các tổ ch
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI CẢM ƠN
LỜI NÓI ĐẦU 1
(Chi nhánh hỗn hợp) 41
Khối DVKH 41
Khối QLNB 41
Khối trực thuộc 41
BAN GIÁM ĐỐC 41
Khối QLRR 42
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà Nước đấtnước ta ngày càng phát triển Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã giành được những thành tựu tolớn như kiềm chế lạm phát, nhịp độ tăng trưởng về tổng sản phẩm trong nước đãvượt kế hoạch đề ra, nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng…Bên cạnh những thànhtựu đạt được chúng ta còn những mặt chưa làm được như: Tình hình xã hội cònnhiều tiêu cực, quản lý nhà nước về kinh tế một số ngành còn lỏng lẻo, chỉ số giátiêu dùng tăng đột biến…Đảng và Nhà Nước ta đã xác định nhiệm vụ quan trọngtrong thời gian tới là tiến hành CNH- HĐH nền kinh tế đất nước Muốn vậy, chúng
ta cần phải có nguồn vốn trung, dài hạn lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mớicông nghệ, trang bị kỹ thuật tiên tiến, đồng thời có sự nâng cấp mở rộng SXKD đốivới các thành phần kinh tế từ đó tạo đà cho sự phát triển Nguồn vốn trung, dài hạnđược hình thành từ nhiều nguồn trong đó nguồn vốn tín dụng ngân hàng trung, dàihạn đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế
Tuy nhiên, có nguồn vốn trung, dài hạn thôi chưa đủ phải biết sử dụng hiệuquả nguồn vốn đó mới góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo đúng kế hoạch,đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Hay nói một cách khác, chỉ khi nào
mở rộng tín dụng gắn liền với nâng cao chất lượng tín dụng trung, dài hạn thì nguồnvốn trung, dài hạn mới phát huy được vai trò tích cực của mình
Mặc dù vậy, trước những biến động không ngừng của nền kinh tế thị trường thìchúng ta phải có giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng, nhằm góp phần an toàntrong hoạt động Ngân hàng nói chung cũng như của chi nhánh ngân hàng Đầu tư vàPhát triển tỉnh Lạng Sơn nói riêng Đây là nguyên nhân mà em đã chọn đề tài :
“Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung- dài hạn tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Tỉnh Lạng Sơn ”
Trang 3Nội dung chuyên đề của em được chia thành ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng tín dụng trung, dài hạn tại chi nhánh ngân hàng đầu tư
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các cán bộ, Lãnh đạo ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh tỉnh Lạng Sơn và thầy giáo hướng dẫn thực tập PGS.TS Phạm Quang Trung đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực tập và hoàn thành báo cáo thực tập
Trang 5CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tín dụng và vai trò của tín dụng ngân hàng
1.1.1 Tín dụng ngân hàng
1.1.1.1 Khái niệm
Tín dụng là sự tin tưởng, sự tín nhiệm và được định nghĩa dưới nhiều góc độkhác nhau:
- Tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả
- Tín dụng là quá trình tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ hay hiện vật trênnguyên tắc có hoàn trả
- Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữusang người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi về một lượng giá trị lớn hơnlượng giá trị ban đầu
- Tín dụng là sự chuyển dich vốn dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật của một tổchức, cá nhân khác sử dụng trong một thời gian nhất định trên nguyên tắc hoàn trả.Như vậy, tín dụng có thể đươc diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng bảnchất của tín dụng là một giao dịch tài sản giữa một bên là người đi vay và một bên
là người cho vay trên cơ sở hoàn trả cả gốc và lãi
Đối với một NHTM, tín dụng là chức năng cơ bản của ngân hàng, là một trongnhững nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng Tín dụng ngân hàng được định nghĩa như sau:
Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng phản ánh một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay là ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng
và bên đi vay là các cá nhân, doanh nghiệp, chủ thể sản xuất kinh doanh, trong đó bên cho vay chuyển tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Trang 6- Tín dụng dài hạn: Có thời hạn từ 7 năm trở lên ( có nơi quy định là 7 năm) Thời hạn tín dụng đó chính là thời hạn mà trong đó ngân hàng cam kếtcấp cho khách hàng một khoản tín dụng và nó được xác định cụ thể ngày, tháng,năm Hay thời hạn tín dụng còn được hiểu là thời hạn được tính từ lúc đồng vốn đầutiên của ngân hàng được phát ra cho đến lúc đồng vốn và lãi cuối cùng được thu về.Tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thường gắn liền với những khoản vay củadoanh nghiệp để bổ sung vào tài sản lưu động, bởi tài sản lưu động thường có vòngquay trên một vòng thấp hơn một năm Do vậy, trong một năm doanh nghiệp có thểhoàn trả số tiền vay cho ngân hàng.
Tất nhiên cùng với độ dài của thời gian, việc thu hồi vốn đối với các dự án cóthời hạn dài gặp nhiều khó khăn hơn do ở thời điểm hiện tại doanh nghiệp khó cóthể tính được hết các khó khăn sẽ gặp trong tương lai Do vậy, mức độ rủi ro củacác khoản tín dụng có thời gian lớn đối với ngân hàng sẽ tăng lên Điều này mộtphần lý giải tại sao lãi suất các khoản vay dài hạn thường cao hơn các khoản vayngắn hạn
Phân loại Tín dụng theo thời gian có ý nghĩa rất quan trọng đối với cácNHTM Nó phản ánh khả năng hoàn trả, độ rủi ro cũng như ảnh hưởng trực tiếp đếntính an toàn và sinh lợi của một NHTM
* Phân loại theo hình thức cho vay
Căn cứ theo hình thức cho vay ta có các loại tín dụng sau:
- Chiết khấu là việc NHTM ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giátrị của thương phiếu sau khi đã trừ đi một phần thu nhập của ngân hàng để sỏ hữumột thương phiếu chưa đến hạn Về mặt pháp lý thì ngân hàng không phải là nhàcho vay đối với chủ sở hữu thương phiếu và chỉ là hình thức trái quyền Tuy nhiên,đối với ngân hàng, việc bỏ tiền ở thời điểm hiện tại để thu về một khoản tiền lớnhơn trong tương lai với lãi suất được ấn định trước được coi như là hoạt động tíndụng, nhưng có lẽ coi đây là một hoạt động đầu tư của ngân hàng hơn hoạt động tíndụng
- Cho vay được hiểu là ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng với sự cam kếtkhách hàng trả cả gốc lẫn lãi trong khoảng thời gian xác định với mức lãi suất camkết Cho vay được gọi là một trong các nghiệp vụ truyền thống của NHTM, nó đượchình thành ngay từ buổi sơ khai của các ngân hàng, và được đánh giá là hoạt độngsinh lợi cao nhất cho các NHTM
Trang 7- Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thục hiện các nghĩa vụ tài chính thaykhách hàng của mình khi khách hàng của mình không có khả năng trả nợ Mặc dùkhông phải xuất tiền ra, song ngân hàng vẫn thu được lời từ khách hàng nhờ uy tíncủa mình Nghiệp vụ này được đưa vào tài khoản ngoại bảng của ngân hàng Tuynhiên nếu có nghiệp vụ phát sinh tức là ngân hàng đứng ra thực hiện nghĩa vụ tàichính thay cho khách hàng của mình thì nó lại được đưa vào tài khoản nội bảng.
- Cho thuê đó là nghiệp vụ ngân hàng đứng ra bỏ tiền mua tài sản để cho kháchhàng thuê theo những điều kiện nhất định Sau thời gian đó khách hàng phải hoàntrả tài sản hoặc có thể mua lại của ngân hàng Tuy nhiên hoạt động này sinh lời khácao, nhưng nó cũng chứa đựng nhiều rủi ro trong đó có yếu tố về công nghệ Điềunày đòi hỏi cán bộ tín dụng không những phải có chuyên môn về nghề nghiệp màcòn có cả sự hiểu biết về kỹ thuật, về công nghệ
* Phân loại tín dụng theo tài sản đảm bảo
Nếu căn cứ vào tài sản đảm bảo thì ta có các loại hình tín dụng sau đây;
- Tín dụng đảm bảo đó là sự cam kết của người nhận tín dụng về việc dùng tàisản đảm bảo thuộc sở hưu của mình để thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với ngânhàng trong trường hợp không trả được nợ Trong trường hợp này khi khách hàngkhông trả được nợ, hoặc vì sử dụng sai mục đích nguồn vốn vay dẫn đến khôngthanh toán được thì ngân hàng sẽ bán tài sản đi để thu hồi nguồn vốn Tín dung đảmbảo được áp dụng với các khách hàng có độ rủi ro cao như khách hàng mới haykhách hàng có tài chính không tốt
- Tín dụng không có tài sản đảm bảo đó là loại hình khách hàng có nhu cầuvay vốn với một hạn mức nhất định mà không cần tài sản đảm bảo Loại tín dụngnày thường được cấp cho các khách hàng có uy tín cao, những khách hàng có mốiquạn hệ tốt và lâu dài đối với ngân hàng, họ có tình hình tài chính lành mạnh, cómối quan hệ tốt với các tổ chức tài chính Cũng có thể là các khoản vay theo chỉ thịcủa Chính phủ, hay Chính phủ yêu cầu không có tài sản đảm bảo
Bên cạnh những tiêu thức phân loại trên, các NHTM còn sử dụng các tiêu thứckhác tuỳ theo đối tượng cho vay, tính đa dạng của sản phẩm hay tính chuyên mônhoá trong ngành để phân chia ví dụ như: Tín dụng lành mạnh, tín dụng có vấn đề,tín dụng sản xuất, tín dụng tiêu dùng…
1.1.1.3 Đối tượng của tín dụng ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường, đại bộ phận quỹ cho vay tập trung qua ngân hàng
Trang 8và từ đó cũng đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho các doanh nghiệp và cá nhân Tíndụng ngân hàng không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn để dự trữ vật tư hành hoá,trang trải chi phí sản xuất và thanh toán các khoản nợ mà còn tham gia cấp vốn chođầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các cơ sỏ kinh tế hạ tầng, cải tiến và đổi mới kỹthuật Ngoài ra, tín dụng ngân hàng còn đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu vốn tíndụng tiêu dùng của cá nhân.
1.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
1.1.2.1 Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất liên tục đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế
Thừa thiếu vốn tạm thời thường xảy ra ở các doanh nghiệp, việc phân phối vốntín dụng đã góp phần điều hoà vốn cho toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quátrình sản xuất được liên tục
Ngoài ra, tín dụng còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, nó là động lực kíchthích tiết kiệm đồng thời là phương tiện đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển.Trong nền sản xuất hàng hoá, tín dụng là một trong những nguồn hình thành vốnlưu động và có vôn cố định cho doanh nghiệp, vì vậy tín dụng động viên hàng hoá
đi vào sản xuất, thúc đẩy ứng dụng khoa học, kỹ thuật tiến bộ vào trong quá trìnhsản xuất
Riêng trong điều kiện nước ta hiện nay, cơ cấu kinh tế còn nhiều mặt mất cânđối, lạm phát và thất nghiệp vẫn luôn là khả năng tiềm ẩn, thông qua đầu tư tín dụnggóp phần sắp xếp và tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý Mặtkhác thông qua hoạt động tín dụng mà sử dụng nguồn lao động và nguyên liệu hợp
lý thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, đồng thời giải quyết các vấn đề xã hội
1.1.2.2 Thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Hoạt động của các trung gian tài chính là tập trung vốn tiền tệ tạm thời nhànrỗi, mà vốn vay nằm phân tán khắp mọi nơi, trong tay các nhà doanh nghiệp, các cơquan Nhà nước và cá nhân, trên cơ sở đó cho vay các đơn vị kinh tế và từ đó thúcđẩy nền kinh tế phát triển
1.1.2.3 Là công cụ tài trợ cho các nền kinh tế kém phát triển và ngành mũi nhọn
Trong điều kiện nước ta, nông nghiệp là ngành sản xuất đáp ứng nhu cầu cầnthiết cho xã hội đang trong quá trình Công nghiệp hoá là ngành chịu ảnh hưởngnhiều nhất trong điều kiện nước ta hiện nay, trong giai đoạn trước mắt Nhà nước
Trang 9phải tập trung đầu tư phát triển nông nghiệp để giải quyết những nhu cầu tối thiểucủa xã hội đồng thời tạo điều kiện để phát triển các ngành kinh tế khác.
Bên cạnh đó, Nhà nước còn tập trung tín dụng để tài trợ cho các ngành kinh
tế mũi nhọn, mà phát triển các ngành này sẽ tạo cơ sở và lôi cuốn các ngành kinh tếkhác phát triển như sản xuất hàng xuất khẩu, khai thác dầu khí
1.1.2.4 Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp
Đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức.Nhờ vậy mà hoạt động tín dụng đã kích thích sử dụng vốn và sử dụng có hiệu quả.Khi sử dụng vốn vay ngân hàng doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tíndụng, tức phải là hoàn trả nợ vay đúng hạn và tôn trọng các điều kiện khác đã ghitrong hợp đồng tín dụng, bằng các tác động như vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải quantâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn , giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quaycủa vốn tạo điều kiện nâng cao doanh lợi của doanh nghiệp
1.1.2.5 Tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp nước ngoài
Trong điều kiện ngày nay, phát triển kinh tế của một quốc gia gắn liền với thịtrường thế giới, kinh tế “ đóng ’’ đã nhường bước cho kinh tế “ mở ”, tín dụng ngânhàng đã trở thành một trong những phương tiện kinh tế nối liền nền kinh tế cácnước với nhau
Đối với các nước phát triển nói chung và nước ta nói riêng, tín dụng đóng vaitrò rất quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hoá, đồng thời nhờ nguồn tíndụng bên ngoài để công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế
1.2 Tín dụng trung- dài hạn và vai trò của tín dụng trung và dài hạn
1.2.1 Tín dụng trung- dài hạn của NHTM
Trang 10gian của tín dụng trung, dài hạn cũng khác nhau, đối với Việt Nam khoản vay cóthời hạn từ 1 đến 5 năm là tín dụng trung hạn và thời hạn từ 5 năm trở lên là tíndụng dài hạn.
Chất lượng hiệu quả của công tác tín dụng được nhìn nhận từ ba phía: các nhàngân hàng, các doanh nghiệp và từ phía kinh tế Nếu xét theo quan điểm của cácnhà ngân hàng thì hoạt động tín dụng trung và dài hạn được xem là có hiệu quả khi
nó đảm bảo được ba yếu tố: Khả năng thu nợ, khả năng thu hồi cả gốc lẫn lãi đúnghạn và khả năng thanh khoản từ phía nguồn Điều này có nghĩa là khi ngân hàngtiến hành cho vay trung, dài hạn thì khoản vay đó phải đảm bảo được trang trảiđược chi phí trả cho lãi suất huy động hoặc đi vay, chi phí cho hoạt động ngân hàng
và lãi dự tính Song không phải cứ ngân hàng cho vay nhiều là đem lại lợi nhuậncao vì nếu chỉ cho vay ra mà không thu hồi được vốn cho vay và khoản vay khôngcân xứng với nguồn huy động được thì sớm hay muộn ngân hàng cũng rơi vào tìnhtrạng thua lỗ rồi dẫn đến phá sản
1.2.1.2 Phân loại các khoản cho vay trung và dài hạn tại các NHTM
1.2.1.2.1 Tín dụng theo dự án đầu tư
a Cho vay đồng tài trợ:
- Đây là quá trình cho vay của một nhóm tổ chức tín dụng (từ 2 tổ chức tíndụng trở lên) cho một dự án, do một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phối hợp với cácbên đồng tài trợ để thực hiện, nhằm phân tán rủi ro của các tổ chức tín dụng
- Hình thức này được áp dụng trong các trường hợp: Các dự án đầu tư cầnmột khoản vốn lớn mà các ngân hàng nhỏ lẻ không đáp ứng được ngân hàng thườngchỉ được phép đầu tư vốn với một mức độ nhất định so với tổng nguồn vốn củamình và không được đầu tư quá nhiều vốn vào một công ty để đảm bảo an toàn vốntài sản Thậm chí đối với một vài dự án ngân hàng có thể đáp ứng toàn bộ nhưng rủi
ro quá lớn ngân hàng không muốn đảm nhận hết Do vậy, cho vay đồng tài trợ làmột hoạt động tín dụng giúp ngân hàng phân tán rủi ro và có thể sử dụng tối đanguồn vốn của họ cho đầu tư vào các dự án dài hạn
b Cho vay trực tiếp theo dự án:
- Đây là hình thức tín dụng trung, dài hạn phổ biến trong nền kinh tế thịtrường, NHTM tiến hành mọi hoạt động và tự chịu trách nhiệm với từng dự án đầu
tư của khách hàng mà họ đã lựa chọn để tài trợ
Chính vì vậy, công việc của ngân hàng không chỉ đơn thuần là cho vay mà
Trang 11còn phải quán xuyến hàng loạt các công việc khác có liên quan đến trực thi của dự
án như: quy hoạch sản xuất, thiết kế, quy trình công nghệ, giá cả thị trường…Bởi vìviệc quy định cấp một khoản tín dụng sẽ rằng buộc ngân hàng với người vay trongmột số thời gian, cho nên cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc và xem xét kỹlưỡng các rủi ro co thể xảy ra
1.2.1.2.2 Tín dụng thuê mua
Thuê mua là hình thức cho vay tài sản thông qua một hợp đồng tín dụngthuê mua qua đó người cho thuê chuyển giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mìnhcho người đi thuê sử dụng và người thuê có trách nhiệm thanh toán tiền thuê trongsuốt thời hạn thuê và có thể được quyền sở hữu tài sản thuê, được quyền mua tài sảnthuê hoặc được quyền thuê tiếp theo các điều kiện đã được hai bên thỏa thuận
* TS thuê bao gồm cả ĐS và BĐS:
- ĐS chủ yếu gồm máy móc thiết bị, ô tô, dây chuyền công nghệ…
- BĐS chủ yếu là cửa hàng, văn phòng làm việc, cơ sở sản xuất…
Về mặt pháp lý, tài sản thuê thuộc quyền sở hữu của người cho thuê, còn đithuê chỉ được quyền sử dụng Vì vậy, người đi thuê không được bán chuyển nhượngcho người khác Song họ được hưởng những lợi ích do việc sử dụng tài sản đó đemlại, đồng thời chịu phần rủi ro có liên quan đến tài sản Tín dụng thuê mua có một
số hình thức như: thuê mua có tham gia của ba bên, thuê mua có sự tham gia của haibên, tái thuê mua
* Xét về lợi ích thì cả ngân hàng và khách hàng đều có lợi
- Đối với Ngân hàng (bên cho thuê): Đây là hình thức tài trợ bổ sung chocác hình thức tài trợ khác đang tồn tại ở ngân hàng, nó giúp ngân hàng mở rộngdịch vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm mức độ rủi ro, đảm bảo nguyên tắc vốnvay được sử dụng đúng mục đích
- Đối với các doanh nghiệp: Hình thức này có thể giúp các doanh nghiệp cóthể sử dụng vốn vay dưới dạng các máy móc, thiết bị…mà không phải bỏ vốn lớn,không ảnh hưởng đến bảng tổng kết tì sản và hạn mức tín dụng của doanh nghiệpviệc cấp tín dụng thuê mua thường nhanh chóng, từ đó cho phép đầu tư khẩn cấp,đáp ứng được thời cơ SXKD trong nền KTTT, mặt khác phương thức thanh toántiền thuê linh hoạt thích ứng với hoàn cảnh và điều kiện sản xuất cũng như tiêu thụsản phẩm của doanh nghiệp và mỗi cá nhân
Trang 12- Đối với các công ty nhỏ và các công ty không có uy tín: Ngân hàng có thểkhông chấp nhận cho vay dài hạn nhưng có thể cho hướng tín dụng thuê mua Cóthể nói, mô hình tín dụng thuê mua rất có ý nghĩa đối với nền kinh tế thị trường,nhất là đối với nền kinh tế nhiều thành phần như ở Việt Nam hiện nay.
1.2.1.3 Đặc điểm cho vay trung và dài hạn tại các NHTM
Tín dụng trung dài hạn có những đặc điểm quan trọng sau:
Mang tính rủi ro cao
- Cho vay trung, dài hạn ở các ngân hàng thường có thời gian dài, quá trìnhgiải ngân thường từ ít nhất là 1 năm do đó có thể diễn ra nhiều biến động lớn Vớikhoảng thời gian dài như vậy ngân hàng khó có thể dự đoán được những biến độngxấu có thể xay ra như biến động giá cả, thuế, tâm lý người dân Vì vậy khả năngxảy ra rủi ro là cao Mặt khác cho vay trung, dài hạn thường có quy mô lớn nên khixảy ra rủi ro thì hậu quả của nó rất nghiêm trọng
Do vậy, đặc điểm lớn trong hoạt động cho vay trung, dài hạn là rủi ro lớn vàchi phí vốn cao
Lợi nhuận kỳ vọng từ cho vay lớn
Như ta đã biết luôn đi kèm với rủi ro cao là khả năng đem lại lợi nhuận kỳvọng lớn không nằm ngoài quy luật đó, lãi suất cho vay trung, dài hạn thường lớnhơn các khoản cho vay khác của ngân hàng Một trong những lý do làm cho lãi suấtcho vay trung, dài hạn cao chi phí để có nguồn vốn trung, dài hạn lớn
Ngoài ra, để giảm thiểu rủi ro thì các ngân hàng thường trích lập dự phòng rủi
ro cao hơn các khoản cho vay khác
Tính thanh khoản thấp
Tính thanh khoản hay còn gọi là tính lỏng là chỉ tiêu phản ánh khoản chuyểnđổi thành tiền của một tài sản nào đó Nó được đánh giá thông qua chi phí và thờigian để chuyển tài sản đó thành tiền Vì các khoản cho vay trung, dài hạn có thờigian dài nên khả năng chuyển đổi nó thành tiền thường thấp, ngoài ra nó còn chịuchi phí cao do vậy tính thanh khoản các khoản cho vay trung, dài hạn là thấp Tínhthanh khoản thấp cũng là một trong những lý do quan trọng để ngân hàng đặt mứclãi suất cao cho các khoản vay trung và dài hạn
1.2.2 Vai trò của tín dụng trung và dài hạn trong nền kinh tế thị trường 1.2.2.1 Đối với nền kinh tế
Tín dụng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, hoạt động tín dụng trung, dài
Trang 13hạn nếu có hiệu quả sẽ tác động tới mọi lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội Pháttriển cho vay tín dụng trung, dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể các khoản bao cấp từ ngânsách cho đầu tư xây dựng cơ bản và giảm bớt thâm hụt ngân sách, thu hút đượcnguồn vốn dư thừa, tạm thời nhàn rỗi để đưa vào SXKD, đáp ứng nhu cầu vốn chodoanh nghiệp, từ đó phục vụ cho sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Mặt khác, trong quá trình huy động vốn và cho vay cũng như tổ chức thanhtoán cho khách hàng, ngân hàng có thể đánh giá được tình hình tiêu thụ sản phẩm,SXKD cũng như khả năng thanh toán chi trả của khách hàng Trong quá trình chovay, để tránh rủi ro ngân hàng luôn đánh giá, phân tích khả năng tài chính và thườngxuyên giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh để có thể điều chỉnh, tác động kịpthời khi cần thiết, hướng cho hoạt động của doanh nghiệp đi đúng hướng, từng bướctạo tiền đề vật chất cho xã hội
Mặc dù là một đơn vị kinh doanh, nhưng các ngân hàng quốc doanh vẫn là một
bộ phận của Nhà nước, hoat động tín dụng trung- dài hạn cũng nhằm thực hiện cácmục tiêu phát triển kinh tế quốc gia thông qua các chính sách ưu đãi trong tín dụng
Về nguyên tắc, ngân hàng ưu đãi với các công trình sản xuất trực tiếp tạo ra sảnphẩm hàng hoá và thắt chặt điều kiện vay vốn với doanh nghiệp trong lĩnh vực kinhdoanh dịch vụ
Đầu tư tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng theo trọng điểm của ngành vàtrong nội bộ từng ngành góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý Hoạt động tíndụng theo chiều sâu, xây dựng mới…đã tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật vững chắccho nền kinh tế phát triển lâu dài, góp phần tăng cường kim ngạch xuất khẩu, tạođiều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường quốc tế Vớinăng lực sản xuất tăng, hàng hoá sản phẩm nhiều hơn đủ tiêu dùng và dư thừa choxuất khẩu Nhiều xí nghiệp với máy móc hiện đại sản xuất ra sản phẩm thay thếhàng nhập Tất cả các kết quả đó góp phần tiết kiệm chi ngoại tệ, tăng thu ngoại tệ,tạo cán cân thanh toán quốc tế lành mạnh
Ngoài ra, tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng còn góp phần ổn định đờisống, tạo ra công ăn việc làm và ổn định trật tự xã hội bởi lẽ tín dụng trung, dài hạnđầu tư vào những lĩnh vực mới, cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất nên sẽ tạonhiều việc làm cho người lao động Bên cạnh đó, do năng lực sản xuất được nânglên số lượng sản phẩm tiêu thụ nhiều, đó là nguồn thu nhập của cán bộ trong xínghiệp và góp phần ổn định đời sống cho chính họ
Trang 14Tín dụng trung, dài hạn cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơcấu đầu tư, làm cho cơ cấu của nền kinh tế trở lên hợp lý từ đó làm tiền đề cho sự
ổn định và trật tự an toàn xã hội
1.2.2.2 Đối với doanh nghiệp
Trong môi trường kinh tế cạnh tranh, để có thể tồn tại và phát triển được cácdoanh nghiệp phải không ngừng đầu tư vào TSCĐ Bởi lẽ TSCĐ là tư liệu chủ yếu,chiếm bộ phận lớn trong tổng giá thành, là yếu tố quan trọng quyết định lợi thế cạnhtranh…Tuy nhiên, trong thực tế giá trị TSCĐ thường rất cao, nếu chỉ trông chờ vàonguồn vốn tự tích lũy thì phải mất rất nhiều thời gian doanh nghiệp mới đổi mớiđược TSCĐ Vì thế lối thoát duy nhất cho doanh nghiệp là đi vay để đổi mới Cóngười cho rằng cách tốt nhất để huy động vốn là doanh nghiệp phát hành cổ phiếu,trái phiếu huy động vốn dài hạn Chúng ta không phủ nhận những mặt tích cực củathị trường chứng khoán trong việc phục vụ bổ sung vốn cho doanh nghiệp, nhưnghình thức này chỉ phát huy hiệu quả ở những nước có thị trường vốn và thị trườngchứng khoán hoàn hảo Đối với những khoản đi vay doanh nghiệp được chủ độngđiều hành các hoạt động kinh doanh, tiến hành các dự án lớn mà không phải phânchia quyền lực nếu lựa chọn thông qua việc phát hành cổ phiếu Mặt khác việc trả
nợ trung, dài hạn cũng được ấn định theo định kỳ theo từng kỳ hạn hợp lý và ổnđịnh Vì vậy, doanh nghiệp có cơ sở để thực hiện trách nhiệm trả nợ của họ
Như vậy tín dụng trung, dài hạn đã giúp các doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhàxưởng, mua sắm máy móc thiết bị…để cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao chấtlượng sản phẩm tạo điều kiện mở rộng quy mô SXKD và mở rộng chiếm lĩnh thịtrường mới Có thể nói, tín dụng trung, dài hạn là trợ thủ đắc lực cho các doanhnghiệp đạt mục tiêu kinh doanh: lợi nhuận, an toàn, phát triển không ngừng…trongkhi nguồn vốn trung, dài hạn doanh nghiệp có trong tay không đủ đáp ứng nhu cầu
1.2.2.3 Đối với Ngân hàng
Tín dụng trung, dài hạn mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, đồng thờinâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng Nếu ngân hàng có một nguồn vốn ổnđịnh trong một thời gian dài để đầu tư dài hạn sẽ đạt lợi nhuận cao hơn rất nhiều sovới việc dùng nó để cho vay ngắn hạn, vì mỗi món vay trung, dài hạn cấp chodoanh nghiệp thường là rất lớn, lãi suất cao Bên cạnh khoản lợi nhuận hấp dẫn, tíndụng trung, dài hạn còn là vũ khí cạnh tranh rất hiệu quả giữa các ngân hàng vớinhau Với các sản phẩm này, Ngân hàng sẽ phục vụ tốt hơn cho các chủ doanh
Trang 15nghiệp và thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với ngân hàng Khi xác định mởrộng cho vay trung, dài hạn, các ngân hàng không chỉ nhìn vào lợi ích trước mắt màcòn nhìn vào lợi ích lâu dài hơn đó là mở rộng tín dụng trung, dài hạn để đẩy mạnhcho vay ngắn hạn.Các doanh nghiệp sau khi được ngân hàng cho vay vốn, năng lựcsản xuất sẽ tăng lên doanh nghiệp lại cần nhiều vốn lưu động hơn để đáp ứng chosản xuất Lúc này, người đầu tiên mà doanh nghiệp tìm đến chính là các ngân hàng
đã đầu tư cho họ Bởi lẽ, doanh nghiệp dễ dàng tìm được sự thông cảm vì hai bên đãhiểu nhau, ngân hàng đã nắm được tình hình tài chính và các khoản thu chi củadoanh nghiệp nên các dịch vụ sẽ tiện lợi hơn
Mặt khác tín dụng trung, dài hạn còn là cách thức khả thi để giải quyết nguồnvốn huy động dư thừa tại mỗi NHTM Đồng thời là cách để ngân hàng gọi vốn từnền kinh tế đáp ứng nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp Vì vậy cần phải nângcao chất lượng tín dụng để giải quyết vấn đề huy động và sử dụng vốn có hiệu quả,thu được lợi nhuận qua đó phát triển hoạt động của mình, tăng cường khả năng cạnhtranh với các ngân hàng khác
1.2.3 Nội dung nghiệp vụ cho vay trung và dài hạn
1.2.3.2 Đối tượng cho vay
Với mục đích cho vay như trên, nên đối tượng cho vay của tín dụng trung vàdài hạn là các chi phí cấu thành trong tổng mức đầu tư của dự án không phân biệtthành phần kinh tế, là tổ chức, cá nhân hay là doanh nghiệp, bao gồm: giá trị vật tư,máy móc thiết bị, công nghệ chuyển giao, chi phí nhân công, giá thuế và chuyểnnhượng đất đai, giá thuê mua các tài sản, chi phí mua bảo hiểm và các chi phí khác
1.2.3.3 Điều kiện cho vay
Để được vay vốn, đơn vị xin vay phải gửi đến ngân hàng đơn xin vay, luậnchứng kinh tế, kỹ thuật và dự toán đã được thẩm định và cấp trên phê duyệt và cácbáo cáo tài chính của mình trong một vài năm trước Ngoài ra, đơn vị xin vay phảigửi đến ngân hàng bản tính toán hiệu quả của dự án, lợi nhuận mà dự án mang lại
Trang 16qua các năm, các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của dự án như NPV, IRR Bêncạnh đó có tính toán đầy đủ các số tiền xin vay, các nguồn trả nợ và lệnh trả nợ.Ngân hàng cho vay sẽ xem xét kỹ các tài liệu nhằm đánh giá đầy đủ khả năng củađơn vị vay vốn trước khi quyết định cho vay, tình hình tài chính và nghĩa vụ của họvới Nhà nước và các tổ chức tài chính như thế nào.
Khi ngân hàng quyết định cho các doanh nghiệp vay trung và dài hạn, ngânhàng cần phải nắm chắc hiệu quả của phương án, dự án, chương trình sản xuất củabên vay vốn
Một trong những điều kiện để cho các NHTM cho vay là thế chấp Đó cũng làđảm bảo tín dụng được thực hiện dưới nhiều hình thứa khác nhau nhưng nhìn chung
có thể chia thành hai loại: Đảm bảo đối vật và đảm bảo đối nhân
- Đảm bảo đối vật: đảm bảo đối vật là hình thức đảm bảo tín dụng mà trong đóngân hàng đóng vai trò là chủ nợ được thừa hưởng một số quyền lợi nhất định đốivới tài sản của khách hàng nhằm làm căn cứ để thu hồi nợ trong trường hợp kháchhàng không trả hoặc không có khả năng trả nợ Có 2 hình thức đảm bảo đối vậtchính là thế chấp và cầm cố
+ Thế chấp là phương tiện chuyển dịch quyền lơị về tài sản sang cho chủ nợvới mục đích là đảm bảo cho món nợ hoặc miễn trừ một nghĩa vụ Người đi vayđược gọi là người thế chấp và người cho vay được gọi là người được thế chấp.+ Cầm cố là hành vi giao nộp tài sản hoặc các chứng từ chứng nhận quyền sởhữu tài sản của con nợ ( người được cầm cố) để thực hiện một nghĩa vụ Nghĩa vụcầm cố trong quan hệ tín dụng là người đi vay thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ đúnghạn hợp đồng Trong trường hợp người đi vay không trả nợ đúng hạn hợp đồng thìngân hàng có quyền bán tài sản cầm cố và được ưu tiên thu nợ trước các chủ nợkhác Nhũng loại tài sản cầm cố thông dụng để đảm bảo cho vay ngân hàng gồm:cầm cố hàng hoá, chiết khấu thương phiếu, cầm cố các chứng khoán khác
- Đảm bảo đối nhân: là sự cam kết của một hoặc nhiều người về trả nợ củangân hàng thay cho khách hàng vay vốn khi người này không trả được nợ Trongđảm bảo đối nhân có 3 chủ thể lien quan với nhau là : Người đi vay, ngân hàng,người bảo lãnh
Khi xét duyệt một bảo lãnh ngân hàng cần chú ý đến một số điểm như sau:+ Người bảo lãnh phải có đủ năng lực bảo lãnh theo quy định của pháp luật.Nếu là pháp nhân thì người đứng ra bảo lãnh phải là người đại diện hợp pháp củapháp nhân
Trang 17+ Thế nhân hoặc pháp nhân đứng ra bảo lãnh phải có đủ năng lực tài chính đểthực hiện nghĩa vụ đã cam kết.
+ Uy tín của người bảo lãnh
Đảm bảo tín dụng được coi là tiêu chuẩn khi xét duyệt cho vay nhưng phảithấy rằng đây không phải là tiêu chuẩn quan trọng nhất hay nói cách khác khôngphải là tiêu chuẩn mang tính nguyên tắc Tuy nhiên, trong thời gian qua, các NHTMnước ta vẫn xếp đảm bảo tiền vay vào vị trí số một
- Ngân hàng có thể huy động vốn của dân cư dưới hình thức phát hành tráiphiếu dài hạn hoặc huy động tiền gửi định kỳ dài hạn để cho vay trung, dài hạn.Nguồn vốn này hiện nay rất hạn chế do dân chúng ít người muốn gửi tiền dài hạn và
kỳ hạn của trái phiếu huy động không dài
- Vốn vay từ NHTW: Nguồn tiền này cũng bị hạn chế vào chính sách tiền tệcủa NHTW
- Vay nợ nước ngoài để cho vay trung, dài hạn: Đây là một hình thức được cácngân hàng trên thế giới sử dụng thường xuyên với khối lượng lớn Ưu điểm củanguồn vốn này là có khối lượng lớn và lãi suất chấp nhân được nhưng các ngânhàng chỉ nên sử dụng nguồn vốn này nếu có dự án đầu tư có hiệu quả cao tránhviệc không trả được nợ vay
- Vốn nhận uỷ thác và vốn nhận tài trợ để cho vay theo chương trình hoặc dự
án đầu tư của Nhà nước, tổ chức kinh tế- tài chính, tín dụng, xã hội trong và ngoàinước Đặc điểm của nguồn vốn này là không ổn định, các dự án đầu tư thường đượcchỉ định trước, ngân hàng chỉ là người trung gian đóng vai trò quản lý, giải ngân vàthu hồi vốn đầu tư mà không có quyền lựa chọn
- Ngoài những nguồn vốn trên, đối với các NHQD Việt Nam thì hành năm cácngân hàng này còn nhận được một khoản vốn điều lệ từ NHTW Đó cũng là nguồn
Trang 18vốn hình thành vốn vay trung và dài hạn tại các NHTM, nhất là dự án vay theo chỉđịnh của Chính phủ.
1.2.3.5 Thời hạn cho vay
Thợi hạn cho vay là trên 1 năm, được xác định căn cứ vào yêu cầu của dự án,khả năng trả vốn của dự án đầu tư và tính chất nguồn vốn của bên cho vay Thờigian cho vay được tính từ khi bên vay nhận được khoản vốn đầu tiên đến khi trảđược hết nợ Thông thường, ngân hàng căn cứ vào thời gian khấu hao để xác địnhthời gian cho vay Thời gian cho vya ngắn hơn hoặc dài hơn quá nhiều so với thờigian khấu hao đều ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng vì khấu hao từ tàisản là một trong những chủ yếu để trả nợ cho ngân hàng Thời hạn cho vay bao gồmthời gian ân hạn (nếu có) và thời gian trả nợ
- Thợi gian ân hạn được tính tương xứng với thời gian xây dựng công trình,thời gian lắp đặt máy móc và sản xuất thử sản phẩm
- Thời gian trả nợ: Tuỳ vào đặc điểm SXKD của đơn vị vay, tuỳ vào khả năngthu nhập của bên vay mà hai bên thoả thuận kỳ hạn trả nợ và số tiền trả nợ từng kỳ
1.2.3.6 Lãi suất cho vay
Về cơ bản, khoản đầu tư có kỳ hạn càng dài thì rủi ro càng lớn Vì thế lãi suấtcho vay trung, dài hạn thường cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn Lãi suất cho vauđược xác định tuỳ vào dự án, ngành nghề, lĩnh vực đầu tư, chính sách của ngânhàng cũng như sự thoả thuận của khách hàng
Lãi suất cho vay có thể tính theo lãi suất cố định hoặc lai suất biến động Lãisuất cố định là lãi suất giữ nguyên không thay đổi trong suốt thời kỳ thực hiện hợpđồng Lãi suất biến đổi là lãi suất có thể lên xuống trong thời hạn vay Trong chovay trung, dài hạn phần lớn các ngân hàng hiện nay theo quyêt định của NHNN thìcác ngân hàng tự thoả thuận với khách hàng nên chủ yếu là lãi suất biến đổi để tránhrủi ro cho ngân hàng và người vay đồng thời phản ánh đúng nhu cầu thị trường.Thông thường đối với các khoản vay trung, dài hạn các NHTM thì lãi suất điềuchỉnh 6 tháng một lần và được tính theo công thức sau: lãi suất điều chỉnh= lãi suấthuy động tiết kiệm 12 tháng + 0,1%/tháng
1.2.3.7 Hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời hạnnhất định mà ngân hàng có thể cung cấp cho khách hàng theo thoả thuận trong hợpđồng tín dụng
Trang 19Hạn mức tín dụng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố:
- Quy định của NHNN, mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ
- Hạn mức tín dụng còn phụ thuộc vào chính bản thân cấc NHTM, vào khốilượng vốn huy động của ngân hàng càng lớn thì mức tín dụng mà ngân hàng cungcấp cho khách hàng càng nhiều, và vào chính sách tín dụng của NHTM từng thời kỳ
và đối với mỗi dự án cũng khác nhau
- Nhu cầu vay vốn của người vay, tình hình tài chính và uy tín của người vayảnh hưởng trực tiếp đến hạn mức tín dụng Các NHTM thường căn cứ vào tình hìnhtài chính của khách hàng có tốt hay không và uy tín đối với các tổ chức tài chính để
đủ hiệu quả của dự án được thể hiện trên các chỉ tiêu: khả năng sinh lời, thời gianhoàn vốn và điểm hoàn vốn
* Thẩm định chủ đầu tư
Mục đích thẩm định chủ đầu tư là để xem xét chủ đầu tư có nguyện vọng hoặc
có khả năng trả nợ cho ngân hàng hay không, nói cách khác là để thẩm định xem cónhu cầu vay vốn thực sự, tránh trường hợp khách hàng sử dụng vào mục đích khác.Khi thẩm định chủ đầu tư ngân hàng cần xem xét các vấn đề sau đây:
- Xem xét tư cách pháp nhân của chủ đầu tư để có thể biết được chủ đầu tư cókhả năng chịu trách nhiệm trước pháp luật hay không
- Phân tích về uy tín của chủ đầu tư để nhằm thấy được vị thế của chủ đầu tư
Uy tín của chủ đầu tư rất quan trọng vì những chủ đẩu tư có uy tín lớn họ sẵn sàngtìm mọi cách để trả nợ cho ngân hàng
- Phân tích năng lực tài chính của chủ đầu tư nhằm thấy được khả năng tự cânđối các nguồn tiền cuẩ chủ đầu tư có thể sử dụng được khi cần thiết Các chỉ tiêuthường được sử dụng để đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp là: hệ số tàitrợ, khả năng thanh toán chung, khả năng thanh toán nhanh và khả năng thanh toántức thời
Trang 20Sau khi phân tích khả năng tài chính, Ngân hàng cần xem xét đến khả năngđiều hành hoạt động SXKD, sự tín nhiệm và năng lực sản xuất.
Nghiên cứu thị trường nhằm giúp ngân hàng thấy được tương lai của sản phẩm
mà dự án sản xuất ra: sản phẩm đó có được thị trưởng chấp nhận hay không, nhiềuhay ít, thị hiếu của người tiêu dùng đối với sản phẩm, các sản phẩm cùng loại trênthị trường…
+ Nghiên cứu khả năng tiểu thụ sản phẩm cùng loại trong thời gian qua, cáchợp đồng bao tiêu sản phẩm cùng các văn bản giao dịch về sản phẩm như đơnđặt hàng, biên bản đàm phán…Để thấy được doanh thu ước lượng của dự án quacác năm
+ Nghiên cứu khả năng cạnh tranh: Nghiên cứu khả năng cạnh tranh của sẩnphẩm trên thị trường là rất quan trọng, Có tiêu tụ được sản phẩm mới thu được lợinhuận, điều này phản ánh sự tồn tại của sản phẩm cũng như của doanh nghiệp trênthị trường Bên cạnh đó còn phải đánh giá sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trên thịtrường, giá cả của nó, tỷ trọng chiếm lĩnh thị trường, đánh giá của người tiêu dùng
về sản phẩm của đối thủ cạnh tranh Ngoài ra, còn phải tính đến các sản phẩm thaythế đang lưu hành trên thị trường và giá cả của nó cũng như các đối thủ tiềm tangtrong tương lai
-Thẩm định phương diện kỹ thuật: Phân tích quy mô dự án và công nghệ, trangthiết bị nhằm thấy được sự phù hợp của dự án với sự tiêu thụ sản phẩm cũng như
sử dụng trang thiết bị hợp lý Thầm định trình độ tiên tiến của công nghệ và sự rađời của công nghệ mới Thẩm định khả năng cung cấp nguyên vật liệu và các yếu tốđầu vào khác Thẩm định phương diện tổ chức, quản lý thực hiện vận hành dự án để
có thể chọn được đơn vị thiết kế, thi công làm việc có hiệu quả nhất
- Thẩm định tài chính dự án đầu tư: Cán bộ tín dụng tiến hành phân tích cácchỉ tiêu về mặt tài chính của dự án xin vay bao gồm: khả năng trả nợ, sản lượng hoàvốn, điểm hoà vốn tiền tệ, điểm hoà vốn trả nợ, NPV, IRR
Trang 21- Phân tích các trường hợp có thể xảy ra rủi ro đối với dự án: Trường hợp sảnlượng giảm, chi phí biến đổi tăng, đơn vị giá bán giảm, sự lạc hậu của công nghệdẫn đến sự cạnh tranh của các sản phẩm giảm, các thay đổi về chính sách kinh tếcủa Nhà nước…
Sau khi tiến hành giải ngân, cán bộ tín dụng phải thường xuyên kiểm tra việc
sử dụng vốn vay có đúng mục đích hay không, định kỳ tiến hành kiểm tra tình hìnhvận hành của dự án trong SXKD Nếu thấy doanh nghiệp sử dụng sai mục đích thìphải báo cáo với lãnh đạo để xử lý kịp thời và áp dụng các chế tài đã ghi trong hợpđồng tín dụng Chuẩn bị đến thời kỳ trả nợ gốc và lãi, cán bộ tín dụng phải lậpphiếu nhắc thu nợ để doanh nghiệp chuẩn bị đồng thời phối hợp với nhân viên kếtoán tiến hành thu nợ gốc và lãi
Khi hết hạn hợp đồng tín dụng mà khách hàng không trả được hết nợ thì cán
bộ tín dụng chuyển phần dự nợ tín dụng còn lại sang theo dõi trên tài khoản nợ quáhạn, xác định nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó, có biện pháp xử lý kịp thời, có thể
ra hạn nợ hoặc có thể phát mại tài sản thế chấp, cầm cố để thu hồi nợ Nếu hết hạnhợp đồng tín dụng khách hàng đã thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi thì cán bộ tín dụngcùng khách hàng tiến hành thanh toan hợp đồng tín dụng
1.2.4 Chất lượng tín dụng trung và dài hạn trong hoạt động tại các NHTM 1.2.4.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng trung và dài hạn
Trong nền kinh tế thị trường để tồn tại và phát triển được, các doanh nghiệpphải trả lời ba câu hỏi lớn đó là: Sản xuất cại gì? Sản xuất cho ai? Và sản xuất bằngcách nào? Đây là ba vấn đề cơ bản mà doanh nghiệp gặp phải trong nền KTTT Đểlàm được việc này các doanh nghiệp phải quan tâm đến một yếu tố rất quan trọng
đó là chất lượng của sản phẩm Ngân hàng cũng là một doanh nghiệp kinh doanhtrên lĩnh vực tiền tệ trên thị trường, những khoản cho vay cũng là một sản phẩm, nócũng có giá cả và chất lượng như những hàng hoá khác
Chất lượng của một khoản tín dụng là: “ Mức độ đáp ứng yêu cầu của khách
hàng( cả người vay lẫn người cho vay tiền), phù hợp với các điều kiện kinh tế-xã hội và điều kiện đặc thù của bản than ngân hàng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng”.
Chất lượng cho vay được xem xét trên những góc độ:
- Đối với khách hàng: Đó là vay được tiền với mục đích sử dụng với các điềukhoản về lãi suất, kỳ hạn nợ, thủ tục đơn giản, thuận tiện đảm bảo thanh toán phù
Trang 22hợp với lợi ích của khách hàng và luật pháp hiện hành nhằm đảm bảo khả năng duytrì và mở rộng sản xuất, tăng cường hiệu quả SXKD của kháh hàng.
- Đối với nền kinh tế: Cho vay đáp ứng nhu cầu cho SXKD hàng hoá, đảm bảocung cấp vốn đầy đủ, kịp thời và có hiệu quả cho việc duy trì sản xuất Mở rộng kinhdoanh, tăng cường hiệu quả và năng lực hoạt động của các doanh nghiệp, góp phần giảiquyết các vấn đề xã hội như giải quyết việc làm , xoá đói giảm nghèo, xấy dựng cácvùng kinh tế mới, tạo điều kiện để thực thi các chính sách tiền tệ quốc gia
Như vậy, chúng ta có thể rút ra một số vấn đề về cách tiếp cận khái niệm chấtlượng cho vay hay chất lượng tín dụng:
- Đây là một cách tiếp cận tương đối: nó vừa cụ thể (thể hiện qua các chỉ tiêutính toán như kết quả kinh doanh, nợ quá hạn ) lại vưa trừu tượng (thể hiện quanăng lực thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế )
- Chất lượng cho vay là một chỉ tiêu tổng hợp và được xác định qua nhiều yếu
tố như: lãi, mức độ an toàn vốn của kinh doanh, khả năng đáp ứng nhu cầu vốn củakhách hàng
1.2.4.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn
Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn là đòi hỏi bức thiết đối với sự phát triển kinh tế
Trước hết, ta hiểu chất lượng tín dụng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàngphù hợp với sự phát triển KTXH và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.Chất lượng tín dụng trung, dài hạn chính là vốn cho vay của ngân hàng được kháchhàng đưa vào quá trình SXKD dịch vụ… để tạo ra một số tiền lớn hơn thông qua đóngân hàng sẽ thu được cả gốc và lãi cho ngân hàng đúng thời hạn, bù đắp được chiphí và có lợi nhuận Như vậy, qua một quá trình chu chuyển vốn, ngân hàng sẽ thuhồi vốn và lãi còn khách hàng sẽ sử dụng vốn có hiệu quả Xét về tổng thể ngânhàng vừa tạo ra được hiệu quả kinh tế vừa tạo ra được hiệu quả xã hội
Sinh ra từ nền sản xuất hàng hóa, tín dụng đã có được những đóng góp đáng kểtrong việc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn để đẩy mạnh tiến trình pháttriển của nền kinh tế, phát triển xã hội
Ngày nay cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa, tín dụngcũng ngày càng phát triển nhằm cung cấp thêm các phương tiện giao dịch để đápứng các giao dịch ngày càng tăng trong xã hội Trong điều kiện đó, chất lượng tíndụng ngày càng được quan tâm bởi vì:
Trang 23Đảm bảo chất lượng tín dụng là điều kiện để ngân hàng làm tốt vai trò trungtâm thanh toán: Khi chất lượng tín dụng được đảm bảo sẽ tăng vòng quay vốn tíndụng, với một khối lượng tiền như cũ, có thể thực hiện số lần giao dịch lớn hơn, tạođiều kiện tiết kiệm tiền trong lưu thông, củng cố sức mua của đồng tiền.
Chất lượng tín dụng góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng trưởngkinh tế, tăng uy tín quốc gia Xuất phát từ chức năng tập trung và phân phối lại vốntrong nền kinh tế, tín dụng trung, dài hạn đã thu hút những nguồn vốn dư thừa, tạmthời nhàn rỗi để đưa vào SXKD, đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp từ đó phục
vụ cho sự tăng trưởng nền kinh tế Mặt khác tín dụng trung, dài hạn là một trongnhững cách để đưa tiền vào lưu thông nhằm làm cho khối lượng tiền tệ trong nềnkinh tế phù hợp với khối lượng hàng hoá Xuất phát từ chức năng tạo tiền của cácNHTM, thông qua cho vay chuyển khoản, thực hiện thanh toán không dùng tiềnmặt, các NHTM có thể thực hiện tiền ghi sổ gấp nhiều lần so với số tiền thực cóhoặc vì lý do nào đó, các chủ tài khoản có khả năng phát hành séc và thanh toánbằng các phương tiện khác cho khách vượt quá số tiền gửi thực tế của họ…nhưngkhi đi vào lưu thông chúng đều có quyền thanh toán, chi trả như các phương tiệnkhác và thường chúng được trả bằng tiền mặt Như vậy nghiệp vụ tín dụng củaNHTM có quan hệ chặt chẽ với khối lượng tiền mặt trong lưu thông và là nguyênnhân tiềm ẩn của lạm phát Đảm bảo chất lượng tín dụng sẽ tạo khả năng giảm bớtlượng tiền thừa trong lưu thông, góp phần hạn chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng uytín quốc gia bằng việc phát huy tác dụng của các sản phẩm, dịch vụ trong tương laicủa các công trình đầu tư
Tín dụng là công cụ thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triểnkinh tế xã hội theo từng ngành, từng lĩnh vực, mặt khác, thông qua sự phân tíchđánh giá khả năng phát triển của đối tượng định đầu tư để có những quyết định đầu
tư đứng đắn nhằm khai thác khả năng tiềm tàng về tài nguyên, lao động, tiền vốn…
để tăng cường năng lực sản xuất, cung cấp ngày càng nhiều cho xã hội, giải quyếtcông ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động…chất lượng tín dụng trung, dàihạn được nâng cao sẽ góp phần tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đảm bảo sự phát triểncân đối giữa các vùng, các ngành trong cả nước, ổn định và phát triển kinh tế
Chất lượng tín dụng trung, dài hạn góp phần làm lành mạnh quan hệ tín dụng:hoạt động tín dụng được mở rộng với các thủ tục đơn giản hoá, thuận tiện nhưngvẫn tuân thủ các nguyên tắc tín dụng sẽ góp phần cho vay đúng các đối tượng cần
Trang 24thiết, giảm thiểu và đi đến xoá bỏ nạn cho vay nặng lãi chủ yếu hiện nay đanghoành hành ở nông thôn và các vùng xa xôi hẻo lãnh.
Tín dụng nói chung và tín dụng trung, dài hạn nói riêng có mối quan hệ mậtthiết với nền kinh tế xã hội, thiết lập một mối cơ chế chính sách đồng bộ, có hiệuquả sẽ có tác động tích cực với mọi mặt của nền kinh tê xá hội, điều đó cũng có thểhiện chất lượng hoạt động tín dụng trong nền kinh tế thị trường
Nâng cao chất lượng tín dụng quyết định sự tồn tại và phát triển của NHTM
Chất lượng tín dụng trung, dài hạn tốt làm tăng khả năng cung cấp dịch vụcủa các NHTM, thu hút được nhiều khách hàng bởi các hình thức của sản phẩm,dịch vụ tạo ra một hình ảnh về biểu tượng và uy tín của ngân hàng và sự trung thànhcủa khách hàng
Chất lượng tín dụng trung, dài hạn tốt làm tăng khả năng sinh lợi của sảnphẩm, dịch vụ của ngân hàng do giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí nghiệp vụ,chi phí quản lý, chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn vay đã cho vay Mặtkhác nó còn đảm bảo khả năng thanh toán và lợi nhuận của ngân hàng, tạo thế mạnhcho ngân hàng trong cạnh tranh, tạo thuận lợi cho sự tồn tại phát triển lâu dài củangân hàng
Có thể nói, với những ưu thế trên, việc củng cố và tăng cường chất lượng tíndụng trung, dài hạn của các NHTM là sự cần thiết khách quan Vì vậy, chất lượngtín dụng luôn luôn đòi hỏi phải được nâng cao…
1.2.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá
Xét trên quan điểm khách hàng
- Các chỉ tiêu định tính đó là:
Dự án sử dụng vốn vay trung, dài hạn của ngân hàng có đủ cơ sở pháp lý, kinh
tế, kỹ thuật thực hiện được
Vốn vay được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả, đảm bảo đủ khả năng trảngân hàng nợ gốc và lãi, trang trải chi phí khác và để lại cho doanh nghiệp mộtkhoản thu nhập
- Các chỉ tiêu định lượng đó là:
+ Thời gian thi công, thực hiện dự án đảm bảo đúng tiến độ
+ Chi phí phải không được vượt quá mức cho phép
+ Doanh thu phải không thấp hơn doanh thu ở mức dự kiến
Trang 25+ Lợi nhuận phải đạt hoặc vượt quá mức lợi nhuận đã định trong dự án.
Xét trên quan điểm ngân hàng
- Các chỉ tiêu định tính đó lá:
+ Cho vay phai tuân thủ ba nguyên tắc: Vốn vay phải được đảm bảo bằng tàisản đảm bảo nợ vay, phải hoàn trả vốn, lãi đúng thời hạn và theo cam kết tại hợpđồng tín dụng đã ký
+ Cho vay phải tuân thủ các điều kiện như lập hồ sơ cho vay, có phương ánSXKD, có báo cáo tài chính, SXKD phải có hiệu quả, có tài sản thế chấp hợppháp… kèm theo đó là việc kiểm tra trước, trong và sau khi vay
- Các chỉ tiêu định lượng đó là:
Doanh số cho vay: là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà ngân
hàng đã phát ra cho vay trong một khoảng thời gian nào đó, không kể khoản chovay đó đã thu hồi hay chưa Doanh số cho vay thường được xác định theo tháng,quỹ, năm
Doanh số thu nợ: là toàn bộ các món nợ mà ngân hàng đã thu về từ các khoản
cho vay của ngân hàng kể cả năm nay và những năm trước đó
Dư nợ tín dụng: là chỉ tiêu phản ánh tại thời gian xác định nào đó hiện còn
ngân hàng cho vay bao nhiêu, và đây cũng là khoản ngân hàng thu về
Dư nợ tín dụng = Doanh số tín dụng trong kỳ + Doanh số cho vay kỳ trước – Doanh số thu nợ trong kỳ.
Nợ xấu: là chỉ tiêu phản ánh các khoản nợ khi đến hạn mà khách hàng không
trả được cho ngân hàng mà không có nguyên nhân chính đáng thì ngân hàng sẽchuyển khoản dư nợ sang tài khoản nợ xấu Nợ xấu chỉ là chỉ tiêu phản ánh chấtlượng nghiệp vụ của ngân hàng
+ Chỉ tiêu nợ xấu: là chỉ tiêu cơ bản cho biết chất lượng một khoản cho vay: Chỉ tiêu nợ xấu = nợ xấu của tín dụng trung, dài hạn / tổng dư nợ tín dụng trung, dài hạn.
Đến kỳ hạn trả lãi tiền vay, nếu bên đi vay không đủ tiền để trả và không đượcgia hạn nợ thì ngân hàng sẽ chuyển số nợ đó sang nợ xấu
Nợ xấu là điều mà ngân hàng không hề mong muốn nhưng nó không phải làthước đo chuẩn để căn cứ vào đó đánh gía chất lượng tín dụng cuả món vay Trênthực tế các ngân hàng luôn tìm cách để hạ tỷ lệ nợ xấu tới mức thấp nhất có thể được
Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu của tín dụng trung và dài hạn / Tổng dư nợ tín dụng
Trang 26Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ nợ quá hạn của trung, dài hạn chiếm bao nhiêu phầntrăm trong tổng dư nợ tín dụng Tỷ lệ này không có hoặc càng nhỏ càng tốt.
+ Chỉ tiêu nợ xấu khó đòi:
=
Nếu tỷ lệ này cao thì nó phản ánh món vay của ngân hàng có chất lượng rất
thấp, hoạt động của ngân hàng không có hiệu quả Vì vậy chỉ tiêu này không cóhoặc càng thấp càng tốt
Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động và tổng nguồn vốn
+ Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động
Chỉ tiêu này đánh giá khả năng việc sử dụng vốn huy động vào việc cho vayvốn Thông thường khi nguồn vốn huy động ở ngân hàng chiếm tỷ lệ thấp so vớitổng nguồn vốn sử dụng thì dư nợ thường gấp nhiều lần so với vốn huy động Nếungân hàng sử dụng vốn cho vay phần lớn từ cấp trên thì không hiệu quả bằng nguồnvốn huy động được Do vậy, tỷ lệ này càng gần 1 thì càng tốt cho hoạt động ngânhàng
Ta có công thức:
Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động = x 100%
+ Tỷ lệ dư nợ trên tổng nguồn vốn
Chỉ tiêu này cho biết tỷ trọng đầu tư vào cho vay của ngân hàng so với tổngnguồn vốn, hay là dư nợ cho vay chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng nguồn vốn
sử dụng của ngân hàng
Ta có công thức:
Tỷ lệ dư nợ trên tổng nguồn vốn = x 100%
Chi tiêu lợi nhuận:
Gồm lợi nhuận từ hoạt động tín dụng và tổng lợi nhuận, chỉ tiêu này phản ánhvai trò, vị trí của tín dụng trung và dài hạn đối với hoạt động tín dụng ngân hàng
Trang 271.2.4.4 Những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung và dài hạn
Những nhân tố khách quan
- Môi trường kinh tế:
Môi trường kinh doanh còn chưa ổn định Các chính sách kinh tế về quản lý
vĩ mô của Nhà nước ta đang trong quá trình đổi mới và hoàn thiện, đòi hỏi phải thậtnăng động, nhiều doanh nghiệp chưa điều chỉnh kịp kế hoạch kinh doanh với sựthay đổi của chính sách kinh tế vĩ mô hoặc có trường hợp ngộ nhận nhu cầu thịtrường dẫn đến phát triển tràn lan quá mức Ví dụ về các trường hợp phát triển ximăng, mía đường, gốm sứ xây dựng, gạch cao cấp…vẫn còn đang rất nóng hổi Vìthế có nhiều doanh nghiệp bị thua lỗ do không theo kịp với quá trình thay đổi chínhsách quản lý kinh tế mà hậu quả là ngân hàng cho vay phải gánh chịu Sự biến động
vể chính trị, thay đổi về chính quyền cũng tác động đến niềm tin của dân chúng, củacác nhà đầu tư qua đó ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng
Môi trường kinh tế dù thay đổi theo chiều hướng nào cũng tác động tới chấtlượng tín dụng của ngân hàng Nếu sự thay đổi theo chiều hướng tốt thì chất lượngcác khoản tín dụng sẽ được nâng cao Ngược lại thì sẽ làm chất lượng tín dụng xấu
đi ngoài ý muốn Ví dụ khi nền kinh tế có hiện tượng lạm phát tăng vọt, giá cả đồngtiền giảm sút, chỉ số giá cả tăng nhanh gây khó khăn cho SXKD, tác động đến khả
Trang 28năng thu hồi nợ của ngân hàng…
Nói như vậy không có nghĩa là chỉ môi trường kinh tế trong nước này thay đổi
sẽ tác động đến chất lượng tín dụng trung, dài hạn mà môi trường kinh tế thế giớicũng gây ảnh hưởng không nhỏ, đặc biệt là đối với doanh nghiệp hoạt động xuấtnhập khẩu
- Môi trường chính trị - xã hội
Một quốc gia có môi trường chính trị lành mạnh, ổn định là điều kiện thuận lợi
để phát triển kinh tế Bất cứ một sự biến động nào về chính trị cũng dẫn tới sự xáođộng tới toàn bộ nền kinh tế Đối với Ngân hàng, nó ảnh hưởng trực tiếp tới việchuy động vốn, cho vay và đầu tư vốn của ngân hàng điều đó làm ảnh hưởng tới chấtlượng tín dụng
- Môi trường pháp lý
Các nhân tố pháp lý bao gồm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật Tính đầy đủ
và thống nhất của các văn bản dưới luật, đồng thời gắn liền với quá trình chấp hànhpháp luật và trình độ dân trí
Môi trường pháp lý tạo hành lang cho kinh doanh tín dụng ngân hàng, ngânhàng hoạt động trong hành lang hẹp được kiểm soát chặt chẽ bởi Nhà nước vì đây làlĩnh vực quan trọng và nhạy cảm cần phải kiểm soát hậu quả của nó, tuy vậy khôngphải là không cần còn nhiều bất cập Hiện nay, điều kiện cho vay đặc biệt là cácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh gần như là bắt buộc phải thế chấp tài sản trong khi
đó chúng ta chưa có luật về quyền sở hữu nên không có cơ quan nào chịu tráchnhiệm cấp chứng thư sở hữu tài sản và quản lý quá trình chuyển dịch sở hữu tài sản
Vì thế, trong nhiều trường hợp ngân hàng khó xác định được chủ sở hữu tài sản đó,hoặc phải lấy chứng nhân của cơ quan nào về nguồn gốc tài sản thế chấp, cầm cốhoặc nguồn gốc số tiền trả là hợp pháp Mặt khác, pháp luật cho phép các doanhnghiệp thế chấp giấ trị quyền sử dụng đất nhưng phải có điều kiện gắn với tài sảnthuộc quyền sở hữu của chính mình cho nên quy định này khó có thể áp dụng đốivới các doanh nghiệp Nhà nước
Các yêu cầu của pháp luật về tranh chấp giải quyết tố tụng về hợp đồng kinh
tế, hợp đồng dân sự về phát mại tài sản, bán đấu giá còn chưa rõ ràng cụ thể Có vănbản thì qui định cho ngân hàng quyền phát mại tài sản trên đất để thu hồi vốn và lãi,
có văn bản thì qui định ngân hàng có quyền yêu cầu bán đấu giá tài sản thế chấp (cảquyền sử dụng đất - Điều 359 BLDS) Nhưng đến nghị định 86/ Chính phủ thì ngân
Trang 29hàng không có quyền phát mại, bán đấu giá tài sản cầm cố, thế chấp Viếc bán đấugiá quyền sử dụng đất phải có sự chấp nhận của UBND cấp có thẩm quyền chophép Thời gian khởi kiện vụ án kinh tế quá dài, tố tụng về hợp đồng kinh tế, hợpđồng dân sự thì rườm rà, phức tạp Quy định về việc vô hiệu hoá hợp đồng quárộng, các biện pháp cưỡng chế dân sự để thu hồi tài sản trả cho ngân hàng còn chưađầy đủ và tính khả thi trong thực tế còn chưa cao Thực chất là các ngân hành cònrất ngại khởi kiện tranh tụng về kinh tế và dân sự Đặc biệt là pháp luật chưa quyđịnh rõ cụ thể trách nhiệm của người trực tiếp cầm tiền, người sử dụng tiền vay đểngăn chặn hành vi lừa đảo, lẫn lộn trách nhiệm của người vay với trách nhiệm củacán bộ ngân hàng, đồng thời còn rất khó phân biệt giữa kinh tế với dân sự, hình sự.Pháp luật là một bộ phận không thể thiếu ở bất kỳ nền kinh tế nào Không cópháp luật hoặc các chính sách luật ban hành không phù hợp thì sẽ làm cho nền kinh
tế gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, nếu hệ thống pháp luật ban hành không đầy đủ,không đồng bộ, các văn bản dưới luật còn thiếu và có những vấn đề mâu thuẫnchồng chéo trong khi thực hiện và chưa đồng bộ với các ban, ngành, đơn vị cóliên quan đến hoạt động tín dụng thì có ảnh hưởng mạnh đến chất lượng hoạtđộng tín dụng
- Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng đi đúng quỹ đạo,
nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của mọi ngân hàng Mọi chính sách tíndụng đứng đắn sẽ thu hút được nhiều ngân hàng, đảm bảo khả năng sinh lời củahoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, đường lối chínhsách của Nhà nước và đảm bảo công bắng xã hội Ngược lại, nếu chính sách tíndụng không hợp lý, chồng chéo sẽ gây khó khăn cho ngân hàng khi thực hiệnnghiệp vụ tín dụng
- Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên có một ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng tín dụng củangân hàng nói chung đặc biệt là tín dụng trung, dài hạn nói riêng bởi vì thiên tai làmột yếu tố bất khả kháng làm cho vốn ngân hàng đầu tư vào các doanh nghiệp sẽ ítnhiều bị ảnh hưởng và dẫn tới rủi ro làm giảm chất lượng tín dụng
Những nhân tố chủ quan
a Về phía khách hàng
- Năng lực của khách hàng
Trang 30Không một khách hàng nào khi đi vay lại không mong muốn đem lại hiệu quảnhưng nhiều khi do năng lực có hạn nên họ không thực hiện được ý đồ của mình.
Do hạn chế về khả năng, họ không dự đoán được sự lên xuống của nhu cầu thịtrường hoặc do yếu kém trong quản lý, trong việc giới thiệu, quảng cáo sản phẩmhoạt động của doanh nghiệp không thể phát triển hoặc do thiếu kinh nghiệm trênthương trường mà doanh nghiệp dễ bị gục ngã trong cạnh tranh…Tất cả những điều
đó khiến chất lượng tín dụng bị ảnh hưởng ngoài ý muốn của cả ngân hàng lẫnkhách hàng
- Sự trung thực của khách hàng
Nếu khách hàng trung thực, sử dụng vốn vay đúng mục đích thì xác suất xảy rarủi ro sẽ giảm đi đáng kể vì tính khả thi của dự án cũng được ngân hàng thẩm địnhmột cách kỹ càng trước khi ra quyết định cho vay Nhưng việc sử dụng sai mục đíchcủa khách hàng đã góp phần không nhỏ vào việc đổ bể của các tổ chức tín dụng.Chẳng hạn như sử dụng vốn vay vào tài sản cố định, vào BĐS, sau đó các tàisản này bị sụt giá dẫn đến việc doanh nghiệp không trả được nợ cho ngân hàng Cácdoanh nghiệp còn chiếm dụng vốn lẫn nhau dẫn đến các doanh nghiệp làm ănnghiêm chỉnh gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng
- Rủi ro trong việc kinh doanh của khách hàng
Rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp sẽ xảy ra nếu việc tính toán triểnkhai dự án đầu tư SXKD của doanh nghiệp không khoa học, không thực hiện kỹcàng…Tuy nhiên trong một số trường hợp cho dù phương án SXKD của người đivay đã được tín toán một cách chi tiết, khoa học, chính xác đến một cách tối đa thicông việc đầu tư vẫn luôn chứa đựng khả năng xảy ra rủi ro do những thay đổi bấtngờ ngoài ý muốn và bất khả kháng của các điều kiện SXKD, gây tác động xấu đếncông việc làm ăn, mang lại rủi roc ho doanh nghiệp Ví dụ doanh nghiệp phải gánhchịu thiệt hại do sự biến động của thị trường cung cấp như: khi giá cả nguyên vậtliệu tăng vọt làm tăng giá thành công xưởng của sản phẩm, nếu giá bán của sảnphẩm không thay đổi dẫn đến làm cho thu nhập tạo ra trên một sản phẩm giảm, làmgiảm tổng lợi nhuận được của dự án, ảnh hưởng xấu đến việc trả nợ của ngân hàng.Nếu đảm bảo thu nhập của mình, doanh nghiệp nâng giá bán sản phẩm của mình lênthì điều này sẽ làm cho việc tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn, khả năng thu hồi vốnsản xuất bị chậm chễ, dễ dàng vi phạm việc trả nợ ngân hàng về mặt thời hạn
b Về phía ngân hàng
Trang 31* Công tác thẩm định
Tín dụng trung, dài hạn được tiến hành chủ yếu dựa trên các dự án đẩu tư.Muốn xem xét dự án có độ tin cậy để có thể cho vay được hay không, ngânhàng cần tiến hành thẩm định dự án đầu tư
- Thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức, xem xét một cách khách quan, khoahọc và toàn diện các nội dung cơ bản có ảnh hưởng đến các công cuộc đầu tư để raquyết định đầu tư và cho phép đầu tư
Mục đích của việc thẩm định dự án đầu tư là nhằm giúp ngân hàng rút ra kếtluận chính xác về tính khả thi, hiệu quả kinh tế, khả năng tài trợ và những rủi ro cóthể xảy ra của dự án để đưa ra quyết định cho vay hoặc từ chối cho vay
Thông qua công tác thẩm định, ngân hàng sẽ phát hiện, bổ sung thêm nhữnggiải pháp nâng cao tính khả thi của dự án đồng thời làm cơ sở để xác định số tiềncho vay, thời gian cho vay, mức thu nợ hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho doanhnghiệp hoạt động có hiệu quả
- Thẩm định tín dụng một cách kỹ càng, đúng quy định sẽ góp phần làm giảmnhững rủi ro, giúp ngân hàng thu được lợi nhuận và đảm bảo tính ổn định của cáckhoản vay Công tác thẩm định tập trung ở hai nội dung:
Thẩm định toàn diện các nôi dung của luận chứng kinh tế, kỹ thuật, báo cáokinh tế của các dự án tiền khả thi
Thẩm định toàn diện tình hình SXKD, tình hình tài chính của doanh nghiệp.Bước đầu tiên của thẩm định dự án là phải thu thập thông tin sau đó sẽ tiếp đếntiến hành phân tích những thông tin đó Những thông tin thu thập phải đồng bộ, từnhiều nguồn khác nhau như:
- Thẩm định về phương diện thị trường:
+ Kiểm tra cân đối cung cầu về sản phẩm của dự án, tùy theo phạm vi tiêu thụsản phẩm ở trong nước hay xuất khẩu:
Nhu cầu của thị trường dự báo mức độ gia tăng
Sản phẩm có khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường về cả khối lượng và chấtlượng
Đánh giá những sản phẩm có khả năng thay thế của dự án trong tương lai, độbền của nhu cầu sử dụng sản phẩm thay thế
Khả năng đáp ứng các nguồn cung cấp đầu vào: tính ổn định và tính thường
Trang 32xuyên của nguồn cung ứng.
+ Căn cứ vào khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp về sản phẩm:
Ưu thế tương đối của sản phẩm do dự án sản xuất về: giá thành, chất lượng,mẫu mã, điều kiện lưu thông và tiêu thụ
Khả năng và uy tín của doanh nghiệp trong quan hệ thị trường về sản phẩm,kênh phân phối, khả năng nắm bắt thông tin
Những con số cụ thể về khả năng tiêu thụ sản phẩm trong quá khứ và tương lai
- Thẩm định về phương diện kỹ thuật:
+ Xem xét việc lựa chọn địa điểm, mặt bằng xây dựng dự án, lựa chọn hìnhthức đầu tư và công suất của dự án
+ Khai thác tiềm năng sẵn có lâu dài, có khả năng đáp ứng nhu cầu cần thiết,tối ưu hóa hiệu quả của dự án
+ Nhu cầu về dây chuyền công nghệ và lựa chọn thiết bị máy móc, khả năngtìm kiếm, lựa chọn công nghệ thích hợp, kiểm tra tính pháp lý của hợp đồng chuyểngiao công nghệ
+ Thẩm định tiến độ thực hiện của dự án
+ Vốn xây lắp: thường được tính toán trên cơ sở khối lượng công tác xây lắp
và đơn gía xây lắp tổng hợp hay xuất vốn đầu tư
+ Vốn thiết bị: căn cứ vào danh mục thiết bị để kiểm tra giá cả mua và chi phívận chuyển, bảo quản theo quy định của nhà nước Đối với nhũng thiết bị đượcchuyển giao công nghệ thì tính cả chi phí chuyển giao công nghệ
+ Vốn thiết bị cơ bẩn khác: cần tính tới nhu cầu vốn lưu động ban đầu và nhucầu bổ sung vốn lưu động và những khoản mục chi phí cần thiết khác
Trang 33Dựa trên những tính toán cơ bản thì chủ dự án có trách nhiệm bỏ một phầnvốn tự có của mình vào tổng khoản vay và đó được coi là điều kiện cần đảm bảo về
uy tín và độ an toàn, phòng tránh rủi ro của khoản tín dụng trung, dài hạn
- Tiến độ bỏ vốn đầu tư: có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là đối với nhữngcông trình có thời gian xây dựng dài, cần phải phân bổ tiến độ bỏ vốn theo giai đoạnthích hợp để tạo điều kiện vốn cho hoạt động của ngân hàng
- Yếu tố quyết định trực tiếp cho việc lựa chọn cho vay hay không chính làkhả năng sinh lợi của dự án vì ngân hàng cũng là một đơn vị SXKD nên họ cũng phảiquan tâm đến lợi nhuận của dự án Vì vậy, trước khi bỏ vốn đầu tư, khách hàng vàngân hàng thường tiến hành thẩm định tính khả thi của dự án qua một số chỉ tiêu sau:+ Khả năng thu nhập của dự án trên doanh thu và chi phí vận hành hàng nămcủa dự án
Doanh thu thuần = Doanh thu toàn bộ - Thuế VAT
Tỷ suất lợi nhuận = x 100%
Nếu tỷ suất lợi nhuận của dự án > lãi suất tiền gửi thì nên đầu tư
+ Thời gian hoàn vốn: là số năm mà dự án cần thiết phải hoạt động để tổng sốlợi nhuận và khấu hao thu được bù đắp số vốn đầu tư bỏ ra ban đầu
Thời gian hoàn vốn =
Thời gian hoàn vốn phản ánh hiệu quả của đầu tư, thời gian hoàn vốn càngnhanh thì hiệu quả đầu tư càng có hiệu quả
Ngoài các công tác thẩm định nêu trên, ngân hàng còn phải thẩm định độ nhạycủa dự án đối với sự thay đổi của các yếu tố, lãi suất tỷ giá, xu thế biến động củanền kinh tế…
Ngân hàng còn phải tiến hành thẩm định khách hàng vay vốn bao gồm: thunhập và phân tích tài liệu trong hồ sơ cho vay, phân tích tài chính khách hàng: phântích tình hình tài chính qua các năm, phân tích các chỉ số tác nhân chung để đánhgiá doanh nghiệp… và đưa ra đánh giá, kết luận tổng quát về tình hình tài chính,SXKD của khách hàng
Tóm lại, do đặc điểm của tín dụng trung, dài hạn là thời gian dài, độ rủi ro caonên công tác thẩm định theo đúng và đầy đủ các trình tự nêu trên thì sẽ góp phầnnâng cao chất lượng món vay và đảm bảo an toàn cho bản thân ngân hàng
* Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng của một ngân hàng là kim chỉ nan cho hoạt động tín dụng
Trang 34của ngân hàng đó Bên cạnh việc phải phù hợp với đường lối phát triển của nhànước thì chính sách tín dụng còn phải đảm bảo kết hợp hài hòa quyền lợi của ngườigửi tiền, người đi vay và quyền lợi của chính bản thân ngân hàng Một chính sáchtín dụng đồng bộ, thống nhất và đầy đủ, đúng đắn sẽ xác định đúng đắn sẽ xác địnhphương hướng đúng đắn cho cán bộ tín dụng Ngược lại, sẽ dẫn đến việc cấp tíndụng không đúng đối tượng tạo kẽ hở cho người sử dụng vốn hiệu quả đem lại hiệuquả kinh tế, dẫn đến rủi ro tín dụng.
Ví dụ về chính sách lãi suất, khi lãi suất cho vay quá cao thì khách hàng sẽkhông đến vay ngân hàng, ngân hàng sẽ bị ứ đọng vốn gây một hậu quả tồi tệ đếnhoạt động của ngân hàng Ngược lại, nếu lãi suất cho vay quá thấp thì sẽ có rấtnhiều khách hàng đến vay và lúc này ngân hàng khó có khả năng đáp ứng hết khảnăng về vốn trung, dài hạn cho khách hàng vì hiện nay tỷ trọng khoản tiền gửitrung, dài hạn so với tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng là không lớn Mặtkhác, lãi suất cho vay thấp dẫn tới việc ngân hàng không bù đắp được việc phải trảlãi tiền gửi và lãi suất tiền gửi…
* Chất lượng nhân sự
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong quản lý vốn tín dụng nóiriêng cũng như trong hoạt động của ngân hàng nói chung Việc tuyển chọn có đạođức nghề nghiệp tốt, có tinh thần trách nhiệm, tâm huyết với nghề giỏi chuyên môn,
am hiểu và có kiến thức phong phú về thị trường đặc biệt trong lĩnh vực tham giađầu tư vốn, nắm vững những văn bẩn pháp luật có liên quan đến hoạt động tín dụng,
có năng lực và phân tích xử lý dự án cho vay, đánh giá tài sản thế chấp, giám sát sốtiền cho vay ngay từ khi cho vay đến khi thu hồi được nợ hoặc xử lý xong món nợtheo quy định của ngân hàng … sẽ giúp cho ngân hàng ngăn ngừa được những saiphạm có thể xảy ra khi thực hiện chu kỳ khép kín của một khoản tín dụng Tuynhiên với những cán bộ không được đào tạo đầy đủ, không am hiểu về ngành kinhdoanh mà mình đang tài trợ, trong khi ngân hàng không đủ các số liệu thống kê, cácchỉ tiêu để phân tích, so sánh, đánh giá vai trò vị trí của doanh nghiệp trong ngành,khả năng thị trường hiện tại và tương lai, chu kỳ, vòng đời sản phẩm…dẫn đến việcxác định sai hiệu quả các dự án đi vay làm rủi ro tín dụng ngân hàng
Ngoài trình độ chuyên môn nghiệp vụ, cán bộ tín dụng cần có sự hiểu biếtrộng về pháp luật, môi trường kinh tế xã hội, đường lối phát triển của đất nước, củathị trường…dự đoán trước được những biến động có thể xảy ra từ đó tư vấn cho
Trang 35khách hàng xây dựng lại phương án kinh doanh cho phù hợp Nghiệp vụ ngân hàngcàng phát triển đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao để sử dụng các phươngtiện, phương pháp làm việc hiện đại thích ứng với sự phát triển không ngừng của xã
hộ Cán bộ tín dụng giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có đạo đức về nghề nghiệp và
sự hiểu biết rộng chinh là cơ sở để nâng cao chất lượng tín dụng trong hoạt độngcủa ngân hàng
* Công tác tổ chức của ngân hàng
Công tác tổ chức không chỉ tác động tới chất lượng tín dụng mà còn tác độngtới mọi hoạt động của ngân hàng Nếu công tác tổ chức không khoa học sẽ ảnhhưởng đến thời gian ra quyết định các món vay, không đáp ứng kịp thời các yêu cầukhách hàng, không theo dõi sát sao công việc
Sự phân công công việc nếu không hợp lý, khoa học sẽ dẫn đến sự không rõràng, chồng chéo khiến cho các cán bộ tín dụng ỷ lại, thiếu trách nhiệm đối vớicông việc của mình Công tác tổ chức ở đây cũng đề cập đến vấn đề giao việc đúngngười đúng việc Mỗi một cán bộ được giao công việc phù hợp để có thể phát huykhả năng và giữa các bộ phận cần có sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ để công việctiến hành nhanh chóng, chính xác Nếu được tổ chức tốt, các công việc đối với mộtmón vay sẽ được thực hiện tuần tự, chặt chẽ, vừa đảm bảo về mặt thời gian vừakhông có sự sơ hở nên sẽ làm cho chất lượng của món vay được nâng cao
* Thông tin tín dụng
Thông tin tín dụng là yếu tố cơ bản trong quản lý tín dụng theo nghĩa rộng.Nhờ có thêm thông tin tín dụng, ngân hàng có thêm cơ sở để đánh giá uy tín , nănglực thực sự của khách hàng Những thông tin chính xác về khách hàng sẽ giúp íchrất nhiều cho ngân hàng trong những công việc có liên quan đến việc cho vay, theodõi và quản lý tiền vay Thông tin càng chính xác, kịp thời, đầy đủ và toàn diện thìcông tác tín dụng của ngân hàng càng được thực hiện tốt và các rủi ro sẽ được hạnchế ở mức thấp nhất có thể, chất lượng tín dụng được nâng cao hơn Tuy nhiên nếuthiếu thông tin tín dụng hoặc thông tin không chính xác, kịp thời chưa có phân loạidanh sách doanh nghiệp, chưa có sự phân tích đánh giá doanh nghiệp một cáchkhách quan, đúng đắn sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng cao làm giảm chất lượng tín dụng
của ngân hàng.
* Các yếu tố khác
Tình hình huy động vốn cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung, dài
Trang 36hạn Vốn huy động trung và dài hạn là nguồn chủ yếu để cho vay trung, dài hạn.Vốn ngân hàng càng lớn, ngân hàng càng có khả năng cho vay những dự án có quy
mô lớn, mở rộng hoạt động thẩm định Nếu ngân hàng sử dụng nguồn vốn có kỳhạn ngắn hơn mà kỳ hạn ngân hàng cho vay đối với khách hàng mà không dự kiếnđược nguồn vốn bù đắp thì rủi ro thanh khoản sẽ xảy ra Tương tự như vậy, nếungân hàng cho vay dài với lãi suất cố định trong khi lãi suất huy động thường xuyênthay đổi thì tiền thu được từ cho vay có khi không đủ trả lãi tiền gửi cho kháchhàng
Công tác phát triển tiền vay, kiểm soát sau khi cho vay, theo dõi nợ góp phầnngăn chặn, hạn chế khách hàng sử dụng tiền vay sai mục đích, đảm bảo đồng vốnđược sử dụng đúng kế hoạch đã định
Trang 37
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TRUNG- DÀI HẠN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN TỈNH LẠNG SƠN
2.1 Khái quát về chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh Lạng Sơn 2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh Lạng Sơn
2.1.1.1 Giai đoạn Ngân hàng Kiến thiết ( 1957-1981)
- Ngày 01/7/1960 thành lập phòng Cấp phát Kiến thiết cơ bản, trực thuộc Ty
Tài chính tỉnh Lạng Sơn Lúc này có 7 đến 10 cán bộ nhân viên, một số từ bộ độichuyển ngành, hầu hết chưa được đào tạo qua trường lớp
- Tháng 05/1965, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hoàng Anh đã ký Quyết định
số 128/TC –QĐTCCB thành lập Chi nhánh Ngân hàng Kiến thiết tỉnh LạngSơn (Chi nhánh Ngân hàng Kiến thiết Lạng Sơn thành lập ngày 5/6/1965) vàsáp nhập phòng Cấp phát Kiến thiết cơ bản thuộc Ty Tài chính tỉnh Lạng Sơnvào Ngân hàng Kiến thiết
Lúc này còn có Chi điếm Ngân hàng Kiến thiết khu vực Hữu Lũng - Chi Lăng(làm nhiệm vụ quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản ở 2 huyện Chi Lăng, HữuLũng ) do Tháng 6/1968 thành lập Chi điếm Ngân hàng Kiến thiết khu vực VănLãng - Tràng Định ( quản lý và phục vụ vốn xây dựng cơ bản 2 huyện Văn Lãng vàTràng Định)
- Tháng 02/1976, hợp nhất 2 tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng, Chi nhánh Ngân
hàng Kiến thiết tỉnh Cao Lạng được thành lập và trụ sở đặt tại tỉnh lỵ Thị xã CaoBằng
Ở Lạng Sơn có Chi nhánh Ngân hàng Kiến thiết khu vực thị xã Lạng Sơn (làmnhiệm vụ quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản các công trình khu vực thị xã và cáchuyên biên giới)
- Tháng 02/1979 tách tỉnh Cao Lạng thành 2 tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng, Chinhánh Ngân hàng Kiến thiết tỉnh Lạng Sơn được thành lập trở lại
Thời kỳ này, Chi nhánh Ngân hàng Kiến thiết tỉnh đóng trụ sở tại Đồng Bànhhuyện Chi Lăng - Lạng Sơn và thành lập Chi nhánh Ngân hàng Kiến thiết khu vựcthị xã Lạng Sơn đồng thời với Chi nhánh Ngân hàng Kiến thiết khu vực Hữu Lũng– Chi Lăng đã có từ trước