1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 2 dân tộc Nùng ở tỉnh Lạng Sơn

103 258 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống các dạng bài tập mở rộng vốn từ trong chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học.. Trong thực tế, ở các vùng dân tộc miền núi, đặc biệt là ở vùng núi phía Bắc, tính đến

Trang 1

Ở TỈNH LẠNG SƠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng cảm sâu sắc đến cô giáo Ts: Nguyễn Thu Hương, người đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ chúng em trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học cùng các thầy cô của trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 – những người thầy, người cô luôn nhiệt tình giảng dạy, không chỉ truyền thụ những kiến thức mà thầy cô còn cho chúng em những kinh nghiệm sống trong suốt quá trình học tập tại trường Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong thư viện nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em trong quá trình tìm tòi

và nghiên cứu đề tài

Qua đây, em xin gửi lời cảm ơn tới cô giáo chủ nhiệm và các em học sinh lớp 2A trường Tiểu học Thượng Cường – Chi Lăng – Lạng Sơn đã tạo điều kiện cho em trong quá trình thực hiện đề tài

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến bố mẹ của em – người đã luôn lo lắng, quan tâm và động viên em vượt qua mọi khó khăn trong suốt thời gian

em học tập xa nhà

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến những người bạn – những người đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ và quan tâm em trong suốt thời gian vừa qua

Em xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Người thực hiện

TRIỆU THU THỦY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.Những kết quả và các

số liệu trong luận văn chưa được công bố dưới bất cứ hình thức nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này

Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Người thực hiện

TRIỆU THU THỦY

Trang 5

MỤC LỤC

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 5

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Bố cục của khóa luận 5

Phần 2 NỘI DUNG 7

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 2 DÂN TỘC NÙNG TỈNH LẠNG SƠN 7

1.1 Một số vấn đề về từ và vốn từ ở tiếng Việt 7

1.1.1 Khái niệm từ tiếng Việt 7

1.1.2 Phân loại từ 8

1.1.3 Ý nghĩa của từ 11

1.1.4 Vốn từ tiếng Việt 15

1.1.5 Mở rộng vốn từ cho học sinh 16

1.2 Hệ thống các dạng bài tập mở rộng vốn từ trong chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học 18

1.2.1 Dạng bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm 18

1.2.2 Dạng bài tập mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa 20

1.2.3 Mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo từ 22

1.2.4 Dạng bài tập về nghĩa của từ 23

Trang 6

1.3 Thực trạng vốn từ của học sinh và việc dạy học mở rộng vốn từ cho học

sinh lớp 2 dân tộc Nùng ở tỉnh Lạng Sơn 23

1.3.1 Mục đích điều tra 23

1.3.2 Đối tượng và địa bàn điều tra 23

1.3.3 Nội dung điều tra 24

1.3.4 Phương pháp điều tra 24

1.3.5 Thời gian điều tra thực trạng 24

1.3.6 Phân tích và đánh giá kết quả điều tra 24

1.4 Đặc điểm học sinh tiểu học 37

1.4.1 Đặc điểm học sinh lớp 2 37

1.4.2 Đặc điểm của học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số 39

Chương 2: BIỆN PHÁP MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 2 DÂN TỘC NÙNG CỦA TỈNH LẠNG SƠN VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 41

2.1 Mục đích đề xuất các biện pháp 41

2.2 Nguyên tắc đề xuất 41

2.2.1.Nguyên tắc hệ thống 41

2.2.2 Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp 42

2.2.3 Nguyên tắc hướng vào phát triển nhân cách và tư duy cho học sinh 44

2.2.4 Nguyên tắc kết hợp việc dạy tiếng Việt với dạy văn hóa và dạy Văn để phát triển ngôn ngữ 45

2.2.5 Nguyên tắc phát triển ngôn ngữ nói kết hợp với phát triển ngôn ngữ viết 46

2.3 Các biện pháp mở rộng vốn từ 47

2.3.1 Xây dựng hệ thống bài tập 47

2.3.2 Sử dụng trò chơi học tập và trò chơi dân gian 58

2.3.3 Sử dụng các kĩ thuât dạy học hiện đại 64

2.3.4 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa 71

Trang 7

2.3.5 Bồi dƣỡng nâng cao trình độ tiếng dân tộc cho giáo viên 73

2.3.6 Biện pháp phối hợp với phụ huynh học sinh 74

2.4 Thực nghiệm sƣ phạm 75

2.4.1 Mục đích thực nghiệm 75

2.4.2 Đối tƣợng và địa bàn thực nghiệm 75

2.4.3 Nội dung và giáo án thực nghiệm 75

2.4.4 Quy trình thực nghiệm 76

2.4.5 Tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm 76

2.4.6 Kết quả thực nghiệm 77

Phần 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81

3.1 Kết luận 81

3.2 Đề xuất và khuyến nghị 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 Phụ lục 1

Phụ lục 2

Trang 8

Phần 1: MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngôn ngữ là chìa khóa để chúng ta tiếp cận với thế giới xung quanh Vì thế, sự khác biệt về ngôn ngữ sẽ dẫn đến những khó khăn cơ bản trong việc giao tiếp Việt Nam là một quốc gia gồm nhiều thành phần dân tộc khác nhau, mỗi dân tộc đều mang một nét văn hoá riêng và đặc biệt là sử dụng ngôn ngữ riêng biệt Trong một quốc gia sự đa dạng về ngôn ngữ là điều thường gặp nhưng cần phải thống nhất để có một ngôn ngữ giao tiếp chung

Trong nhà trường phổ thông, tiếng việt có tầm quan trọng nhất định đối với khả năng lĩnh hội tri thức của học sinh tiểu học Tiếng Việt ngoài chức năng cung cấp cho học sinh những kiến thức căn bản về ngôn ngữ và vai trò của nó trong quá trình giao tiếp thì tiếng việt còn là một công cụ hỗ trợ đắc lực để học sinh có thể dễ dàng chiếm lĩnh những tri thức khoa học của các môn học khác trong cuộc sống Chính vì vậy, ngay từ bậc Tiểu học, học sinh cần phải được trang bị những kiến thức cần thiết về bộ môn này, mới có thể đáp ứng khả năng học tập của các môn khác

Trong cộng đồng các dân tộc thiểu số nước ta, tiếng Việt có vai trò quan trọng nhất đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Tiếng mẹ đẻ của các dân tộc thiểu số thường hạn chế trong môi trường gia đình và sinh hoạt văn hóa truyền thống Đây là một trong những trở ngại khiến cho tiếng Việt khó có điều kiện phát triển Trong thực tế, ở các vùng dân tộc miền núi, đặc biệt là ở vùng núi phía Bắc, tính đến nay tiếng phổ thông đã được phổ biến rộng rãi nhưng chất lượng, trình độ sử dụng tiếng Việt của học sinh tiểu học còn rất hạn chế, nhất là đối với học sinh giai đoạn đầu tiểu học Điều này thể hiện rõ qua khả năng nói và viết tiếng phổ thông của học sinh trong học tập và trong cuộc sống hàng ngày

Dân tộc Nùng là một trong những dân tộc thiểu số sống ở Việt Nam,

Trang 9

sống rải rác ở các vùng núi phía Bắc thường là các tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Kạn, Bắc Giang,…… Địa bàn cư trú chủ yếu là miền núi, dân cư thưa thớt, sinh sống chủ yếu ở các thôn bản khó khăn, chủ yếu là văn hóa dân tộc ít người, có rất ít sự giao thoa, tiếp thu văn hóa từ bên ngoài Mọi người giao tiếp chủ yếu bằng tiếng dân tộc vì vậy trước khi đến trường trẻ em dân tộc biết rất ít tiếng Việt, Trẻ thường rụt rè thiếu tự tin vào bản thân

Lớp 2 là giai đoạn đầu của tiểu học, các em dần phát triển về thể chất và

tư duy, do nhu cầu về sử dụng từ ngữ trong học tập và cuộc sống nhiều hơn

để mở rộng các mối quan hệ Hơn nữa mở rộng vốn từ ở lớp 2 để tạo nền tảng

để các em học tập tốt các môn học khác nói chung và môn tiếng Việt nói riêng ở các lớp, các cấp học tiếp theo

Từ các lí do trên, việc tìm ra các “ Biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 2 dân tộc Nùng của tỉnh Lạng Sơn ” là điều cấp thiết và cần làm

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Khoảng những năm 1920, từ tiếng Việt dưới dạng chữ Nôm là sự ảnh hưởng, tác động sâu sắc của chữ Hán Đến khi tiếng Việt được dùng với tư cách là chữ quốc ngữ thì tiếng Việt mới tiến được một bước đáng kể, trở thành ngôn ngữ giáo dục ở cấp tiểu học, mặc dầu tiếng Việt chưa thật sự có một chỗ đứng vững chắc trong lòng đời sống xã hội, lúc này thực dân Pháp thực thi nhiều chính sách nhằm làm lung lay bản sắc văn hóa của người dân Việt ta

Sau cách mạng tháng Tám 1945 tiếng Việt mặc dù đã có vị trí xứng đáng trong mọi mặt của đời sống xã hội nhưng ở nhà trường phổ thông vai trò của Tiếng vẫn chưa được khẳng định

Hiện nay ở hầu hết các trường sư phạm đã hình thành tương đối những lí thuyết về phương pháp giảng dạy tiếng Việt Bên cạnh đó có rất nhiều báo

Trang 10

cáo khoa học trong các cuộc hội thảo về phương pháp dạy học tiếng Việt đã giải quyết đáng kể một số tồn tại trong việc dạy – học bộ môn này

Riêng vấn đề phát triển vốn từ cho học sinh tiểu học, người dân tộc thiểu

số vẫn còn gặp nhiều khó khăn Trong những công trình nghiên cứu khoa học

có rất nhiều bài viết nghiên cứu về việc mở rộng vốn từ cho học sinh Bài viết của các tác giả Lý Toàn Thắng, Nguyễn Văn Lợi “Về sự phát triển của ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong thế kỉ XX” Bài viết đã đề cập đến những khía cạnh như: Đặc điểm về sự hình thành và phát triển cộng đồngcác dân tộc Việt Nam và lịch sử hình thành các ngôn ngữ dân tộc Việt Nam, đạc điểm về dân số - tộc người và địa lí - tộc người của ngôn ngữ dân tộc thiểu số Việt Nam, đặc điểm về phạm vi giao tiếp của ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam Các tác giả đã làm rõ một số vấn đề khá phức tạp của việc phát triển ngôn ngữ cho đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta, chỉ ra những tồn tại trong việc đưa tiếng phổ thông với đồng bào dân tộc thiểu số, để từ đó có những hoạch định trong tương lai Bên cạnh đó, các tác giả đã chỉ ra một số trở ngại , yếu kém, hạn chế cho sự phát triển ngôn ngữ và đề xuất một số giải pháp về xu thế thống hợp, quy tụ là là những xu thế chủ yếu trong sự phát triển ngôn ngữ DTTS ở nước ta, xóa dần sự khác biệt giữa các thổ ngữ, phương ngữ

Một số bài viết “Đời sống ngôn ngữ của người Dao ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hữu Hoành, Tạ Văn Thông, bài viết “ Ngôn ngữ trong giáo dục ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam” ( Tác giả Tạ Văn Thông – Viện ngôn ngữ học ), “Ngôn ngữ giao tiếp trên lớp học của giáo viên và học sinh tiểu học hiện nay ” (tác giả Đào Thản) Các bài viết đã có sự phân tích, đánh giá về tình trạng đa văn hóa, đa ngôn ngữ của các quốc gia Và để tránh tình trạng xung đột ngôn ngữ đẫn đến sự sung đột về dân tộc làm bất ổn chính trị, người ta phải chọn một ngôn ngữ làm ngôn ngữ chung, ngôn ngữ quốc gia

Trang 11

(ở Việt Nam tiếng Việt được coi là tiếng phổ thông – tiếng dùng chung của các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam

Về vấn đề dân tộc Nùng có một số bài viết nghiên cứu về đặc điểm văn hóa – xã hội dân tộc Nùng như cuốn “ Văn hóa Tày – Nùng ” của Lã Văn

Hô, Hà Văn Thư, NXB văn hóa xuất bản năm 1984 đã khái quat về xã hội, con người và văn hóa hai dân tộc Tày và Nùng Hay cuốn “ Dân tộc Nùng ở Việt Nam” của Hoàng Nam do NXB văn hóa dân tộc xuất bản 1992 đã phác họa một bức tranh toàn cảnh về kinh tế - xã hội, ghi nhận trình độ văn hóa, truyền thống kinh tế của dân tộc Nùng

Việc nghiên cứu về vấn đề dân tộc Nùng được đề cập đến nhiều trên các phương diện khác nhau Tuy nhiên việc nghiên cứu về việc dạy học mở rộng vốn từ cho các học sinh dân tộc Nùng vẫn rất hạn hẹp và được ít sự quan tâm của các nhà sư phạm Vì vậy chúng tôi thấy rằng việc nghiên cứu đề tài này vẫn tìm được hướng đi riêng nhằm tìm ra các biện pháp để mở rộng vốn từ cho học sinh dân tộc Nùng nhằm giúp các em học sinh dân tộc học tập tốt hơn

và tự tin vào khả năng giao tiếp của mình

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu vấn đề này để đề ra được các biện pháp mở rộng vốn từ cho hoc sinh lớp 2 dân tộc Nùng ở tỉnh Lạng Sơn , nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của cả giáo viên và học sinh, tạo không khí học tập sôi nổi, giúp học sinh tự tin vào khả năng giao tiếp của mình

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn vấn đề mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 2 dân tộc Nùng của tỉnh Lạng Sơn

Đề xuất một số biện pháp có tính khả thi nhằm giúp học sinh lớp 2 dân tộc Nùng của tỉnh Lạng Sơn mở rộng vốn từ của mình

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Trang 12

Vốn từ học sinh lớp 2 dân tộc Nùng của tỉnh Lạng Sơn

Hoạt động dạy học tiếng Việt ở Tiểu học

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 2 dân tộc Nùng tại trường Tiểu học xã Thượng Cường – huyện Chi Lăng – tỉnh Lạng Sơn

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Nghiên cứu sách, tài liệu liên quan đến đề tài, đọc và hệ thống hóa các

tài liệu liên quan đến cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu và các tài liệu liên quan đến việc mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 2 dân tộc Nùng

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp điều tra bằng phiếu điều tra trực tiếp trên giáo viên và học sinh ở điểm trường tiểu học xã Thượng Cường – huyện Chi Lăng – tỉnh Lạng Sơn

Phương pháp quan sát: Quan sát giờ dạy của giáo viên, các hoạt động của học sinh, cách sử dụng vốn từ của học sinh

Phương pháp trò chuyện- đàm thoại với giáo viên, phương phương pháp trò chuyện với học sinh

Phương pháp thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm định tính khả thi của các biện pháp đưa ra

Phương pháp phân tích – tổng hợp

Phương pháp thống kê toán học nhằm xử lý các kết quả thu được

8 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo khóa luận gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc mở rộng vốn từ cho

Trang 13

học sinh lớp 2 dân tộc Nùng tỉnh Lạng Sơn

Chương 2: Biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 2 dân tộc Nùng của tỉnh Lạng Sơn

Trang 14

Phần 2 NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 2 DÂN TỘC NÙNG

TỈNH LẠNG SƠN 1.1 Một số vấn đề về từ và vốn từ ở tiếng Việt

1.1.1 Khái niệm từ tiếng Việt

Trong tiếng Việt thì “ từ là cái quan trọng nhất” Ta có thể hiểu từ qua định nghĩa sau “ Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với mỗi kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [7]

Từ là đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độc lập tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu Hay nói cách khác, từ là một đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa, có tính chất độc lập tự do xuất hiện trong lời nói

có chức năng cú pháp là thành phần của câu hay là câu có một thành phần Từ

là một tín hiệu ngôn ngữ bao gồm 2 thành phần âm thanh và ý nghĩa Hai phần này có liên quan mật thiết và hỗ trợ cho nhau để biểu hiện ý nghĩa của con người Âm thanh mang tính vật chất có cấu tạo vật lý phức tạp Đơn vị nhỏ nhất của âm thanh là âm vị Âm thanh có liên quan mật thiết với ý nghĩa của từ, thể hiện mối quan hệ của từ với các sự vật, hiện tượng Từ không chỉ biểu thị các sự vật, hiện tượng , riêng lẻ mà biểu thị của một nhóm sự vật, hiện tượng tập hợp lại theo một dấu hiệu nhất định Chính vì vậy từ có tính chất khái quát

Nghĩa của từ chỉ thể hiện khi sử dụng các từ trong lời nói, nó không có tính ổn định, vì bản thân mối quan hệ của từ với các sự vật, hiện tượng , có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh giao tiếp cụ thể

Ý nghĩa của từ là mối quan hệ của từ với ý thức con người về các sự vật

Trang 15

hiện tượng Cơ sở để xây dựng ý nghĩa của từ là biểu tượng và khái niệm , đó

là hình thức phản ánh của con người về các sự vật , hiện tượng

Như vậy , từ là cơ sở hay vật liệu cơ bản để xây dựng ngôn ngữ, mỗi con người có được một ngôn ngữ nào đó chính là họ tập hợp được những từ, hay nói cách khác là họ có một vốn từ vựng của một ngôn ngữ Do vậy, từ vựng chính là vốn từ của một ngôn ngữ Nói cách khác, từ vựng là tập hợp tất

cả các từ ngữ cố định trong một ngôn ngữ theo một hệ thống nhất định Vì thế , một trong những nhiệm vụ của từ vựng học là nghiên cứu vốn từ vựng của ngôn ngữ

Những điều được trình bày ở trên về từ , là cơ sở lý thuyết quan trọng giúp ta hiểu sâu sắc nội dung các bài mở rộng vốn từ trong sách giáo khoa (SGK) Thiếu cơ sở đó chúng ta khó có thể tổ chức học sinh phát huy được khả năng mở rộng vốn từ , trau dồi bổ sung, phát triển thêm từ ngữ mới vào vốn từ của bản thân Bởi vì , có quan niệm đúng về bản chất của từ thì mới có

ý thức phát triển vốn từ, mới sử dụng từ trong giao tiếp đạt hiệu quả

1.1.2 Phân loại từ

Có thể phân chia các từ tiếng Việt dựa vào:

Dựa vào đặc điểm cấu tạo của từ, từ được chia thành từ đơn và từ phức

Từ đơn: “ là từ một hình vị Về mặt ngữ nghĩa chúng không lập thành

những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa của từng từ một riêng rẽ Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ.” [ 7 ]

Ví dụ: nước, cơm, cây…

Từ phức: là từ được cấu tạo từ hai tiếng trở lên

Từ phức được chia làm hai loại là từ ghép và từ láy

“ Từ ghép khác với các từ láy trong đó một hình vị ( hình vị láy ) được sản sinh từ hình vị kia ( hình vị cơ sở ), từ ghép được sản sinh do sự kết hợp

Trang 16

hai hoặc một số hình vị ( hay đơn vị cấu tạo ) tách biệt, riêng rẽ, độc lập đối với nhau.” [ 7 ]

Từ ghép : là những từ có cấu tạo từ hai tiếng trở lên, giữa các tiếng có quan hệ với nhau về mặt nghĩa

Căn cứ vào quan hệ mặt nghĩa giữa các tiếng trong từ ghép, người ta chia làm hai loại: từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ

Ví dụ: sách vở, bàn ghế, quần áo ( từ ghép đẳng lập )

Xe đạp, lốp xe ( từ ghép chính phụ )

“ Từ láy là từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo qui tắc biến thanh, tức là qui tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm: nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [ 7 ]

Chúng ta có thể hiểu từ láy: là những từ được cấu tạo bởi hai tiếng trở lên, giữa các tiếng có quan hệ với nhau về mặt âm Trong từ láy chỉ có một tiếng gốc có nghĩa, các tiếng khác láy lại tiếng gốc

VD: Lung linh, xinh xinh, đo đỏ

Từ láy chia ra làm hai loại: Láy bộ phận ( láy âm và láy vần) và láy toàn

bộ

Dựa vào đặc điểm ngữ pháp có thể phân chia từ thành: danh từ, động từ, tính

từ, đại từ, số từ, phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ

Danh từ: là các từ được dùng để gọi tên người hay sự vật, khái niệm, hiện tượng Mọi thứ chúng ta thấy hoặc có thể đề cập đến đều được giới thiệu bằng một từ đặt tên cho nó – từ đó được gọi là danh từ Có nhiều từ được dùng để chỉ: người - động vật - nơi chốn - đồ vật - loại vật chất - đặc tính - hành vi - sự/đơn vị đo lường

Ví dụ: sách, vở, giáo viên, bạn, cây hoa…

Trang 17

Động từ: là các từ biểu thị ý nghĩa hoạt động, quá trình, trạng thái của đối tượng tồn tại trong thế giới khách quan

Ví dụ: đi, bơi, học, làm, cắt, chặt, quăng, trồng, vẽ

Tính từ: là những từ chỉ đặc điểm, tính chất của sự vật, hành động, trạng thái của đối tượng

Ví dụ: xanh, nhanh, chậm, cứng, vàng, xấu, tròn…

Đại từ là những từ dùng để xưng hô hay để thay thế danh từ, động từ, tính từ

( hoặc cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ ) trong câu cho khỏi lặp lại các

từ ngữ ấy

Ví dụ: đại từ trỏ người, sự vật (đại từ xưng hô): tôi, tao, tớ, ta, mày, nó, hắn, chúng tôi, chúng mày, chúng bay, họ, ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em, chủ tịch, bác sĩ, sếp Đại từ trỏ số lượng: bấy, bấy nhiêu,… …

Đại từ trỏ hoạt động, tính chất: thế, vậy……

Số từ: Số từ là những từ chỉ số lượng và thứ tự của sự vật Khi biểu thị số lượng sự vật, số từ thường đứng trước danh từ Khi biểu thị thứ tự, số từ đứng

sau danh từ, ví dụ: thứ sáu

Chú ý phân biệt giữa số từ với những danh từ chỉ đơn vị gắn với ý nghĩa

số lượng, ví dụ một đôi: đôi không phải là số từ, là danh từ chỉ đơn vị (một đôi

đũa) Các danh từ chỉ đơn vị có ý nghĩa gắn với số lượng thường gặp

như: đôi, tá, cặp, chục,

Phụ từ: Về mặt ý nghĩa, phụ từ không thực hiện được chức năng gọi tên (định danh), mà chỉ làm dấu hiệu cho một loại ý nghĩa nào đó mà thôi Phụ từ không thể đảm nhiệm vai trò thành tố chính của cụm từ, chúng chuyên làm thành tố phụ trong cụm từ để bổ sung cho thành tố chính một ý nghĩa nào đó

Vì thế chúng được coi là các từ chứng, làm bộc lộ bản chất ngữ pháp của các

từ làm thành tố chính Phụ từ không thể một mình đảm nhiệm chức năng của

Trang 18

các thành phần câu, mà thường cùng với từ chính đảm nhiệm chức năng của một thành phần câu

Vì chức năng như thế, nên phụ từ còn được gọi là từ kèm hoặc phó từ

Ví dụ: đã, đang, sẽ, vừa, mới, sắp, từng, không, chưa, chẳng (chả), có… Quan hệ từ: “ là từ loại biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa các khái niệm và đối tượng được phản ánh Quan hệ từ biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các từ, các cụm từ, giữa các bộ phận của câu hoặc giữa các câu mà nó liên kết Quan hệ

từ không có ý nghĩa từ vựng chỉ thuần túy mang ý nghĩa ngữ pháp ” [16] Tình thái từ: là từ loại biểu thị ý nghĩa tình thái trong quan hệ của chủ thể phát ngôn với người nghe hay với nội dung được phản ánh, hoặc ý nghĩa tình thái gắn với mục đích phát ngôn Tuy tình thái từ có số lượng không nhiều nhưng nó mang những sắc thái khá đa dạng Nhờ nó mà người nói (người viết) có thể bày tỏ được những sắc thái tình cảm và thái độ tế nhị đối với người nghe, hoặc đối với nội dung câu nói [16]

1.1.3 Ý nghĩa của từ

“ Từ bao giờ cũng có nghĩa Và từ là đơn vị gồm 2 mặt, hai thành tố cấu tạo:

âm ( chữ) và nghĩa ( hoặc ý nghĩa ) Âm ( chữ ) là mặt hình thức, nghĩa là mặt nội dung Nghĩa là mặt nội dung Nghĩa của từ rất quan trọng Dạy từ cụ thể thì phải làm sao cho các em hiểu nghĩa.” [15] Dạy từ mà không cho HS hiểu

từ, nắm nghĩa của từ sẽ là một việc làm vô bổ bởi như thế thì các em làm sao

mà dùng từ đã cung cấp Vậy quá trình nắm nghĩa của học sinh diễn ra như thế nào? Quá trình đó bị chi phối bởi những nhân tố nào? Quan sát việc tiếp nhận từ nói chung, nghĩa của từ nói riêng của học sinh ta thấy: Quá trình nắm nghĩa từ của học sinh diến ra qua việc tiếp xúc với hiện thực khách quan tồn tại xung quanh các em Quá trình đó có liên quan đến các nhân tố đối tượng giao tiếp, nội dung giao tiếp, nhân vật tham gia giao tiếp và ngữ cảnh cụ thể

Trang 19

mà từ xuất hiện

Từ vấn đề trên, khi dạy nghĩa của từ cho học sinh, giáo viên cần gắn với hoạt động của từ và đa từ trong ngôn bản Bởi vì trong giao tiếp nghĩa của từ không đơn thuần chỉ là nghĩa khái quát mà nó còn gắn với tâm lí người sử dụng Đó là nghĩa biểu thái, nghĩa biểu cảm mà các em tiếp nhận nó mang sắc thái tình cảm và gắn với hoạt động

Tính hệ thống của ngôn ngữ nói chung, của từ nói riêng là cơ sở để xây dựng phương pháp mở rộng vốn từ Đó là cơ sở để cung cấp vốn từ theo chủ

đề tiểu học Chúng ta có thể sắp xếp từ cần dạy, phát triển vốn từ cho học sinh, theo hệ thống chủ đề, theo trường sự vật hay gọi là trường nghĩa

Gồm 3 loại trường nghĩa chính: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái

Nghĩa biểu vật:

“ Ý nghĩa biểu vật là sự phản ánh sự vật,hiện tượng trong thực tế vào ngôn ngữ ” [ 7 ]

“ Sự vật, hiện tượng, đặc điểm ngoài ngôn ngữ, được từ biểu thị tạo nên

ý nghĩa biểu vật của từ ”.[ 7 ]

Ý nghĩa biểu vật của từ trong ngôn ngữ có tính khái quát, nhưng nói cách khác khái quát không giống nhau Sự khác nhau về mặt này thể hiện ở phạm

vi rộng hẹp của các loại mà từ biểu thị: có những từ chỉ loại rộng, có những từ chỉ lọai hẹp và các loại hẹp này là các loại nhỏ nằm trong các loại lớn

Ví dụ: Các vận động mà các từ đi, chạy, nhảy…biểu thị nằm trong vận

động lớn: “ di chuyển ’’ hoặc “ dời chỗ ”

Bàn, ghế, giường, tủ… là các loại hẹp nằm trong loại lớn: “ đồ đạc ’’ Nghĩa biểu vật là một thành phần ý nghĩa giúp ta hiểu từ một cách chính

xác song ta cũng không nên hiểu nó một cách đơn giản không phải cứ nắm được sự vật hiện tượng là nắm được ý nghĩa biểu vật Tuy nó bắt nguồn từ

Trang 20

hiện hiện thực khách quan, phản ánh hiện thực nhưng không hoàn toàn trùng với sự vật, hiện tượng Bởi ý nghĩa biểu vật còn chịu tác động qua lại của các

từ khác, có tính khái quát và chịu sự tác động của các quy tắc cấu tạo từ, cho nên ý nghĩa biểu vật trở thành một sự kiện ngôn ngữ, không còn là một sự kiện ngoài ngôn ngữ

Ý nghĩa biểu vật còn liên quan đến một mặt nữa, đó là hệ thống cấu tạo

từ Mỗi ngôn ngữ có các kiểu cấu tạo từ không giống nhau, nên ý nghĩa biểu vật của một từ trong ngôn ngữ nào đó có thể sẽ tạo điều kiện thuận lợi hoặc hạn chế sự tạo từ mới của hệ thống ngôn ngữ ấy

Muốn hiểu được ý nghĩa của từ, thì cần nắm ý nghĩa biểu vật của từ là điều cần thiết Ý nghĩa biểu vật xuất phát từ sự phản ánh sự vật hiện tượng là

cơ sở nguồn gốc của ý nghĩa biểu vật

Nghĩa biểu niệm

Nghĩa biểu niệm của từ "là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng,khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định Giữa các nét nghĩa có những quan hệ nhất định Tập hợp này ứng với một hoặc một số ý nghĩa biểu vật của từ"

Nghĩa biểu niệm là sự liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý nghĩa, ý niệm)

Ví dụ: Nghĩa biểu niệm của từ "bàn" (danh từ) là: đồ dùng, có mặt phẳng được cách mặt nền bởi các chân, dùng đểđặt đồ vật, sách vở khi viết Ý nghĩa biểu niệm của từ “ hiền ” là: tính chất tâm lí của con người, không gây tác hại cho người khác dù bị người đó gây thiệt hại cho mình

Sự vật hiện tượng trong thực tế được phản ánh vào ngôn ngữ thành ý nghĩa của vật và từ có ý nghĩa biểu vât sẽ có ý nghĩa biểu niệm tương ứng Ý nghĩa biểu niệm sẽ là hiểu biết mà gợi ra hoạt động, trạng thái, tính chất về các sự vật, hiện tượng Những hiểu biết này bao gồm những hiểu biết về thuộc tính đối tượng, tổng hợp tất cả các thuộc tính đó tạo thành nội dung khái niệm

Trang 21

Mỗi thuộc tính đó được phản ánh trong nghĩa biểu niệm của từ thành một nét nghĩa và mỗi nét nghĩa như vậy có mặt trong ý nghĩa biểu niệm của

từ

Ví dụ: có các từ “ anh”, “ em ”, “ chị ’’ cả ba cùng chung nét nghĩa chỉ

người cùng chung bố mẹ với mình, nhưng giữa chúng lại có một nét nghĩa riêng biệt

Tóm lại, ý nghĩa biểu niệm của từ là là tập hợp một số nét nghĩa chung

và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định Giữa các net nghĩa có những quan hệ nhất định Tập hợp này ứng với một hoặc một số

ý nghĩa biểu vật của từ

Ý nghĩa biểu thái

Nghĩa biểu thái là mối liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của

người nói Sự vật, hiện tượng được biểu thị trong ngôn ngữ đều là những sự

vật, hiện tượng đã được nhận thức, được thể nghiệm bởi con người Do đó, cùng tên gọi con người thường gửi kèm những cách đánh giá của mình mà chính mình lắm khi cũng không hiểu biết

Ví dụ: Núi thường gợi ra cho ta cái gì “ to lớn ”, biển gợi cho ta cái “ mênh mông’’, lâu đài gợi ra sự “ cao to ” , hang hốc gợi cho ta sự “ sâu thấp, tối tăm ”…

Đối với các nhân tố cảm xúc, thái độ cũng vậy Có những từ khi phát âm lên

đã gợi cho ta những cảm xúc sợ hãi, như: ma quái, chém giết, tàn sát ; lại có những từ giúp ta bộc lộ sự khinh bỉ, như: đê tiện, ton hót, bợ đỡ, hoặc ngược lại bộc lộ sự tôn trọng,như: cao quý, ca ngợi, đàng hoàng, thẳng thắn, hay

đánh giá mức độ to, nhỏ, mềm, yếu; nhân tố cảm xúc dễ chịu, sợ hãi, khó

chịu hay nhân tố thái độ trọng, khinh, yêu, ghét mà từ gợi ra cho người nói,

người nghe

Ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa biểu thái là các loại nghĩa

Trang 22

tạo nên ý nghĩa từ vựng của từ Vì từ là một thể thống nhất cho nên các thành phần ý nghĩa trên là những phương diện khác nhau của cái thể thống nhất đó

Sự hiểu biết đầy đủ về ý nghĩa của từ phải là sự hiểu biết thấu đáo từng mặt một nhưng cũng phải là sự hiểu biết tổng quát về những mối liên hệ quy định lẫn nhau giữa chúng

1.1.4 Vốn từ tiếng Việt

Vốn từ là khối từ ngữ cụ thể, hoàn chỉnh ( có đủ hình thức âm, chữ và nội dung ngữ pháp ) mà mỗi cá nhân tích lũy được trong kí ức của mình Vốn

từ nhiều hay ít, đơn giản hay đa dạng tùy thuộc ở kinh nghiệm sống, ở trình

độ học vấn, ở sự giao tiếp giao lưu văn hóa ngôn ngữ của từng người Mỗi một ngôn ngữ phát triển có một số lượng từ vựng hết sức lớn và phong phú,

có thể lớn tới hàng chục vạn, hàng triệu từ

Từ vựng của ngôn ngữ bao gồm nhiều lớp từ, nhiều nhóm từ không đồng nhất và có chất lượng khác nhau Trong vốn từ ngữ của một ngôn ngữ nào đó cũng đều có từ mới và từ cũ, những từ phổ biến chung, những từ văn hóa những từ chuyên môn, từ vay mượn

Vốn từ được tích lũy trong đầu óc con người không phải là một mớ hỗn tạp mà được tổ chức thành hệ thống gồm nhiều đơn vị ngôn ngữ có nét chung

về hình thức hoặc nội dung, khiến con người đứng trước một đơn vị nào đó có thể dễ dàng nghĩ đến, liên tưởng đến những đơn vị khác cùng hệ thống nhờ đó được tích lũy nhanh chóng và được sử dụng một cách dễ dàng Số lượng từ của một ngôn ngữ, một dân tộc rất lớn nhưng vốn từ của từng cá nhân thuộc dân tộc đó có thể không nhiều Vốn từ của từng cá nhân có được tùy thuộc vào sự phát triển trí tuệ nhận thức, văn hóa,kinh nghiệm sống của các nhân Vốn từ được hình thành theo hai con đường : con đường tự nhiên vô thức và con đường có ý thức Làm giàu vốn từ cho học sinh tiểu học nhằm mục đích hình thành vốn từ cho học sinh theo con đường có ý thức thông qua

Trang 23

các hoạt động học tập môn Tiếng Việt và các môn khác ở tiểu học

Vốn từ của học sinh là toàn bộ các từ và ngữ cố định ( thành ngữ, tục ngữ ) mà học sinh có được trong quá trình học tập, giao tiếp trong và ngoài nhà trường Trước tuổi đến trường tiểu học các em đã tích lũy được được một

số vốn từ nhờ giao tiếp trong môi trường gia đình và nhà trường mầm non Nhưng những từ các em tích lũy được còn lộn xộn, các em chưa hiểu nghĩa từ chính xác và sắp xếp chưa hệ thống nên các em thường bối rối và gặp trở ngại trong việc lựa chọn trong việc sử dụng từ Khi đến trường tiểu học, vốn từ của các em dần được bổ sung và được sắp xếp thành hệ thống trật tự nhất định để các em sử dụng dễ dàng

Vốn từ được hình thành và tích lũy dần trong quá trình trưởng thành của con người, xét trên 4 phương diện: số lượng, cơ cấu từ loại, khả năng hiểu nghĩa của từ và việc sử dụng tích cực hay thụ động Vốn từ của một người chỉ

có thể hình thành khi người đó sử dụng ( ngôn ngữ nào đó ) giao tiếp trong cuộc sống và học tập Như vậy vốn từ tỉ lệ thuận với mức độ, mật độ giao tiếp của con người Nói cách khác một người sủ dụng một ngôn ngữ nào đó để học tập, giao tiếp càng nhiều thì vốn từ đó càng phong phú Vì vậy, môi trường giao tiếp, học tập vô cùng quan trọng đối với việc hình thành vốn từ vựng của con người

1.1.5 Mở rộng vốn từ cho học sinh

Mở rộng hay phát triển vốn từ cho học sinh đó là yêu cầu củng cố và nâng cao hiệu quả dạy – học ngôn ngữ của chương trình, theo các mức độ có thể phụ thuộc vào điều kiện từng trường( trình độ học sinh, khả năng giáo viên, trang thiết bị dạy học , cơ sở vật chất, )

Theo tác giả Nguyễn Minh Thuyết, nhiệm vụ chủ yêu của việc làm giàu vốn từ ở tiểu học là giúp học sinh:

Mở rộng, phát triển vốn từ ( phong phú hóa vốn từ ): Là giúp học sinh

Trang 24

có thêm những từ mới, những nghĩa mới của từ đã học, thấy được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ

Nắm nghĩa của từ ( chính xác hóa vốn từ ): cung cấp cho học sinh các từ mới hoặc những nghĩa mới của từ đã học

Quản lý và phân loại vốn từ ( hệ thống vốn từ ): giúp học sinh sắp xếp các từ thành một trật tự nhất định trong trí nhớ của mình để có thể ghi nhớ từ nhanh, nhiều và tạo tính thường trực của từ

Luyện tập sử dụng từ ( tích cực hóa vốn từ ): hướng dẫn các em sử dụng

từ vào điền từ, tạo cụm từ, đặt câu, viết đoạn văn, giúp học sinh biến những từ ngữ tích cực ( những từ ngữ hiểu nghĩa nhưng không sử dụng khi nói, viết ) thành từ ngữ tích cực, được sử dụng thường xuyên trong học tập và trong giao tiếp hàng ngày

Tương ứng với các nhiệm vụ trên, SGK Tiếng Việt tiểu học đã thiết kế bốn loại bài tập cơ bản sau:

Loại bài tập giúp học sinh, mở rộng vốn từ theo chủ điểm

Ví dụ : Ghép các tiếng sau thành những từ có hai tiếng: yêu, thương, quý, mến, kính

M: yêu mến, quý mến

(TV2- T1- Tr.99 )

Loại bài tập giúp học sinh nắm nghĩa của từ

Ví dụ: Tìm từ trong ngoặc đơn hợp với mỗi nghĩa sau:

a) Dòng nước chảy tương đối lớn, trên đó thuyền bè đi lại được

b) Dòng nước chảy tự nhiên ở đồi núi

c) Nơi đất trũng chứa nước, tương đối rộng và sâu, ở trong đất liền

( suối, hồ, sông )

(TV 2- t2- tr.64)

Loại bài tập giúp học sinh quản lí từ, phân loại vốn từ

Trang 25

Ví dụ: Kể tên các loài cây mà em biết theo nhóm:

a) Cây lương thực, thực phẩm M: lúa

b) Cây ăn quả M: cam

c) Cây lấy gỗ M: xoan

Loại bài tập giúp học sinh nắm nghĩa của từ

Loại bài tập giúp học sinh quản lý, phân loại vốn từ

Loại bài tập giúp học sinh luyện tập sử dụng từ

Trong 4 loại bài tập trên, loại bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm chiếm tỉ lệ cao so với các loại bài tập khác Có thể chia bài tập mở rộng vốn

từ trong SGK lớp 2 thành 3 kiểu chính:

Kiểu bài mở rộng vốn từ qua tranh vẽ

Kiểu bài mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa

Kiểu bài mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo từ

1.2.1 Dạng bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm

Bài tập mở rộng vốn từ qua tranh vẽ

Loại bài tập này cần giúp học sinh tự tìm từ ngữ cơ bản xoay quanh một chủ đề từ ngữ nào đó, HS càng tìm được nhiều từ thì vốn từ các em càng phong phú Ở loại bài tập này, tranh vẽ là phương tiện trực quan, có tác dụng làm chỗ dựa cho việc tìm từ, mở rộng vốn từ của học sinh

Dạng bài tập “ ghép từ cho sẵn với hình vẽ tương ứng”

Trang 26

Ví dụ 1: Chọn cho mỗi con vật dưới đây một từ chỉ đúng đặc điểm của nó: chậm, nhanh, khỏe, trung thành

(TV2- T1- tr 142)

Ví dụ 2: Nối tên các loài chim trong những tranh sau:(các từ cho sẵn:đại bàng, cú mèo, chim sẻ, sáo sậu, chào mào, vẹt)

(TV2- T2- tr 35)

Dạng bài tập “ dựa vào tranh, tìm từ tương ứng”

Ví dụ 1: Tìm những từ chỉ sự vật (người, đồ vật, cây cối ) được vẽ dưới

Dạng bài tập gọi tên các vật được vẽ ẩn trong tranh

Ví dụ 1: Tìm đồ dùng học tập ẩn trong tranh sau Cho biết mỗi đồ vật ấy dùng làm gì?

(TV 2- T1- Tr 52)

Ví dụ 2: Tìm các đồ dùng được vẽ ẩn trong bức tranh sau và cho biết mỗi vật dùng để làm gì

(TV 2- T1- Tr 90)

Trang 27

1.2.2 Dạng bài tập mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa

Kiểu bài mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa được xác lập dựa trên

mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ Trong chương trình Tiếng Việt 2, kiểu bài MRVT theo quan hệ ngữ nghĩa chiếm tỉ lệ khá cao Kiểu bài tập này nhằm giúp HS trên cơ sở của từ cho trước, HS tìm từ có cùng chủ điểm, tìm từ cùng nghĩa, gần nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cho sẵn Từ đó làm giàu vốn từ cho

HS, đồng thời giúp các em phân biệt được những sắc thái khác nhau của các

từ cùng nghĩa khi sử dụng chúng trong những hoàn cảnh, mục đích giao tiếp khác nhau

Kiểu bài tập này có tác dụng giúp HS mở rộng, phát triển vốn từ dựa trên quan hệ cùng nghĩa, trái nghĩa của các từ trong ngôn ngữ Loại bài tập tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa một mặt giúp HS kiểm tra lại vốn từ cùng nghĩa, trái nghĩa của bản thân; mặt khác giúp các em thu thập thêm những từ cùng nghĩa, trái nghĩa mà trước nay bản thân mình chưa biết đến hoặc chưa nhận

ra, đồng thời tạo cho HS một sự nhạy cảm, để đến khi có nhu cầu giao tiếp ngôn từ thì có thể dễ dàng huy động các từ cùng nghĩa, trái nghĩa

Bên cạnh các bài tập “ tìm từ cùng nghĩa, gần nghĩa hoặc trái nghĩa với

từ cho sẵn” còn có những bài tập “ tìm từ ngữ cùng chủ đề” Các từ cần tìm ở đây thuộc một chủ điểm từ ngữ hay nói cách khác là cùng nằm trong cùng một hệ thống liên tưởng Vì vậy, dạy bài tập này ngoài tác dụng giúp học sinh

mở rộng vốn từ còn có tác dụng giúp học sinh hình thành, phát triển tư duy hệ thống

Ví dụ: Tìm từ trái nghĩa với mỗi từ sau: tốt, ngoan, nhanh, trắng, cao, khỏe

M: Tốt – xấu

(TV2- T1- Tr 133)

Dựa vào đặc trưng của hoạt động liên tưởng khi tìm từ ngữ, có thể chia

Trang 28

kiểu bài tập này thành các dạng cơ bản sau:

Dạng bài tập “tìm từ ngữ cùng chủ điểm”

Ví dụ 1: Tìm các từ:

Chỉ đồ dùng học tập: M: bút

Chỉ hoạt động của học sinh: M: đọc

Chỉ tính nết của học sinh: M: Chăm chỉ

(TV2- T1 – Tr 09) Loại bài tập này yêu cầu tìm từ cùng chủ điểm dựa vào các từ mẫu cho sẵn

Dạng bài tập “ Tìm từ cùng nghĩa, gần nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cho sẵn”

Ví dụ: Tìm từ trái nghĩa với mỗi từ sau: Tốt, ngoan, nhanh, trắng, cao, khỏe

có các từ mẫu

Ví dụ : Hãy tìm 3 từ nói về tình cảm thương yêu giữa anh chị em

(TV 2- T1 – Tr 116)

Những bài tập tìm từ ngữ cùng chủ đề trong một văn bản:

Ví dụ 2: Tìm những từ ngữ chỉ người trong gia đình, họ hàng ở câu chuyện “ sáng kiến của bé Hà”

(TV 2- T1 – trang 82)

Trang 29

Dạng bài tập “ tìm từ cùng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa với từ cho sẵn”

Ví dụ: Tìm từ trái nghĩa với từ “im lặng”

Sau khi HS nắm chắc khái niệm từ trái nghĩa là những từ có nghĩa trái ngược nhau GV cung cấp cho học sinh nghĩa từ “ im lặng” ( không có một tiếng động nào, một lời nói nào) GV đưa thêm ngữ cảnh phòng học trật tự, không có tiếng động Ngữ cảnh là “ điểm tựa” để HS dễ dàng tìm ra từ trái nghĩa là “ ồn ào”, “ náo nhiệt”, “ náo động”

1.2.3 Mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo từ

Mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo từ có nghĩa là HS dựa vào một yếu

tố cấu tạo từ cho sẵn, tìm những từ có cùng yếu tố cấu tạo từ và cùng kiểu cấu tạo

Bài tập mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo từ có tác dụng rất lớn trong việc giúp HS phát triển, mở rộng vốn từ Trên cơ sở cho trước một yếu tố (tiếng gốc) các em tìm được từ láy, từ ghép.[ 3 ]

Tìm từ ghép có cùng yếu tố cấu tạo:

Dạng bài tập này thường cho trước một yếu tố cấu tạo ( tiếng từ gốc) yêu cầu học sinh tìm các từ ghép có chứa tiếng gốc đó ( tiếng gốc có thể đứng trước hoặc đứng sau)

Trang 30

1.2.4 Dạng bài tập về nghĩa của từ

Trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2, bài tập về nghĩa của từ chiếm

tỉ lệ không nhiều so với các loại bài tập từ ngữ khác Nhưng việc dạy nghĩa của từ cho HS được coi là nhiệm vụ quan trọng trong phân môn luyện từ và câu nói riêng, môn tiếng Việt nói chung

Ví dụ: Tìm từ trong ngoặc đơn hợp với mỗi nghĩa sau:

f) Dòng nước chảy tương đối lớn, trên đó thuyền bè đi lại được

g) Dòng nước chảy tự nhiên ở đồi núi

h) Nơi đất trũng chứa nước, tương đối rộng và sâu, ở trong đất liền ( suối, hồ, sông )

Như vậy, vốn từ của HS với tư cách là vốn từ tiếng Việt văn hóa cần được “ chính xác hóa” không chỉ về mặt nghĩa mà cả mặt âm thanh, chữ viết

1.3 Thực trạng vốn từ của học sinh và việc dạy học mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 2 dân tộc Nùng ở tỉnh Lạng Sơn

1.3.1 Mục đích điều tra

Điều tra để nắm được khả năng ngôn ngữ của học sinh và đề ra 1 số biện pháp phù hợp với khả năng của học sinh nhằm phát triển vốn từ cho trẻ

1.3.2 Đối tượng và địa bàn điều tra

Đối tượng điều tra: giáo viên và học sinh lớp 2A

Địa bàn điều tra: Trường tiểu học xã Thượng Cường – huyện Chi Lăng – tỉnh Lạng Sơn

Trang 31

1.3.3 Nội dung điều tra

Mức độ phát triển ngôn ngữ tiếng Việt học sinh tiểu học dân tộc nùng tỉnh Lạng sơn

Vị trí địa lí và các điều kiện của tỉnh Lạng Sơn ảnh hưởng đến vốn từ của học sinh

Nhận thức của giáo viên tiểu học về việc phát triển ngôn ngữ tiếng Việt cho học sinh tiểu học

Các biện pháp được giáo viên sử dụng nhằm phát triển ngôn ngữ Tiếng Việt cho học sinh tiểu học dân tộc nùng tỉnh Lạng sơn

1.3.4 Phương pháp điều tra

Điều tra bằng phiếu điều tra trên giáo viên và phỏng vấn trực tiếp học sinh

Phương pháp quan sát: Dự giờ, quan sát hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh trong các hoạt động nhằm phát triển ngôn ngữ tiếng Việt

Phương pháp đàm thoại và trò chuyện với giáo viên về các biện pháp họ

đã sử dụng để tổ chức họat động nhằm mở rộng vốn từ cho học sinh

Khảo sát mức độ hình thành ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ lớp 2 tại các lớp

Xử lý số liệu điều tra bằng thống kê toán học

1.3.5 Thời gian điều tra thực trạng

Thời gian điều tra điểm trường: Trường tiểu học xã Thượng Cường – huyện Chi Lăng – tỉnh Lạng Sơn từ tháng 1/2017 đến hết tháng 4/2017

1.3.6 Phân tích và đánh giá kết quả điều tra

Tổng số giáo viên được hỏi: 5

Tổng số học sinh được hỏi: 23

1.3.6.1 Vốn từ của học sinh lớp 2 dân tộc Nùng ở tỉnh Lạng Sơn

Trang 32

Sau khi các em đã học qua các chủ đề trong môn Tiếng Việt – Tập 2 là chủ đề “ Bốn mùa”, chủ đề “ Chim chóc ”, chủ đề “ Muông thú” chúng tôi đã thực hiện phỏng vấn trực tiếp các em học sinh các câu hỏi về các từ ngữ liên quan đến chủ đề đó, thấy được rằng vốn từ của các em rất ít ỏi, nghèo nàn các

em chỉ đưa ra được các từ ngữ quen thuộc hàng ngày Ví dụ khi được đưa ra câu hỏi:

Các em đưa ra các từ ngữ nói về mùa thu?

Hầu hết các em chỉ đưa ra được câu trả lời là: mùa thu mát mẻ, các em chưa đưa ra được các các từ ngữ khác: lá rụng, trời cao trong xanh, gió mát,

tết trung thu….Hay khi được hỏi: em hãy kể tên các loài chim mà em biết: 80

% các em học sinh nêu được tên một số con chim quen thuộc: chim chào mào,

chim sơn ca, chim chích chòe, chim bồ câu 20% các em nêu được thêm tên

một số loài chim khác: chim cu gáy, chim ri, chim cú mèo, chim đại bàng,

Hơn nữa mật độ và số lượng các cuộc giao tiếp bằng tiếng Việt của các

em không nhiều, các em chủ yếu giao tiếp bằng tiếng Việt với thầy cô, thời gian còn lại các em giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ với bạn bè với cộng đồng nơi các em đang sinh sống Do đó, trình độ và kỹ năng tiếng Việt của các em cũng bị hạn chế

Trong giao tiếp, một số từ không có trong vốn từ tiếng Nùng nên có sự vay mượn từ tiếng Việt nhưng phát âm chệch đi nên vô tình học sinh cũng bị ảnh hưởng khi học tiếng Việt

Ví dụ: hiệu trưởng đọc thành hiệu trởng

Trang 33

Ngoài ra, ý thức của phụ huynh học sinh đối với việc học tập của con mình còn chưa tốt Họ chưa thực sự quan tâm, phối hợp với nhà trường để

nâng cao hiệu quả sử dụng tiếng Việt cho trẻ

Về kết quả thi học kì một môn Tiếng Việt của các em có sự chênh lệch rất lớn giữa các nhóm điểm

Nội

dung

Kết quả làm bài thang

TL

%

SL bài

TL %

3 13,04 8 34,7 9 39,1 2 8,6 1 0,4

Qua bảng số liệu thu thập được chúng ta thấy được phần lớn các em chủ yếu đạt điểm trung bình 39,1%, và điểm khá 34,7%, còn tỉ lệ điểm giỏi rất ít chỉ có 13% các em đạt được Tuy nhiên vẫn tồn tại điểm yếu, kém tới 9%

1.3.6.2 Các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quá trình phát triển của trẻ

Lạng Sơn là một tỉnh vùng cao biên giới, có diện tích tự nhiên 83.208

km, 10 huyện, 1 thành phố với 226 xã, phường, thị trấn, trong đó có 111 xã khó khăn, 2 huyện nghèo thuộc 63 huyện nghèo của cả nước, dân số gần một vạn người với nhiều thành phần dân tộc, các dân tộc thiểu số chiếm 87,09% dân số toàn tỉnh trong đó tập trung chủ yếu vào một số dân tộc như dân tộc Nùng, Tày, Hoa, Dao,…trong đó dân tộc Nùng chiếm 42,9% dân số toàn tỉnh Địa hình đồi núi chiếm hơn 80% diện tích cả tỉnh Các dân tộc thiểu số chủ yếu sống tập trung ở những vùng có địa hình đồi núi cao, chia cắt, thời

Trang 34

tiết khăc nghiệt Đời sống của đồng bào các dân tộc gặp nhiều khó khăn, tỉ lệ đói nghèo của toàn tỉnh là 46%, Có 2 huyện trong 63 huyện nghèo của cả nước và có một số phong tục, tập quán lạc hậu đã được xóa bỏ

Dân cư sống thưa thớt, xa trung tâm huyện vì vậy các hoạt động văn hóa, văn nghệ, hay các chính sách giáo dục ít được phổ biến Cuộc sống của người dân chủ yếu sống bằng nghề nông vì vậy việc phu huynh quan tâm đến giáo dục con em mình cũng hạn chế

Thuận lợi

Vấn đề dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc Nùng có một thuận lợi

vô cùng to lớn đó là được sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và của Ngành giáo dục Dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số là thực hiện chính sách ngôn ngữ văn hóa dân tộc của Nhà nước ta Làm tốt điều này chính là chúng ta đang ra sức bảo tồn , giữ gìn bản sắc văn hóa riêng từng dân tộc, làm cho các dân tộc đều phát triển

Giáo dục Việt Nam xác định rõ vấn đề dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số là rất quan trọng Chính vì thế mà việc giảng dạy tiếng Việt

và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số đã được ghi thành luật: “ Các dân tộc thiểu

số có quyền sử dụng tiếng nói chữ viết của dân tộc mình cùng với tiếng Việt

để thực hiện giáo dục tiểu học ”

( Điều 4, chương 1; Luật phổ cập giáo dục tiểu học, 1991)

Hay: “Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường”

( Điều 5;Luật giáo dục, 1998)

Ở trường học, việc dạy học tiếng Việt đối với học sinh dân tộc thiểu số luôn được xác định là rất quan trọng Chúng ta đã thể hiện sự quan tâm đến giáo dục tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số bằng cách chuẩn bị khả năng tiếng Việt cho các em trước khi vào lớp 1 và môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học Những thuận lợi hết sức cơ bản mà học sinh DTTS trong quá trình học tập

Trang 35

tiếng Việt ở nhà trường là được Nhà nước chúng ta hết sức quan tâm và tạo điều kiện Nhưng bên cạnh đó, hiện nay khả nẳng học tập, tiếng Việt của học sinh DTTS còn gặp khó khăn

Khó khăn

Dạy học tiếng Việt đối với học sinh DTTS luôn được xác định là rất quan trọng , tiếng Việt vừa là môn học, vừa là ngôn ngữ chính thức để giáo dục Nếu học sinh không biết tiếng Việt vừa là môn học, vừa là ngôn ngữ chính thức để giáo dục Nếu học sinh không biết tiếng Việt thì công việc tiến hành dạy học sẽ ngừng lại, đây là điều hiển nhiên Nhưng cho đến nay, khu vực Đông Bắc nói chung, tỉnh Lạng Sơn nói riêng chưa nơi nào thực thi một cách có hiệu quả giáo dục trong việc nâng cao trình độ tiếng Việt của học sinh DTTS Việc dạy và học đối với đối tượng này còn thấp qua số liệu thống kê kết quả học tập của các em

1.3.6.3 Khảo sát chung về việc thực hiện nhiệm vụ dạy mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 2 theo chương trình giáo dục tiểu học

Sau năm 2000, nước ta đã thay đổi mới chương trình SGK Tiếng Việt tiểu học Vì vậy, trong nội dung chương trình giáo dục tiểu học đã xác định

mở rộng vốn từ cho trẻ là một nhiệm vụ quan trọng nhằm gợi ý cho giáo viên chủ động, linh hoạt trong việc thực hiện nội dung vào các chủ đề học phù hợp, tổ chức dạy học dưới hình thức tích hợp, lựa chọn các phương pháp, biện pháp phù hợp để đạt được mục tiêu đã xây dựng

Tuy nhiên do thói quen của giáo viên ít nghiên cứu chương trình; do công tác quản lí, kiểm tra đánh giá của các cấp chưa phù hợp nên chỉ kiểm tra thực tế trên kế hoạch giáo viên đã xây dựng cho thấy một số nội dung còn bị xem nhẹ hoặc bỏ sót khi thực hiện giáo dục tình yêu đối với tiếng mẹ đẻ và văn hóa giao tiếp ngôn ngữ Chúng tôi đã tiến hành điều tra về nhận thức của giáo viên về việc mở rộng vốn từ cho học sinh

Trang 36

Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 2 dân tộc Nùng

Câu 1: Theo anh (chị) vốn từ cần thiết với học sinh lớp 2 nhƣ thế nào?

80% các giáo viên cho rằng vốn từ là rất cần thiết với các em học sinh

20% giáo viên cho rằng, vốn từ cần thiết với các em

Qua bảng điều tra, cho thấy đƣợc đa số các giáo viên đều nhận thức rằng vốn

từ rất cần thiết đối với các em học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng

Câu 2: Theo anh (chị) việc mở rộng vốn từ quan trọng với học sinh tiểu học nhƣ thế nào?

Còn (20%) giáo viên cho rằng có mở rộng vốn từ vai trò quan trọng

Trang 37

trong quá trình giáo dục trẻ mầm non

Như vậy hầu hết các giáo viên đã nhận thấy vai trò quan trọng của việc

mở rộng vốn từ cho học sinh trong quá trình dạy học

Câu 3: Anh (chị) đã thực hiện việc mở rộng vốn từ cho học sinh như thế nào trong quá trình dạy học?

20% giáo viên thường xuyên thực hiện việc mở rộng vốn từ cho học sinh

Từ việc nhận thức vốn từ là rất cần thiết đối với các em học sinh tiểu học đối học vì vậy việc thực hiện mở rộng vốn từ cho học sinh cũng được giáo viên nhận thức rất là quan trọng

Câu 4: Anh (chị) đã thực hiện việc mở rộng vốn từ thông qua những môn học nào?

Có 40% giáo viên thực hiện việc mở rộng vốn từ qua môn Tiếng Việt

40% giáo viên cho rằng, việc thực hiện mở rộng vốn từ thực hiện qua tất cả các môn học trong chương trình, chỉ có duy nhất 1 giáo viên (20%) mở rộng vốn từ qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp

Trang 38

Các giáo viên đều nhận thức được rằng, việc mở rộng vốn từ là rất quan trọng

Vì vậy nó cần được thực hiên qua các môn học khác nhau, để học sinh có thể

lẽ, trong cuộc sống, hoc sinh còn có các mối quan hệ khác như bạn bè, nhà trương, các quan hệ đó đều ít nhiều ảnh hưởng đến vốn từ các em học sinh

Bảng 1.1: Thực trạng cách giáo viên lập kế hoạch để mở rộng vốn từ tiếng Việt cho học sinh tiểu học lớp 2 ( phiếu khảo sát xem phần mục lục)

STT

Mức độ sử dụng

Nguồn tài liệu

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Không bao giờ

1 Kế hoạch gợi ý từ chương trình 4 75 1 25 0 0

Trang 39

2 Sưu tầm qua các tài liệu tham

cơ sở vật chất và khả năng nhận thức của học sinh vùng dân tộc thiểu số để lập kế hoạch dẫn đến những hạn chế trong kế hoạch xây dựng như: mục đích

và yêu cầu của nhận thức còn thiếu tính cụ thể cho từng giai đoạn, từng thời điểm trong các hoạt động chưa có đủ nội dung dạy trẻ nói nghệ thuật thông qua các hoạt động… Điều đó khiến giáo viên chưa thực sự chủ động biện pháp định hướng cho trẻ thực hiện vào các thời điểm phù hợp

Nhận thức của giáo viên tiểu học về tổ chức các hoạt động để mở rộng vốn từ tiếng Việt cho học sinh dân tộc Nùng

Về mức độ cần thiết của các biện pháp tổ chức hoạt động nhằm mở rộng vốn từ cho dân tộc Nùng Kết quả điều tra có 100% ý kiến cho rằng rất cần thiết có các biện pháp phát triển ngôn ngữ tiếng Việt cho cho học sinh Vì trong thực tế việc mở rộng tiếng Việt cho trẻ của nhiều giáo viên còn chưa cao Tuy nhiên để có những biện pháp phát triển ngôn ngữ phù hợp lại là vấn

đề rất khó đối với giáo viên Do đó cần có những biện pháp mở rộng vốn từ học sinh lớp 2 phù hợp với tình hình thực tế địa phương và đổi mới GDTH hiện nay

Thực trạng dạy phát triển vốn từ tiếng Việt cho học sinh lớp 2 dân tộc Nùng

Trang 40

Bảng 1.2: Thực trạng sử dụng các biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 2 dân tộc Nùng của giáo viên.( phiếu khảo sát xem phần mục lục)

STT

Mức độ sử dụng

Các biện pháp

Thường xuyên

Thỉng thoảng

Liên tục

1 Lập kế hoạch cho nội dung phát

triển vốn từ tiếng Việt phù hợp

với trình độ nhận thức của học

sinh lớp 2 dân tộc Nùng

2 Xây dựng và tổ chức môi trường

tiếng Việt mang tính phát triển

gắn liền với thực tế địa phương

4 Kết hợp sử dụng tiếng Việt với

tiếng dân tộc của trẻ để hướng

dẫn trẻ hoạt động

5 Sử dụng các trò chơi học tập, trò

chơi dân gian khi tổ chức các

hoạt động có sử dụng tiếng việt

Ngày đăng: 06/09/2017, 15:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ giáo dục và Đào tạo, Tài liệu tập huấn dạy học theo mô hình trường học mới Việt Nam, Hà Nội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn dạy học theo mô hình trường học mới Việt Nam
5. Bộ giáo dục và Đào tạo, Tài liệu bồi dƣỡng giáo viên: Phương pháp dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc, NXB Giáo Dục, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc
Nhà XB: NXB Giáo Dục
15. Phan Thiều – Lê Hữu Tỉnh, Dạy học từ ngữ ở tiểu học, NXB Giáo dục 16. http://nguvan.ued.udn.vn/wpcontent/uploads/2016/02/NguphaptiengViet_Oanh2015-1.pdf Link
1. Lê A, Thành Thị Yên Mỹ, Lê Phương Nga, Nguyễn Trí, Cao Đức Tiến ( 1998), Phương pháp dạy học tiếng Việt 1,NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
2. Nguyễn Nguyệt Anh ( 2005 ), Dạy học phân môn Luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt 2, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Thái Nguyên Khác
4. Diệp Quang Ban ( chủ biên), Ngữ pháp tiếng Việt tập 1, NXB Giáo dục 1999 Khác
6. Phạm Thị Đức – Phạm Nhƣ Quỳnh, Một số đặc điểm về tƣ duy ở học sinh tiểu học Khác
7. Đỗ Hữu Châu (Chủ biên), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội Khác
8. Trương Thị Kim Oanh (tạp chí giáo dục số 1 năm 2001) Khác
9. Nguyễn Minh Thuyết, Tiếng Việt Thực Hành NXB Đại Học Quốc Gia 2001 Khác
10. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên), Tiếng Việt 2 , tập một, BGD & ĐT – NXB Giáo dục 2002 Khác
11. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên), Tiếng Việt 2 , tập hai, BGD & ĐT – NXB Giáo dục 2002 Khác
12. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên), Tiếng Việt 2 , Vở bài tập Tiếng Việt tập một, BGD & ĐT – NXB Giáo dục 2002 Khác
13. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên), Tiếng Việt 2 , Vở bài tập Tiếng Việt tập hai, BGD & ĐT – NXB Giáo dục 2002 Khác
14. Nguyễn Minh Thuyết, Tiếng Việt thực hành, NXB Đại Học Quốc Gia 2001 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w