1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nâng cao kĩ năng nhận diện danh từ, động từ, tính từ cho học sinh lớp 4 qua phân môn luyện từ và câu

92 379 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó được tách thành một phân môn độc lập và có vị trí ngang bằng với phân môn Tập đọc, Tập làm văn… Ở phân môn này, học sinh được học những kiến thức cơ bản về từ như: cấu tạo từ, nghĩa c

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học

ThS VŨ THỊ TUYẾT

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và các thầy cô trong khoa giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Đặc biệt, em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo – ThS Vũ Thị Tuyết - người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt thời gian giúp

em hoàn thành tốt khóa luận này

Em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trường Tiểu học Tiên Dương và trường Tiểu học Liên Hòa đã tạo điều kiện giúp em khảo sát thực trạng học sinh Cảm ơn gia đình, thầy cô và bạn bè đã luôn ở bên, động viên và giúp đỡ em

Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Thị Hương

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Đối tượng nghiên cứu 5

6 Phạm vi nghiên cứu 5

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Cấu trúc khóa luận 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7

1.1 Cơ sở lí luận 7

1.1.1 Đặc điểm tâm sinh lí học sinh tiểu học 7

1.1.2 Một số thuật ngữ liên quan 11

1.2 Cơ sở thực tiễn 25

1.2.1 Vị trí, nhiệm vụ của việc dạy học phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học 25

1.2.2 Nội dung chương trình dạy học về từ loại tiếng Việt trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4 26

1.2.3 Thực trạng của việc dạy và học danh từ, động từ, tính từ của học sinh lớp 4 29

1.3 Nguyên nhân dẫn đến khả năng nhận diện danh từ, động từ, tính từ của học sinh lớp 4 còn hạn chế 32

1.4 Tiểu kết chương 1 32

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG NHẬN DIỆN DANH TỪ, ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ CHO HỌC SINH LỚP 4 QUA PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU 34

Trang 4

2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp nâng cao khả năng nhận diện từ loại

cơ bản của học sinh 34

2.2 Một số biện pháp nâng cao khả năng nhận diện từ loại cơ bản cho học sinh 35

2.2.1 Phương pháp giảng giải 35

2.2.2 Sử dụng phương pháp gợi mở - vấn đáp trong dạy học từ loại cho học sinh 38

2.2.3 Sử dụng phương pháp trò chơi 40

2.2.4 Tổ chức giảng dạy theo trình độ học tập của học sinh 45

2.3 Tiểu kết chương 2 48

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 49

3.1 Mục đích thực nghiệm 49

3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 49

3.3 Nội dung thực nghiệm 49

3.4 Đối tượng thực nghiệm 49

3.5 Cách tiến hành thực nghiệm 50

3.5.1 Chuẩn bị thực nghiệm 50

3.5.2 Tiến hành dạy thực nghiệm và dạy đối chứng 50

3.5.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 50

3.6 Giáo án thực nghiệm (Xin xem phần phụ lục) 50

3.7 Kết quả thực nghiệm 50

3.8 Đánh giá kết quả thực nghiệm 52

3.9 Tiểu kết chương 3 53

KẾT LUẬN 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC

Trang 5

TN : Thực nghiệm

TT : Tính từ QHT : Quan hệ từ

VD : Ví dụ

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tiếng Việt là môn học có vị trí vô cùng quan trọng trong nhà trường, đặc biệt trong trường tiểu học Tiếng Việt là một môn công cụ, là cơ sở để hình thành vốn ngôn ngữ chuẩn, làm nền tảng cho các bậc học sau này Việc dạy tiếng Việt trong nhà trường góp phần rèn luyện cho các em năng lực tư duy, phương pháp làm việc, giáo dục các em những tư tưởng, tình cảm lành mạnh, trong sáng

Trong môn Tiếng Việt, phân môn Luyện từ và câu chiếm thời lượng khá lớn, nó có vai trò cung cấp các kiến thức tiếng Việt và rèn cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Nó được tách thành một phân môn độc lập và có vị trí ngang bằng với phân môn Tập đọc, Tập làm văn… Ở phân môn này, học sinh được học những kiến thức cơ bản về từ như: cấu tạo từ, nghĩa của từ, các lớp

từ, từ loại; các kiến thức về câu như: cấu tạo câu, các kiểu câu, các quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp

Đối với học sinh tiểu học, việc học các kiến thức về từ loại có một vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng Từ loại tiếng Việt được chia thành hai nhóm chính gồm thực từ (danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ) và hư từ (phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ) Các kiến thức về từ loại giúp cho học sinh Tiểu học phân biệt được từ loại, biết cách dùng từ loại để đặt câu có nghĩa, làm bài tập tiếng Việt Không những thế nó còn giúp học sinh nhận diện và sử dụng thành thạo trong viết văn, giao tiếp… Đặc biệt danh từ, động từ, tính từ là ba loại từ loại cơ bản được học ở Tiểu học, vì vậy yêu cầu học sinh cần nắm chắc những kiến thức và cách sử dụng ba từ loại này Nhưng trên thực tế, những kiến thức

về từ loại rất phong phú và đa dạng, mỗi từ loại lại bao gồm nhiều đơn vị nhỏ hơn Qua việc tìm hiểu tình hình thực tế của học sinh trong việc học ba loại từ

Trang 7

loại trên, tôi nhận thấy việc dạy và học tồn tại nhiều vấn đề khiến cho việc học còn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là trong việc nhận diện Nếu học sinh không nắm vững kiến thức cơ bản làm nền tảng hoặc giáo viên không có phương pháp dạy học phù hợp thì học sinh sẽ dễ nhầm lẫn, mắc phải những lỗi sai cơ bản, dẫn đến việc gặp nhiều khó khăn trong phát triển ngôn ngữ

Từ những lí do trên và với mong muốn giúp học sinh lớp 4 nhận diện được ba từ loại: danh từ, động từ, tính từ Vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài

“Nâng cao kĩ năng nhận diện danh từ, động từ, tính từ cho học sinh lớp 4 qua phân môn Luyện từ và câu”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề về từ loại là vấn đề xa xưa và cổ truyền bậc nhất của ngữ pháp học truyền thống Sau đây tôi xin sơ lược qua một số tài liệu viết về vấn đề này:

Học thuyết về từ loại ra đời từ thời cổ Hy Lạp, gắn liền với tên tuổi nhà triết học Arixtot Thuở ấy, từ loại đã đặt trong quan hệ với logic song Arixtot

đã không gắn các từ loại với các phạm trù ông đề xuất Ông chỉ chú ý đến tính chất của vị ngữ của động từ và cho rằng động từ thể hiện vị thế của phán đoán Danh từ thì được coi là tên gọi của các sự vật

Các nhà ngữ pháp của học thái Alêchxăngđri định nghĩa danh từ và động từ không phải theo các thành phần của phán đoán mà theo những khái niệm do chúng biểu hiện: danh từ là từ loại biến cách chỉ vật thể đồ đạc, được phát ngôn cả cái chung và cái riêng, động từ là loại không biến cách và thể hiện các hoạt động chủ động, bị động

Thế kỉ XVII – XVIII các nhà ngữ pháp duy lí lại đặt trở lại mối quan hệ giữa từ loại và các phạm trù của logic, cụ thể là mối quan hệ giữa động từ với

vị thế của phán đoán Danh từ và tính từ được giải thích như là những từ chỉ

Trang 8

sự vật không xác định nào đó qua một khái niệm đã xác định mà ngẫu nhiên với bản chất một sự vật

Trong nhiều năm, mối quan hệ giữa từ loại và các phạm trù logic chƣa đƣợc giải quyết một cách thỏa đáng Phải đến cuối thế kỷ XIX vấn đề từ loại tiếng Việt mới đƣợc bàn lại, theo đó vấn đề từ loại đƣợc xem xét:

Năm 1986, tác giả Đinh Văn Đức trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (Từ

loại) quan tâm đến các vấn đề:

1 Bản chất và đặc trƣng của từ loại

2 Hệ thống các từ loại tiếng Việt

3 Từ loại là các phạm trù của tƣ duy

Năm 1999, tác giả Lê Biên trong cuốn Từ loại tiếng Việt hiện đại,

nghiên cứu các vấn đề: khái niệm về từ loại, đối tƣợng, tiêu chí, mục đích phân định từ loại Đặc biệt tác giả đi sâu tìm hiểu hệ thống từ loại cơ bản, ranh giới giữa các từ loại cơ bản với các từ loại không cơ bản

Năm 2004, trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt khi nghiên cứu về từ loại

tiếng Việt, Diệp Quang Ban đã đƣa ra ba tiêu chuẩn về phân định từ loại tiếng Việt: ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, chức vụ cú pháp Ngoài ra, khi bàn

về vấn đề các lớp từ tiếng Việt, tác giả phân thành hai lớp lớn: thực từ và hƣ

từ Trong đó, tác giả tập trung nghiên cứu ba từ loại thuộc lớp thực từ: danh

từ, động từ, tính từ

Đến năm 2005 trong cuốn Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, quyển 2 -

Ngữ đọa và từ loại do Cao Xuân Hạo chủ biên cũng đã giải quyết vấn đè về

từ loại tiếng Việt một cách sâu sắc và thấu đáo

Đến năm 2006, các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng

Ngọc Phiến trong cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt cũng có đề cập đến

vấn đề từ loại ở phần thứ tƣ của cuốn sách - Cơ sở ngữ pháp học và ngữ pháp tiếng Việt Các tác giả cũng chỉ xem xét ba từ loại lớn là: danh từ, động từ, tính từ

Trang 9

Năm 2008, trong cuốn Hỏi đáp về từ loại tiếng Việt 4, Hỏi đáp về dạy

học tiếng Việt 5 do tác giả Nguyễn Minh Thuyết chủ biên trong phần Hỏi đáp

phân môn Luyện từ và câu, tác giả có nói về danh từ riêng, nêu sự phân biệt

từ loại động từ và tính từ dựa trên ba tiêu chí là “ý nghĩa khái quát của từ, khả năng kết hợp của từ, khả năng làm thành phần câu” (lớp 4), định nghĩa về đại

từ, quan hệ từ và giới thiệu các tiểu loại của đại từ, quan hệ từ (lớp 5), ông cũng nói về hiện tượng chuyển loại từ thông qua các ví dụ cụ thể (lớp 4,5)

Ngoài những cuốn sách, giáo trình nghiên cứu về từ loại đã nêu trên, các công trình nghiên cứu về từ loại chiếm số lượng khá lớn, tuy nhiên hầu hết những công trình nghiên cứu đó mới chỉ viết trên cơ sở lí luận mà không

đi vào thực nghiệm ở các trường Tiểu học

Lê Phương Nga trong “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” (Tập 2, NXB

Giáo dục, 2000) đã đưa ra một số dạng bài tập về từ loại cho học sinh tiểu học

và nêu một số khó khăn mà học sinh thường gặp phải khi xác định từ loại

Chu Thị Thủy An trong “Dạy học Luyện từ và câu ở Tiểu học” (Dự án

phát triển giáo viên Tiều học, 2007) đã đề cập đến khái niệm từ loại, nội dung

và phương pháp dạy học từ loại ở Tiểu học Đồng thời tác giả cũng đưa ra một

số dạng bài tập về từ loại và một số gợi ý tương ứng với các dạng bài tập đó

Ngoài những tài liệu trên, luận văn Thạc sĩ của tác giả Lê Thị Lan Anh

(Đại học Sư phạm Hà Nội 2, 2006) cũng nghiên cứu về từ loại qua đề tài “Từ

loại Tiếng Việt và việc dạy từ loại cho học sinh Tiểu học” Bên cạnh đó có hai

cuốn khóa luận tốt nghiệp “Tìm hiểu khả năng xác định từ loại cơ bản của

học sinh tiểu học lớp 4 trên cơ sở các bài Tập đọc” của sinh viên Trần Thị

Hoa - K30B - GDTH - Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và khóa luận “Tìm hiểu

khả năng xác định từ loại của học sinh lớp 4, 5 thông qua các bài tập Luyện

từ và câu” của sinh viên Nguyễn Thị Ninh - GDTH - Đại học Sư phạm Hà

Nội 2 Hai cuốn khóa luận trên mới đề cập đến một khía cạnh của từ loại

Trang 10

Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình trên, tôi mạnh dạn

điều tra, thực nghiệm một khía cạnh khác, đó là “Nâng cao kĩ năng nhận diện danh từ, động từ, tính từ cho học sinh lớp 4 qua phân môn Luyện từ

và câu”

3 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao kĩ năng nhận diện danh từ, động

từ, tính từ cho học sinh lớp 4 thông qua phân môn luyện từ và câu Từ đó giúp học sinh vận dụng vào để học tốt các kiến thức về từ loại cơ bản (danh từ, động từ, tính)

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn và cơ sở lí luận về việc nâng cao kĩ năng nhận diện danh từ, động từ, tính từ

- Nghiên cứu hệ thống các từ loại và các dạng bài tập về từ loại trong chương trình Tiếng Việt lớp 4

- Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao kĩ năng nhận diện danh từ, động từ, tính từ cho học sinh lớp 4 qua phân môn Luyện từ và câu

- Thực nghiệm sư phạm

5 Đối tượng nghiên cứu

Kĩ năng nhận diện danh từ, động từ, tính từ của học sinh lớp 4

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về các biện pháp nhằm nâng cao kĩ năng nhận diện danh từ, động từ, tính từ cho học sinh lớp 4 qua phân môn Luyện từ và câu

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, so sánh, khái quát, lựa chọn,

- Phương pháp khảo sát, điều tra

- Phương pháp thống kê toán học

- Phương pháp thực nghiệm

Trang 11

8 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận Nội dung khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2: Một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng nhận diện danh

từ, động từ, tính cho học sinh lớp 4 qua phân môn Luyện từ và câu

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các em vẫn diễn ra các hoạt động khác như:

+ Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ vật sang chơi các trò chơi vận động

+ Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản thân và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa,… Ngoài ra, trẻ còn tham gia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa,…

+ Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào trường của trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong,

Những thay đổi kèm theo: Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể tham gia các công việc trong gia đình Điều này được thực hiện rõ nhất trong các gia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh

tế đặc biệt khó khăn,… các em phải tham gia lao động sản xuất cùng gia đình

từ rất nhỏ

Trang 13

b Tưởng tượng

Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:

Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền

vững và dễ thay đổi

Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ

những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh, Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh,

sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em

c Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh

và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau

Trang 14

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ

d Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm

soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng, Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập

Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú

ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự

nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài, Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định

e Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic

Giai đoạn lớp 1, 2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm

ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu

Trang 15

Giai đoạn lớp 4, 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng

cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em

f Ý chí và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Ở đầu tuổi tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào

yêu cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo khen, quét nhà để được ông cho tiền, ) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các em còn yếu Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn

Đến cuối tuổi tiểu học, các em đã có khả năng biến yêu cầu của người

lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời

1.1.1.2 Đặc điểm sinh lí

Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương ta đang trong thời kì phát triển (thời kì cốt hóa) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập,… Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi của các em thì cha mẹ và thầy cô cần chú ý quan tâm, hướng các em đến các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn

Hệ cơ đàn trong thời kì phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận động mạnh như chạy, nhảy,…Vì vậy mà nhà giáo dục nên đưa các

em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự

an toàn cho trẻ

Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư

Trang 16

duy trừu tượng Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đó vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ,… Dựa vào co chế sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em

Chiều cao mỗi năm tăng thêm 4 cm; trọng lượng mỗi năm tăng 2 kg Nếu trẻ vào lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao khoảng 106 cm (nam) 104 cm (nữ) Tuy nhiên, con số này chỉ là trung bình, chiều cao của trẻ có thể xê dịch khoảng 4 - 5 cm, cân nặng có thể xê dịch từ 1- 2 kg Tim của trẻ đập nhanh khoảng 85 - 90 lần/phút, mạch máu tương đối mở rộng, áp huyết động mạch thấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh

1.1.2 Một số thuật ngữ liên quan

1.1.2.1 Khái niệm từ loại

Diệp Quang Ban và Hoàng Thung trong cuốn Ngữ pháp tiếng việt, tập

2 cho rằng: “Từ loại là kết quả nghiên cứu vốn từ trên bình diện ngữ pháp

Đó là những lớp từ có chung bản chất ngữ pháp, được biểu hiện trong các đặc trưng thống nhất làm tiêu chuẩn tập hợp và quy loại”.[3,74]

Tác giả Lê Biên cho rằng: Từ loại là khái niệm chỉ sự phân loại từ nhằm mục đích ngữ pháp, theo bản chất ngữ pháp của từ [2,8]

Tác giả Lê Hữu Tỉnh, Trần Mạnh Hường trong cuốn “Giải đáp 88 câu

hỏi đề cương giảng dạy tiếng Việt ở Tiểu học” đưa ra khái niệm về các loại từ

như sau: “ Từ loại là các loại từ phân chia về mặt ngữ pháp Nói cách khác, phân loại các từ về mặt ngữ pháp ta được các từ loại [12,53]

Tác giả Đinh Văn Đức cho rằng “Từ loại là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, được phân chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong ngữ lưu và thực hiện chức năng ngữ pháp nhất định trong câu

Hệ thống từ loại có tính chất là cơ sở của cơ cấu ngữ pháp trong ngôn ngữ nhất định [4,16]

Trang 17

Từ đây, ta có thể thấy rằng có rất nhiều các quan niệm khác nhau về từ loại, tuy nhiên ta có thể đưa ra khái niệm chung về từ loại như sau: “Từ loại là kết quả nghiên cứu vốn từ trên bình diện ngữ pháp, được phân chia theo ý ngĩa, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong ngữ lưu và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định trong câu Hệ thống từ loại có tính chất

là cơ sở của cơ cấu ngữ pháp của một ngôn ngữ nhất định”

1.1.2.2 Tiêu chí phân định từ loại

Muốn phân loại các từ của một ngôn ngữ, hoặc muốn xác định từ loại của các từ cần căn cứ vào những tiêu chí nhất định Dưới đây là những tiêu chí phân định từ loại Tiếng Việt

a Ý nghĩa ngữ pháp khái quát

Ý nghĩa khái quát của từ bao gồm các nét nghĩa liên quan đến ý nghĩa

từ vựng (ý nghĩa từ vựng khái quát) và các nét nghĩa liên quan đến ý nghĩa ngữ pháp (ý nghĩa hình thái, ý nghĩa quan hệ)

Ý nghĩa ngữ pháp khái quát loại ý nghĩa phạm trù có mức độ khái quát

cao, do đó là ý nghĩa chung cho các từ thuộc cùng từ loại Ví dụ: Các từ ăn,

chạy, đánh, đào, viết, mua có ý nghĩa khái quát chung chỉ hoạt động; các từ tốt, đẹp, tối, thẳng, cao, thơm có ý nghĩa khái quát chung là chỉ tính chất, đặc điểm

Trong một phạm trù ý nghĩa lại có các ý nghĩa khái quát chỉ mức độ thấp hơn Các ý nghĩa khái quát thấp hơn này là tiêu chí để phân chia một từ loại thành các tiểu loại Ví dụ:

Trong phạm trù ý nghĩa sự vật (của danh từ) có thể phân biệt:

- Nghĩa sự vật đơn thể: là nghĩa khái quát chung của những từ gọi tên

các sự vật tồn tại dưới dạng cá thể: bàn, ghế, xe, học sinh, trâu, lợn,…

- Nghĩa sự vật tổng thể: là ý nghĩa khái quát chung của những từ gọi

tên tổng thể nhiều sự vật cùng loại: bàn ghế, xe cộ, trâu bò, lợn gà, quần áo,

máy móc,…

Trang 18

Ý nghĩa khái quát là một tiêu chí quan trọng vì ý nghĩa khái quát của từ chi phối những đặc điểm trong hoạt động ngữ pháp của từ Nhưng nếu chỉ căn

cứ vào ý nghĩa ngữ pháp thì không thể thấy được đặc điểm khác biệt của từ loại trong các loại hình ngôn ngữ khác nhau, không thể thấy được sự thống nhất giữa ý nghĩa ngữ pháp và hình thức ngữ pháp, chức năng ngữ pháp của

từ Hơn nữa, việc phân định từ loại chỉ dựa trên tiêu chí ý nghĩa sẽ không có tác dụng tích cực đối với thực tiễn sử dụng khi đưa từ vào hoạt động giao tiếp (nói, viết)

Vì vậy, ngoài tiêu chí ý nghĩa khái quát, cần phải sử dụng các tiêu chí khác

b Hình thức ngữ pháp

Hình thức ngữ pháp của từ tiếng Việt không bộc lộ trong bản thân từ

mà bộc lộ ở mối quan hệ giữa các từ trong cụm từ, trong câu Vì vậy khi xem xét đặc điểm các từ về hình thức ngữ pháp của từ tiếng Việt, cần dựa vào khả năng kết hợp của từ khi cấu tạo cụm từ và chức năng cú pháp của từ (khả năng đảm nhiệm các chức năng ngữ pháp trong câu)

Khả năng kết hợp của từ là sự phân bố vị trí của từ trong những hoàn cảnh giống nhau hoặc khác nhau khi chúng kết hợp với từ khác Các từ được phân bố cùng một vị trí, trong một hoàn cảnh giống nhau có thể được tập hợp thành một từ loại

Ví dụ: các từ người, nhà, con, cái, chiếc,… đều có khả năng kết hợp với các từ chỉ số lượng phía trước và các từ này, nọ, kia, ấy, đó, nọ ở phía sau, chúng được tập hợp thành từ loại danh từ; các từ ăn, suy nghĩ, đọc, đào, đốt đều có thể đứng sau đã, đang, sẽ đứng trước xong, rồi,… chúng được tập hợp

thành từ loại động từ…

Khả năng kết hợp ở vị trí phân bố giống nhau là tiêu chuẩn tích cực đối với từ loại này và là tiêu chuẩn tiêu cực đối với từ loại khác (tiêu chuẩn đối lập các từ loại)

Trang 19

Chức năng ngữ pháp của từ

Khả năng đảm nhiệm các chức vụ ngữ pháp của từ trong câu không giống nhau Hoạt động cấu tạo câu chủ yếu được xem xét ở năng lực đảm nhiệm hai thành phần chính ngữ và vị ngữ) trong nòng cốt của câu đơn bình thường Có thể phân biệt những từ có thể đảm nhiệm vai trò thành phần chính (danh từ, động từ, đại từ, số từ) và các từ chỉ đảm nhiệm được vai trò thành phần phụ (phụ từ) hoặc chỉ đảm nhiệm vai trò kết nối các thành phần câu (quan hệ từ) Ngoài ra, còn có những từ không đảm nhiệm vai trò cấu tạo một phần nào trong cấu tạo ngữ pháp của câu (tình thái từ) Các từ có chức năng ngữ pháp điển hình giống nhau có thể xếp vào cùng một từ loại Những từ thuộc các từ loại khác nhau (thường) có chức năng ngữ pháp điển hình không giống nhau Ví dụ:

Các từ đẹp, hai, biếu, học sinh,… có chức năng cú pháp điển hình khác

nhau nên thuộc các từ loại khác nhau

Thành phần chính chủ ngữ thường do danh từ và đại từ đảm nhiệm, vị ngữ thường do động từ và tính từ đảm nhiệm Phụ từ là các từ đi kèm với danh từ, động từ, tính từ Quan hệ từ có vai trò kết nối các thành phần trong câu Ngoài ra, còn có những từ loại không đảm nhiệm vai rò cấu tạo một thành phần nào trong cấu trúc ngữ pháp cơ bản của câu, mà chỉ thể hiện ý nghĩa tình thái (tình thái từ)

1.1.2.3 Kết quả phân loại

Nhìn một cách tổng quát, các từ của tiếng Việt trước hết được phân loại theo các đặc điểm về ý nghĩa và các đặc điểm về hình thức trong hoạt động ngữ pháp thành hai phạm trù lớn là thực từ và hư từ

a Thực từ

a.1 Danh từ

Khái niệm: Danh từ là những từ dùng chỉ sự vật (người, vật, hiện

tượng, khái niệm,…)

Trang 20

Phân loại: Danh từ chia làm hai loại là danh từ chung và danh từ riêng

Danh từ riêng: Dùng chỉ các tên riêng của người hoặc địa danh

- Từ dùng với ý nghĩa đặc biệt: Người, Bác Hồ,

- Từ chỉ sự vật được nhân hoá: Cún, Dế Mèn, Lúa,

- Từ chỉ tên địa phương: Hà Nội, SaPa, Vũng Tàu,

- Từ chỉ địa danh: Hồ Tây, Nhà Thờ Lớn, Suối Tiên,

- Từ chỉ tên sông, núi, cầu, cống: sông Hồng, núi Ba Vì,…

Danh từ chung: Dùng để gọi tên cả một lớp sự vật cùng loại (sông,

nước, nhà, bàn, ghế) Danh từ chung chiếm số lượng lớn có thể tách thành các tiểu loại như:

*Danh từ tổng hợp: Là những danh từ chỉ gộp các sự vật cùng loại

(không tách ra thành các cá thể)

- Về mặt cấu tạo, danh từ tổng hợp thường có cấu tạo theo kiểu từ ghép

đẳng lập, có thể có tiếng mờ nghĩa (Ví dụ: đất nước, quần áo, xe cộ, tre

pheo,…)

- Danh từ tổng hợp có khả năng kết hợp như sau: không kết hợp trực

tiếp với số từ (chính xác), không kết hợp với danh từ chỉ đơn vị cá thể (con,

cái, chiếc,…), nhưng có khả năng kết hợp với các phụ từ tổng thể (tất cả, cả, đoàn thể, hết thảy,…), và các danh từ chỉ đơn vị tổng thể (bọn, bộ, đoàn, tốp, đống,…) Ví dụ:

Không nói:

+ ba quần áo, hai nhà cửa,…

+ cái quần áo, ngôi nhà cửa,…

Có thể nói:

+ tất cả quần áo, hết thảy bạn bè,…

+ toán binh lính, đống quần áo, chồng sách vở,…

Trang 21

* Danh từ trừu tượng: Danh từ trừu tượng chỉ các khái niệm trừu tượng

thuộc phạm trù tinh thần (không thể cảm nhận được bằng giác quan)

Ví dụ: niềm vui, nỗi buồn, cái đẹp, tư tưởng, lập trường, đạo đức, tình

yêu, phương pháp, vấn đề,…

Chúng có thể kết hợp trực tiếp với các từ có ý nghĩa số lượng

Ví dụ: một niềm vui, những phương pháp, vài vấn đề,…

Đôi khi giữa từ chỉ lượng và danh từ trừu tượng có thể có một danh từ chỉ đơn vị

Ví dụ: một nền đạo đức, những luồng ý nghĩ, những nỗi tâm tư,…

*Danh từ chỉ đơn vị: Danh từ chỉ đơn vị chỉ các đơn vị sự vật Chúng

kết hợp trực tiếp sau các từ chỉ số lượng

Ví dụ: hai cái, bốn quyển, năm căn (nhà), vài con, ba mớ,…

Có các nhóm danh từ chỉ đơn vị tiêu biểu sau đây:

+ Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên: cái, con, chiếc, quyển, cuốn, căn, tờ,

cục,…

+ Danh từ chỉ đơn vị quy ước:

Danh từ chỉ đơn vị quy ước chính xác: mét, lít, tấn, tạ, yến, cân,… Danh từ chỉ đơn vị quy ước không chính xác: nắm, mớ, bó, gánh,…

*Danh từ chỉ sự vật đơn thể: Chúng chỉ các sự vật có thể tồn tại thành

từng đơn thể Các sự vật đó là người (hay bộ phận cơ thể người), động vật, cây cối, đồ vật và cả các vật thể tự nhiên

Ví dụ: công nhân, học sinh, gà, chuồn chồn, núi, mây,…

*Danh từ chỉ chất liệu:

- Danh từ chỉ chất liệu không chỉ các vật mà chỉ các chất

Ví dụ: sắt, thép, muối, dầu, đường, đất, cát, mỡ,…

- Khi cần tính đếm, danh từ chỉ chất liệu có thể kết hợp với các từ chỉ số lượng thông qua danh từ chỉ đơn vị quy ước (chính xác hoặc không chính xác)

Trang 22

Ví dụ:

+ một lít nước, một cân đường,…

+ một ngụm nước, một chai nước, một miếng thịt,…

a.2 Động từ

Khái niệm: Động từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật

Ví dụ:

– Đi, chạy, nhảy,… (ĐT chỉ hoạt động)

– Vui, buồn, giận, … (ĐT chỉ trạng thái)

Phân loại: Căn cứ vào khả năng hoạt động đọc lập và ý nghĩa khái quát

của từ, động từ chia làm hai loại:

+ Cậu phải học tập chăm chỉ hơn

+ Cô Tấm biến thành con chim vàng anh

Có thể chia các động từ không độc lập thành các nhóm chủ yếu sau:

- Nhóm động từ tình thái: phải, cần, nên, có thể, không thể,…

- Nhóm động từ chỉ sự biến hóa: hóa, hóa thành, biến, trở thành,…

- Nhóm động từ chỉ sự biễn biến của hoạt động: bắt đầu, kết thúc, tiếp

tục, thôi,…

Trang 23

Ví dụ: đứng, ngồi, nằm, đi, chạy, nhảy, băn khoăn, hồi hộp,…

- Ngoại động từ: chỉ những hoạt động có chuyển đến, tác động đến một đối tượng nào đó

Ví dụ: đẩy (xe), đánh (giặc), viết (thư), phá (nhà),…

ngắt, sâu hoắm, vắng tanh,…)

- Tính từ có thể kết hợp với các từ chỉ mức độ như: rất, hơi, lắm, quá, cực kì, vô cùng,… để tạo tạo thành cụm tính từ (khả năng kết hợp với các phụ

từ mệnh lệnh (như ĐT) ngay trước nó là rất hạn chế)

Phân biệt từ chỉ đặc điểm, từ chỉ tính chất, từ chỉ trạng thái:

– Từ chỉ đặc điểm: Từ chỉ đặc điểm là từ biểu thị các đặc điểm của sự vật, hiện tượng như đã nêu ở trên

+ Từ chỉ đặc điểm bên ngoài: cao, thấp, rộng, hẹp, xanh, đỏ,…

+ Từ chỉ đặc điểm bên trong: tốt, ngoan, chăm chỉ, bền bỉ,…

Trang 24

– Từ chỉ tính chất: từ chỉ tính chất cũng là từ biểu thị những đặc điểm bên trong của sự vật, hiện tượng

VD: Tốt, xấu, ngoan, hư, nặng, nhẹ, sâu sắc, nông cạn, thiết thực,… – Từ chỉ trạng thái: Từ chỉ trạng thái là từ chỉ trạng thái tồn tại của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan

VD: Trời đang đứng gió

a.4 Số từ

Khái niệm: Số từ chỉ số lượng hoặc thứ tự sự vật

- Số từ ít khả năng kết hợp với thành tố phụ Các từ thường đi kèm với

Có 2 loại số từ chỉ số lượng:

+ Số từ xác định: là những số từ chỉ số lượng chính xác

Ví dụ: một, hai, ba, năm, bảy,…

+ Số từ không xác định là những số từ chỉ số lượng không chính xác, ước chừng

Ví dụ: vài, vài ba, hai ba, dăm, mươi,…

- Số từ chỉ thứ tự

VD: Tầng năm/tầng thứ năm

a.5 Đại từ

Khái niệm: Đại từ có chức năng để xưng hô, để trỏ, hoặc để thay thế

(thay thế cho các từ thuộc danh từ, động từ, tính từ, số từ) Khi thay thế cho từ thuộc loại từ nào thì đại từ mang đặc điểm ngữ pháp cơ bản của từ loại ấy

Trang 25

VD: Họ sống và chiến đấu

- Họ là từ chỉ những người được nói đến, thay thế cho danh từ chỉ những người này Trong câu trên, nó làm chủ ngữ

VD: Bạn tôi thích xem phim Tôi cũng thế

Phân loại: Căn cứ vào chức năng thay thế có thể tách biệt các đại từ

- Các đại từ thay thế cho số từ: (bao, bao nhiêu, bây, bấy nhiêu,…)

Những đại từ này có những đặc điểm ngữ pháp như số từ: thường làm thành tố phụ trước cho danh từ để biểu hiện ý nghĩa số lượng

VD: bao nhiêu người, bấy nhiêu sách vở,…

Căn cứ vào mục đích sử dụng, có thể tách các đại từ thành các tiểu loại sau (3 loại):

- Các đại từ xưng hô

+ Người nói tự xưng (tôi, tao, chúng tôi, chúng ta, chúng mình, mình, chúng tớ),

Trang 26

+ Người nói gọi người nghe (mày, chúng mày, mi, ngươi ),…

+ Chỉ người được nói tới (nó, hắn, y thị, chúng nó, họ, chúng, )

Có một bộ phận danh từ chỉ quan hệ thân tộc được dùng như đại từ xưng hô: ông, bà, anh, chị, em, cháu, cô, dì, chú, bác,… (dùng rộng trong giao tiếp xã hội)

Các danh từ thân tộc dùng để xưng hô trong gia đình và trong xã hội thì không phân biệt theo ngôi: cùng một từ có thể dùng ở cả ba ngôi, tuỳ theo tình huống giao tiếp

- Các đại từ chỉ định: (ấy, kia, này, nọ, đó, đấy, đây, này, bây, bấy, )

Các đại từ này thường được làm thành tố phụ kết thúc cụm danh từ, nhưng cũng có thể dùng độc lập Chúng chỉ định sự vật trong không gian hoặc thời gian

Ví dụ : Những em học sinh này rất ngoan

- Các đại từ để hỏi (nghi vấn)

+ Hỏi về người và sự vật (ai, cái gì, ); hỏi về nơi chốn (đâu); hỏi về thời gian (bao giờ); hỏi về đặc điểm, tính chất (nào, sao, ); hỏi về số lượng

(bao, bao nhiêu, )

VD: Ta là ai?

Trong tiếng Việt, tất cả các đại từ để hỏi còn được dùng theo nghĩa phiếm chỉ: chúng không nhằm vào mục đích để hỏi, mà chỉ chung mọi người, mọi sự vật mọi nơi chốn, thời gian, mọi đặc điểm tính chất và số lượng nhưng không ám chỉ một đối tượng cụ thể nào

VD: Việc ai người nấy biết

b Hư từ

- Hư từ cũng có nghĩa nhưng nghĩa của hư từ không thể liên hệ tới một đối tượng nào trong thực tế Do đó, hư từ không thể hiện được chức năng định danh

Trang 27

- Hƣ từ chỉ có ý nghĩa ngữ pháp hoặc tình thái

VD: Nó lại đi

- Hƣ từ không thể đảm nhiệm vai trò thành tố chính trong cấu tạo của

cụm từ và của câu Vai trò của hƣ từ:

+ Hoặc đi kèm với thực từ để làm thành tố phụ bổ sung ý nghĩa nào đó cho thực từ VD: mỗi ngày, đã đi,…

+ Hoặc dùng biểu thị quan hệ giữa các từ, các cụm từ, các câu,…(mẹ của con, đi rồi về,…)

+Hoặc dùng làm dấu hiệu cho các ý nghĩa tình thái (Nóng thế nhỉ!)

Vì thế, chúng đƣợc coi là từ chứng, làm bộc lộ bản chất ngữ pháp của thành tố chính

Trang 28

VD: cả năm người,…

Phụ từ chuyên đi kèm động từ, số từ: (có thể gọi là phó từ)

+ Phụ từ này làm thành tố phụ trước hoặc thành tố phụ sau, bổ sung ý nghĩa ngữ pháp cho động từ hoặc tính từ

+ Phụ từ chỉ thời thể: đã, đang, sẽ,…

+ Phụ từ chỉ ý tiếp diễn, tương tự, đồng nhất: cũng, vẫn, đều, cứ,… + Phụ từ chỉ ý khẳng định/phủ định: có, không, chưa, chẳng,…

+ Phụ từ chỉ mức độ: rất, hơi, quá, lắm,…

+ Phụ từ chỉ cách thức: ngay, liền, luôn, mãi,…

+ Phụ từ: chỉ ý hoàn thành (xong, rồi); chỉ kết quả (được, mãi, ra); ý tự lực (lấy); chỉ ý tương hỗ (nhau), phối hợp (cùng, với); chỉ cách thức (ngay,

chiều, luôn); thường đi sau động từ

VD: Mình đọc hay tôi đọc? - Tôi đọc hay mình đọc?

+ Trong kiểu quan hệ chính phụ, QHT thường gắn với thành phần phụ Khi chuyển chỗ thành phần phụ, QHT cũng thay đổi vị trí với những từ ngữ đứng sau đó

VD: Phải học nhiều để tăng thêm vốn hiểu biết - Để tăng thêm vốn hiểu biết, phải học nhiều

Trang 29

Phân loại:

Căn cứ vào quan hệ ngữ pháp mà QHT biểu thị, có thể chia QHT thành

2 nhóm:

- QHT biểu thị quan hệ đẳng lập:

+ QHT đẳng lập chỉ quan hệ đồng thời, liệt kê: và, với, cùng,…

+ QHT chỉ quan hệ nối tiếp: rồi, đoạn,…

+ QHT chỉ quan hệ đối chiếu, tương phản: còn, nhưng, chứ,…

+ QHT chỉ quan hệ lựa chọn: hay, hoặc

- QHT biểu thị quan hệ chính phụ: dùng để kết nối các thành phần quan hệ chính phụ

+ QHT chỉ quan hệ sở hữu: của, thuộc

+ QHT chỉ quan hệ mục đích: cho, để, vì, mà,…

+ QHT chỉ nguyên nhân: vì, do, tại, bởi,…

+ QHT cách thức, phương tiện: bằng, với,…

+ QHT chỉ quan hệ thời gian, không gian: ở, tại, từ, đến,…

+ QHT chỉ quan hệ giải thích, thuyết minh, so sánh: là, bằng, như,…

+ Tình thái từ cầu khiến: đi, nào, với,…

VD: Cứu tôi với!

+ Tình thái từ cảm thán: thay, sao, biết bao,

VD: Đẹp biết bao!

+ Tình thái từ biểu thị sắc thái biểu cảm: ạ, nhé, cơ, mà,…

Trang 30

VD: Cháu chào bác ạ!

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Vị trí, nhiệm vụ của việc dạy học phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học

1.2.1.1 Vị trí của phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học

Phân môn Luyện từ và câu là một phân môn có vị trí đặc biệt quan trong ở trường Tiểu học Ngoài việc xây dựng thành phân môn độc lập, các kiến thức, kĩ năng về từ và câu còn được tích hợp trong các phân môn còn lại của môn tiếng Việt và cả trong các môn học khác ở trường Tiểu học Vị trí quan trọng của phân môn này được quy định bởi tầm quan trọng của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ

Từ là một đơn vị cơ bản của hệ thống ngôn ngữ Muốn nắm được một ngôn ngữ nào đó, đầu tiên phải nắm được vốn từ Nếu như không làm chủ được vốn từ của một ngôn ngữ thì không thể sử dụng được ngôn ngữ đó như một công cụ để học tập và giao tiếp Ngoài ra, vốn từ ngữ của con người càng giàu bao nhiêu thì khả năng lựa chọn từ ngữ của người đó càng lớn, khả năng diễn đạt của người đó càng tinh tế bấy nhiêu Vì vậy, dạy học Luyện từ và câu cho học sinh Tiểu học là phải làm giàu vốn từ cho học sinh, phải chú trọng đến số lượng từ, tính đa dạng và tính năng động của từ

Tuy nhiên, từ không phải là đơn vị trực tiếp sử dụng trong giao tiếp Muốn giao tiếp, đơn vị cơ bản tối thiểu là câu Nếu không nắm được các quy tắc ngữ pháp của một ngôn ngữ thì con người không thể sử dụng ngôn ngữ đó làm công cụ để giao tiếp Vì vậy, dạy từ ngữ cho học sinh phải gắn liền với dạy câu, dạy các quy tắc kết hợp từ thành câu, quy tắc sử dụng câu nhằm đạt hiệu quả giao tiếp cao,…

1.2.1.2 Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu

Phân môn này có nhiệm vụ tổ chức cho học sinh thực hành làm giàu vốn từ, cụ thể là:

Trang 31

Chính xác hóa vốn từ (dạy nghĩa từ): Là giúp học sinh có thêm những

từ mới, những nghĩa mới của từ đã học, thấy được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ

Hệ thống hóa vốn từ (trật tự hóa vốn từ): là giúp học sinh sắp xếp các

từ thành một trật tự trong trí nhớ của mình để có thể ghi nhớ từ nhanh, nhiều

và tạo ra tính thường trực của từ

Tích cực hóa vốn từ: là giúp cho học sinh loại bỏ khỏi vốn từ những từ ngữ không văn hóa, tức là những từ thông tục hoặc sử dụng sai phong cách Mặt khác, còn phải cung cấp cho học sinh một số khái niệm lý thuyết cơ bản

và sơ giản về từ vựng học như về cấu tạo từ, các lớp từ có quan hệ về nghĩa,… để học sinh có cơ sở nắm nghĩa một cách chắc chắn và biết hệ thống hóa vốn từ một cách có ý thức

Phân môn này phải tổ chức cho học sinh thực hành để rèn luyện các kĩ năng cơ bản về ngữ pháp như kĩ năng đặt câu đúng ngữ pháp, kĩ năng sử dụng các dấu câu, kĩ năng sử dụng các kiểu câu phù hợp với mục đích nói, tình huống lời nói để đạt hiệu quả giao tiếp cao, kĩ năng liên kết các câu để tạo thành đoạn văn, văn bản

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ thực hành, phân môn Luyện từ và câu phải cung cấp cho học sinh một số khái niệm, một số quy tắc ngữ pháp cơ bản, sơ giản và tối thiểu nhất: bản chất của từ loại, thành phần câu, dấu câu, các kiểu câu, quy tắc sử dụng câu trong giao tiếp và các phép liên kết câu

Ngoài các nhiệm vụ trên, phân môn Luyện từ và câu phải chú trọng rèn luyện tư duy, giáo dục thẩm mĩ cho học sinh

1.2.2 Nội dung chương trình dạy học về từ loại tiếng Việt trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4

Tuần thứ 5, học sinh được học từ loại cơ bản bậc nhất của tiếng Việt - danh từ: tìm các từ chỉ sự vật trong đoạn thơ sau đó, SGK yêu cầu chính học

Trang 32

sinh xếp các từ mới tìm được vào nhóm thích hợp: từ chỉ người, từ chỉ sự vật,

từ chỉ hiện tượng, từ chỉ khái niệm, từ chỉ đơn vị (mỗi tiểu loại SGK có xếp mẫu các từ) Các em ghi nhớ: danh từ là những từ chỉ sự vật (người, vật, hiện tượng, khái niệm hoặc đơn vị) Ngay sau phần Ghi nhớ là phần Luyện tập: tìm các danh từ chỉ khái niệm trong số các danh từ được in đậm trong đoạn văn; đặt câu với một danh từ khái niệm vừa tìm được

Tuần thứ 6: học sinh được học hai tiểu loại danh từ: danh từ chung và danh từ riêng: bằng yêu cầu tìm những từ có nghĩa cho sẵn, so sánh các cặp

từ, nêu cách viết các từ trên (các em đã được học: tên riêng phải viết hoa) Phần ghi nhớ: Danh từ chung là tên của một loại sự vật Danh từ riêng là tên riêng của một sự vật Danh từ riêng luôn luôn được viết hoa

Tuần 7: Trong Luyện từ và câu (tiết 1), học sinh được học cách viết tên người, tên địa lý Việt Nam, từ việc nhận xét cách viết những tên riêng: tên người, tên địa lý, SGK đi đến ghi nhớ: Khi viết tên người, tên địa lý Việt Nam cần viết hoa chữ cái đầu của mỗi tiếng tạo thành tên đó Phần Luyện tập: viết tên em và địa chỉ gia đình em, viết tên một số xã (phường, thị trấn) ở huyện (quận, thị xã, thành phố) của em, viết tên và tìm trên bản đồ các quận, huyện, các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử ở tỉnh hoặc thành phố của em Sang tiết

2, các em vẫn được luyện tập cách viết tên người, tên địa lý Việt Nam nhưng bằng cách sửa lỗi viết hoa danh từ riêng qua ngữ liệu là bài ca dao gồm rất nhiều địa danh ở Hà Nội Đặc biệt, lần đầu tiên trong tiết Luyện từ và câu phần

từ loại xuất hiện kiểu bài tập trò chơi: trò chơi du lịch trên bản đồ Việt Nam

Tuần 8: Cách viết hoa tên người, tên địa lý nước ngoài: đọc các tên người, địa lý nước ngoài, nêu nhận xét về cấu tạo và cách viết mỗi bộ phận trong tên nước ngoài: cách viết tên người, địa lý (ngữ liệu là những tên riêng phiên âm theo tiếng Hán) có điểm gì đặc biệt, sau đó rút ra ghi nhớ: khi viết tên người, tên địa lý nước ngoài, ta viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo

Trang 33

thành tên đó, nếu tên nào gồm có nhiều tiếng thì giữa các tiếng có gạch nối

Có một số tên người, tên địa lý nước ngoài có cách viết giống như tên người, tên địa lý Việt Nam Đó là những tên riêng được phiên âm theo âm Hán Việt Luyện tập bằng cách chữa lỗi viết các tên riêng và trò chơi du lịch: thi ghép đúng tên nước với tên thủ đô của nước ấy

Tuần 9: Học sinh được học khái niệm về một từ loại cơ bản nữa, đó là động từ Từ ngữ liệu đoạn văn, yêu cầu các em tìm các từ chỉ hoạt động của các nhân vật trong đoạn, từ chỉ hoạt động, trạng thái của các sự vật, sau đó đi tới phần ghi nhớ: động từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật Phần Luyện tập cho học sinh viết tên các hoạt động em thường làm ở nhà và

ở trường, gạch chân dưới những động từ trong cụm từ chỉ hoạt động đó; tìm những động từ trong các đoạn văn và các bài tập dưới hình thức trò chơi: xem kịch câm, nói tên các hoạt động, trạng thái được thể hiện bằng cử chỉ, động tác không lời

Tuần 11: Luyện từ và câu (tiết 1): Luyện tập về động từ, học về ý nghĩa

và cách sử dụng của các từ (phụ từ) hay đứng trước động từ: đã, sẽ, đang

Ở tiết Luyện từ và câu thứ hai trong tuần, SGK cung cấp khái niệm sơ giản về tính từ cho học sinh: qua ngữ liệu là một truyện kể về danh nhân nước ngoài, yêu cầu học sinh tìm các từ chỉ tính tình, tư chất của nhân vật, màu sắc, hình dáng, kích thước và các đặc điểm khác của sự vật; tìm hiểu cả ý nghĩa của tính từ với một ngữ động từ, sau đó rút ra ghi nhớ: Tính từ là những từ miêu tả đặc điểm, tính chất của sự vật, hoạt động, trạng thái,… Phần luyện tập

là bài nhận diện các tính từ và sử dụng tính từ để đặt câu nói về những sự vật quen thuộc

Tuần 12: Tính từ (tiếp theo) so sánh sự khác nhau trong việc miêu tả các sự vật, các thể hiện ý nghĩa mức độ sau đó cho học sinh ghi nhớ: có một

số cách thể hiện mức độ của đặc điểm, tính chất như sau: tạo ra các từ ghép

Trang 34

hoặc từ láy với tính từ đã cho; thêm các từ rất, quá, lắm,…vào trước hoặc sau

tính từ, tạo ra phép so sánh Phần Luyện tập có các bài tập nhận diện các từ ngữ biểu thị mức độ của tính từ; tìm những từ ngữ miêu tả mức độ khác nhau của các tính từ chỉ màu sắc, hình dạng, trạng thái cho trước; đặt câu với mỗi

từ vừa tìm được

Tuần 17: Trong bài Vị ngữ trong câu kể Ai làm gì?, học sinh thấy rõ

hơn vai trò vị ngữ của động từ

Tuần 19: Học sinh lại được nắm rõ hơn vai trò ngữ pháp của danh từ: chủ ngữ thường do danh từ (cụm danh từ) tạo thành

1.2.3 Thực trạng của việc dạy và học danh từ, động từ, tính từ của học sinh lớp 4

1.2.3.1 Mục đích của việc tìm hiểu khả năng nhận diện danh từ, động từ, tính

từ của học sinh lớp 4

Từ mục đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát khả năng nhận diện và sử dụng danh từ, động từ, tính từ của học sinh qua các bài tập Luyện từ và câu Từ đó, chúng tôi nắm bắt được thực trạng và khả năng của học sinh trong việc học về danh từ, động từ, tính từ, biết được điểm mạnh, điểm yếu của học sinh cũng như những khó khăn, thuận lợi mà học sinh và giáo viên gặp phải trong quá trình dạy và học về từ loại Qua đây, chúng tôi định hướng và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao khả năng nhận diện và sử dụng từ loại cho học sinh lớp 4 qua phân môn Luyện từ và câu

1.2.3.2 Đối tượng và phạm vi khảo sát

Đối tượng : Để tìm hiểu về khả năng nhận diện danh từ, động từ, tính

từ cho học sinh, chúng tôi tiến hành khảo sát, phát phiếu điều tra cho học sinh lớp 4A, 4B - Trường Tiểu học Tiên Dương - Đông Anh- Hà Nội và học sinh lớp 4A, 4B - Trường Tiểu học Liên Hòa - Lập Thạch - Vĩnh Phúc

Trang 35

Phạm vi: Thông qua một số dạng bài tập Luyện từ và câu về từ loại mà

học sinh lớp 4 đã học, chúng tôi tiến hành điều tra khả năng nhận diện danh

từ, động từ, tính từ cho học sinh lớp 4A, 4B - Trường Tiểu học Tiên Dương - Đông Anh - Hà Nội và học sinh lớp 4A, 4B - Trường Tiểu học Liên Hòa - Lập Thạch- Vĩnh Phúc

1.2.3.3 Nội dung tìm hiểu khả năng nhận diện danh từ, động từ, tính từ của học sinh

Đối với việc dạy học các bài tập về thực hành từ loại, theo chương trình SGK tiếng Việt, hệ thống từ loại tiếng việt mà học sinh lớp 4 được học gồm 5 dạng, tôi đã tiến hành cho học sinh làm các bài tập thuộc 5 dạng đó vào 2 phiếu bài tập (Phiếu số 1 và phiếu số 2)

Trang 36

1.2.3.4 Kết quả khảo sát khả năng nhận diện danh từ, động từ, tính từ của

học sinh

BẢNG KẾT QUẢ KHẢO SÁT Bảng 1

PHIẾU

Dương

Tiểu học Liên Hòa

Tỉ lệ học sinh đạt loại khá - giỏi ở cả hai phiếu khảo sát của hai trường còn thấp, số học sinh đạt điểm trung bình còn tương đối cao và vẫn xuất hiện nhiều học sinh xếp loại yếu

Trang 37

1.3 Nguyên nhân dẫn đến khả năng nhận diện danh từ, động từ, tính từ của học sinh lớp 4 còn hạn chế

Phần kiến thức về từ loại trong phân môn Luyện từ và câu tương đối phức tạp, đòi hỏi giáo viên phải có năng lực Một số giáo viên chưa đầu tư thời gian để nghiên cứu kiến thức và đưa ra những phương pháp dạy học phù hợp với học sinh, còn lệ thuộc vào SGK, SGV dẫn đến việc dạy học trở nên khô khan, nhàm chán, không gây được hứng thú cho học sinh

Nhiều giáo viên chưa quan tâm đến việc mở rộng vốn từ, phát triển từ cho học sinh, giúp học sinh làm giàu vốn từ

Nhiều giáo viên chưa nắm rõ nội dung và phương pháp dạy của từng dạng bài tập về từ loại Dẫn đến chưa đưa ra được những phương pháp phù hợp với học sinh

Giáo viên chưa hiểu rõ được ý định của nhà biên soạn, cách dạy còn đơn điệu, máy móc, lệ thuộc vào SGK, SGV, chưa có sức hấp dẫn và gây được sự chú ý với học sinh Đa số giáo viên chỉ chú trọng đến kiến thức mà không quan tâm đến việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh, vận dụng vào giao tiếp

Mỗi học sinh có khả năng, trình độ khác nhau, vì vậy giáo phải nắm bắt được trình độ của từng học sinh và có phương pháp dạy học theo trình độ học sinh

Phần lớn học sinh chưa ý thức được tầm quan trọng của phân môn Luyện từ và câu mảng kiến thức về từ loại nên chưa đầu tư thời gian vào việc học từ loại

1.4 Tiểu kết chương 1

Trong chương một chúng tôi đã chọn một số lý thuyết tiêu biểu của các vấn đề lí luận có liên quan làm sở lí thuyết cho đề tài Đồng thời chúng tôi cũng nghiên cứu nội dung chương trình dạy học về từ loại tiếng Việt trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4 để từ đó điều tra thực trạng của việc dạy và

Trang 38

học danh từ, động từ, tính từ của học sinh lớp 4 Từ đó, chúng tôi hiểu rõ hơn

về tình hình cũng nhƣ chất lƣợng học tập của học sinh về từ loại Đây chính là

cơ sở thực tiễn của khóa luận Những lí luận liên ngành và hiểu biết thực tiễn

đã đƣợc trình bày ở trên sẽ là căn cứ khoa học chắc chắn giúp tôi thực hiện các nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu của đề tài khóa luận

Trang 39

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG NHẬN DIỆN DANH

TỪ, ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ CHO HỌC SINH LỚP 4 QUA PHÂN MÔN

LUYỆN TỪ VÀ CÂU

2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp nâng cao khả năng nhận diện từ loại

cơ bản của học sinh

Trong môn tiếng Việt, ở phân môn Luyện từ và câu, mảng kiến thức về

từ loại rất đa dạng và phức tạp, không chỉ đối với học sinh mà với cả giáo viên trong lĩnh vực chuyên sâu Để học sinh nắm chắc các kiến thức về từ, tạo nền tảng vững chắc cho việc học tập và sử dung ngôn ngữ ngày càng phong phú, thì việc giảng dạy nội dung từ loại vô cùng quan trọng

Khi giảng dạy nội dung về từ loại, giáo viên phải đảm bảo các nguyên tắc chung, nắm chắc quy trình thiết kế bài giảng và các yêu cầu về nội dung, hình thức, tính sư phạm, hiệu quả tiết dạy Trong những năm gần đây, những phương pháp dạy học tích cực dần được áp dụng và mang lại tính hiệu quả cao Theo các phương pháp này, học sinh không phải là người thụ động tiếp thu kiến thức vì vậy sẽ tránh được tình trạng nhàm chán, thay vì đó không khí lớp học sẽ trở nên sôi nổi, học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập

Tuy nhiên, khi sử dụng các phương pháp dạy học Luyện từ và câu nói chung và các bài tập về từ loại nói riêng, người giáo viên cần chú ý các nguyên tắc cơ bản sau:

- Phải căn cứ vào mục tiêu, nội dung, hình thức của bài học để lựa chọn phương pháp phù hợp

- Phương pháp dạy học phải phù hợp với đối tượng học sinh

- Phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các phương pháp nhằm đem lại tính hiệu quả cao

Trang 40

- Đảm bảo tất cả HS trong lớp đều được hướng dẫn, khám phá và tự chiếm lĩnh tri thức

Để giúp học sinh học tốt hơn mảng kiến thức về từ loại, đặc biệt là khả năng nhận diện đòi hỏi phải có những biện pháp cụ thể Chính vì vậy, tôi mạnh dạn nghiên cứu và đưa ra một số biện pháp giúp giáo viên và học sinh

2.2 Một số biện pháp nâng cao khả năng nhận diện từ loại cơ bản cho học sinh

2.2.1 Phương pháp giảng giải

Với phương pháp này, GV sẽ là người cung cấp cho học sinh những kiến thức về danh từ, động từ, tính từ và sự chuyển loại của từ qua các bài dạy học về từ loại trong chương trình tiếng Việt lớp 4, giảng giải rõ hơn giúp học sinh nắm vững và nhận diện một cách chính xác danh từ, động từ, tính từ

* Cung cấp các kiến thức về từ loại

a Danh từ

- Khái niệm: Danh từ là những từ chỉ sự vật (bao gồm các thực thể như người, động vật, đồ vật, cây cối, các vật thể tự nhiên, các hiện tượng xã hội và các khái niệm trừu tượng thuộc phạm trù tinh thần)

Ví dụ: người, học sinh, công nhân, mèo, châu chấu, tu hú, bàn, ghế, xe,

cam, chuối, rong rêu, núi, đồi,…

- Danh từ có thường kết hợp với các từ chỉ số, chỉ lượng ở trước và các đại từ chỉ định (này, kia, ấy, nọ) ở sau để tạo nên một cụm từ chính phụ mà nó làm trung tâm Ví dụ:

+ những phương pháp này

+ ba học sinh ấy

Ngoài ra, có thể nhận diện danh từ căn cứ vào khả năng kết hợp với từ

nghi vấn nào ở phía sau để cấu tạo câu hỏi Những từ không có khả năng đó

không phải là danh từ Ví dụ:

Ngày đăng: 06/09/2017, 09:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG KẾT QUẢ KHẢO SÁT  Bảng 1 - Nâng cao kĩ năng nhận diện danh từ, động từ, tính từ cho học sinh lớp 4 qua phân môn luyện từ và câu
Bảng 1 (Trang 36)
Bảng 3: Kết quả kiểm tra trước và sau thực nghiệm của lớp đối chứng - Nâng cao kĩ năng nhận diện danh từ, động từ, tính từ cho học sinh lớp 4 qua phân môn luyện từ và câu
Bảng 3 Kết quả kiểm tra trước và sau thực nghiệm của lớp đối chứng (Trang 56)
Bảng 4: Kết quả kiểm tra trước và sau thực nghiệm của lớp thực nghiệm - Nâng cao kĩ năng nhận diện danh từ, động từ, tính từ cho học sinh lớp 4 qua phân môn luyện từ và câu
Bảng 4 Kết quả kiểm tra trước và sau thực nghiệm của lớp thực nghiệm (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w