1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Mở rộng vốn từ thông qua phân môn tập đọc cho học sinh lớp 4,5

86 704 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tư cách là một phân môn đặc biệt quan trọng trong môn Tiếng Việt, Tập đọc giúp học sinh có thể mở rộng được vốn từ, nắm vững nghĩa của từ, nắm nội dung của bài học, của chủ điểm, vừa

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt

Người hướng dẫn khoa học

ThS VŨ THỊ TUYẾT

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình học tập tại trường, trang bị cho em những kiến thức quý báu và tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành tốt khóa luận đại học

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo – ThS Vũ Thị Tuyết, người đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên

cứu và hoàn thành khóa luận này

Qua đây, em cũng gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu và các thầy cô giáo trường Tiểu học Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện cho em trong quá trình thực hiện đề tài

Hà Nội, ngày tháng 4 năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng Phượng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Cấu trúc khóa luận 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC MỞ RỘNG VỐN TỪ THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 5

1.1 Cơ sở lí luận 5

1.1.1 Đặc điểm tâm lí 5

1.1.2 Đặc điểm nhận thức 5

1.1.3 Cơ sở ngôn ngữ 9

1.2 Cơ sở thực tiễn 20

1.2.1 Vị trí và nhiệm vụ phân môn Tập đọc 20

1.2.2 Vai trò của phân môn Tập đọc 22

1.2.3 Nội dung chương trình môn Tập đọc ở tiểu học 22

1.2.5 Nội dung phân môn Tập đọc lớp 4, 5 25

Tiểu kết chương 1: 34

CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC 36

2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 36

2.1.1 Nguyên tắc khoa học 36

2.1.2 Nguyên tắc thực tiễn 36

2.1.3 Nguyên tắc hiệu quả 36

2.1.4 Nguyên tắc khả thi 37

Trang 5

2.2 Các biện pháp đề xuất 37

2.2.1 Biện pháp 1: Xây dựng hệ thống bài tập giải nghĩa từ 37

2.2.3 Biện pháp 3: Sử dụng phương pháp làm việc theo nhóm để mở rộng vốn từ và tạo môi trường giao tiếp cho học sinh luyện tập sử dụng từ trong giờ Tập đọc 43

2.2.4 Biện pháp 4: Sử dụng trò chơi học tập giúp học sinh mở rộng vốn từ và củng cố vốn từ trong giờ Tập đọc 49

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 59

3.1 Mục đích thực nghiệm 59

3.2 Đối tượng thực nghiệm 59

3.3 Cách thức tiến hành thực nghiệm 59

3.5 Tiến hành thực nghiệm 60

3.5.1 Soạn giáo án 60

3.5.2 Dự giờ các tiết dạy thực nghiệm lớp 4, 5 60

3.5.3 Tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm 61

3.6 Kết quả thực nghiệm 62

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC

Trang 6

vị lớn nhất trong hệ thống ngôn ngữ và nhỏ nhất để tạo câu Con người nếu không có vốn từ phong phú thì khó giải thích và tư duy một cách dễ dàng Chính vì vậy việc mở rộng vốn từ cho học sinh là rất quan trọng Vốn từ của học sinh càng giàu bao nhiêu thì khả năng lựa chọn từ ngữ càng lớn, càng chính xác và sự trình bày tư tưởng, tình cảm càng rõ ràng sâu sắc bấy nhiêu Đối với học sinh Tiểu học việc mở rộng vốn từ cho các em là rất cần thiết Tâm hồn và trí tuệ của các em như một túi vải trống rỗng, các em phải từng ngày tích cóp, để cho bản thân những kinh nghiệm quý báu Trong quá trình đó ngôn ngữ nói chung và vốn từ nói riêng của các em được phát triển Với tư cách là một phân môn đặc biệt quan trọng trong môn Tiếng Việt, Tập đọc giúp học sinh có thể mở rộng được vốn từ, nắm vững nghĩa của từ, nắm nội dung của bài học, của chủ điểm, vừa rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ Nhờ

đó vốn từ của học sinh ngày càng phong phú, khả năng sử dụng ngôn ngữ chính xác, sinh động và linh hoạt hơn

Thực tế việc dạy học ở trường tiểu học hiện nay đã chú trọng “Dạy cho học sinh những kiến thức cơ bản về tiếng Việt” để từ đó rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp, thông qua việc rèn 4 kĩ năng “nghe, nói, đọc, viết” Riêng đối với “từ”, chương trình đã chú trọng dạy cho học sinh ở tất cả các phân môn của môn Tiếng Việt, trong đó phân môn Tập đọc ở lớp 4,5 là quan trọng Nhưng chất lượng của việc mở rộng vốn từ chưa đạt được như mục

Trang 7

2

đích, yêu cầu môn học đặt ra Biểu hiện ở khả năng sử dụng cũng như những hiểu biết của học sinh về tiếng Việt còn hạn chế, vốn từ nghèo nàn, kĩ năng thực hành sử dụng từ còn yếu Học xong tiểu học nhiều em không có khả năng tạo ra văn bản bình thường (đơn từ, biên bản) hay trình bày một vấn đề nhỏ mạch lạc

Xuất phát từ những lí do vừa được trình bày trên đây, chúng tôi chọn đề

tài “Mở rộng vốn từ thông qua phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4, 5”

với mong muốn đi sâu nghiên cứu, đề xuất biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh qua phân môn Tập đọc và góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học nói riêng và việc phát triển ngôn ngữ cho học sinh nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học trước đây cũng có nhiều công trình nghiên cứu quan tâm tới

- Năm 2001, tác giả Lê Phương Nga đã viết cuốn “ Dạy học tập đọc ở

tiểu học” Ở đây tác giả đã xác định rõ “ Đọc giúp các em chiếm lĩnh được

một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập…” và đưa ra các cách thức

tổ chức dạy học môn tập đọc cho các lớp học cụ thể ở tiểu học

- Năm 2002, TS Nguyễn Thị Hạnh đã có công trình nghiên cứu về “ Dạy

học đọc hiểu ở tiểu học” Với công trình nghiên cứu này, tác giả đã nêu bật

được các đặc điểm của bài dạy học đọc hiểu cũng như đưa ra các cách thức, phương pháp, hệ thống bài tập cho bài dạy học đọc hiểu ở tiểu học

- Lê Hữu Thỉnh - Dạy từ ngữ cho học sinh tiểu học Ở đây tác giả đưa ra

các cách mở rộng vốn từ rất cụ thể nhưng chủ yếu được sử dụng trong chương trình sách giáo khoa cũ

Trang 8

3

- Trong các cuốn: “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học” cũng như “ Hỏi đáp về Tiếng Việt 4,5” thì các tác giả của các công trình này chủ

yếu hướng dẫn các cách mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu

- Trong công trình nghiên cứu của ThS Phạm Thị Kim Chung – mã số

142 có đề tài “ Dạy học mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4,5” đã nói đến việc

mở rộng vốn từ của học sinh

- Công trình nghiên cứu của Nguyễn Mai Liên – mã số 17 đã nghiên cứu

về việc mở rộng vốn từ của học sinh nhưng chỉ dừng lại ở từ láy với đề tài “

Khảo sát khả năng nhận biết, tích lũy và mở rộng vốn từ láy của học sinh Tiểu học”

- Trong cuốn “ Tạp chí khoa học ĐHSP TPHCM” , số 6, năm 2015 của

tác giả Vũ Thị Ân đã đề cập đến việc mở rộng vốn từ tích hợp với dạy nghĩa của từ cho học sinh tiểu học

- Trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Vĩnh – mã số 07301 với

đề tài “Mở rộng vốn từ trong môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 3” đã đề cập đến việc mở rộng vốn từ của học sinh ở cả hai phân môn Luyện từ và câu và Tập đọc nhưng mới chỉ dừng lại ở đối tượng học sinh lớp 3

Có thể nói, vấn đề mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học là một vấn đề không phải hoàn toàn mới, có rất nhiều tài liệu đã đề cập đầy đủ và sâu sắc mọi khía cạnh của việc dạy từ cũng như mở rộng vốn từ cho học sinh Tuy nhiên, các tài liệu trên chủ yếu đề cập một cách tổng quát về vấn đề dạy học các phân môn của môn Tiếng Việt ở tiểu học và vấn đề mở rộng vốn từ cho học sinh phần lớn chỉ mới dừng lại ở phân môn Luyện từ và câu Vì vậy,

chúng tôi mạnh dạn xây dựng đề tài “Biện pháp mở rộng vốn từ thông qua phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4,5” Kết quả nghiên cứu của các công

trình đi trước sẽ định hướng để chúng tôi hoàn thành khóa luận này

Trang 9

4

3 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinhlớp 4,5 qua phân môn Tập đọc, nhằm giúp các em có vốn từ phong phú, thuận lợi, dễ dàng hơn trong viết văn và giao tiếp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Việc mở rộng vốn từ cho cho học sinh lớp 4,5 thông qua phân môn Tập đọc

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Việc dạy và học mở rộng vốn từ thông qua phân môn Tập đọc lớp 4,5 tại trường tiểu học Trưng Nhị, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài

- Tìm hiểu thực trạng việc mở rộng vốn từ trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4,5 trong vài năm gần đây

- Đề xuất một số biện pháp dạy học mở rộng vốn từ cho học sinh

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp đọc và nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp so sánh đối chiếu

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

Trang 10

5

Chương 2: Các biện pháp phát triển vốn từ cho học sinh lớp 4,5 thông

qua phân môn Tập đọc

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC

MỞ RỘNG VỐN TỪ THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC CHO HỌC

SINH LỚP 4, 5 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Đặc điểm tâm lí

Đối tượng của cấp tiểu học là trẻ em từ 6 đến 11 tuổi Học sinh tiểu học

là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ, và trong sáng Ở mỗi trẻ em tiềm tàng khả năng phát triển về trí tuệ, lao động, rèn luyện và hoạt động xã hội để đạt một trình độ nhất định về lao động nghề nghiệp, về quan hệ giao lưu và chăm

lo cuộc sống cá nhân, gia đình Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học là thực thể đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lí, tâm lí, xã hội Các em đang từng bước gia nhập vào xã hội thế giới của mọi mối quan hệ Do đó, học sinh tiểu học chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong

xã hội, mà các em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, của gia đình, nhà trường và xã hội

1.1.2 Đặc điểm nhận thức

a Tri giác

Học sinh bậc tiểu học tri giác mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không chủ động Các em khó phân biệt chính xác sự giống nhau hay khác nhau giữa các sự vật Về tri giác độ lớn, các em có khó khăn khi phải quan sát các vật có kích thước lớn hoặc nhỏ Thí dụ các em cho rằng quả đất to bằng máy tính, con vi trùng nhỏ bằng hạt tấm… Về tri giác thời gian

Trang 11

6

còn phát triển chậm, các em khó hình dung “ngày xưa”, “thế kỉ” Hơn nữa, trẻ thường phân biệt được những chi tiết ngẫu nhiên mà người lớn ít chú ý đến, nhưng chưa nhìn thấy được những chi tiết quan trọng và bản chất Tri giác của học sinh tiểu học phát triển trong quá trình học tập Sự phát triển này diễn

ra theo hướng ngày càng chính xác hơn, đầy đủ hơn, phân hóa rõ ràng hơn, có chọn lọc hơn Vì vậy học sinh các lớp cuối tiểu học ( lớp 4,5) đã biết tìm ra các dấu hiệu đặc trưng của đối tượng, biết phân biệt sắc thái của các chi tiết

để đi đến phân tích tổng hợp và tìm ra mối liên hệ giữa chúng

b Trí nhớ

Ở học sinh tiểu học cả ghi nhớ có chủ định và không có chủ định đều đang phát triển Học sinh lớp 1, lớp 2 ghi nhớ không chủ định vẫn giữ vai trò quan trọng Các em thường học thuộc bài một cách máy móc, chưa biết sử dụng cách ghi nhớ có điểm tựa, chưa biết cách phân chia tài liệu, dùng hình

vẽ, sơ đồ để hỗ trợ cho việc ghi nhớ Ở những lớp học này các em thường ghi nhớ một cách máy móc Do vậy, để tránh cho các em không học vẹt, thầy, cô giáo cần hướng dẫn cho các em biết ghi nhớ có ý nghĩa Ở cuối bậc tiểu học,

học sinh lớp 4, lớp 5 ghi nhớ có chủ định phát triển mạnh

c Tưởng tượng

Tưởng tượng của các em học sinh tiểu học đã phát triển và phong phú hơn nhiều so với trẻ em mẫu giáo Đây là tuổi thơ mộng giàu tình cảm Tuy nhiên tưởng tượng của các em vẫn còn tản mạn, ít có tổ chức Hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi, chưa bền vững, càng về những năm cuối của bậc tiểu học, tưởng tượng của các em càng gần hiện thực hơn Tưởng tượng được hình thành và phát triển trong hoạt động học tập và các hoạt động khác cuả các em Khuynh hướng chủ yếu trong sự phát triển của học sinh tiểu học được hoàn thiện gắn liền với những hình tượng đã được tri giác trước và tạo ra những hình tượng phù hợp với điều mô tả, hình vẽ, sơ đồ….Hình ảnh

Trang 12

7

tưởng tượng của trẻ lúc đầu còn phải dựa trên những đối tượng cụ thể, hình ảnh tưởng tượng mờ nhạt, không rõ ràng, các chi tiết trong hình ảnh tưởng tượng còn nghèo nàn và tản mạn, về sau nó lại được phát triển trên cơ sở ngôn

từ, hình ảnh tưởng tượng ngày càng trở nên khái quát, trọn vẹn hơn, ngày càng trở nên phân biệt hơn, chính xác hơn Trẻ càng lớn thì các yếu tố, chi tiết thừa trong hình ảnh càng giảm và hình ảnh cũng được gọt giũa hơn, tinh giản hơn, nên mạch lạc hơn và sát thực hơn

d Tư duy

Tư duy của học sinh tiểu học là sự chuyển từ tính trực quan, cụ thể sang tính trừu tượng, khái quát Sự vận dụng các thao tác tư duy để hình thành khái niệm thường trải qua ba mức độ Một là chủ yếu dựa vào các dấu hiệu trực quan, bề ngoài, dễ thấy hay các dấu hiệu dễ gây cảm xúc đó là dấu hiệu không bản chất Hai là dựa trên dấu hiệu bản chất nhưng là dấu hiệu dễ thấy, song vẫn còn lẫn lộn giữa dấu hiệu bản chất và dấu hiệu không bản chất, các dấu hiệu đó vẫn gắn với những hình ảnh trực quan , với những biểu tượng cụ thể

Ba là các em biết tách dấu hiệu bản chất khỏi dấu hiệu không bản chất, nhưng phải dựa vào sự vật cụ thể, trực quan, mặt khác dấu các dấu hiệu bản chất nêu

ra vẫn chưa dầy đủ Năng lực trừu tượng hóa và khái quát hóa đang phát triển nhưng chưa đầy đủ , còn phải dựa vào những sự vật cụ thể, những tài liệu trực quan Các em chưa thể tự mình suy luận một cách logic và thường dựa vào những mối liên hệ ngẫu nhiên của sự vật và hiện tượng

e Ngôn ngữ

Ngôn ngữ của học sinh tiểu học phát triển mạnh cả về ngữ âm, ngữ pháp

và từ vựng Vốn từ của các em tăng lên một cách đáng kể do được học nhiều môn và phạm vi tiếp xúc được mở rộng Khả năng hiểu nghĩa của từ cũng phát triển Tuy nhiên, trẻ thường hiểu nghĩa của từ gắn với nội dung cụ thể của bài khóa Khi đi học, trẻ đã nắm được hình thức mới của hoạt động ngôn

Trang 13

8

ngữ đó là ngôn ngữ viết Các em đã nắm đƣợc một số quy tắc ngữ pháp cơ bản nhƣng việc vận dụng vào ngôn ngữ nói và viết chƣa thuần thục nên còn phạm nhiều lỗi, nhất là khi viết

Trang 14

Nguyễn Thiện Giáp đã định nghĩa từ như sau: “Từ là đơn vị nhỏ nhất

của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức” [5, tr.60 – 61]

Tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” đã

đưa ra định nghĩa về từ như sau: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số

âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý

nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [2,

Ví dụ: + Trong từ điển: sách

+ Trong câu nói:

Sách này của tôi

Không có sách thì không có tri thức

Tôi đọc sách

Vì vậy, nhằm vào hình thức ngữ âm của từ, ta không biết giá trị ngữ pháp của chúng Giá trị ngữ pháp của từ được hiện thực hóa, được bộc lộ trong mối quan hệ giữa nó với các từ khác đứng trước hoặc đứng sau (Trong khi đó từ trong các ngôn ngữ tổng hợp tính như tiếng Nga chẳng hạn, luôn

Trang 15

Bên cạnh đó, do tiếng Việt là ngôn ngữ giàu thanh điệu, cấu tạo ngữ âm của các âm, các vần lại hết sức phong phú, vì vậy, hình thức ngữ âm của từ tiếng Việt có khả năng gợi tả, có giá trị biểu hiện rất cao Trong sáng tạo văn chương, các nhà văn, nhà thơ rất có ý thức khai thác đặc điểm này về mặt ngữ

âm của từ tiếng Việt để tạo ra những câu văn, câu thơ mà hình thức ngữ âm của từ có tác dụng gợi nghĩa, gợi nội dung rất lớn Ví dụ:

Đọc hai dòng thơ sau trong Truyện Kiều:

Đoạn trường thay, lúc phân kì,

Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh

Ta thấy dường như âm thanh ở đây có một sự tương ứng nào đó với tình cảm của người trong cuộc Cái sự khó khăn trong phát âm được lặp lại ở hai cặp âm tiết trong dòng thơ thứ hai (khấp khểnh, gập ghềnh) có một sự phù hợp nào đó với cuộc đời đầy gian truân mà nàng Kiều đang bước vào, đang dấn thân

b Đặc điểm ngữ pháp

Do bị chi phối bởi những đặc điểm về loại hình (loại hình ngôn ngữ) nên đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt chủ yếu được biểu hiện ở hai phương diện: thứ nhất, ở khả năng kết hợp và thứ hai, ở khả năng đảm nhiệm các chức vụ ngữ pháp trong câu, khả năng chi phối các thành tố phụ trong cụm từ… Nói cách khác , đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt không biểu

Trang 16

Những từ nhƣ: bổ, xẻ, vá… có khả năng mang bổ ngữ danh từ chỉ đối tƣợng chịu tác động trực tiếp của hoạt động do các động từ biểu thị (ví dụ: bổ củi, xẻ gỗ, vá áo…)

Trong câu “Mặt trời gác núi, chiêng đà thu không” (Nguyễn Du), từ mặt trời đảm nhận chức vụ chủ ngữ Nhƣng trong “Thấy anh nhƣ thấy mặt trời” (ca dao) thì từ “mặt trời” lại làm bổ tố cho động từ “thấy” Còn trong cái tên cửa hàng “Hiệu đồng hồ mặt trời” thì từ “mặt trời” làm định tố cho “hiệu đồng hồ”

Trang 17

ý nghĩa mới cho từ, dựa vào ý nghĩa cơ sở của nó Loại ý nghĩa này được gọi

là ý nghĩa lời nói Đó là loại ý nghĩa có tính chất lâm thời, không bền vững, mang đậm dấu ấn cá nhân

Các ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ trong tiếng Việt là những từ nhiều nghĩa trong lời nói

1.1.3.3 Phân loại từ

a Phân loại từ theo đặc điểm cấu tạo

Dựa vào đặc điểm cấu tạo từ, người ta phân chia từ tiếng Việt thành:

từ đơn và từ phức

 Từ đơn

- Khái niệm: từ đơn là từ do một tiếng có nghĩa tạo nên

- Ví dụ: ăn, mặc, nhà, ngày, tháng…

- Phân loại : từ đơn đơn âm tiết và từ đơn đa âm tiết

+ Từ đơn đơn âm tiết là những từ được cấu tạo bằng 1 âm tiết (tương ứng 1 hình vị) Loại từ đơn này chiếm đa số trong từ đơn của tiếng Việt Ví dụ: tốt, xấu, ăn, mặc…

+ Từ đơn đa âm tiết là những từ được cấu tạo từ 2 âm tiết trở lên Mối quan hệ của các âm tiết thường mang tính ngẫu nhiên Ví dụ: thuồng luồng, kì nhông, bồ kết…

Trang 18

13

 Từ phức

- Khái niệm: Từ phức là những từ được cấu tạo từ 2 âm tiết trở lên (tương đương với 2 hình vị trở lên) Các âm tiết được tổ chức theo một phương thức cấu tạo để tạo ra một kiểu từ có tính hệ thống

- Ví dụ: nhà cửa, xe đạp, xinh xắn…

- Phân loại: Căn cứ vào phương thức cấu tạo, người ta chia từ phức thành hai loại là từ láy và từ ghép

+ Từ ghép là từ được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số hình

vị (hay đơn vị cấu tạo) tách biệt, riêng rẽ, độc lập với nhau Từ ghép được chia thành 2 loại: từ ghép hợp nghĩa ( nhà cửa, áo quần, bếp núc…) và từ ghép phân nghĩa (xe đạp, nhiệt kế, xanh lè…)

+ Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu hay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo 2 nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa Dựa vào hình thức ngữ âm được lặp lại trong cấu tạo

từ, người ta phân từ láy thành: từ láy đôi, láy ba, láy tư hay từ láy toàn phần, từ láy bộ phận

b Phân loại từ theo đặc điểm ngữ nghĩa

Dựa vào số lượng, thành phần nghĩa được biểu thị trong từ, người ta phân chia từ trong hệ thống thành từ một nghĩa và từ nhiều nghĩa

 Từ một nghĩa là những từ ứng với một hình thức ngữ âm, là một

sự vật, hiện tượng hay là một khái niệm về một sự vật, hiện tượng đó

 Từ nhiều nghĩa là những từ mà có thể gọi tên nhiều sự vật, hiện tượng hoặc có thể biểu thị nhiều khái niệm về sự vật, hiện tượng Trong mỗi một từ nhiều nghĩa, bao giờ cũng có một nghĩa gốc và các nghĩa

Trang 19

14

phát sinh Xét về mặt lịch sử, các nghĩa phát sinh của từ bao giờ cũng xuất hiện sau nghĩa gốc, chúng được hình thành trên cơ sở của nghĩa gốc

Dựa vào mối quan hệ của từ trong trường nghĩa, người ta phân chia thành từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa

 Từ đồng nghĩa là những từ khác nhau về hình thức ngữ âm nhưng lại phải có chung nhất một nét nghĩa nào đó

 Từ trái nghĩa, theo Nguyễn Thiện Giáp , từ trái nghĩa là những từ khác nhau về hình thức ngữ âm, đối lập về ý nghĩa, biểu hiện khái niệm tương phản về logic nhưng tương liền với nhau

c Phân loại từ theo nguồn gốc

 Từ thuần Việt

Từ thuần Việt là những từ cơ bản, từ gốc của Tiếng Việt Nó ra đời sớm

và được dân tộc ta sử dụng từ thời thượng cổ đến nay Nó là cơ sở của hệ thống từ vựng tiếng Việt Từ thuần Việt có số lượng lớn và mang tính dân tộc sâu sắc Đó là những từ như: cha, mẹ, anh, em, nắng, mưa, hai, ba, bốn

Quá trình phát triển của lịch sử - xã hội ngôn ngữ, các từ thuần Việt cũng có những thay đổi, biến đổi nhất định cả về nghĩa, về cách dùng…Trong tiếng Việt hiện đại, các từ thuần Việt vẫn giữ vai trò vô cùng quan trọng và làm cơ sở cho sự phát triển của từ vựng tiếng Việt

 Từ vay mượn

Từ vay mượn trong tiếng Việt là những từ tiếng Việt mượn của ngôn ngữ khác, nhưng “cải tạo” lại để có hình thức ngữ âm, có đặc điểm ngữ pháp phù hợp với hệ thống ngữ âm và ngữ pháp của tiếng Việt Trong quá trình Việt hóa, không chỉ có hình thức ngữ âm thay đổi mà nghĩa của từ cũng thay đổi (cần biết rằng hiện tượng ngôn ngữ này vay mượn từ của ngôn ngữ khác

Trang 20

d Phân loại từ theo phạm vi sử dụng

 Từ toàn dân

Là những từ toàn dân dều hiểu và sử dụng Nó là vốn từ chung cho tất

cả những người nói tiếng Việt thuộc các địa phương khác nhau trên toàn lãnh thổ Từ toàn dân là lớp từ vựng cơ bản, quan trọng nhất trong mỗi ngôn ngữ

Nó làm cơ sở cho sự thống nhất ngôn ngữ trong một quốc gia

Ví dụ:

- mưa, nắng, núi, sông…

- mặt, mũi, chân, tay…

- nhà, cửa, cuốc, cày…

Từ toàn dân là bộ phận nòng cốt, cơ bản của từ ngữ văn học Nó là vốn

từ cần thiết nhất để diễn đạt tư tưởng, tình cảm trong tiếng Việt Từ toàn dân cũng là cơ sở để cấu tạo các từ mới, làm giàu cho từ vựng tiếng Việt Từ toàn dân là lớp từ thể hiện đầy đủ nhất những đặc trưng, đặc điểm của từ vựng trong tiếng Việt

 Từ địa phương

Nếu từ toàn dân dược sử dụng trên phạm vi toàn lãnh thổ thì từ địa phương chủ yếu được lưu hành, sử dụng trong một phạm vi hẹp, gắn với một

Trang 21

16

hoặc một số địa phương nào đó Từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hàng ngày, ở một địa phương nào đó, chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ văn học Nếu trong tác phẩm văn chương, tác giả có sử dụng từ địa phương, thì chỉ với ý nghĩa làm rõ sắc thái địa phương, gắn với một dụng ý nghệ thuật nhất định nào đó

Ví dụ:

“Gan chi, gan rứa, mẹ nờ

Mẹ rằng cứu nước mình chờ chi ai”

(Tố Hữu – Mẹ Suốt)

Từ dịa phương có thể được chia thành mấy loại cơ bản sau:

- Từ địa phương đồng nghĩa với từ của ngôn ngữ văn học

- Từ địa phương biểu thị những sự vật, hiện tượng chỉ có ở địa phương

- Từ địa phương có hình thức ngữ âm giống với từ tương ứng trong ngôn ngữ văn học, nhưng có nghĩa khác nhau

e Phân loại từ theo đặc điểm ngữ pháp

 Danh từ

+ Danh từ có ý nghĩa khái quát chỉ sự vật (bao gồm các thực thể như người, động vật, đồ vật, cây cối, các vật thể tự nhiên, các hiện tượng xã hội và các khái niệm trừu tượng thuộc phạm trù tinh thần) Ví dụ: người, học sinh, công nhân, đồi, núi, công ti, tình yêu…

+ Danh từ có khả năng kết hợp với các từ chỉ số, chỉ lượng (những, các…) ở trước và các đại từ chỉ định (này, nọ, kia…) ở sau để tạo nên một cụm từ chính phụ mà nó là trung tâm Ngoài ra có thể nhân diện danh từ căn

cứ vào khả năng kết hợp với từ nghi vấn “nào” ở phía sau để cấu tạo câu hỏi Những từ không có khả năng đó không phải là danh từ Ví dụ: Người nào? Vấn đề nào?

Trang 22

+ Về khả năng kết hợp, động từ thường có các phụ từ đi kèm để biểu thị các ý nghĩa quan hệ có tính tình thái giữa quá trình với cách thức và với các đặc trưng vận động của quá trình không gian, trong thời gian và trong hiện thực Động từ còn kết hợp với các thực từ (danh từ) nhằm phản ánh các quan

hệ trong nội dung vận động trong quá trình Các khả năng kết hợp trên đây làm thành những tiêu chuẩn phân loại các lớp con trong nội bộ động từ Khả năng kết hợp với “hãy”, “đừng”, “chớ” có tác dụng quy loại động từ (tính từ

và danh từ chẳng hạn, không có khả năng kết hợp với “hãy”, “đừng”, “chớ”)

+ Chức năng tiêu biểu nhất của động từ là vị ngữ Ngoài ra, động từ có thể làm bổ ngữ, định ngữ, đôi khi động từ đảm nhiệm chức năng chủ ngữ, trạng ngữ

+ Phân loại: động từ không độc lập và động từ độc lập

 Tính từ

+ Tính từ chỉ tính chất, đặc điểm của sự vật, của hoạt động, trạng thái + Tính từ có khả năng kết hợp với các phụ từ tương tự như động từ Tuy nhiên tính từ ít kết hợp với phụ từ cầu khiến; phần lớn tính từ dễ kết hợp với phụ từ chỉ mức độ

Trang 23

18

+ Giống nhƣ động từ, tính từ có thể làm vị ngữ trực tiếp Ngoài ra, tính

từ còn có thể đảm nhiệm các chức năng ngữ pháp khác trong câu: bổ ngữ, định ngữ, chủ ngữ, trạng ngữ

Trang 24

+ Căn cứ vào bản chất ngữ pháp của các thực từ mà phụ từ thường đi kèm, có thể chia phụ từ thành 2 nhóm: phụ từ chuyên đi kèm danh từ (định từ)

+ Phân loại:

- Số từ chỉ số lượng: số từ xác định và số từ không xác định

- Số từ chỉ thứ tự

 Tình thái từ

Trang 25

20

+ Tình thái từ là những từ biểu thị mục đích nói của câu (hỏi, ra lệnh, bộc lộ cảm xúc,…) và biểu thị quan hệ gữa người nói với người đối thoại (cùng vai/ khác vai, lịch sự/ thân mật…)

+ Các tình thái từ không thể đóng vai trò thành phần cấu tạo trong trong cụm từ hay trong câu, chúng chỉ được dùng trong câu để bày tỏ thái độ, tình cảm

+ Phân loại:

- Tình thái từ nghi vấn

- Tình thái từ cầu khiến

- Tình thái từ cảm thán

- Tình thái từ biểu thị sắc thái biểu cảm

Ở tiểu học học sinh được học 5 loại từ loại sau: danh từ, động từ, tính

từ, quan hệ từ và đại từ

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Vị trí và nhiệm vụ phân môn Tập đọc

a Vị trí của phân môn Tập đọc

Tập đọc là một phân môn có vị trí trí quan trọng trong chương trình tiểu học Đọc không chỉ là công việc giải quyết một bộ mã gồm hai phần chữ viết và âm thanh, nghĩa là nó không phải chỉ là sự “đánh vần” lên thành tiếng theo đúng như các kí hiệu chữ viết, mà đọc còn là quá trình nhận thức để có khả năng hiểu những gì đã đọc được Tập đọc là cách học văn bản từ đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu, đọc diễn cảm Tập đọc chính là việc giáo viên hướng dẫn học sinh hoàn thành bốn phẩm chất trên

b Nhiệm vụ của phân môn Tập đọc

Phân môn Học vần cũng thực hiện nhiệm vụ dạy đọc nhưng mới dạy đọc

ở mức sơ bộ nhằm giúp học sinh sử dụng bộ mã chữ - âm Việc thông hiểu văn bản chỉ đặt ra ở mức độ thấp và chưa có hình thức chuyển thẳng từ chữ

Trang 26

21

sang nghĩa (đọc thầm) Như vậy, Tập đọc với tư cách là một phân môn Tiếng Việt tiếp tục những thành tựu dạy học mà Học vần đạt được, nâng lên một mức đầy đủ, hoàn chỉnh hơn

Hình thành năng lực đọc cho học sinh

Tập đọc là một phân môn thực hành Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc”: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm Bốn kĩ năng này được hình thành trong hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm Chúng được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau Sự hoàn thiện một trong những kĩ năng này sẽ có tác động tích cực đến những kĩ năng khác Ví dụ đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu nội dung văn bản Ngược lại, nếu không hiểu điều mình đang đọc thì không thể đọc nhanh và diễn cảm được Nhiều khi, khó mà nói được rạch ròi kĩ năng nào làm cơ sở cho kĩ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng hay chính nhờ hiểu đúng mà đọc được đúng

Vì vậy trong dạy đọc, không thể xem nhẹ yếu tố nào

Giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phương pháp và thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sách cho học sinh Làm cho sách trở thành một

sự tôn sùng ngự trị trong nhà trường, đó là một trong những điều kiện để trường học thực sự trở thành trung tâm văn hóa Nói cách khác, thông qua việc dạy đọc, phải làm cho học sinh thích thú đọc và thấy được rằng khả năng đọc là có lợi ích cho các em trong cả cuộc đời, phải làm cho học sinh thấy đó

là một trong những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển

Trang 27

22

Vì việc đọc không thể tách rời khỏi những nội dung được đọc nên bên cạnh nhiệm vụ rèn kĩ năng đọc, giáo dục lòng yêu sách, phân môn Tập đọc còn có nhiệm vụ:

+ Làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh

+ Phát triển ngôn ngữ và tư duy cho học sinh

+ Giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh Như vậy, phân môn Tập đọc có một ý nghĩa to lớn vì nó có cả các nhiệm

vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển

1.2.2 Vai trò của phân môn Tập đọc

Dạy đọc có vai trò rất to lớn ở tiểu học Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học Đầu tiên, trẻ em phải học đọc, sau đó các

em phải đọc để học Đọc giúp các em chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập Đó là một công cụ để học tập các môn học Đọc tạo

ra hứng thú và động cơ học tập Đọc tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời Nó là khả năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh Chính vì vậy, trường tiểu học có nhiệm vụ dạy đọc cho học sinh một cách có kế hoạch và có hệ thống

1.2.3 Nội dung chương trình môn Tập đọc ở tiểu học

Từ năm học 2002 – 2003, chương trình Tiếng Việt 2000 (còn gọi là chương trình 175 tuần) không kể những tuần ôn tập dành cho 5 lớp tiểu học,

có 42 bài đọc ở lớp 1 và 356,5 tiết tập đọc ở lớp 2,3,4,5 Từ năm học 2006 –

2007 có 294,5 tiết tập đọc ở các lớp 2, 3, 4, 5

Ở lớp 1, tập đọc được học từ tuần 23 với 42 bài đọc Từ lớp 2 đến lớp

5, tập đọc được học 31 tuần (không kể 4 tuần ôn tập) Trong bốn năm học đầu (2002 – 2006) ở lớp 2, mỗi tuần có 4 tiết (3 bài), lớp 3 mỗi tuần có 3,5 tiết (3 bài) Từ năm học 2006 – 2007, ở lớp 2, mỗi tuần có 3 tiết (2 bài) tập đọc, ở

Trang 29

1) Thương người như thể thương thân 2) Măng mọc thẳng

3) trên đôi cánh ước mơ

Trang 30

25

2) Cánh chim hòa bình

3) Con người với thiên nhiên

4) Giữ lấy màu xanh

10) Những chủ nhân tương lai

1.2.5 Nội dung phân môn Tập đọc lớp 4, 5

a Nội dung phân môn Tập đọc lớp 4

Phân môn Tập đọc lớp 4 gồm 62 bài thuộc các loại hình văn bản nghệ thuật, báo chí, khoa học, trong đó có 54 bài văn xuôi, 1 vở kịch,

Văn xuôi

Truyện cổ nước mình Văn xuôi

3 Thư thăm bạn Văn xuôi

Người ăn xin Văn xuôi

2 Măng mọc thẳng 4 Một người chính trực Văn xuôi

Tre Việt Nam Thơ

5 Những hạt thóc giống Văn xuôi

Trang 31

7 Trung thu độc lập Văn xuôi

Ở vương quốc tương lai Kịch

8 Nếu chúng mình có phép

lạ

Thơ

Đôi giày ba ta màu xanh Văn xuôi

9 Thưa chuyện với mẹ Văn xuôi

Điều ước của vua Mi-đát Văn xuôi

4 Có chí thì nên 11 Ông Trạng thả diều Văn xuôi

Văn hay chữ tốt Văn xuôi

Chú Đất Nung (tiếp theo) Văn xuôi

15 Cánh diều tuổi thơ Văn xuôi

Tuổi Ngựa Thơ

16 Kéo co Văn xuôi

Trang 32

27

Trong quán ăn “Ba cá bống”

Văn xuôi

17 Rất nhiều mặt trăng Văn xuôi

Rất nhiều mặt trăng (tiếp theo)

Văn xuôi

6 Người ta là hoa đất 19 Bốn anh tài Văn xuôi

Chuyện cổ tích về loài người

Thơ

20 Bốn anh tài (tiếp theo) Văn xuôi

Trống đồng Đông Sơn Văn xuôi

21 Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa

Văn xuôi

Bè xuôi sông La Thơ

Chợ Tết Thơ

23 Hoa học trò Văn xuôi

Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ

Thơ

24 Vẽ về cuộc sống an toàn Văn xuôi

Đoàn thuyền đánh cá Thơ

8 Những người quả

cảm

25 Khuất phục tên cướp biển Văn xuôi

Bài thơ về tiểu đội xe không kính

Thơ

26 Thắng biển Văn xuôi

Trang 33

28

Ga-vrốt ngoài chiến lũy Văn xuôi

27 Dù sao trái đất vẫn quay! Văn xuôi

Con sẻ

Văn xuôi

9 Khám phá thế giới 29 Đường đi Sa Pa Văn xuôi

Trăng ơi…từ đâu đến? Thơ

30 Hơn một nghìn ngày vòng quanh trái đất

Văn xuôi

Dòng sông mặc áo Thơ

31 Ăng-co Vát Văn xuôi

Con chuồn chuồn nước Văn xuôi

10 Tình yêu cuộc sống 32 Vương quốc vắng nụ cười Văn xuôi

Con chim chiền chiện Thơ

34 Tiếng cười là liều thuốc bổ Văn xuôi

Ăn “mầm đá” Văn xuôi

Chương trình Tập đọc lớp 4 nhằm mục đích:

 Củng cố nâng cao kĩ năng đọc cho học sinh:

Phân môn Tập đọc lớp 4 tiếp tục củng cố nâng cao kỹ năng đọc trơn, đọc thầm đã được phát triển từ các lớp dưới, đồng thời rèn luyện thêm về kĩ năng diễn cảm Nâng cao kĩ năng đọc hiểu văn bản cụ thể là:

+ Nhận biết được đề tài, cấu trúc của bài

Trang 34

29

+ Biết cách tóm tắt bài, làm quen với thao tác đọc lướt để nắm ý

+ Phát hiện được giá trị của một số biện pháp nghệ thuật trong các văn bản văn chương

 Mở rộng vốn hiểu biết , bồi dưỡng tư tưởng tình cảm, nhân cách cho học sinh

Nội dung các bài tập đọc trong sách Tiếng Việt 4 phản ánh một số vấn đề cơ bản về đạo đức, phẩm cách, sở thích, thú vui lành mạnh… của con người thông qua ngôn ngữ văn học, những hình tượng giàu chất thẩm mĩ và nhân văn do đó có tác dụng sâu sắc giáo dục tư tưởng, tình cảm và trau dồi nhân cách cho học sinh Hệ thống chủ điểm của các bài tập đọc vừa mang tính chất khái quát vừa mang tính hình tượng, góp phần cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội, con người trong nước và trên thế giới Qua các bài tập đọc, học sinh còn được cung cấp thêm về vốn từ ngữ, vốn diễn đạt những hiểu biết về tác phẩm văn học, từ đó nâng cao trình độ văn hóa nói chung và trình độ tiếng Việt nói riêng

b Nội dung phân môn Tập đọc lớp 5

Phân môn Tập đọc lớp 5 gồm 66 tiết/ năm, mỗi tuần có 2 tiết, 40 bài văn xuôi thuộc loại hình nghệ thuật, báo chí, khoa học, 2 vở kịch (trích), 18 bài thơ

Trang 35

30

1 Việt Nam – Tổ quốc em 1 Thư gửi các học sinh Văn xuôi

Quang cảnh làng mạc ngày mùa

Văn xuôi

2 Nghìn năm văn hiến Văn xuôi

Sắc màu em yêu Thơ

3 Lòng dân Kịch

Lòng dân (tiếp theo) Kịch

2 Cánh chim hòa bình 4 Những con sếu bằng giấy Văn xuôi

Bài ca về trái đất

Thơ

5 Một chuyên gia máy xúc Truyện

Ê-mi-li, con… Thơ

6 Sự sụp đổ của chế độ a-pác-thai

Thơ

8 Kì diệu rừng xanh Văn xuôi

Trước cổng trời Thơ

9 Cái gì quý nhất Truyện

Đất Cà Mau Văn xuôi

Trang 36

31

4 Giữ lấy màu xanh 11 Chuyện một khu vườn nhỏ Truyện

Tiếng vọng Thơ

12 Mùa thảo quả Văn xuôi

Hành trình của bầy ong Thơ

13 Người gác rừng tí hon Truyện

Về ngôi nhà đang xây Thơ

16 Thầy thuốc như mẹ hiền Truyện

Thầy cúng đi bệnh viện

Truyện

17 Ngu Công xã Trịnh Tường Văn xuôi

Ca dao về lao động sản xuất

Ca dao

6 Người công dân 19 Người công dân số Một Truyện

Người công dân số Một (tiếp theo)

Truyện

20 Thái sư Trần Thủ Độ Truyện

Nhà tài trợ đặc biệt của Cách mạng

Truyện

Trang 37

32

21 Trí dũng song toàn Truyện

Tiếng rao đêm Truyện

7 Vì cuộc sống thanh

bình

22 Lập làng giữ biển Truyện

Cao Bằng Thơ

23 Phân xử tài tình Truyện

Chú đi tuần Thơ

24 Luật tục xưa của người

Ê-đê

Văn xuôi

Hộp thư mật Truyện

Cửa sông Thơ

26 Nghĩa thầy trò Truyện

Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân

Văn xuôi

27 Tranh làng Hồ Văn xuôi

Đất nước Thơ

Con gái Truyện

30 Thuần phục sư tử Truyện

Tà áo dài Việt Nam Văn xuôi

31 Công việc đầu tiên Hồi kí

Trang 38

33

33 Luật Bảo vệ, chăm sóc và

giáo dục trẻ em

Văn xuôi

Sang năm con lên bảy Thơ

34 Lớp học trên đường Truyện

Nếu trái đất thiếu trẻ con Thơ

Chương trình Tập đọc lớp 5 nhằm mục đích:

 Tiếp tục củng cố và nâng cao kĩ năng đọc cho học sinh: đọc trơn, đọc thầm với tốc độ nhanh hơn, nâng cao kĩ năng đọc diễn cảm Ở lớp 5, học sinh được rèn kĩ năng đọc hiểu ở mức: Nhận biết được đề tài hoặc chủ đề đơn giản của bài; nắm được dàn ý của bài, biết tóm tắt đoạn, bài; hiểu được ý nghĩa của bài; biết phát hiện và bước đầu nhận định về giá trị của một số nhân vật, hình ảnh trong các bài đọc có giá trị văn chương, làm quen thao tác đọc lướt để nắm rõ ý hoặc chọn ý Xây dựng cho học sinh thói quen tìm đọc sách ở thư viện, dùng sách công cụ (từ điển,…) và ghi chép những thông tin cần thiết khi đọc

 Mở rộng vốn hiểu biết , bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, nhân cách cho học sinh Các bài học phản ánh vấn đề cơ bản về đạo đức, phẩm chất của con người, đề cập đến các vấn đề về trẻ em và quyền trẻ em, bảo vệ môi trường, giáo dục dân số, giới tính, ca ngợi tình đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc,…Hệ thống chủ điểm của các bài tập đọc trong sách Tiếng Việt 5 vừa mang tính khái quát cao vừa có tính hình tượng, góp phần cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội, con người trong nước và thế giới

 Qua các bài tập đọc, học sinh còn được cung cấp về vốn từ ngữ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về các tác phẩm văn học (đề tài, cốt truyện, nhân vật,…) từ đó nâng cao trình độ tiếng Việt nói riêng

Trang 39

34

 Các bài tập đọc gồm các phần: văn bản đọc, chú giải những từ ngữ khó, hướng dẫn đọc (chỉ dẫn cách đọc một số câu khó, đoạn khó, cách ngắt nhịp, nhấn giọng hoặc gợi ra những đặc điểm về nội dung, những sắc thái tình cảm được biểu hiện qua giọng đọc) Phần tìm hiểu bài gồm những câu hỏi , bài tập giúp học sinh hiểu giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của bài văn, bài thơ, ở nhiều bài có thêm yêu cầu học thuộc lòng từng đoạn, cả bài

ra những biện pháp hữu hiệu góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học nói riêng và việc phát triển ngôn ngữ cho học sinh nói chung

Trang 40

35

Ngày đăng: 06/09/2017, 09:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w