Cách sử dụng huyệt bổ/tả trên kinh mẹ kinh con Công dụng : Có ba cách sử dụng huyệt bổ /tả tùy theo cách chữa bệnh : 1.Cách thứ nhất : a-Dùng huyệt bổ : Kinh con hư thì toàn bộ các ph
Trang 1Cách sử dụng huyệt bổ/tả trên kinh mẹ kinh con
Công dụng :
Có ba cách sử dụng huyệt bổ /tả tùy theo cách chữa bệnh :
1.Cách thứ nhất :
a-Dùng huyệt bổ :
Kinh con hư thì toàn bộ các phần tử nằm trong ngũ du huyệt đều hư, nếu dùng huyệt bổ trên đường kinh để giúp cho đường kinh mạnh lên thì không thể được, vì chắnh
nó cũng hư, cho nên phải dùng huyệt bổ trên đường kinh mẹ để bổ cho kinh mẹ mặc dù kinh mẹ không có bệnh,kinh mẹ lúc đó dư thừa năng lượng sẽ truyền sang để nuôi dưỡng kinh con
Trường hợp hai kinh liền nhau đều hư, để tránh phạm ngũ hành trong cách chữa có liên quan đến nhiều đường kinh, chúng ta chỉ cần bổ trên kinh con làm cho kinh con mạnh lên thì kinh mẹ tạm thời không cần phải nuôi dưỡng con ,nên nó được nghỉ ngơi phục hồi năng lượng, gọi là tự dưỡng
b.Dùng huyệt tả :
Trong trường hợp chỉ có một kinh bị thực không do kinh mẹ truyền hoặc do hành tương kh¡c truyền, thì chỉ cần sử dụng huyệt tả của kinh bị bệnh thực để tả làm cho mất thực
Trong trường hợp hai kinh liền nhau bị bệnh thực, thì một kinh là mẹ đã truyền bệnh thực cho con , theo nguyên t¡c chúng ta có thể sử dụng huyệt tả của cả hai đường kinh Nhưng nếu trong cách chữa có liên quan đến nhiều đường kinh , để tránh phạm ngũ hành, càng sử dụng ắt kinh càng thu được kết qủa, trong trường hợp này chỉ cần tả hai lần trên kinh con Tả bằng cách bấm đau, thao tác nhanh, (bằng tay hay bằng que châm huyệt), nhấn vào huyệt liên tục chừng 10 giây đồng hồ Tả lần thứ nhất là tả thực của kinh con,khi kinh con yếu đi, kinh mẹ đang thực sẵn lại truyền sang cho con, do đó tả lần thứ hai là làm mất thực của kinh mẹ Khi tả xong hai lần, rồi thử lại hư thực của hai kinh chúng
ta thấy hai kinh trở lại bình thường
Trang 22.Cách thứ hai :
Chuyên dùng trong phương pháp chữa sốt nhiệt do tạng
Sử dụng phối hợp huyệt bổ/tả theo quy luật nhất định không được thay đổi, trong
trường hợp nhiều kinh bị bệnh do biến chứng truyền kinh mà nguyên nhân đã tìm được
chứng dựa vào khắ s¡c, bộ vị,dấu hiệu lâm sàng theo phương pháp tứ chẩn
Thắ dụ như trong cách chữa bệnh sốt nhiệt :
Trước hết lúc nào cũng phải tả huyệt vinh bên trái của kinh dương thuộc phủ trước,
rồi mới tả huyệt vinh bên trái của kinh âm thuộc tạng sau (bên trái Nhân nghinh thuộc
huyết để tả huyết nhiệt độc) Sau đó mới bổ hợp huyệt bên phải của kinh âm.( bên phải
Khắ khẩu thuộc khắ để làm mất nhiệt) Mặc dù ở một số đường kinh, huyệt hợp của kinh ấy
theo ngũ hành có thể là huyệt bổ, có thể là huyệt tả Cách chữa sốt nhiệt do tạng chỉ cần
chữa cho máu mát hết nhiệt độc
Bài tập mẫu :
Can nhiệt :
Dấu hiệu lâm sàng : Má bên trái đỏ trước Đi đại tiện ra nước lỏng, vàng, đau bụng
dưới, ưa nằm, nặng thì nói xàm, chân tay táy máy Nếu can khắ thượng nghịch làm đầu
quay mòng mòng
Tả Hiệp khê trái của kinh Đởm, tả Hành gian trái của kinh can
Bổ Khúc tuyền phải của kinh can.( Nếu không muốn vừa tả can vừa bổ can, thay vì
bổ Khúc tuyền có thể tả Tâm du cũng làm mất nhiệt ở can.)
Tâm nhiệt :
Dấu hiệu lâm sàng :M¡t và mặt đỏ trước Tinh thần không vui,vài ngày sau sốt
Nặng thì thình lình đau tim, buồn bực, ói, đau đầu, đỏ mặt, không ra mồ hôi
Tả Tiền cốc trái của kinh Tiểu trường, tả Thiếu phủ trái của kinh Tâm
Bổ Thiếu hải phải của kinh Tâm.( hoặc thay thế bằng cách tả Quyết âm du để trị
nhiệt ở cách mô.)
Tỳ nhiệt :
Trang 3
Dấu hiệu lâm sàng : Mũi đỏ trước Đầu nặng, đau hai má, tâm phiền, mặt mày xanh, muốn ói, phát sốt Nặng thì bụng trướng ,tiêu chảy, đau hai hàm, đau,lưng cúi ngửa không được
Tả Nội đình trái của kinh vị, tả Đại đô trái của kinh tỳ,
Bổ Âm lăng tuyền phải của kinh tỳ.( hoặc thay thế bằng tả Đốc du để trị Tỳ nhiệt.)
Phế nhiệt :
Dấu hiệu lâm sàng : Má bên phải đỏ trước Người muốn rét run, nổi da gà, dựng tóc gáy, sợ gió, sợ lạnh, lưỡi vàng, phát sốt
Nặng thì ho suyễn đau nhói từ ngực ra sau lưng làm không thở mạnh được, đầu đau không chịu nổi, đổ mồ hôi
Tả Nhị gian trái của kinh Đại trường nặn cho ra một giọt máu thì khỏi, tả Ngư tế trái của kinh Phế
Bổ Xắch trạch phải của kinh Phế ( hoặc thay thế trị nhiệt trong ngực bằng cách tả Phế du.)
Thận nhiệt :
Dấu hiệu lâm sàng : Cầm và cổ đỏ trước Đau lưng, nhức chân, khát nước, mình nóng Nặng thì gáy đau cứng, ống chân phát lạnh buốt, lòng bàn chân nóng, không muốn nói Nếu thận khắ thượng nghịch thì cổ gáy đau ê ẩm, đầu choáng váng xây xẩm
Tả Túc Thông cốc trái của kinh Bàng quang, tả Nhiên cốc trái của kinh Thận
Bổ Âm cốc phải của kinh Thận (hoặc tả Cách du để thay thế chữa Thận nhiệt.)
Nếu thân mình nặng nề, đau trong xương, tai ù, ngủ hay mê ,dùng phương pháp trên không khỏi thì phải châm theo các nhiệt huyệt (Trong cơ thể có tất cả 59 nhiệt huyệt)
3.Cách thứ ba : Cách chữa sốt nhiệt do phủ
Căn bản vẫn sử dụng vinh huyệt bên trái của hai kinh, dương trước âm sau Nhưng không sử dụng hợp huyệt của tạng thuộc âm kinh để hạ nhiệt như bệnh sốt do tạng
Ngoài ra có thể sử dụng thêm tỉnh huyệt bên trái của cả hai kinh dương âm ,mục đắch thông kinh và làm cho xuất mồ hôi là khỏi bệnh
Trang 4Phân biệt dấu hiệu lâm sàng của bệnh sốt nhiệt do phủ, không có s¡c đỏ ở các bộ
vị riêng biệt trên mặt như tạng , chỉ nóng sốt dễ sờ thấy, nhưng có dấu hiệu lâm sàng dễ phân biệt ở đầu, sườn ngực, tay chân riêng biệt
Đại trường nhiệt :
Dấu hiệu lâm sàng : Đau ở cánh tay phắa trưóc
Tả vinh huyệt Nhị gian trái của kinh Đại trường vả tả vinh huyệt Ngư tế trái của kinh Phế cho đến khi ra mồ hôi là khỏi
Vị nhiệt :
Dấu hiệu lâm sàng : Cẳng chân nóng trước
Tả vinh huyệt Nội đình trái của kinh Vị cho ra mồ hôi thì khỏi, không cần tả vinh huyệt của kinh Tỳ khiến cho ăn mất ngon sẽ làm mất vị khắ bảo vệ cơ thể
Kinh Thái dương nhiệt ( Hai kinh Tiểu trường và Bàng quang nhiệt ):
Một trong hai kinh Tiểu trường,hoặc Bàng quang nhiệt thì không gây sốt, cho nên khi bị bệnh sốt nhiệt thường do hai kinh gây bệnh gọi là kinh Thái dương nhiệt.Trong trường hợp này không cần chữa ở kinh âm là Tâm với Thận, vì tả hai kinh này thì hỏa thủy bất giao sẽ không khắ hoá tốt
Dấu hiệu lâm sàng : Đau đầu trên đường đi của hai kinh
Tả Đại trữ hoặc Thiên trụ của kinh Bàng quang trước là huyệt trị nhiệt liên quan đến hai đường kinh
Tả vinh huyệt Tiền cốc trái của kinh Tiểu trường và vinh huyệt Túc thông Cốc trái của kinh Bàng quang cho đến khi ra mồ hôi thì khỏi
Kinh Thiếu dương nhiệt ( Hai kinh Tam tiêu và Đởm nhiệt )
Một trong hai kinh Tam Tiêu hoặc Đởm thực nhiệt thì không gây sốt, nhưng cả hai kinh nhiệt làm ra sốt
Dấu hiệu lâm sàng : Đau ở ngực, sườn Chân tay táy máy
Tả vinh huyệt Dịch môn trái của kinh Tam tiêu và vinh huyệt Hiệp khê trái của kinh Đởm
Có thể bổ Đại đô phải của kinh Tỳ thay thế cho tả Dịch môn trái của Tam tiêu Nếu tam tiêu nóng châm thêm tỉnh huyệt Quan xung phải của kinh Tam tiêu
Trang 5Thiếu âm thiếu dương đều nhiệt ( Kinh Đởm và Thận nhiệt )
Một trong hai kinh thực nhiệt không gây sốt, nhưng cả hai kinh nhiệt làm ra sốt
Dấu hiệu lâm sàng :Trước có dấu hiệu xây xẩm, sau nóng mê man, ngực sườn đầy đau
Tả vinh huyệt Hiệp khê trái của kinh Đởm Tả vinh huyệt Nhiên cốc trái của kinh Thận Có thể thay thế bằng day bấm tỉnh huyệt bên trái của hai kinh là Túc khiếu âm và Dũng tuyền
Phương pháp chữa bệnh nhiệt phức tạp
Áp dụng trong những trường hợp sau đây :
-Do nhiều kinh gây bệnh, không thể tìm ra gốc bệnh
-Bệnh nhiệt có dấu hiệu lâm sàng không rõ thuộc kinh nào
-Bệnh cấp tắnh
-Bệnh đang có biến chứng cần ưu tiên chữa ngọn (tiêu ) rồi sau mớI chữa gốc (bản)
Chú ý :
Những huyệt đề nghị dướI đây cần phải lý luận theo ngũ hành để biết sử dụng bổ (day hoặc hơ cứu) hoặc tả (châm bấm đau bằng kim,bằng cây dò huyệt hay bằng tay) ở bên phải hay bên trái và tránh phạm quy luật ngũ hành
1 Nhiệt khắ ở ngực do Tâm vị, ngực nóng,bồn chồn:
Tả Túc tam lý và Lao cung để khai thông khắ nghịch t¡c ở ngực
2 Nhiệt ở vị :
Tả Vị nhiệt huyệt ( huyệt Hoa Đà giáp tắch, ngang Quyết âm du), hoặc Tuyệt cốt
3, Nhiệt ở Vị ăn không tiêu :
Tả Hạ Liêm
Trang 64 Nhiệt bốc lên nóng da mặt :
Tả Thiên song, Thiên đột
5 Nhiệt trường vị :
Tả Lương môn,Khắ hải, Thượng cự hư
6 Nóng âm ỉ trong xương, răng khô :
Tả Đại chùy
7 Nóng có mồ hôi, bức rứt trong xương :
Tả Âm khắch
8 Nóng do gan làm yếu gân :
Bổ Hành gian phải, tả Thái xung trái
9 Nóng ở đầu ngực:
Tả Ngư tế
10 Nóng trong ngực:
Châm Âm lăng tuyền, Ẩn bạch
11 Nóng ngực, khát nước :
Tả Khúc trạch
12 Nóng buồn bực, môi miệng khô :
Tả Phế du
13 Nóng xót ngũ tâm ( 2 bàn tay, bàn chân và chấn thủy nóng rát) :
Day Chiếu hải, Nội quan Dũng tuyền Châm Thập tuyên, Đại lăng ,Hợpc cốc,Tứ hoa
14 Nóng kết ở trong ngũ tạng khiến thổ huyết không ngừng:
Day Ngoại quan, tả Cách du, và Ngũ tạng du (Phế du,Tâm du, Can du, Tỳ du,Thận du)
15 Nóng kết ở lục phủ,lạc huyết :
Day Ngoại quan, Cách du, tả Lục phủ du (Đại trường du, Tiểu trường du, Đởm du,Tam Tiêu du, Vị du, Bàng quang du.)
16 Nóng nảy bồn chồn nằm không yên :
Châm Thái uyên, Công tôn, Ẩn bạch, Phế du, Âm lăng tuyền, Tam âm giao
17 Nóng tứ chi, nhức đầu :
Bấm Liệt khuyết, Kinh Cừ, Uỷ trung, rồi bấm Khúc trì, Hợp cốc
Trang 718 Nóng do trúng n¡ng, bắ tiểu :
Tả Đại chùy Day Liệt khuyết, Âm cốc, Trung quản,Uỷ trung , Khắ hải, Ânm lăng tuyền,
19 Sốt cảm :
Bấm NộI quan, Nhân trung, tả Khúc trạch, Xắch trạch, Bách hội
20 Sốt cao :
Tả Khúc trì, Túc tam lý,bổ Phục lưu
21 Sốt cao, sưng bàn tay, cứng ngón tay :
Bấm Hậu Hợp cốc, Khúc trì, tả Thiếu xung
22 Sốt cao co giật :
Châm Ủy trung , Ủy dương
23 Sốt cao đau đầu :
Tả Khúc trì, Hợp cốc,Phong trì, Phong phủ
24 Sốt cao do dịch cúm :
Châm nặn máu Tam thương ( 3 điểm nơi huyệt Thiếu thương kinh Phế )
25 Sốt cao do đại trường bón :
Châm nặn máu huyệt Thương dương
26 Sốt cao do kin Tâm:
Châm nặn máu huyệt Thiếu xung
27 Sốt cao không mồ hôi :
Châm Đại đô, bấm Kin cừ Nếu có chảy máu mũi do nhiệt, bấm Khổng tối
28 Sốt ban chẩn :
Tả Khúc trì, Hợp cốc, Đại chùy, Ấn đường, Thiếu thương
29 Sốt cao do thương hàn :
Tả Hợp cốc, Khúc trì, Túc tam lý
30 Sốt cao do trúng n¡ng :
Tả Đại chùy, châm nặn máu Thập tuyên, Nhĩ tiêm (nơi mach máu nhỏ căng tức mầu tắm sau loa tai ) Hoặc day Nhân trung, tả Ủy trung
31 Sốt say n¡ng, đầu chóng váng quay cuồng :
Bấm Nội quan, tả Xắch trạch, Khúc trạch
Trang 832 Sốt phát cuồng :
Tả Xung dương, Thần môn, Hậu khê
33 Sốt cách nhật :
Châm Lương môn, Dương phụ
34 Sốt do amygdale :
Châm nặn máu NộI Nghinh hương
35 Sốt do cảm mạo thờI tiết :
Đào đạo, Phế du thực nhiệt thì tả, nếu thực hàn thì bổ
36 Sốt do lao :
Tả Phách hộ, Xắch trạch
36 Sốt do viêm ruột thừa :
Châm Lan Vĩ, Khúc trì, Hợp cốc, hoặc Thượng cự hư và thống điểm nơi cảm thấy đang đau ( a thị huyệt )
37.Sốt đơn thuần :
Bấm Khúc trì, châm Thiếu xung
Hoặc châm Dương khê và Kiên ngung
Hoặc Bấm Khúc trì, tả Túc tam lý và bổ Phục lưu
38 Sốt, mình nóng như lửa, đau đầu như búa bổ :
Tả Trung xung và tả Mệnh môn
39 Sốt nóng do thương hàn:
Các huyệt đề nghị ; Hãm cốc, Ngư tế, Túc tam lý, Phục lưu, Hiệp khê, Công tôn, Thái Bạch, Ủy trung, Dũng tuyền Hoặc châm ,bấm Phong trì, Phong phủ
40 Sốt đầu nóng chân lạnh :
Châm Dương phụ
41.Sốt nóng dữ kh¡p mình, điên cuồng mê sảng:
Dùng đại lạc của kinh Vị là Phong long, thực thì tả, hư thì bổ Dùng bốn ngón tay của hai bàn tay đè bóp lên động mạch cổ cho lâu rồi bóp vuốt xuống hõm vai nhiều lần sẽ hết nóng
42 Sốt nóng, nhức đầu, đỏ mặt :
Bấm Khúc trì, Hợp cốc, Liệt khuyết, Thông lý,tả Tuyệt cốt
43 Sốt,nóng âm ỉ trong xương do lao :
Trang 9Dùng huyệt Cao hoang du, thực thì tả, hư thì bổ Tả túc tam lý, cứu Tứ hoa (2 Cách du để trị huyết, 2 Đởm du phò can huyết)
44 Sốt nóng mê man không nói được, chỉ thắch nằm :
Tả Cách du
45 Sốt nóng do răng sưng đau :
Châm Nội đình và Hợp cốc bên răng đau
46 Sốt nóng do phế nhiễm cảm:
Tả Phế du và Đào đâo
47 Sốt nóng và ho :
Tả Ngư Tế thanh phế, Bổ Thái khê tư âm thận chế tâm hỏa làm hỏa khắ không bốc lên đốt kim nữa nên lao sẽ bình yên làm mất ho sốt nóng âm ỉ trong xương
48 Sốt nóngbức bồn chồn :
Day Thần môn, Tả Ngư tế ,châm Thiếu thương , Chắ âm, Công tôn, Thái bạch,Giải khê, Dương khê, Uyển cốt
49.Sốt nóng bồn chồn, hồi hộp :
Tả Ngư tế
50 Sốt nóng lạnh trong xương do âm hỏa đốt :
Tả Linh đạo
51 Sốt nóng bồn chồn bức rứt ra mồ hôi mà chân mát lạnh :
Châm Nhiên cốc, Thái khê
52 Sốt đang lên cơn :
Tả Đại chùy, Đại trữ, Phong môn, Phế du,Khúc trì, Hợp cốc, Túc tam lý
Nếu tả mà không ra mồ hôi ,châm thêm thập nhị tỉnh huyệt rồi bổ Hợp cốc tả Phục
lưu cho ra mồ hôi thì khỏi
Nếu sốt đang ra mồ hôi thì châm thêm Phong phủ,Phong trì, Nội đình, Thái bạch, rồi Bổ Phục lưu, tả Hợp cốc để cầm giữ không cho ra mồ hôi
53 Sốt làm cữ khi có khi không :
Day bấm Phong phủ, Phong trì, Nội đình, Thái bạch, Dịch môn,Dương trì, Ngoại quan, Hiệp khê, Xung dương
54 Sốt sợ lạnh :
Châm Nhị gian, Âm khắch
Trang 1055 Sốt thương hàn không ra mồ hôi :
Châm Kỳ môn, Tả Túc tam lý
56.Sốt thương hàn làm cứng khớp cổ :
Bấm Ôn lựu, Kỳ môn
57.Sốt thương hàn nhức đầu :
Bấm Hợp cốc,châm nặn máu Thái dương, Toản trúc
58.Sốt thương hàn dai dẳng mãi không dứt :
Bấm Hợp cốc, Khúc trì, tả Túc tam lý, Nội đình, Thái xung
59.Sốt tổn thương huyết,lạc huyết thổ huyết và nhiễm trùng huyết :
Tả Xắch trạch
60 Sốt viêm hầu họng :
Bấm Hợp cốc, Khúc trì, Thiên dung, Tả Thiếu thương
Hoặc tả Thiên xung, Quan xung, day bổ Chiếu hải cho nước lên làm mát cổ họng
61 Sốt xuất huyết vỡ tiểu cầu :
Tự nhiên phát nóng dữ mà người cảm thấy lạnh như sốt rét phải mặc áo ấm, đ¡p chăn, môi khô,(do muỗi c¡n truyền bệnh sốt xuất huyết).Sau 3 ngày tim bị mệt khó thở, môi tắm tái, dưới da tay nổi hột máu tắm do vỡ tiểu cầu
Tả Xắch trạch, Khúc trạch,Cách du,Huyết hải, Ủy trung
Cách nửa giờ cho uống 100cc nước để giải nhiệt,làm mát máu,và bù lại số lượng nước đã mất khi đi tiểu để thải nhiệt và giúp cho máu bớt nhiễm trùng Mỗi lần sau khi uống nước cho ngậm l viên kẹo vitamine C 100mg, 5-10 viên/ngày, chữa trong 5 ngày sẽ hết bệnh Đề phòng suy tim ,dán miếng cao 1 cm vuông vào hai huyệt Nội quan, Thần môn bên trái.Chỉ uóng nước ấm và ăn cháo lỏng với muối trong thời gian ba ngày, thấy thuyên giảm cho ăn cháo đặc hơn Sau 5 ngày mới có thể ăn cơm với canh cải xoong thịt heo nạc
doducngoc