Đồng thời, đưa ra một số công thức miêu tả thời gian: công thức chỉ thời điểm, thời gian để chỉ các trạng thái tình cảm thay đổi thường được miêu tả đối lập quá khứ và hiện tại, thời g
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=====o0o=====
PHÙNG THỊ HIÊN
THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG
CA DAO THỀ NGUYỀN NGƯỜI VIỆT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI, 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=====o0o=====
PHÙNG THỊ HIÊN
THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG
CA DAO THỀ NGUYỀN NGƯỜI VIỆT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THỊ NGỌC LAN
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của
TS Nguyễn Thị Ngọc Lan, cùng các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp này
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Phùng Thị Hiên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận: Thời gian nghệ thuật trong ca dao thề
nguyền người Việt là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Khóa luận không sao
chép từ một tài liệu, công trình nghiên cứu nào đã công bố Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Phùng Thị Hiên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Cấu trúc của khóa luận 7
NỘI DUNG 8
Chương 1 GIỚI THUYẾT VỀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG CA DAO THỀ NGUYỀN 8
1.1 Khái niệm thời gian và thời gian nghệ thuật 8
1.2 Biểu hiện của thời gian nghệ thuật trong ca dao thề nguyền 14
1.2.1 Công thức miêu tả thời gian 15
1.2.2 Từ ngữ biểu thị thời gian 22
Chương 2 CÁC SẮC THÁI BIỂU ĐẠT CỦA THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG CA DAO THỀ NGUYỀN NGƯỜI VIỆT 30
2.1 Thời gian biểu đạt sự gắn kết tình yêu 30
2.2 Thời gian biểu đạt tình yêu vĩnh hằng, bất diệt 33
2.3 Thời gian biểu đạt khát vọng tình yêu chung thủy 39
KẾT LUẬN 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ca dao Việt Nam được xem là tấm gương phản ánh trung thực hình ảnh thiên nhiên, đất nước, con người Việt Nam Đó là kho tài liệu phong phú về phong tục, tập quán trong đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân lao động Trong đó, những câu hát thề nguyền trong hệ thống ca dao giao duyên chiếm vị trí quan trọng trong kho tàng ca dao của dân tộc Tìm hiểu ca dao thề nguyền, ta sẽ thấy những biểu hiện độc đáo và sâu sắc của đời sống tâm hồn con người Việt Nam qua bao thế hệ Thời gian được diễn tả trong những câu hát thề nguyền là thời gian nghệ thuật Mỗi thể loại văn học đều mang nét đặc thù riêng về thời gian nghệ thuật Nếu như trong sử thi là thời gian “khuyết sử”, mang đậm chất thần thoại; thời gian trong cổ tích là thời gian của quá khứ không xác định, mang tính hoang đường thì thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại, thời gian diễn xướng có nghĩa là “thời gian của tác giả và thời gian của người đọc (người thưởng thức) hòa lẫn với thời gian của người diễn xướng” Cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về yếu tố thời gian trong ca dao thề nguyền Vì vậy, chúng tôi lựa chọn:
Thời gian nghệ thuật trong ca dao thề nguyền người Việt làm đề tài nghiên
cứu của khóa luận tốt nghiệp
Xuất phát từ thực tế, chúng tôi nhận thấy ca dao chiếm một số lượng khá lớn so với các thể loại văn học dân gian khác trong chương trình Ngữ văn ở nhà trường phổ thông Lựa chọn đề tài này, người viết bước đầu được làm quen với các thao tác tư duy trong nghiên cứu khoa học, mặt khác đây chính
là cơ hội tốt để trau dồi kiến thức về văn học dân gian, phục vụ tốt cho công tác giảng dạy sau này
Đồng thời khi tìm hiểu nhóm ca dao thề nguyền, ta có thể nhận ra vẻ đẹp tâm hồn của người bình dân xưa Lời ca giản dị nhưng chứa đựng những
Trang 7tình cảm rất đời, rất người, mang giá trị nhân bản, nhân văn sâu sắc, hơn thế,
nó còn nói lên được những quy luật có tính phổ quát muôn đời của lòng người Chính các yếu tố đó đã tạo niềm say mê muốn khám phá, tìm hiểu của chúng tôi
xác, song còn dừng lại ở những thông tin sơ lược
Năm 1978 trong cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam (tái bản lần thứ 8) Vũ Ngọc Phan khi nói về tình yêu lứa đôi cũng đã khẳng định:“Có thể nói
ca dao đã ghi lại tất cả các chặng đường của tình yêu, các khía cạnh của tình yêu, các trạng thái tình cảm của nam nữ thanh niên với những trắc trở khó khăn do đời sống và chế độ phong kiến gây nên… trong cảnh lầm than, tình yêu của nhân dân lao động Việt Nam vẫn thắm thiết, có khi còn gắn bó bằng lời keo sơn, cho nên trong sinh hoạt khó khăn và gian khổ, họ vẫn hăng hái và bền bỉ Những câu biểu hiện ý chí sắt đá của những người bạn tình có rất nhiều trong ca dao Việt Nam” [14] Trong cuốn sách này, nhà nghiên cứu Vũ
Ngọc Phan mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu mang tính chất dẫn dắt, khơi gợi
mà chưa đặt ra vấn đề nghiên cứu, xem xét nội dung biểu hiện của câu hát thề nguyền trong ca dao tình yêu một cách cụ thể
Năm 1991, trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, tập 2, tác giả
Trang 8Hoàng Tiến Tựu căn cứ vào chủ đề đã chia ca dao tình yêu thành bốn bộ phận
chính: ca dao tỏ tình, ca dao tương tư, ca dao thề nguyền và ca dao hận tình
[18] Ở đây tác giả chỉ dừng lại ở việc phân loại mà chưa đi vào phân tích các phương diện biểu hiện của ca dao thề nguyền
Năm 1992, với chuyên luận Thi pháp ca dao, Nguyễn Xuân Kính đã có
những phân tích chuyên sâu về các vấn đề ngôn ngữ, hình tượng, kết cấu, thể thơ, thời gian và không gian nghệ thuật của ca dao truyền thống Theo tác giả:
“Thời gian và không gian là những mặt của hiện thực khách quan được phản ánh trong tác phẩm tạo thành thế giới nghệ thuật của tác phẩm Thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật một mặt thuộc phương diện đề tài, mặt khác thể hiện nguyên tắc cơ bản của việc tổ chức tác phẩm của từng tác giả, từng thể loại, từng hệ thống nghệ thuật” [9;28].
Năm 1992, tác giả Hoàng Tiến Tựu trong cuốn Bình giảng ca dao [19]
có những phát hiện chính xác, độc đáo về nội dung biểu hiện câu hát thề nguyền trong ca dao tình yêu thông qua một đơn vị cụ thể:
Rủ nhau lên núi đốt than Anh đi Tam Điệp, em mang nón Trình Củi than nhem nhuốc với tình
Ghi lời vàng đá xin mình chớ quên
Đó là lời nhắn nhủ giữ vững tình yêu thủy chung Tác giả đã cụ thể hóa
nội dung này qua việc phân tích câu chữ “rủ nhau”, “chớ quên”, “nhem
nhuốc”, “lời vàng đá” Tuy nhiên đây cũng chỉ mới là bài viết được trình bày
dưới dạng cảm nhận chứ chưa thực sự là công trình nghiên cứu chuyên biệt
Năm 1994, Nguyễn Thị Quỳnh Liên trong luận văn thạc sĩ Sự thể hiện
của trạng thái nghệ thuật trong ca dao trữ tình [10] qua việc tìm hiểu các
cụm từ cố định, đã nhận diện được một số công thức thường được sử dụng
trong câu hát thề nguyền như: Dẫu cũng chờ, Dù cũng thương Đây là
Trang 9công thức điều kiện giả thiết Công thức này nêu lên một điều kiện không thuận lợi, bất thường nhằm khẳng định, nhấn mạnh rằng điều kiện được nói đến (chờ đợi, thương) vẫn xảy ra, vẫn đúng ngay cả trong điều kiện đó Trong quan hệ với trạng thái nghệ thuật, công thức biểu đạt một lời thề chung thủy
Đấy mà xử ngãi vuông tròn Dẫu ngàn năm li biệt đây vẫn còn đợi trông
Hay một công thức khác: duyên đợi chờ cũng biểu đạt lời thề, lời
khẳng định lòng chung thủy:
Trăm năm tượng rách còn thờ
Lỡ duyên chịu lỡ cũng chờ đợi anh
Đó là những kết quả nghiên cứu bước đầu, mang lại những gợi ý quan trọng cho chúng tôi trong việc triển khai đề tài
Năm 1998, trong Những thế giới nghệ thuật ca dao, tác giả Phạm Thu
Yến đề cập vấn đề “Thời gian và không gian nghệ thuật trong ca dao” Viết về vấn đề này tác giả khẳng định mỗi thể loại văn học mang nét đặc thù về thời gian nghệ thuật, trong đó thời gian trong ca dao là phương tiện biểu đạt trạng thái tâm hồn của con người Khi khảo sát thời gian nghệ thuật, tác giả nhận
định thời gian nghệ thuật trong ca dao có thể phân thành hai mảng: thời gian
sự kiện và thời gian tâm lý Đồng thời, đưa ra một số công thức miêu tả thời
gian: công thức chỉ thời điểm, thời gian để chỉ các trạng thái tình cảm thay
đổi thường được miêu tả đối lập quá khứ và hiện tại, thời gian là phương tiện biểu hiện lời thể nguyền, ước hẹn hoặc ước mơ cháy bỏng của tình yêu hoặc lời đùa vui đố hỏi [23]
Năm 1998 trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam (sách Cao đẳng sư
phạm) tác giả Hoàng Tiến Tựu căn cứ vào đề tài và chủ đề chia ca dao tình
yêu thành bốn bộ phận chính: ca dao tỏ tình, ca dao tương tư, ca dao thề
nguyền và ca dao hận tình [20] Nếu như ở cuốn dành cho đại học sư phạm
Trang 10chỉ dừng lại ở việc phân loại thì cuốn dành cho cao đẳng sư phạm tác giả nói
rõ hơn về ca dao thề nguyền với nội dung chủ yếu: “Khác với ca dao tỏ tình
và tương tư, ở bộ phận ca dao thề nguyền lại toát lên sức mạnh phi thường của nghị lực và ý chí Ở đây các chàng trai, cô gái thể hiện rõ sự tỉnh táo, sáng suốt, dám nhìn thẳng vào thực tế khó khăn, chấp nhận mọi thử thách vượt qua mọi trở lực để thực hiện tình yêu” Sau khi đưa ra nhận định, tác giả
Năm 2003, trong báo cáo khoa học Một số phương thức nghệ thuật biểu
đạt nội dung thề nguyền trong ca dao trữ tình người Việt [7], tác giả Phùng
Thị Thanh Huyền tiến hành khảo sát một số phương thức nghệ thuật biểu đạt như: thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật, một số biện pháp như ẩn dụ,
biểu tượng, kết cấu, ngôn ngữ… Theo tác giả “Vẻ đẹp của mỗi bài ca dao kết
tinh ở nghệ thuật và nội dung, chính nghệ thuật là phương tiện hữu hiệu nhất
để chuyển tải nội dung và ta có thể khẳng định rằng nội dung đầy giá trị nhân văn, nhân bản của ca dao thề nguyền đã được truyền tải qua những hình thức thật đẹp, thật độc đáo, hấp dẫn” Qua đó, tác giả đánh giá cao giá trị của ca
dao thề nguyền trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Đây là một trong những gợi ý quan trọng để chúng tôi giải quyết các vấn đề của đề tài đang nghiên cứu
Năm 2006, trong kỷ yếu Hội nghị khoa học sinh viên tác giả Vũ Thị Nga
có báo cáo Câu hát thề nguyền trong ca dao về tình yêu đôi lứa [13] Với
dung lượng của một bài báo cáo, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu một
số bài ca dao thề nguyền tiêu biểu để từ đó khẳng định giá trị của ca dao thề nguyền trong đời sống cũng như như vai trò của nó trong thể loại ca dao
Trang 11Năm 2008, khóa luận tốt nghiệp với đề tài Câu hát thề nguyền trong ca
dao tình yêu người Việt [12] của sinh viên Phạm Thu Minh khoa Ngữ văn
trường ĐHSP Hà Nội 2 đã có sự nghiên cứu khá hệ thống về câu hát thề nguyền Tác giả chủ yếu khảo sát câu hát thề nguyền trong hệ thống ca dao tình yêu và nội dung biểu hiện của nó Ở chương 3 của khóa luận, tác giả đã chỉ ra một số phương thức nghệ thuật nổi bật trong việc biểu đạt nội dung “thề nguyền” như: ẩn dụ, biểu tượng, yếu tố không gian và thời gian nghệ thuật… Tuy nhiên tác giả mới chỉ dừng lại ở việc phát hiện, chưa đi sâu vào việc phân tích, lí giải Song đó vẫn là những gợi ý quan trọng để chúng tôi mở rộng vấn
đề nghiên cứu trong khóa luận của mình
Qua việc khảo sát các công trình nghiên cứu trên, ta thấy các bài viết, giáo trình cũng đã có sự quan tâm tới yếu tố thời gian trong ca dao trữ tình song chưa đi vào khảo sát yếu tố này trong một nhóm bài ca dao cụ thể - ca dao thề nguyền Vì vậy, đây là một vấn đề có ý nghĩa khoa học, cần được nghiên cứu một cách cụ thể, kỹ lưỡng hơn nữa
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
+ Mục đích: Làm rõ biểu hiện của các dạng thời gian, lớp từ ngữ chỉ thời
gian và nội dung biểu đạt của nó trong ca dao thề nguyền
+ Nhiệm vụ: Khảo sát yếu tố thời gian nghệ thuật trong ca dao thề nguyền và phân tích các biểu hiện của nó thông qua các công thức, từ ngữ chỉ thời gian; thấy được các nội dung biểu đạt của thời gian nghệ thuật trong việc diễn tả các sắc thái tình cảm của con người
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng: Thời gian nghệ thuật – một trong những yếu tố thi pháp nổi bật trong bộ phận ca dao thề nguyền người Việt
+ Phạm vi:
- Về tư liệu: Chúng tôi tiến hành khảo sát một số công trình sưu tầm,
Trang 12tuyển chọn ca dao người Việt đã được xuất bản và thống kê được 241 lời ca dao có nội dung thề nguyền, trong đó 168 bài xuất hiện yếu tố thời gian
- Về nội dung: Tìm hiểu yếu tố thời gian trong bộ phận ca dao thề nguyền với các biểu hiện cụ thể: dạng thức, công thức miêu tả thời gian và nội dung, ý nghĩa biểu đạt của nó trong ca dao thề nguyền Trong quá trình triển khai các nội dung khóa luận, chúng tôi có sự so sánh với ca dao dân ca của một số dân tộc thiểu số
5 Phương pháp nghiên cứu
Do đặc điểm, yêu cầu và mục đích của đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
6 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của khóa luận được triển khai thành hai chương
Chương 1 Giới thuyết về thời gian nghệ thuật trong ca dao thề nguyền Chương 2 Các sắc thái biểu đạt của thời gian nghệ thuật trong ca dao
thề nguyền
Trang 13NỘI DUNG Chương 1 GIỚI THUYẾT VỀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG CA DAO THỀ NGUYỀN
Trong thế giới khách quan, mọi sự vật, hiện tượng đều được gắn với hệ tọa độ không gian - thời gian xác định, nên những cảm nhận của con người về thế giới đều bắt đầu từ sự đổi thay của không gian, thời gian Từ sự đổi thay của không gian, thời gian, con người nhận ra sự đổi thay trong chính mình Vì vậy, bên cạnh không gian, thời gian trở thành một trong những đối tượng phản ánh phổ biến của tác phẩm văn học, một phạm trù thẩm mỹ Không có hình tượng nghệ thuật nào lại không tồn tại trong không gian, thời gian của
chủ thể sáng tạo “Nếu hiểu thơ ca là sự cảm nhận thế giới và con người thì
thời gian, không gian chính là hình thức để con người cảm nhận thế giới và con người” [16] Thời gian trong nghệ thuật cũng được coi là một hiện tượng
nghệ thuật Thời gian gắn với những quan niệm về nghệ thuật, về con người,
về thế giới của chủ thể Thời gian là sản phẩm của nghệ sĩ nhằm biểu hiện về con người, về thế giới, đồng thời thể hiện quan niệm nhân sinh Thời gian còn
là một yếu tố quan trọng làm nền cho tác phẩm, góp phần bộc lộ chủ đề tác phẩm Thời gian trong nghệ thuật có mô hình và ngôn ngữ riêng của mình vì
nó thể hiện quan niệm về trật tự thế giới, về sự lựa chọn của con người
1.1 Khái niệm thời gian và thời gian nghệ thuật
Ngay từ thời xa xưa, con người đã hiểu rằng, bất kì khách thể vật chất nào cũng chiếm một vị trí trong khoảng không gian, thời gian nhất định
A.JaGurevich trong cuốn Các phạm trù văn hóa trung cổ đã chỉ ra cách lý giải của người trung cổ về khái niệm thời gian: “Thời gian và không gian có
tính chất khách quan, những phẩm chất của chúng độc lập với chất liệu được chứa trong chúng” [4] Chính vì vậy, thời gian đã trở thành đối tượng nghiên
cứu của nhiều ngành khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội, trong đó có thi pháp học
Trang 14Trong lịch sử triết học, thời gian (cùng với không gian) là một phạm trù xuất hiện sớm Cùng với không gian, thời gian gắn liền với vật chất và là phương thức tồn tại của vật chất Không có một dạng vật chất nào tồn tại ở bên ngoài thời gian và không gian Ngược lại, cũng không thể có thời gian và
không gian ở bên ngoài vật chất Lê nin cho rằng: “Trong thế giới khách
quan không có gì khác tồn tại ngoài vật chất chuyển động và vật chất không thể chuyển động ở đâu khác ngoài không gian và thời gian” Ăng ghen cũng
khẳng định: “Các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian và thời
gian Tồn tại ngoài thời gian thì cũng hết sức vô lý như tồn tại ngoài không gian”[17] Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Duy vật, thời gian và
không gian tồn tại hoàn toàn khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người và là những khái niệm hoàn toàn độc lập với nhau
Theo cuốn Hán Việt - giản yếu từ điển (Đào Duy Anh biên soạn):
“Thời gian chỉ ba trạng thái quá khứ, hiện tại và vị lai lưu chuyển với nhau
vô cùng” [2]
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê đã cắt nghĩa: “Thời gian là
hình thức tồn tại cơ bản của vật chất (cùng với không gian), trong đó vật chất vận động và phát triển liên tục, không ngừng” [15]
Theo thi pháp học, thời gian là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật,
là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống Thời gian nghệ thuật thể hiện quan niệm về trật tự, thế giới và sự lựa chọn của con người
Như vậy, mỗi ngành khoa học có một phương pháp, mục đích nghiên cứu khác nhau nên có cách nhìn nhận, quan niệm không giống nhau về thời gian Thi pháp học xem xét thời gian trong tác phẩm văn học với tư cách là một phạm trù nghệ thuật nên cũng sẽ có những đặc thù riêng Bên cạnh thuộc
Trang 15tính vật lý tự nhiên, thời gian trong tác phẩm văn học còn mang tính biểu trưng và tính quan niệm
Bàn về thời gian nghệ thuật, Giáo sư Trần Đình Sử trong Dẫn luận thi
pháp học đã khẳng định: “Thời gian nghệ thuật là thời gian mà ta có thể thể
nghiệm được trong tác phẩm nghệ thuật với tính liên tục và độ dài của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với chiều thời gian là hiện tại, quá khứ hay tương lai” [16;77] Trên thực tế không có hình tượng nghệ thuật nào không tồn tại
trong thời gian và bản thân người kể chuyện hay nhà thơ trữ tình cũng nhìn sự vật bằng một điểm nhìn nhất định trong thời gian Khác với thời gian khách quan được đo bằng đồng hồ và lịch, thời gian nghệ thuật có thể đảo ngược quay về quá khứ, có thể bay vượt tới tương lai xa xôi, có thể dồn nén một khoảng thời gian dài trong chốc lát, lại có thể kéo dài cái chốc lát thành vô tận Thời gian nghệ thuật là hình tượng nghệ thuật, sản phẩm sáng tạo của tác giả bằng phương tiện nghệ thuật nhằm làm cho người đọc thưởng thức, cảm nhận được hoặc hồi hộp chờ đợi hoặc thanh thản vô tư, hoặc đắm chìm vào quá khứ Thiếu sự cảm thụ, tưởng tượng của người đọc thì thời gian nghệ thuật là sáng tạo khách quan trong chất liệu Nếu như mọi tác phẩm có thể gây hiệu quả hồi hộp, đợi chờ thì đối với ai, lúc nào khi cảm thụ thời gian ấy đều xuất hiện
Như vậy, có thể thấy rằng thời gian nghệ thuật là một dạng tồn tại đặc biệt, có quan hệ mật thiết với thời gian vật lý Nếu như thời gian vật lý tồn tại một cách khách quan bên ngoài ý thức của con người thì thời gian nghệ thuật lại mang đậm dấu ấn chủ quan của chủ thể sáng tạo Đó là thời gian tinh thần của con người, là thời gian sống mà con người cảm nhận Hay nói cách khác, thời gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ, nó gợi lên trong trí tưởng tượng của chúng ta qua các tín hiệu ngôn từ và mang tính vận động rõ nét
Trang 16Ví dụ:
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin Hay là em để làm tin trong nhà
Thời gian trong bài ca dao Tát nước đầu đình đều là thời gian mang tính chất phiếm chỉ: hôm qua, đã lâu, mai, đến khi lấy chồng mà tác giả dân gian
sử dụng làm phương tiện để giãi bày, thể hiện tình cảm của mình một cách ý nhị, sâu sa, nhưng cũng vô cùng thông minh, dí dỏm Để có dịp thổ lộ tình yêu với cô gái, chàng trai mượn cớ quên áo, hỏi xin, nhân đó gợi chuyện làm
thân rồi lân la ngỏ ý cầu hôn Câu chuyện bỏ quên áo trong bài ca dao Tát
nước đầu đình trên là hoàn toàn hư cấu Hư cấu từ thời gian nghệ thuật cho
đến các tình tiết diễn ra trong bài ca dao Nhưng cũng chính nhờ vào tài đặt chuyện và dẫn chuyện một cách khéo léo, dí dỏm ấy mà chàng trai ở đây đã bộc lộ được một sự thực, rất thực, là tình yêu trong sáng, thơ mộng, lãng mạn
và cũng rất trân trọng, đằm thắm của chàng đối với người bạn gái mà chàng muốn cưới làm vợ Có thể thấy bài ca dao trên đã rất thành công về nghệ thuật dựng chuyện, cũng như nghệ thuật sử dụng những phương thức diễn đạt, trong đó có thời gian nghệ thuật
Các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ
điển thuật ngữ văn học cũng khẳng định thêm rằng: “Thời gian nghệ thuật là hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Cũng như không gian nghệ thuật, sự miêu tả, trần thuật trong văn học nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất định trong thời gian Và cái được trần thuật bao giờ cũng diễn ra trong thời gian, được biết qua thời gian trần thuật Sự phối hợp của hai yếu tố thời gian này tạo thành thời gian nghệ thuật, một hiện tượng ước lệ chỉ có trong thế giới nghệ thuật” [5]
Trang 17Tiến sĩ N.K Gây đã nói về vai trò của thời gian nghệ thuật như sau:
“Tọa độ không gian và thời gian không chỉ ảnh hưởng đến khung tác phẩm
mà còn là một trong những phương tiện hoạt động của việc tổ chức nội dung tác phẩm”[Dẫn theo tài liệu số 22]
Trong ca dao trữ tình, thời gian nghệ thuật là một yếu tố của chỉnh thể nghệ thuật, Trần Thị An trên Tạp chí văn học số 6, 1990 đã viết về thời gian
nghệ thuật của ca dao như sau: “Dựa trên lối nói, lối nghĩ quen thuộc trong
cuộc sống hằng ngày của nhân dân ta, nó góp phần làm cho tâm trạng ấy trở thành phổ biến cho tất cả mọi người, ở mọi thời điểm Có thể nói thời gian nghệ thuật là một tín hiệu thẩm mĩ quan trọng, giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về ca dao tình yêu nói chung và ca dao thề nguyền nói riêng” [1]
Thời gian nghệ thuật là một phạm trù thi pháp ngày càng quan trọng bởi
vì con người muốn cảm nhận toàn bộ thế giới qua thời gian và trong thời gian Thời gian là đối tượng, là chủ thể, là công cụ miêu tả, là sự ý thức và cảm giác về sự vận động và thay đổi của thế giới trong các hình thức đa dạng của thời gian và xuyên suốt toàn bộ nền văn hóa Sự thụ cảm thời gian gắn liền với ý thức về ý nghĩa của cuộc đời, với quan niệm về thế giới và lịch sử, với ước mơ, lí tưởng và năng lực hoạt động của con người Một cuộc đời có thể trôi nhanh như một giấc mộng, một phút chờ đợi có thể dài như trăm năm, có
kẻ say sưa quên năm tháng, có người mãi mãi thiếu thời gian, lịch sử có khi hàng trăm năm giẫm chân tại chỗ, có khi vùn vụt một ngày bằng hai mươi năm…, ý thức về thời gian là ý thức về sự tồn tại của con người, phát hiện về thời gian giúp con người nhận thức sâu sắc hơn về cuộc đời, về con người Mỗi thời kì văn học, mỗi dòng văn học, mỗi thể loại văn học khác nhau lại có những cách cảm nhận và biểu hiện thời gian khác nhau Song về cơ bản
có thể thấy thời gian nghệ thuật bao giờ cũng gắn liền với hình thức tổ chức
Trang 18bên trong của hình tượng nghệ thuật Nếu như ngòi bút chạy theo diễn biến sự kiện thì thời gian trôi nhanh, khi nào dừng lại miêu tả chi tiết thì thời gian chậm lại
Cùng với không gian nghệ thuật thì thời gian nghệ thuật là phạm trù cơ bản trong thi pháp và thi pháp học Thời gian nghệ thuật không đồng nhất với thời gian trong cuộc sống mặc dù xuất phát điểm của nó là từ đời sống Thời gian nghệ thuật là sự phản ánh thời gian thông qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ Nó phụ thuộc vào điểm nhìn nghệ thuật, quan niệm, sở thích,
ý muốn chủ quan của tác giả
Ví dụ:
Trăm năm đành lỗi hẹn hò Cây đa bến cũ, con đò khác đưa Cây đa, bến cũ còn lưa
Con đò năm ngoái, năm xưa đâu rồi?
“Năm ngoái” - thời gian mới đây, khi trở về, cô gái vẫn là của chàng trai
Vậy mà cái “năm xưa” lại được đặt ở sau gây ra một nỗi buồn hun hút, một
sự hụt hẫng không diễn tả thành lời
Tóm lại, qua một số ý kiến trên, có thể hiểu thời gian nghệ thuật là một phạm trù của thi pháp học, thể hiện cái nhìn mang màu sắc tâm lý chủ quan của người nghệ sĩ Vì vậy nó mang tính chất đa dạng, phong phú, biểu hiện chất sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ, cách cảm nhận, ứng xử đối với cuộc sống theo quan điểm, ý đồ của tác giả Trong thế giới nghệ thuật của nhà văn thì thời gian là một trong những phương tiện hữu hiệu để tổ chức nội dung của nghệ thuật Thời gian nghệ thuật là hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật, nó là thuộc tính tất yếu của hình tượng nghệ thuật Vận động trên
cả ba chiều: quá khứ - hiện tại - tương lai, nhưng thời gian nghệ thuật không nhất thiết phải theo trật tự vốn có của nó mà có thể đảo ngược trình tự thời gian, thay đổi nhịp độ, thậm chí có thể bỏ qua một hay hai chiều vận động của
Trang 19nó Có nhiều cách chiếm lĩnh thời gian khác nhau Như vậy, là một phạm trù của thi pháp học, thời gian nghệ thuật là yếu tố quan trọng góp phần thể hiện
tư tưởng, tư duy, cái nhìn của tác giả về cuộc đời
1.2 Biểu hiện của thời gian nghệ thuật trong ca dao thề nguyền
Nếu như chúng ta quan niệm thơ là sự cảm thụ về thế giới và con người, thì thời gian, không gian nghệ thuật chính là hình thức để con người cảm thụ thế giới Thời gian trong thơ ca cũng như trong các thể loại khác tuy có độ dài ngắn, có quá khứ, hiện tại, tương lai nhưng đều là một phạm trù nghệ thuật
Nó mang đầy tính ước lệ, chủ quan và thể hiện cách hiểu về thế giới con người Tìm hiểu thời gian nghệ thuật của một hiện tượng văn học chính là tìm hiểu cách cảm nhận cuộc sống một cách nghệ thuật và thẩm mĩ trong đó Thực tế ấy cho thấy ở mỗi nền văn hóa, mỗi hiện tượng văn học đều có các hình thức biểu hiện thời gian đặc trưng Để thấy hết cái đặc sắc của ca dao cũng như tiếng lòng của người bình dân xưa trong ca dao chúng ta không thể không tìm hiểu về các hình thức biểu hiện thời gian
Nếu như thời gian trong sử thi là thời gian “khuyết sử”, thời gian lịch sử
đã được hư cấu, nhào nặn trở thành thời gian mang tính khái quát hàng trăm, hàng nghìn năm đậm chất thần thoại Thời gian trong truyền thuyết là thời
gian quá khứ xác định (“Vào thời An Dương Vương, vào thời Hai Bà
Trưng”…) Thời gian trong truyện cổ tích là thời gian quá khứ phiếm định
(“Ngày xửa ngày xưa”, “đã lâu lắm rồi” ) Còn trong ca dao, thời gian là
phương tiện biểu đạt trạng thái tâm hồn của con người nên mang tính phiếm chỉ và nói chung nó vừa là thời gian hiện thực khách quan vừa là thời gian của
sự tưởng tượng, hư cấu mang tính chủ quan của nhân vật trữ tình Sự có mặt của thời gian nghệ thuật trong nhóm ca dao thề nguyền không tách rời đặc điểm chung của thể loại, song nó còn mang nét riêng khác với các bộ phận ca dao trong hệ thống
Trang 201.2.1 Công thức miêu tả thời gian
1.2.1.1 Thời gian hiện tại
Trong thơ ca dân gian, thời gian của tác giả và thời gian của người đọc hòa lẫn với thời gian diễn xướng Thời gian ở đây là thời gian hiện tại Đó thời điểm, hay một khoảng thời gian xác định mà trạng thái nhân vật trữ tình được bộc lộ Thời gian hiện tại có thể là thời điểm bắt đầu của trạng thái hoặc thời gian được tính đếm bằng con số cụ thể
Qua khảo sát nhóm ca dao thề nguyền, chúng tôi thấy rằng thời gian hiện tại có tần số xuất hiện ít, chỉ một vài câu Ca dao nói chung và nhóm ca dao thề nguyền nói riêng đều lấy thời gian hiện tại (tức là thời gian của tác giả và thời gian của người đọc - người thưởng thức, hòa lẫn với thời gian của người diễn xướng) làm thời gian nghệ thuật của mình D.X Likhatrôp trong cuốn
sách Thi pháp văn học Nga cổ [22] đã cho rằng đối với thơ ca dân gian, một
điều cần được chú ý đặc biệt khi nghiên cứu thời gian nghệ thuật đó là thời gian diễn xướng Tính chất độc đáo ở cách thể hiện thời gian là tác giả với tư cách một cá thể, là một cái tôi trữ tình không được biểu lộ ra mà vai trò của người diễn xướng rất quan trọng Điều này cũng dễ hiểu, trước hết là vì lời ca dao sáng tác là để diễn xướng trong một môi trường thời gian và không gian nhất định Người bình dân nhìn nhận thời gian như là phương tiện để bộc lộ tình cảm Cho nên, nhiều bài ca dao mà nhân vật trữ tình mượn thời gian như một cái cớ để giãi bày, thổ lộ tình cảm
Cái hiện tại của thời gian trong ca dao thề nguyền thường được đánh đấu
bằng các công thức, mô típ như: hôm nay, bây giờ, sáng ngày … Cũng có khi
nó là thời gian của quá khứ hoặc của tương lai, nhưng dù là lúc nào thì cũng luôn được soi chiếu với hiện tại, do đó bài ca dao có cả sự vận động cảm xúc, vận động thời gian:
Trang 21Hôm nay sum họp trúc mai Tình chung một khắc ngãi dài trăm năm
Vì ca dao là xúc cảm nên có lẽ trong cái hiện tại của thời gian nhiều lúc
nó lại chỉ là cái hiện tại của bề mặt ngôn từ Khi nhìn nhận dưới góc độ của tâm lý và cảm xúc, ta nên nhìn thời gian ở góc độ thời gian hiện tại (thời gian gắn với các sự kiện) và thời gian tâm lý (thời gian ước lệ, thời gian trong tâm tưởng, trong cảm xúc của con người) Thường thì trong ca dao cái gọi là thời gian vật lý, thời gian sự kiện xuất hiện rất ít, sẽ là vô duyên nếu nó xuất hiện chẳng để làm gì khác ngoài chức năng thông báo thời gian
Ví dụ:
Hôm nay mười bốn mai rằm Chín tháng cũng đợi, mười năm cũng chờ Trăm năm quyết đợi, quyết chờ
Dẫu mà tóc bạc như tơ cũng đành
Thời điểm gặp gỡ đầu tiên hay thời điểm bắt đầu một tình yêu thường khó quên Đó cũng là thời điểm của sự lựa chọn
Từ khi gặp mặt giữa đàng Thiếp quyết thương chàng cha mẹ nào hay
Tuy vậy “hôm nay” hay “từ khi” chỉ là những cụm từ mang tính chất
phiếm chỉ, diễn tả một quãng thời gian của hiện tại, của sự gặp gỡ và chia ly, của những mối tình sống mãi với thời gian
Cũng có khi thời điểm được liệt kê ra như một cái mốc của cuộc đời những cái mốc của thời gian biểu thị sự chấp nhận:
Khi xưa gánh nặng anh chờ
Qua cầu em đợi, bây giờ quên nhau
Tuy nhiên, thời gian ở đây cũng không hoàn toàn là thời gian nào cụ thể trong thực tại Đó là do bản chất của tình yêu, tình yêu là cảm xúc mà cảm xúc thì rất khó có thể nắm bắt được Câu hát thề nguyền cất lên khi tình yêu
Trang 22đã đạt đến độ chín muồi, vượt qua ranh giới của tình cảm nam nữ thông thường, chính vì thế không thể có một giới hạn xác định nào về thời gian Như vậy có thể nói đặc điểm lớn nhất của thời gian nghệ thuật trong ca dao tình yêu là ước lệ, nhằm diễn tả tâm lý và những diễn biến tình cảm nội tâm của nhân vật
1.2.1.2 Thời gian vĩnh hằng
Thời gian vĩnh hằng là thời gian trong sự kết hợp với con số phóng đại hoặc trong cấu trúc giả thiết chỉ sự không giới hạn, để biểu đạt sự vĩnh cửu của một trạng thái tình cảm nhân vật trữ tình Thời gian vĩnh hằng được biểu thị
bằng các cụm từ: “ngàn năm”, “trăm năm”, “ngàn đời”, “một trăm năm”,…
Thời gian trong cấu trúc giả thiết chỉ sự không giới hạn được biểu hiện
bằng các cụm từ: “chín thu cũng , mười năm cũng ”, “chín trăng cũng ,
mười năm cũng , mấy trăng cũng ” thời gian vĩnh hằng thường được dùng
để biểu đạt lời thề thủy chung đợi chờ Hầu hết các lời ca này đều nêu lên điều kiện hay nguyên nhân đưa tới sự thề nguyền đó
Thời gian ở đây vừa là một con số trừu tượng lại vừa cụ thể Đó là “trăm
năm”- giới hạn của một đời người hay “ngàn năm”- cấp số nhân của thời
gian trăm năm ấy Con số “trăm ngàn” bản thân nó đã chứa đựng số lượng
lớn, nhiều, tròn trịa, đầy đủ nên dùng là phương tiện biểu đạt thời gian, thước
đo sự son sắt, bền chặt của tình cảm
Trong ca dao nguời Việt, thời gian vĩnh hằng được coi là phương tiện hữu hiệu để biểu đạt lời thề thủy chung, chờ đợi:
Trăm năm ước nguyện chung tình Trên trời dưới đất có mình có ta Đôi khi nó cũng thể hiện tình cảm không thay đổi:
Trăm năm nát đá phai vàng Nghìn năm ai có quên ai bao giờ
Trang 23Câu ca dao trên có ba lần yếu tố thời gian xuất hiện, làm nên cấu tứ của
tác phẩm Ở đây trăm năm, nghìn năm không còn là con số đơn thuần như
trong toán học, mà nó trở thành phương tiện để khẳng định sự thủy chung
trong tình yêu Qua thời gian trăm năm những sự vật vốn rất khó thay đổi cũng phải “nát”, phải “phai” Vậy mà trải qua “nghìn năm” lòng người vẫn chung thủy, vẹn nguyên “Nghìn năm” là vô hạn, phải lấy đơn vị thời gian lâu
dài thăm thẳm ấy mới có thể đo được sự thủy chung của con người Thời gian
và tình yêu giống nhau ở sự vĩnh hằng, vĩnh cửu Sự vĩnh cửu của thời gian đã trở thành minh chứng cho những mối tình thủy chung Nó trở thành thước đo của lòng người Nếu bỏ đi yếu tố thời gian, bài ca dao sẽ không còn ý nghĩa,
nó sẽ không diễn đạt hết được tâm tư tình cảm của người bình dân xưa
Đồng thời tác giả dân gian còn sử dụng yếu tố thời gian để thể hiện sự gắn bó, ước hẹn của lứa đôi:
Hỏi thử anh biết tình nhân ngãi
Em đâu có ngại sự đợi chờ Một lời hứa căn vặt tóc tơ Trăm năm cũng chẳng hững hờ dạ riêng Hay
Trăm năm giữ trọn lời nguyền Sóng xô mược sóng, đảo thuyền mược ai Tình em nghĩa rộng lâu dài
Lòng em nào phải hoa lài trôi sông
Trong cách cảm, cách nghĩ và cách thể hiện của tác giả dân gian, những
cụm từ thời gian ngàn năm, trăm năm thường diễn đạt khái niệm trường cửu
Vì vậy yếu tố thời gian vĩnh hằng xuất hiện tương đối phổ biến trong ca dao thề nguyền
Trang 24- Trăm năm quyết đợi quyết chờ Dẫu mà tóc bạc như tơ cũng đành
Sông dài cá lội biệt tăm Phải duyên chồng vợ ngàn năm cũng chờ
- Trăm năm ai chớ bỏ ai Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim
- Trăm năm dạ ở đinh ninh, Nào ai phụ ngãi quên tình mặc ai
Ngoài ra còn có những từ, cụm từ dùng để chỉ tính vững bền dài lâu, có khi vô hạn của thời gian cũng xuất hiện khá nhiều
- Con đò với gốc đa Cây đa muôn thuở chẳng xa con đò
- Mục bất kiến nhĩ tằng văn Thấy em có nghĩa mấy trăng anh cũng chờ
- Anh về học lấy chữ nhu Chín trăng em đợi, mười thu em chờ
- Dây tơ hồng ai khéo vấn vương Gặp nhau một bữa mà thương đời đời
- Muối ba năm, muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Đôi ta nghĩa nặng tình dày
Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa
Ca dao thường dùng các khoảng thời gian mặc dù mang tính cụ thể, định lượng rõ ràng nhưng trên thực tế chỉ là những hình ảnh bóng bảy, đầy tính ẩn
dụ nhằm mục đích biểu đạt suy nghĩ, tình cảm của người bình dân Quãng
thời gian ba năm, chín tháng, ba vạn sáu ngàn ngày hay chín trăng, mười
thu… nhằm khắc họa một khoảng thời gian có tính chất lâu dài, bền vững, ẩn
dụ cho tình cảm con người bền chặt, khó phai Việc sử dụng các từ ngữ chỉ thời gian kết hợp với các từ ngữ chỉ thuộc tính bền vững, hiển nhiên của sự
Trang 25vật như: muối mặn, gừng cay và khoảng thời gian được tính bằng độ dài đời
người được sử dụng như khẳng định chân lý về sự thủy chung, son sắc trong tình cảm con người
Tình yêu trong những câu ca thề nguyền dường như muốn vượt ra ngoài
sự hữu hạn của thời gian Các chàng trai, cô gái thiết tha khẳng định tình cảm son sắt không bao giờ thay lòng đổi dạ của mình Họ khao khát trường tồn hóa, bất tử hóa tình yêu của mình trong thời gian vĩnh cửu của vũ trụ Tầm vóc tư tưởng con người trong tình yêu bỗng trở nên lớn lao và đẹp vô cùng Những cụm từ khi đăng đối, luyến láy, khi tăng tiến tiếp nối không ngừng vừa nhấn mạnh mức độ sâu sắc của tình cảm lứa đôi, vừa khẳng định sự bền vững lâu dài của nó giữa sự dòng chảy vô cùng, vô tận của thời gian cuộc đời Cũng
có khi thời gian ấy còn được đo bằng tuổi tác:
Trăm năm thề những bạc đầu Chớ tham phú quý, chớ cầu trăng hoa Dẫu cho tuổi già có đến với con người theo quy luật sinh - lão -bệnh – tử không gì có thể cưỡng nổi, nhưng tình yêu sẽ mãi trong sự nồng nàn, đằm thắm, thủy chung Đó là sức sống vĩnh hằng của tình yêu, là giá trị sâu sắc mà
ca dao thề nguyền đã đem đến cho chúng ta
Như vậy dù dùng khái niệm thời gian vĩnh hằng để thề nguyền và khẳng định sự vĩnh cửu của tình yêu, dân gian đã lấy thời gian làm thước đo của tình cảm Khẳng định tình yêu và lòng chung thủy không chỉ là thề mà còn là nhu cầu được giãi bày, được khẳng định và mong ước về sự thủy chung của những đôi lứa yêu nhau
1.2.1.3 Thời gian lặp lại
Thời gian lặp lại là thời gian biểu thị dòng chảy diễn ra liên tục và lặp lại
nhiều lần của những khoảng thời gian trong một ngày Ví dụ như sáng, trưa,
chiều, tối, đêm Nếu như khoảng thời gian ngày ngày thường gắn với những
Trang 26hoạt động thường nhật nhưng có tính chu kỳ, sự lặp đi lặp lại thể hiện một tình cảm da diết, một ý chí quyết tâm, một sự mong mỏi Thì khoảng thời gian
đêm có sức biểu cảm mạnh nhất trạng thái tâm hồn
- Ngày ngày ra đứng đầu đình Chuyện trò to nhỏ có mình có ta
- Đêm qua mới thực là đêm Ruột xót như muối dạ mềm như dưa Qua việc khảo sát nhóm ca dao thề nguyền, chúng tôi nhận thấy rằng thời
gian lặp lại có tần số xuất hiện khá dày, đặc biệt là khoảng thời gian đêm hay
đêm khuya Bởi, theo lẽ tự nhiên khi con người ta thề thốt thường có người hay
vật chứng giám Vào khoảng thời gian đêm hay đêm khuya dưới bầu trời, ánh trăng và những vì sao những đôi trai gái cùng nhau thề nguyền gắn bó thủy chung Họ nhờ thiên nhiên, vũ trụ làm chứng cho tình yêu của mình
- Gió vàng hiu hắt đêm thanh
Đường xa dặm vắng xin anh đừng về
- Đêm hè gió mát trăng thanh
Em ngồi chẻ lạt cho anh chắp thừng Lạt chẳng mỏng, sao thừng được tốt?
Duyên đôi ta đã trót cùng nhau Trăm năm thề những bạc đầu Chớ tham phú quý, đi cầu trăng hoa Cũng giống như không gian nghệ thuật, yếu tố thời gian trong ca dao thề nguyền cũng mang tính phiếm chỉ Nó thích hợp với những gì chung nhất của cảm xúc tâm lí con người trong tình yêu Thời gian được tính bằng con số, được dùng như một đại lượng để đong đếm, giãi bày, chứng minh cho tình yêu, nỗi buồn và sự chờ đợi Thời gian lặp lại có ý nghĩa biểu thị dòng chảy