Tôi xin trân trọng cám ơn quý thầy cô cùng các cán bộ nhân viên trong chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright và tập thể lớp MPP8 đã tạo những điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khóa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH_ NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của trường Đại học Kinh tế Thành phố
Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
TP Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 07 năm 2017
Tác giả
Võ Phan Nhật Phương
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành nhất đến thầy Nguyễn Quý Tâm và thầy Malcolm Mcpherson đã định hướng, hỗ trợ tôi rất nhiệt tình trong quá trình thực hiện luận văn Tôi xin trân trọng cám ơn quý thầy cô cùng các cán bộ nhân viên trong chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright và tập thể lớp MPP8 đã tạo những điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khóa học và bài nghiên cứu này
Cuối cùng, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến Sở Công Thương, Cục thống kê, Cục Hải Quan, Ban quản lý Khu Kinh tế_ Công nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế cùng các doanh nghiệp dệt may trên địa bàn Thừa Thiên Huế đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu và tiếp cận thực tế tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành dệt may tỉnh
TP Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 07 năm 2017
Tác giả
Võ Phan Nhật Phương
Trang 5TÓM TẮT
Ngành dệt may đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế Đó không chỉ là ngành xuất khẩu chủ lực của tỉnh mà còn tạo ra việc làm, giúp xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội và thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế Với vai trò quan trọng như thế, UBND tỉnh đã có định hướng phát triển ngành dệt may theo hướng cụm ngành, theo “đề án quy hoạch ngành dệt may TT Huế đến năm 2020 định hướng đến năm 2030” Tuy nhiên cần lưu ý rằng, để tránh thất bại thì chính sách can thiệp của chính quyền phải dựa trên những tiền đề phát triển của cụm ngành
Mức độ quy tụ sản xuất của ngành dệt may Thừa Thiên Huế là cao vượt trội trong vùng kinh
tế trọng điểm miền Trung, tuy nhiên xét một cách tổng quát thì tiền đề cho sự phát triển của cụm ngành dệt may TT Huế còn chưa đủ vững chắc Cụ thể là: (i) các yếu tố tạo nên cụm ngành vẫn còn rất kém phát triển, thậm chí một số yếu tố còn chưa tồn tại; (ii) Sức thu hút đầu tư của Thừa Thiên Huế là rất thấp do sự yếu kém về thể chế và điều kiện cơ sở vật chất
hạ tầng còn chưa phát triển, (iii) sự tương tác giữa các doanh nghiệp rất kém, trong khi đó chính quyền và các hiệp hội không phát huy được vai trò của mình đối với doanh nghiệp, (iv) các doanh nghiệp sản xuất ở khâu gia công nên không tạo ra được nhu cầu thị trường cho ngành công nghiệp phụ trợ
Với nền tảng phát triển còn yếu, và bản chất dịch chuyển của ngành dệt may thì việc phát triển cụm ngành sẽ có rủi ro Tác giả đưa ra hai hướng khuyến nghị chính sách cho chính quyền địa phương Hướng thứ nhất, nếu mức độ chấp nhận rủi ro thấp và tỉnh nhận định là
có những ngành có ưu thế hơn thì chính quyền không nên đầu tư vào phát triển cụm ngành dệt may và thay vào đó sẽ dành nguồn lực cho những ngành có lợi thế Hướng thứ hai, nếu tỉnh vẫn muốn thực hiện phát triển cụm ngành thì cần phải thực hiện các biện pháp sau: (i) nâng cao sức thu hút đầu tư của tỉnh bằng cách tháo gỡ nút thắt về thể chế, tạo môi trường thuận lợi về cơ sở hạ tầng…, (ii) tập trung vào phát triển những ngành tỉnh có lợi thế đó là may và sợi, từ đó làm cơ sở thu hút những ngành khác, (iii) thúc đẩy sự tương tác của các thành tố trong cụm ngành thông qua việc thành lập các hiệp hội chuyên ngành, dựa vào đó tăng cường hỗ trợ cho doanh nghiệp, (iv) từng bước hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao phương thức sản xuất thông qua phát triển hệ thống đào tạo, xúc tiến thương mại , (v) thúc đẩy liên
Trang 6MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Bối cảnh nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Cấu trúc luận văn 3
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 4
2.1 Lý thuyết về năng lực cạnh tranh của cụm ngành 4
2.2 Các phương pháp phân tích năng lực cạnh tranh của cụm ngành 5
2.2.1 Phương pháp phân tích mức độ tương đồng khu vực LQ (location quotient) 5
2.2.2 Mô hình kim cương của Porter 7
2.3 Tính “footloose” của ngành dệt may 8
2.4 Kinh nghiệm phát triển ngành dệt may ở các nước 9
CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CỤM NGÀNH DỆT MAY TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 12
3.1 Thực trạng phát triển của ngành dệt may Thừa Thiên Huế 12
3.2 Đánh giá khả năng hình thành và phát triển cụm ngành dệt may dựa vào sự qui tụ sản xuất bằng chỉ số LQ 13
3.3 Đánh giá năng lực hình thành và phát triển cụm ngành dệt may theo mô hình kim cương 15
3.3.1 Các điều kiện nhân tố đầu vào 15
3.3.2 Môi trường chính sách và cạnh tranh 22
3.3.3 Các điều kiện cầu 27
3.3.4 Các ngành hỗ trợ và liên quan 28
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH VÀ HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 33
4.1 Kết luận 33
4.1.1 Những yếu tố thúc đẩy việc phát triển cụm ngành dệt may Thừa Thiên Huế 33
4.1.2 Những yếu tố cản trở việc phát triển cụm ngành dệt may Thừa Thiên Huế 33
4.1.3 Tác động của tính “footloose” đến quyết định chính sách phát triển cụm ngành dệt may 34
4.2 Kiến nghị chính sách 35
4.3 Hạn chế của đề tài 36
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO 37 PHỤ LỤC 39
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tên đầy đủ tiếng Anh Tên đầy đủ tiếng Việt
FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do
VJEPA The Vietnam-Japan Economic
Partnership Agreement
Hiệp định đối tác kinh tế tự do Việt Nam_Nhật Bản WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Chỉ số hệ số tương đồng của các tỉnh trong Vùng Kinh tế trọng điểm miền
Trung 14
Bảng 3.2 Tình hình sử dụng đất ở các khu công nghiệp 16
Bảng 3.3 Giá thuê đất tại các khu công nghiệp 17
Bảng 3.4 Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho các thành phố 17
Bảng 3.5 Chi phí lao động của các vùng 19
Bảng 3.6 Chi phí sản xuất của Việt Nam so với Trung Quốc 21
Bảng 3.7 So sánh năng suất lao động và tiền lương của các nước trong khu vực ASEAN 26
Bảng 3.8 Dự báo thị trường hàng may mặc trên thế giới đến năm 2030 28
Bảng 3.9 Đánh giá của doanh nghiệp đối với hỗ trợ của chính quyền 31
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Cơ cấu các ngành ở Thừa Thiên Huế 2014 1
Hình 2.1 Sơ đồ cụm ngành dệt may của thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương lân cận 5
Hình 2.2 Mô hình kim cương của Porter 8
Hình 2.3 Dòng dịch chuyển của ngành dệt may trên thế giới 9
Hình 3.1 Giá trị xuất khẩu ngành dệt may tỉnh Thừa Thiên Huế 12
Hình 3.2 Tốc độ tăng trưởng ngành dệt may giai đoạn 2011-2015 13
Hình 3.3 Tình hình lao động của các tỉnh giai đoạn 2010-2015 18
Hình 3.4 Biều đồ so sánh chỉ số PCI của Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng 23
Hình 3.5 Tình hình nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may giai đoạn 2010 – 2015 30
Hình 3.6 Mô hình kim cương cụm ngành dệt may tỉnh Thừa Thiên Huế 32
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 Bối cảnh nghiên cứu
Thừa Thiên Huế được biết đến với nhiều ưu thế về phát triển du lịch, nhưng dệt may mới là ngành đóng góp lớn nhất vào sự phát triển kinh tế và xã hội, được thể hiện thông qua vị trí của ngành dệt may trong biểu đồ về cơ cấu các ngành ở Thừa Thiên Huế (hình 1.1) Xét về giá trị sản xuất, trong năm 2014, ngành dệt may tạo ra 12.150.224 triệu đồng, chiếm 16,65% tổng giá trị sản xuất của toàn bộ nền kinh tế Trong khi đó, ngành có lợi thế của tỉnh là du lịch chỉ tạo ra 4.528.132 triệu đồng, tương ứng với 6,02% tổng giá trị sản xuất của tỉnh Trên phương diện tạo việc làm, ngành dệt may ngày càng thu hút được nhiều lao động tham gia, năm 2010 có 14.577 người hoạt động trong lĩnh vực này nhưng đến 2014, lực lượng lao động trong ngành này đã tăng lên 24.587 người Tỷ trọng lao động của ngành dệt may trong toàn bộ lực lượng lao động của tỉnh năm 2014 là lớn nhất so với những ngành khác, chiếm 29,25%, trong khi du lịch chỉ là 8,26% Với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, khả tạo việc làm, giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội của ngành dệt may thì sự quan tâm, ưu tiên hỗ trợ phát triển của chính quyền địa phương là cực kỳ cần thiết
Hình 1.1 Cơ cấu các ngành ở Thừa Thiên Huế 2014
Nguồn: Cục thống kê TT Huế (2015)
Ngày 19/5/2015, UBND tỉnh đã chính thức phê duyệt “Đề án quy hoạch ngành dệt may tỉnh
sửa chữa ô tô, mô tô
Vận tải, kho bãi Truyền thông
-5.00 0.00 5.00 10.00 15.00 20.00 25.00 30.00 35.00
Trang 12dựng Thừa Thiên Huế trở thành trung tâm Dệt may của khu vực Miền Trung - Tây Nguyên Chiến lược của chính quyền địa phương là tập trung vào phát triển mạnh các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, hình thành và phát triển ngành công nghiệp thời trang Cụ thể, ngành dệt may Thừa Thiên Huế sẽ chuyển đổi sang sản xuất chuỗi sản phẩm, từ khâu R&D và thiết kế đến công nghiệp dệt (bao gồm sợi, dệt, nhuộm và hoàn tất vải), công nghiệp hỗ trợ (thuốc nhuộm, phụ kiện, xưởng cơ khí ), công nghiệp may, và dịch vụ-thương mại dệt may… Như thế có thể thấy tỉnh Thừa Thiên Huế đang định hướng phát triển cụm ngành dệt may hoàn thiện với tổng nguồn vốn đầu tư dự kiến đến năm 2025 là 11.889 tỷ đồng [phụ lục 1] Vấn đề đặt ra ở đây là trong điều kiện hạn chế về nguồn lực, chính quyền cần cân nhắc kỹ lưỡng trước những chính sách can thiệp đối với cụm ngành để đảm bảo được hiệu quả về kinh tế và xã hội Theo Vũ Thành Tự Anh (2012), nhà nước không nên xây dựng cụm ngành một cách chủ quan duy ý chí mà cần xuất phát từ những tiền đề và nương theo những lợi thế
có sẵn Chính vì vậy, cần có một nghiên cứu cụ thể phân tích thực trạng của ngành dệt may Thừa Thiên Huế và môi trường kinh doanh của tỉnh, từ đó làm căn cứ để xem xét và đưa ra giải pháp phát triển hợp lý nhất
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được đặt trong bối cảnh phát triển cụm ngành dệt may Thừa Thiên Huế, theo như định hướng phát triển của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Mục tiêu của đề tài là nhận dạng được nền tảng cho sự phát triển cụm ngành dệt may Thừa Thiên Huế hiện nay Trên cơ sở
đó, tác giả sẽ đưa ra những giải pháp trọng tâm mà chính quyền tỉnh cần hướng đến
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
1) Những yếu tố nào đang thúc đẩy hoặc cản trở cho việc phát triển cụm ngành dệt may Thừa Thiên Huế ?
2) Với điều kiện hiện tại, chính quyền cần có chính sách gì đối với việc phát triển cụm ngành dệt may Thừa Thiên Huế ?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: bài viết nghiên cứu năng lực cạnh tranh của cụm ngành dệt may tại
tỉnh Thừa Thiên Huế
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 13+ Phạm vi thời gian: Số liệu từ năm 2010 đến 2015
1.5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin: thông tin của bài nghiên cứu sẽ đến từ số liệu nghiên cứu thứ cấp và sơ cấp
• Đối với số liệu thứ cấp: sẽ được thu thập từ Niên giám thống kê, Sở Công Thương, Sở
Kế hoạch và Đầu tư, Ban quản lý Khu Kinh tế và Công nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế, Hiệp hội ngành nghề dệt may…
• Với số liệu sơ cấp: được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi 16 doanh nghiệp dệt may trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, trong đó có 6 doanh nghiệp sợi và 10 doanh nghiệp may [phụ lục 3] Mặc dù chỉ 16 doanh nghiệp nhưng hầu như đây là những công ty lớn nhất và có tầm ảnh hưởng đến ngành dệt may TT Huế, chiếm 90% tổng số lao động trong ngành dệt may của tỉnh Bên cạnh đó, tác giả sẽ tiến hành phỏng vấn sâu ban lãnh đạo của các doanh nghiệp để nắm rõ tình hình ngành dệt may
- Phương pháp phân tích: luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp với
thống kê mô tả và phương pháp so sánh để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu Tác giả dựa vào khung lý thuyết mô hình kim cương của Porter để phân tích ngành dệt may và tỉnh Thừa Thiên Huế đã có những yếu tố nào tạo nên năng lực cạnh tranh của cụm ngành và mức độ tương tác giữa các yếu tố đó Nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp phân tích mức độ tương đồng khu vực LQ để xác định mức độ qui tụ của ngành dệt may Kết quả phân tích phía trên
sẽ làm cơ sở để đưa ra kiến nghị để phát triển ngành dệt may của tỉnh
1.6 Cấu trúc luận văn
Luận văn này được trình bày thành 4 chương Trong đó, Chương 1 giới thiệu về bối cảnh nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc của luận văn Chương 2 bao gồm lý thuyết về năng lực cạnh tranh của cụm ngành, các phương pháp phân tích năng lực cạnh tranh của cụm ngành, tính “footloose” của ngành dệt may và kinh nghiệm phát triển ngành dệt may ở các nước Chương 3 sẽ tập trung vào phân tích thực trạng phát triển của ngành dệt may Thừa Thiên Huế, đánh giá khả năng phát triển cụm ngành dựa vào sự qui tụ sản xuất bằng chỉ số LQ và
mô hình kim cương Cuối cùng, kết luận, kiến nghị chính sách và hạn chế của đề tài sẽ được trình bày ở chương 4
Trang 14CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
2.1 Lý thuyết về năng lực cạnh tranh của cụm ngành
Cụm ngành là sự tập trung về mặt địa lý của các doanh nghiệp, các nhà cung ứng và các doanh nghiệp có tính liên kết cũng như của các công ty trong các ngành có liên quan và các thể chế hỗ trợ (ví dụ như các trường đại học, cục tiêu chuẩn, hiệp hội thương mại…) trong một số lĩnh vực đặc thù, vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau ( Porter,1990, 1998, 2008, trích Vũ Thành Tự Anh, 2012)
Vũ Thành Tự Anh (2012) cho rằng, khái niệm cụm ngành được xây dựng dựa vào hai trụ cột quan trọng Thứ nhất đó là của sự tập trung về mặt địa lý của hoạt động kinh tế Thứ hai
là tính “liên kết” và “liên quan”, nghĩa là cụm ngành không phải là một tập hợp rời rạc, mà ngược lại đó là sự gắn kết của một nhóm các công ty để tạo ra sự tương hỗ và những tác động tích cực lan tỏa cho nhau Sức mạnh của một cụm ngành lớn hơn tổng sức mạnh của các thành viên riêng lẻ gộp lại
Sự phát triển của cụm ngành đóng một vai trò rất lớn đối với việc tăng ưu thế cạnh tranh của một ngành công nghiệp hoặc một nền kinh tế (Vũ Thành Tự Anh, 2012) Đầu tiên, cụm ngành thúc đẩy năng suất thông qua việc giúp các doanh nghiệp tăng khả năng tiếp cận với các nhân tố đầu vào, giảm chi phí và thời gian giao dịch, tăng động cơ cạnh tranh của các doanh nghiệp Thứ hai, cụm ngành thúc đẩy đổi mới, do thông tin về nhu cầu và thị hiếu của khách hàng, các nhà cung ứng được phổ biến rộng rãi hơn, đồng thời sự sẵn có của các nguồn lực tài chính, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp giúp giảm các chi phí và rủi ro về thử nghiệm công nghệ mới Thứ ba, cụm ngành giúp thúc đẩy thương mại hóa và ra đời các doanh nghiệp mới Việc thành lập các doanh nghiệp mới trở nên dễ dàng hơn do thể chế hỗ trợ tài chính
và kỹ năng, các mối quan hệ thương mại và nhu cầu có tính tập trung
Xét về cấu trúc của cụm ngành dệt may, IPP & CIEM (2013), cho rằng hoạt động cốt lõi là sản xuất dệt may, nhìn theo chiều dọc thì sẽ có các công ty thượng nguồn (thiết kế, sản xuất nguyên phụ liệu ) và các công ty hạ nguồn (ví dụ như hậu cần xuất khẩu, thương hiệu, bán buôn, bán lẻ) Theo chiều ngang, sẽ có các ngành liên quan như thời trang, da giày, trang trí nội thất, các cụm ngành hỗ trợ như máy móc, hóa chất Ngoài ra, cụm ngành còn có, trường thiết kế thời trang, trường đào tạo công nhân kỹ thuật, các tổ chức cung cấp hạ tầng giao thông, xuất nhập khẩu, và thương mại Cuối cùng cụm ngành còn có các cơ quan thuộc chính
Trang 15phủ hoặc các thể chế quản lý như bộ chuyên ngành (như Bộ Công Thương), các hiệp hội dệt may (ở cấp trung ương và địa phương) như hình 2.1
Hình 2.1 Sơ đồ cụm ngành dệt may của thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương
lân cận
Nguồn: IPP và CIEM (2013)
2.2 Các phương pháp ph ân tích năng lực cạnh tranh của cụm ngành
Như đã phân tích ở trên, cụm ngành có hai trụ cột chính đó là sự tập trung về mặt địa lý của hoạt động kinh tế và tính “liên kết” và “liên quan” của các thành tố trong cụm ngành Vì vậy, để đánh giá cụm ngành dệt may, tác giả kết hợp sử dụng phương pháp phân tích mức
độ tương đồng khu vực LQ và mô hình kim cương của Porter
2.2.1 Phương pháp phân tích mức độ tương đồng khu vực LQ (location quotient)
Đây là phương pháp phân tích dữ liệu thống kê nhằm nhận diện các cụm ngành tiềm năng trong khu vực dựa vào mức độ tập trung của một ngành công nghiệp trong một khu vực địa
Trang 16sự tập trung lao động lớn vào một ngành công nghiệp nào đó thì khu vực này có tiềm năng hình thành và phát triển cụm ngành đó Mức độ tương đồng khu vực được tính bằng công thức sau:
LQLđ = ei/e
𝐸𝑖/𝐸Trong đó:
ei: số lao động trong ngành dệt may tại tỉnh TT Huế
e: số lao động trong tất cả các ngành công nghiệp chế biến chế tạo tại tỉnh TT Huế
Ei: số lao động trong ngành dệt may tại vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung
E: số lao động trong tất cả các ngành công nghiệp chế biến chế tạo tại vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung
LQLĐ >1: tỉnh có mức độ tập trung lao động cao hơn so với bình quân trong khu vực so sánh, nghĩa là tỉnh có tiềm năng phát triển cụm ngành công nghiệp i LQLĐ <1: tỉnh có mức
độ tập trung lao động thấp hơn so với bình quân trong khu vực so sánh, hay nói cách khác khu vực không có tiềm năng phát triển cụm ngành công nghiệp i
Bên cạnh đó, để xem xét mức độ đóng góp của mỗi ngành cho toàn ngành công nghiệp của một địa phương ta có thể tính công thức LQ đối với giá trị sản xuất công nghiệp theo công thức sau:
LQGTSX = oi/o
𝑂𝑖/𝑂oi: giá trị sản xuất công nghiệp của ngành dệt may tại tỉnh TT Huế
o: giá trị sản xuất công nghiệp tất cả các ngành công nghiệp chế biến chế tạo tại tỉnh Thừa Thiên Huế
Oi: giá trị sản xuất công nghiệp của ngành dệt may tại vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung O: giá trị sản xuất công nghiệp tất cả các ngành công nghiệp chế biến chế tạo tại vùng Kinh
tế trọng điểm miền Trung
LQGTSX >1: khu vực có giá trị sản xuất công nghiệp của ngành dệt may cao hơn so với bình quân khu vực so sánh, nghĩa là công nghiệp có đóng góp tích cực cho hoạt động sản xuất
Trang 17công nghiệp của địa phương LQGTSX < 1: công nghiệp dệt may chưa có đóng góp tích cực cho địa phương
Xin nhấn mạnh rằng, việc so sánh chỉ số tương đồng theo khu vực không phải để đánh giá
sự phát triển của cụm ngành mà chỉ cho thấy mức độ khả năng hình thành, phát triển thành cụm ngành của một ngành trong một khu vực nhất định
2.2.2 Mô hình kim cương của Porter
Theo Vũ Thành Tự Anh (2012), mô hình kim cương của Porter được áp dụng phổ biến trong các phân tích về cụm ngành, đặc biệt là để nhận ra các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của địa phương và ngành, từ đó xây dựng chiến lược phát triển cụm ngành nói riêng
và kinh tế nói chung Mô hình kim cương đề cập đến 4 nhân tố chính là: các điều kiện nhân
tố đầu vào, môi trường chính sách và cạnh tranh, các điều kiện cầu và các ngành hỗ trợ liên quan:
(i) Các điều kiện nhân tố đầu vào bao gồm: lao động, cơ sở hạ tầng vật chất, đất đai, hệ thống đào tạo, tài nguyên vốn, điều kiện tự nhiên, nguyên liệu… Những nhân tố này được coi là điều kiện tiền đề cơ bản để phát triển mỗi doanh nghiệp, địa phương, vùng lãnh thổ Do đó, đây một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để thu hút đầu tư của các doanh nghiệp (ii) Môi trường chính sách và cạnh tranh: bao gồm những điều kiện ảnh hưởng đến việc tạo lập, tổ chức và quản lý doanh nghiệp; và đặc điểm của các đối thủ trong địa phương (iii) Các điều kiện về cầu: bao gồm nhu cầu trong và ngoài nước về sản phẩm dịch vụ (iv) Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan: bao gồm các nhà cung ứng và phân phối hỗ trợ ngành và cụm
Trang 18Hình 2.2 Mô hình kim cương của Porter
Nguồn: Porter (1990)
2.3 Tính “footloose” của ngành dệt may
Những ngành thâm dụng lao động được tạo ra bởi những công ty đa quốc gia ở những nước phát triển thường rất nhạy cảm với mức lương địa phương Các công ty đa quốc gia này tìm đến những nước có mức lương thấp để đầu tư sản xuất, nhưng khi lương tăng lên ở một mức nào đó, họ sẽ dịch chuyển đến một vùng mới có mức lương thấp hơn Những ngành như vậy gọi là ngành “footloose” (Flamma 1984, Tain Jy Chen and Ying-Hua Ku, 2013 )
Tính chất này của ngành dệt may được thể hiện rất rõ thông qua dòng dịch chuyển của của ngành qua các thời kỳ (hình 2.3)
Môi trường chính sách và cạnh tranh
Ngành công nghiệp hỗ trợ
và liên quan
quan
Điều kiện nhân tố đầu vào
Điều kiện về cầu Vai trò của
Nhà nước
Trang 19Hình 2.3 Dòng dịch chuyển của ngành dệt may trên thế giới
Sản xuất dệt may hiện đại - sử dụng máy móc điều khiển bởi động cơ nhân tạo Bắt đầu
từ cuộc cách mạng đầu tiêu ở Anh vào cuối thế kỷ 18
1950s đến đầu
1960s
Dịch chuyển lần 1: Từ Bắc Mỹ và Đông Âu đến Nhật
Ban đầu dựa vào bông nhập khẩu và máy kéo sợi của Anh nhưng sau chiến tranh thế giới lần 2 dựa vào phát triển của máy móc nội địa, Nhật trở thành điểm đến được ưa thích nhất 1970s đến đầu
1980s
Dịch chuyển lần 2: Nhật Bản đến Hong Kong, Đài Loan và Hàn Quốc
Những đất nước này chiếm thị phần xuất khẩu dệt may lớn ở 1970s và đầu 1980s
1980s đến đầu
1990s
Dịch chuyển lần 3: Hong Kong, Đài Loan, Hàn Quốc đến những nước Nam Á khác
Việc sản xuất vào 1980s dịch chuyển chủ yếu đến Trung Hoa Đại Lục, nhưng đồng thời
Trung Quốc dần mất đi lợi thế cạnh tranh: chi phí lao động tăng lên, định giá cao đồng tiền Trung Quốc, chi phí vận chuyển tăng định hướng một sự dịch chuyển về địa lý mới?
Nguồn: ANZ Market Update (2012)
Về mặt lịch sử, sự dịch chuyển toàn cầu hóa sản xuất chủ yếu là do sức ép từ các nhà bán lẻ như Wal-Mart, Sears, hay JS Penny và những công ty định hướng thời trang như Liz Claiborne, Gap, và The Limited Chiến lược giảm chi phí của họ định hình ngành công nghiệp, họ vẫn đóng chức năng thiết kế và marketing nhưng sản xuất lại được thực hiện qua hợp đồng với những nước có mức lương thấp Kết quả là những công ty này trở thành “nhà sản xuất không nhà máy” (ANZ Market Update, 2012) Hình trên cho thấy dòng dịch chuyển gia công hàng dệt may lần lượt chuyển đến các nước có lợi thế về lao động, đó là bản chất
“footloose” trong ngành dệt may
2.4 Kinh nghiệm phát triển ngành dệt may ở các nước
Kinh nghiệm phát triển ngành dệt may của nhiều quốc gia cho thấy những chính sách và thể chế tạo ra môi trường kinh doanh ổn định, thuận lợi và cởi mở chính là nền tảng cơ bản cho
sự phát triển dài lâu Theo báo cáo ngành dệt may Việt Nam năm 2014, Trung Quốc là quốc
Trang 20gia xuất khẩu lớn nhất thế giới đối với cả sản phẩm dệt và sản phẩm may, chiếm khoảng 40% tổng mậu dịch dệt may toàn cầu Quốc gia này phát triển ngành dệt may dựa trên truyền thống phát triển lâu đời và lợi thế về nguồn lao động dồi dào Vào năm 1998, Trung Quốc
đã thực hiện trợ cấp và cho vay ưu đãi cho các doanh nghiệp để khuyến khích loại bỏ máy móc cũ và lạc hậu Chỉ riêng năm 1998, Trung Quốc đã bỏ 5,12 triệu cọc sợi cũ Bên cạnh việc hiện đại hóa thiết bị, Trung Quốc còn đào tạo đội ngũ nhân viên kỹ thuật giỏi, chính qui
để có thể tận dụng được trang thiết bị mới để tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao Tiếp theo, chính phủ Trung Quốc tập trung qui hoạch hóa ngành dệt may vào các khu vực duyên hải có truyền thống lâu năm để phát huy lợi thế về qui mô sản xuất và tận dụng cơ sở hạ tầng cũng như lao động có tay nghề cao ở những vùng này Kinh nghiệm của Trung Quốc còn cho thấy phải thực hiện hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài được xúc tiến thông qua nâng cấp cơ sở hạ tầng, ưu đãi thuế, đơn giản hóa thủ tục hải quan, và thành lập các đặc khu kinh tế Những nỗ lực này nhằm mục tiêu là thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý của nước ngoài cũng như là tạo ra thị trường xuất khẩu ở nước ngoài…
Hàn Quốc cũng là một trong 10 khu vực xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới mặc dù đây là một quốc gia không có lực lượng lao động dồi dào như Trung Quốc và mới tham gia vào thị trường dệt may thế giới Sự phát triển của công nghiệp dệt may của Hàn Quốc phụ thuộc rất lớn vào các Chaelbol1 Các Chaelbol đã giúp ngành công nghiệp dệt may của Hàn Quốc mở rộng qui mô sản xuất, hạ giá thành sản phẩm trên thị trường Chính vì vậy, chính phủ đã tập trung vào hỗ trợ các Chaelbol này thông qua việc dành những ưu đãi về lãi suất, tỷ giá hối đoái trong giai đoạn đầu hình thành các Chaelbol, định hướng các Chaelbol tập trung vào những ngành có hàm lượng khoa học cao, đặc biệt trong các cuộc khủng hoảng tài chính thì chính phủ chủ trương cải tổ các Chaelbol và cho vay các khoản tiền lớn từ các tổ chức tài chính quốc tế Tương tự Trung Quốc, Hàn Quốc cũng chú trọng đầu tư áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất vải và các sản phẩm dệt may Điển hình là áp dụng hệ thống CAD/CAM (sử dụng máy tính trợ giúp cho thiết kế và sản xuất) để tăng năng suất lao động Hàn Quốc cũng rất quan tâm mối liên kết giữa các doanh nghiệp hỗ trợ dệt may vừa và nhỏ với các doanh nghiệp dệt may lớn, xem đó là nền tảng cơ bản để phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ Hàn Quốc đã áp dụng một chính sách từ trên xuống, lựa chọn một số công ty lớn làm
Trang 21nhân tố chủ chốt và yêu cầu họ mua nguyên phụ liệu từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ được
ưu tiên phát triển Hàn Quốc đã thành công trong các chương trình hỗ trợ phát triển các nhà cung cấp nguyên phụ liệu, chương trình liên kết hỗ trợ công nghiệp, chương trình phát triển
kỹ thuật
Trang 22CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CỤM
NGÀNH DỆT MAY TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
3.1 Thực trạng phát triển của ngành dệt may Thừa Thiên Huế
Dệt may là ngành công nghiệp chủ đạo của tỉnh TT Huế Trong năm 2015, giá trị sản xuất ngành dệt may là 13.024.090 triệu đồng, trong đó ngành dệt chiếm 4.521.500 triệu đồng và ngành sản xuất trang phục là 8.502.590 triệu đồng Giá trị ngành dệt may chiếm một tỷ phần lớn trong giá trị sản xuất của ngành công nghiệp chế biến chế tạo (48,86%) Với năng lực lớn như vậy, ngành dệt may đã trở thành ngành hàng chủ lực trong hoạt động xuất khẩu của tỉnh Trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2015, giá trị xuất khẩu ngành dệt may luôn chiếm trên 70% giá trị xuất khẩu của tỉnh, đến năm 2015 thì chiếm 77,58%, như hình 3.1
Hình 3.1 Giá trị xuất khẩu ngành dệt may tỉnh Thừa Thiên Huế
Nguồn: Cục thống kê TTHuế (2015) Trong giai đoạn 2011-2014, tốc độ tăng trưởng ngành dệt may luôn lớn hơn nhiều so với tốc
độ tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến chế tạo và ngành công nghiệp của tỉnh Tốc
độ tăng trưởng của ngành dệt may năm 2011 là 25% trong khi ngành công nghiệp chế biến
là 11,37% và ngành công nghiệp là 11,23% Mặc dù tốc độ tăng trưởng luôn dương nhưng
có dấu hiệu giảm dần, đến năm 2015 tốc độ tăng trưởng của ngành dệt may chỉ còn 8%, thấp
Trang 23hơn ngành công nghiệp chế biến chế tạo và ngành công nghiệp Điều này theo xu hướng chung của ngành dệt may Việt Nam, với tốc độ tăng trưởng cả nước năm 2015 là 9% (Ái Vân, 2017) Hiện nay, ngành dệt may Việt Nam đang chịu áp lực từ các thị trường mới nổi như Campuchia, Bangladesh, Malaysia do các nước này được hưởng thuế suất ưu đãi, công nghệ hiện đại hơn
Hình 3.2 Tốc độ tăng trưởng ngành dệt may giai đoạn 2011-2015
Nguồn: Cục thống kê Thừa Thiên Huế (2015)
3.2 Đánh giá khả năng hình thành và phát triển cụm ngành dệt may dựa vào sự qui
tụ sản xuất bằng chỉ số LQ
Hệ số LQ phản ánh sự phát triển nổi trội của một ngành công nghiệp trên một vùng lãnh thổ (địa phương) nhất định Hệ số này cao nghĩa là mức độ tích tụ, tập trung hóa sản xuất của một ngành cao Đó là điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức quan hệ hợp tác giữa các cụm ngành kinh tế
0 5 10
Trang 24Bảng 3.1 Chỉ số hệ số tương đồng của các tỉnh trong Vùng Kinh tế trọng điểm miền
đó, ở Quảng Nam chỉ 35%, Đà Nẵng và Bình Định là 23% và Quảng Ngãi chỉ 11%
Ngành dệt may của Đà Nẵng và Quảng Nam tạo ra tỷ trọng chưa đến 10% trong giá trị sản xuất công nghiệp ngành chế biến chế tạo [phụ lục 7], tuy nhiên nếu xét trong vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung thì chỉ số LQGTSXCN lớn hơn 1, nghĩa là ngành dệt may có vai trò tương đối trong vùng Tuy nhiên, chỉ số này ở Thừa Thiên Huế vẫn cao vượt trội (6,48) Nếu xét về giá trị sản xuất công nghiệp thì trong năm 2014 ngành dệt may Thừa Thiên Huế là 12.150.224 triệu đồng, gấp 2,58 lần Đà Nẵng và 2,27 lần Quảng Nam (Cục thống kê, niên giám TK năm 2015 các tỉnh TT Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam) Ngành dệt may Huế trong năm
2014 chiếm đến 49,93% giá trị sản xuất của ngành công nghiệp chế biến chế tạo Như vậy, xét theo chỉ số LQGTSXCN thì chỉ có TT Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam lớn hơn 1, nghĩa là dệt may có đóng góp lớn cho địa phương
Tổng hợp hai chỉ tiêu LQLĐ và LQGTXCN, có thể thấy ngành dệt may ở Thừa Thiên Huế có mức độ tích tụ tập trung cao nhất trong vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung Đây là tiền đề cần thiết cho việc phát triển cụm ngành dệt may
Trang 253.3 Đánh giá năng lực hình thành và phát triển cụm ngành dệt may theo mô hình kim cương
3.3.1 Các điều kiện nhân tố đầu vào
Điều kiện tự nhiên
Khí hậu thời tiết của Thừa Thiên Huế khá thất thường và khắc nghiệt, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của ngành dệt may TT Huế nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam Mùa mưa trùng với mùa bão lớn từ tháng 8 đến tháng 12, lượng mưa đạt cao điểm vào tháng 10 Độ ẩm trung bình các tháng trong năm đạt khoảng 87%, cao nhất là tháng 12 và tháng 1 đạt trên 90%, thấp nhất là tháng 6, tháng 7 chỉ dưới 80% Khí hậu làm gián đoạn đến không chỉ khâu sản xuất mà còn ảnh hưởng đến việc vận chuyển hàng hóa và lưu trữ…
Xét về vị trí địa lý, tỉnh nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc_ Nam và ở vị trí trung độ của cả nước, giữa hai trung tâm kinh tế lớn nhất nước là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh thông qua quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh Ngoài ra TT Huế còn nằm trong trục hành lang Đông Tây nối Đông Bắc Thái Lan- Trung, Nam Lào và Việt Nam theo đường
9 Vị trí địa lý tạo cơ hội các doanh nghiệp dệt may xuất nhập khẩu hàng hóa nhanh chóng cũng như giảm cước phí vận chuyển và mở rộng thị trường
Cơ sở hạ tầng giao thông
Cơ sở hạ tầng vận tải của tỉnh Thừa Thiên Huế có đầy đủ 4 loại hình: đường bộ, đường biển, đường sắt và đường hàng không Tỉnh có quốc lộ 1A chạy xuyên qua và nhiều tuyến tỉnh lộ
để nối với các tỉnh khắp cả nước Ngoài ra, tỉnh có tuyến đường sắt Bắc-Nam chạy qua dài 101,2km, đóng vai trò lớn trong giao thông của tỉnh Về đường hàng không, sân bay quốc tế Phú Bài nằm trên quốc lộ I, cách phía Nam khoảng 15km Đặc biệt, tỉnh có hai cảng là Chân Mây và Thuận An với độ sâu 18-20m Cảng Chân Mây, cách thành phố Huế 9 km về phía Nam, là một trong những trọng điểm đầu tư của tỉnh nhằm khai thác lợi thế trục giao thông Bắc – Nam và tuyến hành lang Đông – Tây
Tuy nhiên, theo khảo sát của tác giả, 37,5% doanh nghiệp không đồng ý rằng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải ở tỉnh là tốt; số còn lại thì nhận định ở mức độ trung lập Hạ tầng giao thông tại các khu công nghiệp chưa hoàn chỉnh và chất lượng thấp Đặc biệt, mặc dù cảng
Trang 26Chân Mây_Lăng Cô mang lại lợi thế giao thông cho tỉnh nhưng cơ sở hạ tầng vẫn còn chưa hoàn thiện Cảng vẫn chưa có bến chuyên dụng để đón hàng hóa
Hạ tầng đất đai và các khu công nghiệp
Toàn tỉnh hiện nay có 6 Khu công nghiệp với tổng diện tích 2.393,47 ha Quỹ đất để phát triển công nghiệp của tỉnh Thừa Thiên Huế còn khá nhiều ở các khu công nghiệp, đây là lợi thế trong khi khu công nghiệp ở các tỉnh Đà Nẵng, Bình Dương… có tỷ lệ lấp đầy lớn, như bảng 3.2
Bảng 3.2 Tình hình sử dụng đất ở các khu công nghiệp
Tổng diện tích đất theo qui hoạch (ha)
Tỷ lệ lấp đầy (%)
Các khu công
nghiệp ở Thừa
Thiên Huế
KCN Phú Bài 743,47 98 (giai đoạn 1&2)
tư hạ tầng, ta thấy chi phí sử dụng đất ở khu công nghiệp Phú Bài vẫn rẻ hơn so với các khu công nghiệp ở Đà Nẵng
Trang 27Bảng 3.3 Giá thuê đất tại các khu công nghiệp
Giá thuê đất (VNĐ/m 2 /năm)
Phí sử dụng hạ tầng (VNĐ/m 2 /năm)
KCN Phong Điền (giá Scavi thuê) 9.800
Nguồn: tổng hợp từ Ban quản lý các khu công nghiệp Hơn thế nữa, việc đầu tư vào các khu công nghiệp ở Thừa Thiên Huế giúp các doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí sản xuất, do những vùng này đều thuộc địa bàn được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp như bảng 3.4
Bảng 3.4 Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho các thành phố
Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, Bình Dương Huyện Phong Điền, Quảng Điền,
Hương Trà, Phú Lộc, Phú Vang
20% Sau 6 năm hoạt động 10% 2 năm tiếp theo
20% Sau 15 năm hoạt động Nguồn: Nghị định 218/2013/ NĐ-CP Tuy nhiên, kết quả phỏng vấn sâu cho thấy các doanh nghiệp đánh giá chất lượng cơ sở hạ tầng của các khu công nghiệp khá thấp Hiện nay, ngoại trừ khu công nghiệp Phú Bài thì các khu công nghiệp còn lại vẫn chưa có hệ thống xử lý nước thải, việc trang bị hệ thống này đòi hỏi chi phí lớn nên các doanh nghiệp rất ngại đầu tư Bên cạnh đó, hệ thống xe buýt xuống các khu công nghiệp chưa được tỉnh chú ý đầu tư, các doanh nghiệp phải tự cung cấp dịch vụ này cho công nhân viên Ở khu công nghiệp Phú Đa, hệ thống dây điện còn lộn xộn khiến xe tải chở hàng thường xuyên bị vướng vào
Lao động
Tỉnh Thừa Thiên Huế có một lực lượng lao động dồi dào và tăng lên qua các năm Khảo sát của tác giả cho thấy 93,75 % các doanh nghiệp đồng ý hoặc rất đồng ý với nhận định “nguồn
Trang 28lao động phổ thông ở Huế là dồi dào” và đây cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến các doanh nghiệp chọn TT Huế để hoạt động sản xuất kinh doanh Tính đến năm 2015, tỉnh có 612.060 người lao động từ 15 tuổi trở lên, trong khi đó Đà Nẵng là 523.280 người, tuy nhiên mức độ dồi dào lao động của Quảng Nam lại lớn hơn nhiều với 874.152 người (Cục thống kê, niên giám TK các tỉnh TT Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam 2015)
Xét về mức độ tuân thủ kỷ luật của người lao động, hầu hết các doanh nghiệp đánh giá là tốt, ít xảy ra những hiện tượng đi trễ hay bỏ ngang công việc Lao động ở Huế khá hiền và
ít đòi hỏi, điều này còn được thể hiện thông qua số cuộc đình công của công nhân Huế rất ít… Theo ông Trần Văn Phú, chủ tịch tập đoàn Scavi, “ưu điểm lớn của lao động Thừa Thiên Huế là sự ổn định, lao động ở đây là dân địa phương, rất ít có dân di cư Vì vậy, không
có tình trạng bỏ về quê như các tỉnh phía Nam” Đây là một lợi thế, khi ngành dệt may Việt Nam đang trong tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực và hiện tượng công nhân không quay trở lại làm việc sau các kỳ nghỉ tết xảy ra khá phổ biến ở miền Nam
Hình 3.3 Tình hình lao động của các tỉnh giai đoạn 2010-2015
Nguồn: Cục thống kê TTHuế, Đà Nẵng, Quảng Nam (2015)
Trang 29Trình độ đào tạo lao động của TT Huế còn chưa tốt, cao hơn Quảng Nam nhưng thấp hơn
Đà Nẵng rất nhiều Năm 2015, tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo của TT Huế là 22,5% thì Đà Nẵng là 41,6% (Tổng cục thống kê, niên giám TK Việt Nam 2015) Theo PCI 2016, tỷ lệ người lao động tốt nghiệp trường đào tạo nghề/số lao động chưa qua đào tạo là 6,38%, xấp xỉ bằng một nửa Đà Nẵng (12%) Điều này có thể giải thích tại sao % tổng chi phí kinh doanh của các doanh nghiệp dành cho đào tạo lao động ở Thừa Thiên Huế lại là 6,53%, khá lớn so với mức trung bình chung của cả nước là 4,66% Hầu như, các doanh nghiệp phải tự đào tạo lại công nhân thông qua phương pháp nghề đào tạo nghề Theo phỏng vấn sâu của tác giả đối với bà Đặng Tuyết Nhung, trưởng phòng nhân
sự công ty Scavi, chi phí đào tạo không chỉ là tài chính mà còn là thời gian; các doanh nghiệp phải mất khoảng 3 tháng để đào tạo một công nhân có được các kỹ năng ở mức đạt yêu cầu Dệt may là một ngành thâm dụng lao động, do đó chi phí lao động chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm Qua khảo sát, 43,75% doanh nghiệp đồng ý và rất đồng ý rằng: “chi phí lao động ở Huế rẻ”, 37,5% còn lại ở mức trung lập và 18,75% không đồng ý Theo bảng 3.5, chi phí lao động/giờ của Thừa Thiên Huế rẻ hơn so với Đà Nẵng và Bình Dương, tuy nhiên lại cao hơn so với Quảng Nam
Bảng 3.5 Chi phí lao động của các vùng
Thừa Thiên Huế
Đà Nẵng
Quảng Nam
Bình Dương
Thu nhập bình quân/ tháng (nghìn đồng) 4.233 5.522 4.156 5.364
Số giờ làm việc bình quân/ tuần 43,6 48,2 44,1 51,9
Số giờ làm việc bình quân/ tháng 174,4 192,8 176.4 207,6 Chi phí lao động/giờ (nghìn đồng/giờ) 24,27 28,64 23,56 25,84
Nguồn: tác giả tổng hợp từ Báo cáo điều tra lao động việc làm 2015
Sự khan hiếm về nhân lực có trình độ kỹ thuật cao như kỹ sư công nghệ sợi, chuyền trưởng,
kỹ sư rập… là một nút thắt cho sự phát triển ngành dệt may ở Thừa Thiên Huế Theo khảo sát của tác giả, trung bình khoảng 80% nguồn lao động có kỹ thuật cao như trên là từ lao động chưa có chuyên môn, được doanh nghiệp tuyển chọn và đào tạo từ những công nhân
có tay nghề tốt hoặc các nhân viên từ lĩnh vực khác Theo ông Lê Thanh Liêm, phó giám đốc công ty Vinatex Hương Trà, “những công nhân được đạo tạo lên vị trí chuyền trưởng,
Trang 30kỹ sư… sẽ không có khả năng quản lý, truyền đạt và tầm nhìn tốt vì trình độ văn hóa không cao”
Hai chương trình có liên kết lớn nhất với các doanh nghiệp may là: trung tâm hợp tác đào tạo nghề may Scavi- Âu Lạc (đóng tại trường trung cấp Âu Lạc) và HBI- HUEIC (đóng tại trường cao đẳng Công Nghiệp Huế) mặc dù đáp ứng được xu thế “đào tạo gắn với thị trường”
và giáo trình có sự đầu tư bài bản hơn nhưng cũng chỉ dừng lại ở những khóa ngắn hạn như đào tạo kỹ thuật may cơ bản và sửa máy may công nghiệp, điện
Đối với ngành thiết kế thời trang thì có 2 cơ sở đào tạo là trường Cao đẳng Sư phạm Huế (đào tạo 3 năm) và trường Đại học Nghệ thuật (đào tạo 5 năm) Tuy nhiên, số lượng học viên của hai trường này rất thấp, cụ thể hai học năm liên tiếp là 2015-2016 và 2016-2017, trường Cao đẳng Sư Phạm đều chỉ có 3 sinh viên tốt nghiệp (phòng Tổ chức, công tác sinh viên trường Cao đẳng Sư Phạm, 2017), còn Đại học Nghệ Thuật là 2 sinh viên (phòng Đào tạo, trường Đại học Nghệ Thuật Huế, 2017)
Nhìn chung, tình hình đào tạo nhân lực ngành dệt may ở tỉnh Thừa Thiên Huế còn chưa tốt, đặc biệt đối với các ngành chuyên sâu như: quản lý dây chuyền may công nghiệp, thiết kế thời trang, công nghệ dệt-sợi-nhuộm… Đây là rào cản lớn cho quá trình chuyển dịch ngành may sang sản xuất những phương thức có giá trị gia tăng cao như OBM, ODM [phụ lục 10]
Về tài nguyên vốn
Tỉnh Thừa Thiên Huế đang đứng trước nhiều cơ hội thu hút vốn đầu tư trong ngành dệt may
Do hai nguyên nhân, thứ nhất là Việt Nam ngày càng hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, thông qua việc ký kết các hiệp định WTO, FTA, VJEPA nên sẽ có nhiều ưu đãi khi xuất nhập khẩu hàng hóa Thứ hai, hiện nay đang có xu hướng chuyển dịch ngành dệt may từ
Trang 31Trung Quốc sang các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam do chi phí và các điều kiện sản xuất tại Trung Quốc đang tăng cao Theo tập đoàn Scavi, ngay cả khi không có TPP thì Việt Nam vẫn là một điểm đến hấp dẫn và có hiệu quả đầu tư cao hơn so với Trung Quốc, được biểu hiện thông qua bảng so sánh chi phí sản xuất 3.6 Trong lúc đó, miền Trung là điểm đến cho xu hướng dịch chuyển này Theo ông Nguyễn Diễn - Phó GĐ Thường trực Chi nhánh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tại Đà Nẵng, chi phí đắt đỏ cả về thuê mặt bằng, chi phí lao động và khó tuyển được lao động tại các tỉnh thành như TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai nên nhiều nhà đầu tư có xu hướng dịch chuyển nguồn vốn đầu tư về các tỉnh có nguồn lao động dồi dào hơn, với chi phí nhân công thấp hơn như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Huế, Quảng Trị… (Nhiệt Băng, 2016)
Bảng 3.6 Chi phí sản xuất của Việt Nam so với Trung Quốc
Chi phí Chi phí/ tổng chi phí Việt Nam so với Trung Quốc
Chi
phí
khác
Hóa chất 50% Giống nhau trên thị trường thế giới
Nguồn: tâp đoàn Scavi (2017) Đối với nguồn vốn cho các doanh nghiệp, kết quả khảo sát cho thấy các doanh nghiệp dệt may ở Thừa Thiên Huế có nhu cầu vay ngân hàng thương mại khoảng 70% lượng vốn cần thiết khi cần mở rộng sản xuất kinh doanh Trong đó, 31,3% số doanh nghiệp đánh giá họ
có khả năng tiếp cận vốn ở mức tốt hoặc rất tốt, 56,3% doanh nghiệp đánh giá ở mức bình thường, rào cản lớn chính là lãi suất ngân hàng cao Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp nhỏ như Triệu Phú [phụ lục 3] thì khả năng tiếp cận vốn vẫn còn rất khó khăn do thiếu tài sản thế chấp
Hạ tầng kỹ thuật
Đối với các doanh nghiệp sợi, thiết bị và công nghệ đang ở mức trung bình khá và đang dần dần được cải thiện Dây chuyền thiết bị theo công nghệ cũ của Đức và các nước Đông Âu đang được thay thế bằng thiết bị công nghệ mới của Châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc
Trang 32Khoảng 20% thiết bị kéo sợi có trình độ công nghệ tiên tiến được nhập từ Nhật Bản, Đức, Thụy Sĩ Khoảng 40% thiết bị có trình độ công nghệ khá được nhập từ Châu Âu, Trung Quốc, đã sử dụng được 10 năm Khoảng 40% thiết bị cũ, được sử dụng trên 20 năm, năng suất thấp, tiêu hao năng lượng lớn và đang được dần thay thế Tỷ lệ tự động hóa trong ngành sợi khoảng 50% đến 70%, trong đó Công ty CP dệt may Huế là 50%, Công ty CP sợi Phú Bài 70%, Công ty CP sợi Phú Thạnh 70%, Công ty CP sợi Phú Nam 70%, Công ty CP may dệt kim và may mặc Huế Việt Nam – Bungari 75%
Trong lĩnh vực may, trình độ công nghệ và thiết bị không đồng đều và chênh lệch lớn giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước Một số công ty có vốn FDI như công ty TNHH Scavi, công ty HBI, công ty cổ phần may dệt kim
và may mặc Huế Việt Nam- Bungari đã trang bị máy cắt vải tự động, máy cắt chỉ tự động, máy trải vải tự động, xe điện vận chuyển hàng để nâng cao chất lượng sản phẩm và năng
suất lao động Trong khi các doanh nhỏ yếu kém về trình độ công nghệ thiết bị
3.3.2 Môi trường chính sách và cạnh tranh
Môi trường chính sách tỉnh Thừa Thiên Huế
Để tạo được sức mạnh nội tại cho ngành dệt may thì môi trường đầu tư là một yếu tố rất quan trọng Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của tỉnh hiện tại còn nhiều yếu kém, năm 2016 PCI tỉnh TT Huế đứng vị trí 23 xếp loại khá, đứng sau nhiều tỉnh ở vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung, cụ thể Quảng Nam (vị trí thứ mười), Bình Định (vị trí thứ tám), đặc biệt Đà Nẵng (vị trí thứ nhất) Từ năm 2007 đến nay, chỉ số PCI của tỉnh TT Huế năm 2016 gần như
là thấp nhất Để thấy những điểm yếu kém trong năng lực cạnh tranh của tỉnh, tác giả so sánh chỉ số PCI với Đà Nẵng, một địa phương giáp ranh với Huế và luôn xếp hạng đầu về PCI từ năm 2013 cho đến nay Dựa vào hình 3.4 ta thấy các tiêu chí thiết chế pháp lý, đào tạo lao động, tính năng động, chi phí không chính thức, chi phí thời gian, tính minh bạch của Thừa Thiên Huế đều có khoảng cách lớn so với Đà Nẵng
Trang 33Hình 3.4 Biều đồ so sánh chỉ số PCI của Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng
Nguồn: pcivietnam.org Tiêu chí chi phí gia nhập thị trường của tỉnh TT Huế được đánh giá là 8,63, xếp thứ 25/63 tỉnh thành Hiện nay, thời gian chờ đợi để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở Thừa Thiên Huế là 30 ngày, gấp đôi so với Đà Nẵng Tất cả doanh nghiệp đều đăng ký hoặc sửa đổi đăng ký kinh doanh thông qua bộ phận một cửa nhưng tỷ lệ doanh nghiệp đồng ý
“việc ứng dụng công nghệ thông tin tại bộ phận một cửa tốt” chỉ là 35,29%, trong khi đó Đà Nẵng là 46,38% Chất lượng của cán bộ tại bộ phận một cửa cũng bị đánh giá thấp hơn Đà Nẵng nhiều Chỉ có 43,14 % ý kiến cho rằng cán bộ am hiểu về chuyên môn và 40,20% đồng
ý là cán bộ có thái độ nhiệt tình Trong khi đó, hai tiêu chí này của Đà Nẵng đều được đánh giá trên 57%
Chi phí thời gian cho các doanh nghiệp ở TT Huế là khá cao Cụ thể, số giờ trung vị làm việc với thanh tra và kiểm tra thuế là 16 giờ, gấp 4 lần Đà Nẵng Tỷ lệ doanh nghiệp được khảo sát đồng ý là “không phải đi lại nhiều lần để lấy dấu và chữ ký” là 53,64%, khá nhỏ nếu so với Đà Nẵng là 75,68% Điều này tạo nên sự bất lợi rất lớn cho các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu, đặc biệt là họ thường xuyên phải làm các thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa
và xin giấy CO…
Trang 34Về chỉ số tính minh bạch, TT Huế đạt được 6,25 trong khi Đà Nẵng là 7,22 71,03% ý kiến cho rằng “mối quan hệ” là quan trọng để có được các tài liệu của tỉnh, so với Đà Nẵng chỉ
là 64,32% Vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp địa phương trong việc xây dựng và phản biện chính sách cũng không được đánh giá cao ở Huế, chỉ có 38,95% doanh nghiệp cho là quan trọng, con số này ở Đà Nẵng là 50,26%
Chỉ số chi phí không chính thức của tỉnh TT Huế thấp hơn so với Đà Nẵng nhiều, trong khi Huế là 5,45 thì Đà Nẵng là 6,51 Có 55,56% doanh nghiệp ở TT Huế được khảo sát cho rằng
“hiện tượng nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục cho doanh nghiệp là phổ biến” và chỉ có 48,98% cho rằng “công việc đạt được kết quả mong đợi sau khi đã trả chi phí không chính thức”
Kết quả khảo sát của tác giả cho thấy, hiện tại mức độ hấp dẫn của chính sách thu hút đầu tư được 18,75 % doanh nghiệp đánh giá là hấp dẫn và 62,5 % đánh giá ở mức trung lập Tuy nhiên, tỷ lệ doanh nghiệp không đồng ý với nhận định là “tỉnh thực hiện đúng các cam kết đầu ưu đãi đầu tư” là khá cao (43,75%)
Bối cảnh chiến lược và cạnh tranh của các doanh nghiệp
Số lượng các doanh nghiệp may nhỏ lẻ nhiều và có sự phân hóa lớn Điều này được thể hiện thông qua sự phân bố lao động tại các doanh nghiệp Theo số liệu của Sở Công Thương TT Huế cung cấp, trong năm 2016 tỉnh có 12/39 doanh nghiệp may có số lao động trên 500 người, nhưng chiếm 90,86% lao động trong ngành may, còn lại là các cơ sở may nhỏ lẻ Sự
CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ HẤP DẪN NHƯNG TRÊN THỰC TẾ TỈNH CHƯA
CÓ SỰ CHUẨN BỊ TỐT ĐỂ CÁC NHÀ ĐẦU TƯ HOẠT ĐỘNG
Vai trò của chính quyền là đảm bảo điều kiện thiết yếu về đất đai, hạ tầng, môi trường cho các doanh nghiệp hoạt động, qua đó thu hút đầu tư Tuy nhiên việc thực thi lại khác với những chính sách hỗ trợ đầu tư trong văn bản, bản thân doanh nghiêp phải tự trang
bị hạ tầng cơ bản ban đầu Theo chính sách kêu gọi đầu tư, hệ thống điện nước được trang bị đến chân hàng rào dự án, tuy nhiên trên thực tế thì việc thực thi còn kém Điển hình là ở khu công nghiệp Phú Đa, doanh nghiệp phải tự đặt lắp đặt đường ống nước, đường dây điện và hệ thống xử lý nước thải
Nguồn: phỏng vấn sâu của tác giả (2017)
Trang 35phát triển của ngành may phụ thuộc lớn vào các doanh nghiệp FDI, năm 2016 tỉnh Thừa Thiên Huế có 6 doanh nghiệp thuộc vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm năm công ty may là Cty TNHH Scavi, HBI, MSV, Công ty TNHH Takson Huế Việt Nam, công ty Hudatex Huế,
và 1 công ty sợi là Cty CP may dệt kim và may mặc Huế VN – Bungari Trong ngành may,
số lượng doanh nghiệp FDI chỉ chiếm xấp xỉ 12,8% nhưng đều là những doanh nghiệp lớn
và chiếm 57,2 % số lao động Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp may nội địa lớn cũng có năng lực sản xuất tốt như công ty cổ phần Dệt may Huế, công ty Thiên An Phú hoặc công
ty Phú Hòa An …
Các doanh nghiệp dệt may ở Huế tham gia vào mạng sản xuất dệt may toàn cầu nhưng tập trung chủ yếu ở khâu cắt may, là khâu có giá trị gia tăng thấp nhất Trong đó, sản xuất theo phương thức CMT2 là phổ biến, chỉ có Phú Hòa An sản xuất theo FOB3 cấp 1; Scavi, Hudatex, Dệt May Huế có khả năng sản xuất theo phương thức FOB cấp 2, tuy nhiên với 1
tỷ lệ rất nhỏ Ngay cả tại công ty Dệt may Huế có đủ các khâu từ sợi, dệt, nhuộm và may thì phương thức CMT chiếm đến 2/3 sản lượng (tương đương với 1/3 giá trị xuất khẩu), 1/3 sản lượng còn lại là FOB nhưng đa phần là FOB cấp 1 Việc sản xuất ở những phương thức cấp thấp này mang lại cho các doanh nghiệp tỷ suất sinh lợi rất thấp, đối với CMT là 4% và FOB
là 7% (Ngân hàng Liên Việt, Báo cáo ngành Dệt may năm 2016)
Như đã phân tích ở trên, các doanh nghiệp nước ngoài lớn như Scavi hay HBI đóng vai trò lớn cho sự phát triển của ngành dệt may Huế Tuy nhiên các doanh nghiệp này chỉ dừng lại những khâu tạo ra giá trị thấp trong chuỗi giá trị Cộng thêm vào đó, nguyên nhân các doanh nghiệp này lựa chọn TT Huế để đầu tư là để tận dụng các lợi thế về lao động và đất đai, nên mức độ độ “bám rễ” của các doanh nghiệp vào tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ kém, một khi tỉnh mất đi lợi thế này thì họ sẽ dễ dàng dịch chuyển đến những nơi có điều kiện sản xuất tốt hơn Các doanh nghiệp dệt may cạnh tranh trên thị trường quốc tế với bất lợi về năng suất lao động thấp Lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp được thể hiện thông qua năng suất lao động, tuy nhiên các doanh nghiệp Việt Nam đang dần mất đi lợi thế về lao động khi so sánh
Trang 36
giữa năng suất và chi phí tiền lương Theo Phạm Thu Hà (2017), tỷ số năng suất lao động/ tiền lương của Việt Nam thuộc nhóm thấp nhất trong khu vực ASEAN theo bảng 3.7
Bảng 3.7 So sánh năng suất lao động và tiền lương của các nước trong khu vực
ASEAN
STT Quốc gia
Năng suất lao động Tiền lương
NSLĐ/Tlg Giá trị Chỉ số Giá trị Chỉ số
ở Thừa Thiên Huế có trao đổi kiến thức, kinh nghiệm với nhau nhưng chủ yếu là chỉ trong nội bộ nhóm, do đó không tạo ra sự lan tỏa chung cho toàn bộ ngành Trong lĩnh vực sản xuất sợi, 6 doanh nghiệp liên kết với nhau tạo thành Phú Group, bao gồm: Phú Nam, Phú Thạnh, Phú Việt, Phú Mai, Phú Anh, Phú Gia, Phú Quang Nhờ có sự liên kết này, các thành viên trong nhóm này thu được rất nhiều lợi ích, ví dụ như tạo lợi thế trong đàm phán mua và vận chuyển nguyên vật liệu, hỗ trợ nhau trong sản xuất khi thiếu các yếu tố đầu vào Đối với lĩnh vực may, các doanh nghiệp may bao gồm Phú Hòa An, Thiên Anh Thịnh, Thiên An Phú
có mối quan hệ khá mật thiết do đươc thành lập từ các thành viên trong ban lãnh đạo của công ty Dệt May Huế Trong khi đó, các công ty lớn có vốn đầu tư nước ngoài như HBI, Scavi lại “hầu như không trao đổi kinh nghiệm sản xuất và kinh doanh với các doanh nghiệp trong tỉnh”
Sự liên kết của các doanh nghiệp còn được thể hiện thông qua mối quan hệ chia sẻ đơn hàng Theo kết quả khảo sát của tác giả, 7/10 doanh nghiệp may có thuê các doanh nghiệp nội tỉnh
Trang 37khác gia công sản phẩm của mình, tuy nhiên sản lượng thuê gia công lại rất manh mún và chủ yếu là chỉ để đối phó khi không kịp tiến độ sản xuất Một rào cản lớn cho việc thuê gia công nội tỉnh của các doanh nghiệp là sự bất tương đồng về trình độ sản xuất, những công
ty lớn như HBI hay Scavi thường có sức ép về kỹ thuật may rất lớn từ khách hàng mà các công ty khác không đáp ứng được
Mức độ cạnh tranh là động lực để thúc đẩy các thành phần trong cụm ngành không ngừng nâng cao năng lực sản xuất Đối với doanh nghiệp sợi và may mặc trên địa bàn Thừa Thiên Huế thì sự cạnh tranh diễn ra rất ít Nguyên nhân là do mỗi doanh nghiệp có những sản phẩm
và đối tượng khách hàng khác nhau Tóm lại, mối tương tác giữa các doanh nghiệp dệt may khá yếu, được thể hiện thông qua kết quả khảo sát: 0% doanh nghiệp cho rằng sự có mặt của các doanh nghiệp khác giúp họ gia tăng lợi nhuận, 7/16 doanh nghiệp cho rằng không ảnh hưởng đến lợi nhuận của họ, và 9/16 doanh nghiệp cho rằng làm giảm lợi nhuận do phải cạnh tranh về lao động
3.3.3 Các điều kiện cầu
Các sản phẩm ngành dệt may của TT Huế hiện nay phục vụ chủ yếu cho xuất khẩu Theo khảo sát đối với các doanh nghiệp dệt Thừa Thiên Huế, 100% sản phẩm may đều xuất khẩu sang nước ngoài với các thị trường chính là Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Brazil, Trung Quốc Đối với mặt hàng sợi, sản lượng xuất khẩu chiếm từ 75% - 85% sang thị trường Hàn Quốc, Nhật, Thỗ Nhĩ Kỳ, EU, Trung Đông… Phần còn lại được bán cho các tỉnh Nam Định, Việt Trì, Vĩnh Phúc…
Nhu cầu tiêu thụ nội địa cho hàng may mặc ở Việt Nam hiện nay là 4,5 tỷ USD (Đức Duy, 2017), và tốc độ tăng trưởng thực trung bình khoảng 11,3% (IPP&CIEM, 2013) Tuy nhiên không khai thác được thị trường này và ngày càng gặp khó khăn vì hai nguyên nhân Thứ nhất là Việt Nam ngày càng gia nhập vào nhiều hiệp định thương mại sẽ làm giảm mức thuế nhập khẩu Thứ hai là vẫn chưa kiểm soát được hàng dệt may giá rẻ nhập lậu từ Trung Quốc Đối với thị trường xuất khẩu, nhu cầu hàng dệt may cũng tăng lên trong tương lai như bảng 3.8 Mỹ là thị trường lớn nhất của Viêt Nam, đối với công ty Phú Hòa An, Dệt may Huế thì đây là thị trường chiếm 95% sản lượng xuất khẩu Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chỉ xếp thứ ba trong danh sách những nhà xuất khẩu chính của nước này sau Trung Quốc và Mexico Việc
Trang 38Mỹ rút khỏi hiệp định TPP khiến Việt Nam bỏ lỡ cơ hội ưu đãi thuế nhưng đây vẫn là một thị trường tiềm năng
Bảng 3.8 Dự báo thị trường hàng may mặc trên thế giới đến năm 2030
Đơn vị: Tỷ USD
Khu vực
Đông Âu và Thổ Nhĩ Kỳ
Nhật Bản và Hàn Quốc
Các nước khác Tổng số
xử lý triệt để hoặc tái chế để không ảnh hưởng đến môi trường Ngay tại Vinatex có khoảng
200 doanh nghiệp trực thuộc thì chỉ có khoảng 5-10% doanh nghiệp đáp ứng được tiêu chuẩn này (Văn Nam, 2014) Bên cạnh đó, nếu hiệp định TPP có hiệu lực, để được hưởng ưu đãi thuế quan thì mặt hàng dệt may Việt Nam phải đáp ứng “quy tắc xuất xứ”, nghĩa là nguyên liệu từ sợi trở đi phải có nguồn gốc từ các nước nội khối TPP Tuy nhiên, hiện nay nguyên liệu của các doanh nghiệp dệt may vẫn chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nhập từ Trung Quốc
3.3.4 Các ngành hỗ trợ và liên quan
Ngành vận tải
Việc phát triển vận tải đường biển có vai trò rất quan trọng đối với ngành dệt may, vì đây là phương tiện chủ yếu để vận chuyển hàng xuất khẩu Tuy nhiên, trên thực tế, cục Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế cho biết, các doanh nghiệp dệt may ở Huế lại không sử dụng cảng Chân Mây _ Lăng Cô mà lại phải vận tải hàng thông qua các cảng Đà Nẵng hoặc thành phố Hồ
Trang 39Chí Minh Mặc dù cảng Chân Mây_Lăng Cô là dự án trọng điểm của tỉnh nhưng tiềm năng phát triển lại không cao Dưới góc độ của các công ty dịch vụ hàng hải, qui mô của nền kinh
tế TT Huế còn nhỏ, nhu cầu vận tải không đủ lớn để đảm bảo hiệu quả về mặt tài chính, đây
là lý do họ đã không mở tuyến hàng hải tại Thừa Thiên Huế Bên cạnh đó, theo ông Lê Thanh Liêm_ phó giám đốc công ty Vinatex Hương Trà, “nếu cảng Chân Mây_Lăng Cô có dịch vụ vận tải hàng đi nữa thì các công ty may ở TT Huế vẫn sẽ chọn Cảng Tiên Sa_ Đà Nẵng Bởi
lẽ, cảng này có qui mô lớn và tập trung nhiều công ty logistic có uy tín nên chi phí vận tải sẽ thấp hơn, dịch vụ chuyên nghiệp hơn, đảm bảo tốt về thời gian và an toàn cho chuyến hàng” Dịch vụ vận tải đường bộ vẫn chưa phát triển để đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp dệt may trên địa bàn tỉnh Cụ thể, mặc dù các doanh nghiệp vẫn sử dụng dịch vụ chuyển hàng bằng xe tải nhưng với một tỷ phần nhỏ (khoảng 10% số lượng hàng hóa) và chỉ chở những hàng có khối lượng nhỏ, đối với khối lượng hàng lớn thì phải thuê dịch vụ vận chuyển của Đà Nẵng Nguyên nhân chính là các doanh nghiệp vận tải trong tỉnh chỉ hoạt động ở qui
mô nhỏ, không có các loại xe tải chở container lớn; xe kéo, móc… Nhìn chung ngành logistic của tỉnh TT Huế vẫn còn rất yếu, trong bối cảnh bị cạnh mạnh của thành phố Đà Nẵng
Ngành công nghiệp phụ trợ
Ngành hóa chất, máy móc và thiết bị dệt may đều ở mức chưa tồn tại Ngành công nghiệp phụ trợ chỉ có mới 02 doanh nghiệp sản xuất nguyên phụ liệu xuất hiện gồm: 01 doanh nghiệp vừa mới đưa vào hoạt động, đó là nhà máy may túi xách, phụ kiện, may mặc của Công ty Hanex tại KCN Phú Bài và 01 dự án đang triển khai đầu tư: nhà máy sản xuất phụ kiện may mặc của Công ty TNHH phụ kiện HIVI Việt Nam tại KCN Phong Điền Hiện tại, hàng phụ trợ nội tỉnh mà các doanh nghiệp dệt may sử dụng chủ yếu chỉ là bao bì carton, nilon phục vụ cho việc đóng gói
Có thể thấy rằng, sự phụ thuộc vào nguồn nguyên phụ liệu là một yếu điểm rất lớn của ngành dệt may Huế, đặc biệt là bông và vải là hai loại chi phí chiếm tỷ lệ lớn trong giá thành sản phẩm Các doanh nghiệp sản xuất sợi nhập khẩu 100% bông từ Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Tây Phi… còn xơ thì sử dụng 25% nguyên liệu của các công ty sản xuất trong nước như công ty Formosa, Hoa Long, Thế Kỷ; 75% còn lại nhập khẩu từ Thái Lan, Indonesia, Đài Loan Về nguyên liệu ngành may, do các công ty may ở TT Huế chủ yếu may xuất khẩu
Trang 40nên khoảng 88% vải may được nhập khẩu từ nước ngoài, chủ yếu là của Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc…, còn lại là sử dụng nguyên liệu trong nước, chủ yếu là từ các tỉnh phía Nam như Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai… Các phụ liệu ngành may như nút, dây kéo, chỉ may, dây thun thì 52% là mua của các doanh nghiệp trong nước ở Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Khánh Hòa và còn lại thì đa phần là nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản… Sự phụ thuộc nguyên phụ liệu cũng chính là thực trạng chung toàn quốc, trong điều kiện mạng lưới cung cấp nguyên phụ liệu cho ngành may của Việt Nam còn kém phát triển (IPP & CIEM, 2013)
Hình 3.5 Tình hình nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may giai đoạn 2010 – 2015
Nguồn: Cục thống kê Thừa Thiên Huế, Niên giám thống kê năm 2015 Mặc dù ở Thừa Thiên Huế có ngành sợi và may nhưng hai ngành này tách rời nhau Hiện tại
chỉ có công ty Dệt May Huế là có đủ các khâu: sợi - dệt - nhuộm – may Tuy nhiên 100% sản phẩm sợi của công ty Dệt May đều được xuất khẩu, chứ không giữ lại để sản xuất Các công ty sợi trong tỉnh cũng không bán sản phẩm của mình cho công ty Dệt May Nguyên nhân là do các loại sợi này không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng may Do đó, công
ty Dệt may Huế phải nhập khẩu sản phẩm sợi để tạo thành vải Hơn thế nữa, khâu dệt - nhuộm của công ty Dệt may không phát triển, chỉ làm được những sản phẩm đơn giản, đáp ứng được 100 tấn/năm tương đương với 20% nguồn vải sản xuất của doanh nghiệp (phỏng
vấn sâu của tác giả đối với ông Nguyễn Thanh Tý, phó tổng giám đốc công ty Dệt May Huế)
0 50000 100000 150000 200000 250000 300000 350000 2010