Kết quả cho thấy rằng với mẫu nghiên cứu trong đề tài thì chưa do thấy được mối quan hệ đáng kể giữa tình trạng kiệt quệ tài chính được đo lường bằng 02 cách là chỉ số Z-Score theo mô hì
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
VŨ HẢI ĐĂNG
MỐI QUAN HỆ GIỮA TÌNH TRẠNG TRÁNH THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG
KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
VŨ HẢI ĐĂNG
MỐI QUAN HỆ GIỮA TÌNH TRẠNG TRÁNH THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG
KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Hải Lý
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có sự hỗ trợ từ người hướng dẫn khoa học là PGS.TS Trần Thị Hải Lý và chưa từng được công bố trước đây Các số liệu được sử dụng để phân tích, đánh giá trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng và được tổng hợp từ những nguồn thông tin đáng tin cậy Nội dung luận văn đảm bảo không sao chép bất cứ công trình nghiên cứu nào khác
Tp.HCM, ngày … tháng 05 năm 2017
Học viên
Vũ Hải Đăng
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
TÓM TẮT
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
TÓM TẮT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu và các vấn đề nghiên cứu 2
1.3 Phương pháp nghiên cứu 3
1.4 Ý nghĩa và điểm mới của nghiên cứu 3
1.5 Bố cục của bài nghiên cứu 3
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 5
2.1 Lý thuyết về kiệt quệ tài chính 5
2.1.1 Các quan điểm về kiệt quệ tài chính 5
2.1.2 Các dấu hiệu để nhận biết kiệt quệ tài chính 10
2.1.3 Ảnh hưởng của kiệt quệ tài chính 12
2.1.4 Mô hình xác định kiệt quệ tài chính 15
2.2 Lý thuyết về tránh thuế 22
2.2.1 Thuế thu nhập doanh nghiệp 22
2.2.2 Tránh thuế thu nhập doanh nghiệp 23
2.3 Bằng chứng thực nghiệm về tránh thuế thu nhập ở các nước trên thế giới 24 2.3.1 Các mghiên cứu về hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp: 24 2.3.2 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và tránh thuế 25
Trang 5CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Mô hình nghiên cứu 28
3.2 Phương pháp nghiên cứu 31
3.2.1 Tính toán biến kiệt quệ tài chính 31
3.2.2 Tính toán biến tránh thuế 33
3.2.3 Phương pháp ước lượng 36
3.3 Dữ liệu nghiên cứu 38
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
4.1 Phân tích thống kê và ma trận hệ số tương quan: 42
4.1.1 Phân tích thống kê 42
4.1.2 Phân tích ma trận hệ số tương quan 44
4.2 Kết quả thực nghiệm 45
4.2.1 Kết quả hồi quy biến tránh thuế CTA 45
4.2.2 Kết quả hồi quy biến tránh thuế ETR 48
4.2.3 Kiểm định tính vững của mô hình FEM 50
4.2.4 Kết quả ước lượng FGLS 52
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Ý nghĩa của đề tài 59
5.2.1 Đối với nhà quản trị tài chính 60
5.2.2 Đối với các nhà đầu tư trên thị trường 60
5.2.3 Đối với nhà hoạch định thuế và điều hành kinh tế 61
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BCTC Báo cáo tài chính
DA Phân tích tách biệt
FEM Mô hình hiệu ứng cố định
FGLS Phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát
(Feasible Generalized Least Squares) MDA Phân tích đa biệt
REM Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
Bảng 3.1 Kỳ vọng dấu của các biến trong phương trình tránh thuế Bảng 3.2 Tóm tắt quy trình chọn mẫu nghiên cứu
Bảng 3.3 Tóm tắt về các dữ liệu nghiên cứu
Bảng 4.1 Kết quả phân tích thống kê các biến
Bảng 4.2 Phân tích tính tương quan giữa các biến
Bảng 4.3 Kết quả ước lượng CTA với mô hình FEM
Bảng 4.4 Kết quả ước lượng CTA với mô hình REM
Bảng 4.5 Kết quả ước lượng ETR với mô hình FEM
Bảng 4.6 Kết quả ước lượng ETR với mô hình REM
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định phương sai thay đổi
Bảng 4.8 Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan
Bảng 4.9 Tổng hợp kết quả ước lượng mô hình FGLS
Hình 1.1 Dự báo xác xuất kiệt quệ tài chính
Trang 8TÓM TẮT
Nghiên cứu này tìm hiểu mối quan hệ giữa tình trạng kiệt quệ tài chính và hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp của các Công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Tp.HCM giai đoạn 2006 – 2015 Kết quả thực nghiệm được trình bày thông qua dữ liệu bảng gồm 64 công ty trong giai đoạn 2006 - 2015 bằng việc sử dụng hai phương pháp ước lượng FEM và REM để chọn ra phương pháp ước lượng tốt nhất, cuối cùng là sử dụng ước lượng FGLS để khắc phục những nhược điểm của mô hình FEM do có hiện tượng tương quan chuỗi và phương sai thay đổi Kết quả cho thấy rằng với mẫu nghiên cứu trong đề tài thì chưa do thấy được mối quan hệ đáng kể giữa tình trạng kiệt quệ tài chính được đo lường bằng 02 cách là chỉ số Z-Score theo mô hình phân tích đa biến của Altman (1968) và Mô hình phân tích logit của Ohlson (1980) và hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp đo lường bằng 02 cách của Gupta
& Newberry (1997) và Rego (2003) và Richardson và các cộng sự (2014) Ngoài ra, với các công ty niêm yết lâu đời trên thị trường chứng khoán hay các công ty có đòn bẩy tài chính (vay nợ cao) không ảnh hưởng đồng biến đến hành vi tránh thuế của các nhà quản trị các doanh nghiệp trong khi với các công ty có quy mô lớn (thể hiện qua tổng giá trị tài sản), tỷ lệ tài sản cố định cao, hoặc được thị trường đánh giá cao thì ảnh hưởng đáng kể đến hành vi tránh thuế
Từ khóa: Kiệt quệ tài chính, tránh thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 9CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập với nền kinh tế trên thế giới, bên cạnh những thuận lợi từ việc hội nhập thì nền kinh tế Việt Nam cũng chịu không ít những rủi ro, thách thức Về khía cạnh các doanh nghiệp, bước vào thời kỳ tiếp cận với công nghệ hiện đại, giao thương rộng lớn thì ngoài phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nội địa còn phải đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt của các doanh nghiệp trên thế giới
Việc luôn phải đối diện với sự cạnh tranh lớn, các doanh nghiệp luôn phải xây dựng cho mình những chiến lược dài hạn, những biện pháp bảo đảm cho sự hoạt động bền vững của doanh nghiệp Tuy nhiên, bên cạnh những doanh nghiệp có thể duy trì hoạt động thì cũng có rất nhiều các doanh nghiệp không thể duy trì hoạt động, tình trạng tài chính trở nên khó khăn, rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính và dẫn tới rất nhiều doanh nghiệp phải đi đến phá sản Theo báo cáo của chính phủ về tình hình thực hiện
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014, trong 9 tháng đầu năm 2014, có hơn 70,000 doanh nghiệp phá sản và ngừng hoạt động (trong đó có 51,244 doanh nghiệp giải thể, phá sản và 18,873 doanh nghiệp ngừng hoạt động) Không ai phủ nhận phá sản có thể là một phương thức tích cực của thị trường nhằm thanh lọc những doanh nghiệp không tốt, giữ lại những doanh nghiệp hoạt động tốt nhưng các doanh nghiệp phá sản quá nhiều cũng có thể tạo ra những tình huống khó khăn dẫn tới trở thành một mối nguy hại cho nền kinh tế của một quốc gia
Để hạn chế tình trạng phá sản, một mặt phải duy trì hoạt động kinh doanh tốt, mặt khác phải có những chiến lược quản trị vốn trong dài hạn có thể đáp ứng một cách linh hoạt trong từng thời kỳ, đặc biệt là thời kỳ khó khăn Theo đó, việc quản trị chi phí là hết sức quan trọng, mà đóng góp phần lớn trong chi phí của doanh nghiệp là chi phí thuế thu nhập các doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ với nền kinh tế Các doanh nghiệp không thể vi phạm pháp luật để trốn thuế, thay vì đó, các doanh nghiệp
Trang 10sẽ có chiến lược tránh thuế bằng cách khai thác khoảng trống một cách hợp pháp trong chính sách thuế để hạn chế tối đa chi phí thuế phát sinh
Các doanh nghiệp hầu hết là sử dụng nợ vay, khi đó sẽ được hưởng lợi từ khoản chi phí tài chính cố định này thông qua lợi ích từ tấm chắn thuế từ nợ nhưng sử dụng nợ vay hay còn gọi là đòn bẩy tài chính thì tiềm ẩn rủi ro tài chính và nghiêm trọng hơn khi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị lỗ dẫn tới việc sử dụng nợ vay sẽ làm khuếch đại mức lỗ trên Các khoản lỗ này trong hoạt động của doanh nghiệp được phép trì hoãn các khoản thuế thu nhập doanh nghiệp vào các năm sau theo luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Trên thế giới, đã có rất nhiều bài nghiên cứu tìm hiểu về kiệt quệ tài chính, hành vi tránh thuế và mối quan hệ giữa chúng trong khi ở Việt Nam, theo tìm hiểu của tác giả, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào các mô hình khác nhau, các dạng biến khác nhau để dự báo tình trạng kiệt quệ tài chính, chưa có bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp nên tác giả thực hiện đề tài này nhằm đóng góp một góc nhìn mới về mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp ở Việt Nam
1.2 Mục tiêu và các vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện để đo lường hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp của các công ty và kiểm tra mối tương quan giữa tình trạng kiệt quệ tài chính và hành
vi tránh thuế của công ty Với mục tiêu như trên, có những vấn đề cần nghiên cứu là:
Làm rõ thế nào là hành vi tránh thuế của doanh nghiệp
Tìm kiếm những mô hình tính toán xác suất kiệt quệ tài chính đã được phát triển trên thế giới và áp dụng ở Việt Nam
Đo lường mối tương quan giữa hành vi tránh thuế của doanh nghiệp với xác suất kiệt quệ tài chính
Đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Tp.HCM trong giai đoạn 2006 đến 2015
Trang 111.3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Với phương pháp này, trên cơ sở xây dựng dữ liệu, tác giả sử dụng hai phương pháp ước lượng là mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) để hồi quy mô hình đã xây dựng Cùng với việc thực hiện một số kiểm định cần thiết, tác giả sẽ chọn ra phương pháp hợp lý nhất trong hai phương pháp đã đưa ra Ngoài
ra, tác giả khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan trong
mô hình (nếu có) bằng phương pháp FGLS
1.4 Ý nghĩa và điểm mới của nghiên cứu
Ở Việt Nam từ trước đến nay các tác giả chủ yếu tập trung vào các mô hình khác nhau (Đinh Thị Huyền Trâm, 2013), các dạng biến khác nhau (Lê Đạt Chí và Lê Tuấn Anh, 2012; Trần Thị Hải Lý và các cộng sự, 2014) để dự báo tình trạng kiệt quệ tài chính Nghiên cứu này kế thừa việc xác định tình trạng kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp thông qua mô hình đã được áp dụng nhưng có điểm mới là bên cạnh việc xác định tình trạng kiệt quệ tài chính sẽ xác định được hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp cũng như mối tương quan với tình trạng kiệt quệ tài chính của các công ty
1.5 Bố cục của bài nghiên cứu
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Trong chương này sẽ trình bày lý do nghiên
cứu, mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu, tổng quan về phương pháp nghiên cứu
và bố cục của bài nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan về lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm: Trong trường
này sẽ tóm tắt các lý thuyết nền tảng về kiệt quệ tài chính, khoảng trống về thuế/tránh thuế và các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Chương này trình bày phương pháp nghiên
cứu, thu nhập dữ liệu, giải thích việc lựa chọn biến, trình bày kỹ thuật ước lượng được
sử dụng trong bài nghiên cứu
Trang 12Chương 4: Kết quả và thảo luận Chương này trình bày kết quả nghiên cứu, đưa ra
các nhận xét, thảo luận
Chương 5: Kết luận Chương này trình bày tóm tắt các kết quả mà nghiên cứu đạt
được cùng các hạn chế của nghiên cứu
Trang 13CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT
VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM
Chương 1 đã giới thiệu về tổng quan đề tài nghiên cứu Nội dung chương 2 bao gồm các cơ sở lý thuyết phục vụ cho đề tài, cụ thể là:
- Lý thuyết về kiệt quệ tài chính
- Lý thuyết về tránh thuế thu nhập doanh nghiệp
- Các nghiên cứu thực nghiệm về tránh thuế và mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và tránh thuế thu nhập doanh nghiệp
2.1 Lý thuyết về kiệt quệ tài chính
Trên thế giới hiện nay, có rất nhiều khái niệm, quan điểm khác nhau về kiệt quệ tài chính cũng như các dấu hiệu khác nhau để xác định kiệt quệ tài chính Các quan điểm này có thể khác nhau theo thời gian thực hiện nghiên cứu, theo đặc điểm của thị trường được tìm hiểu, hoặc theo các giai đoạn kiệt quệ tài chính Do đó, để có một cái nhìn tổng quát về kiệt quệ tài chính, trong phần này, tác giả sẽ lần lượt trình bày các quan điểm về kiệt quệ tài chính và các dấu hiệu nhận biết kiệt quệ tài chính trong các nghiên cứu thực nghiệm, các mô hình xác định tình trạng kiệt quệ tài chính cũng như những ảnh hưởng của kiệt quệ tài chính lên công ty, ngành và nền kinh tế
2.1.1 Các quan điểm về kiệt quệ tài chính
Theo lý thuyết kinh tế phổ biến, quan điểm về kiệt quệ tài chính là quan điểm cho rằng kiệt quệ tài chính là trạng thái mà một công ty đáp ứng một cách khó khăn hoặc thậm chí là không thể đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính của mình đối với các chủ
nợ Tuy nhiên, quan điểm theo lý thuyết kinh tế này lại có sự thay đổi qua các nghiên cứu khác nhau trên thế giới do các tác giả có sự khác nhau trong việc lựa chọn mẫu cho các mô hình của mình để để áp dụng vào các nghiên cứu về kiệt quệ tài chính
Trang 14Dựa trên lý thuyết, các công ty được giả định là hoạt động kinh doanh vĩnh viễn với mục tiêu cốt lõi là đạt được lợi nhuận Theo đó, đối với tất cả các công ty bắt đầu sự tồn tại và hoạt động của mình, bên cạnh một số công ty có lợi nhuận và tiếp tục hoạt động bình thường thì một số công ty còn lại hoạt động không tốt, không có hoặc không thể đạt được mục tiêu lợi nhuận nên lâm vào tình trạng gọi là thất bại tài chính trong 2 năm đầu của vòng đời Đối với các công ty có lợi nhuận, do đạt được mục tiêu nên tiếp tục hoạt động, tiếp tục tăng trưởng và mở rộng Tuy nhiên, điều này không đảm bảo và không có nghĩa rằng các công ty sẽ không bao giờ rơi vào kiệt quệ hay thất bại (Gitman, 1992) Theo đó, sự thất bại của các công ty có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và có những tác động khác nhau đối với các đối tượng và các bên liên quan tùy thuộc vào mức độ thất bại và hình thức thất bại Sự khác biệt này là nguyên nhân dẫn tới các quan điểm về kiệt quệ tài chính trở nên lộn xộn (Wruck, 1990)
Các công ty bắt đầu hoạt động kinh doanh của mình, nếu không đề cập đến các công
ty hoạt động tốt thì đối với các công ty hoạt động không tốt sẽ trải qua bốn gia đoạn khó khăn (Altman và Hotckis, 2005) Trong nghiên cứu của mình, Altman và Hotckis (2005) cho rằng có bốn giai đoạn khó khăn các công ty sẽ gặp phải là: “thất bại”,
“mất thanh khoản”, “vỡ nợ” , và “phá sản” Tuy rằng các giai đoạn này không thể tách biệt hoàn toàn và đôi khi được sử dụng thay thế nhau nhưng chúng đều cho thấy các nội dung khác nhau và vấn đề cốt lõi muốn đề cập đến của “kiệt quệ tài chính”)
Thất bại: Altman và Hotckiss (2005) cho rằng thất bại là “tỷ suất sinh lợi trên vốn
đầu tư và với các tỷ số khác để đánh giá rủi ro, là thấp hơn liên tục và đáng kể so với các tỷ số của các đầu tư tương đương trên thị trường, hoặc doanh thu không đủ bù đắp chi phí của công ty” Đánh giá về định nghĩa này, chúng ta có thể nhận định rằng
mặc dù có doanh thu không đủ trang trải chi phí hoặc tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư thấp hơn so với tỷ số của các đầu tư tương đương trên thị trường thì một công ty trong vẫn có thể tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường nếu các nhà đầu tư đồng ý chấp nhận mức tỷ suất sinh lợi thấp Do đó, định nghĩa này thực sự chưa đầy đủ nên chưa
Trang 15đủ cơ sở để phân loại một công ty đối mặt các tình huống ở trên như một công ty đang lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính
Wruck (1990) thì có quan điểm khác về thất bại đó là ông định nghĩa “thất bại” là việc dòng tiền của công ty không đủ để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính hiện tại Các nghĩa vụ tài chính ở đây bao gồm thanh toán nợ đối với các nhà đã cấp tín dụng và thanh toán lương cho người lao động, hoặc thanh toán các chi phí từ gánh chịu tổn thất đối với quá trình pháp lý diễn ra dai dẳng hoặc không thể hoàn trả nợ gốc và lãi vay
Tóm lại, quan điểm thất bại của Altman và Hotckiss (2005) là quan điểm về mặt kinh
tế, quan điểm thất bại của Wruck (1990) là quan điểm về mặt tài chính Theo đó, một công ty vi phạm việc trả nợ là thất bại tài chính (Ở một quan điểm phổ biến khác, thất bại tài chính được định nghĩa là việc công ty bất lực trong việc hoàn thành các nghĩa
vụ nợ Tuy nhiên, một công ty không đủ khả năng thanh toán các khoản nợ cũng có thể xảy ra ngay cả khi công ty có giá trị tài sản ròng dương (Gaughan, 2011)), còn một công ty đang thua lỗ trong hoạt động kinh doanh là thất bại kinh tế Bên cạnh đó, Andrade và Kaplan (1998) cho rằng việc phân biệt thất bại kinh tế và thất bại tài chính rất quan trọng vì đây cũng là hai mảng hoạt động chính của công ty Cuối cùng, cần nhấn mạnh rằng thất bại kinh tế hay thất bại tài chính không đồng nghĩa với phá sản hay giải thể vì tất cả các công ty khi gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh thì đều
sẽ trải qua thất bại tài chính và thất bại kinh tế, nhưng chỉ một số công ty trong số đó
sẽ đi đến phá sản hay giải thể chứ không phải tất cả do các nhà đầu tư đồng ý chấp nhận mức tỷ suất sinh lợi thấp hoặc việc thất bại tài chính chỉ diễn ra tạm thời
Mất thanh khoản: theo Shrader và Hickman (1993) thì một công ty được xem là mất
thanh khoản là công ty không có đủ khả năng để thực hiện thanh toán các nghĩa vụ tài chính bao gồm cả các khoản nợ lương đối với người lao động, các khoản phải thanh toán đối với nhà cung cấp, các khoản nợ vay chủ nợ
Quan điểm này có sự tương đồng với định nghĩa thất bại tài chính của Whitaker (1999) và Wruck (1990) và nếu tìm hiểu kỹ thì chúng ta có thể thấy rằng Wruck
Trang 16(1990) nhấn mạnh mặc dù mất thanh khoản là khác biệt so với thất bại tài chính nhưng
2 khái niệm này vẫn được sử dụng thay thế lẫn nhau Có nhiều cách để phân loại tình trạng mất thanh khoản, theo Wruck (1990), Ross và cộng sự (2003) thì các nhà nghiên cứu kinh tế phân loại khái niệm mất thanh khoản thành 2 dạng là mất thanh khoản do giá trị và mất thanh khoản do dòng tiền:
- Mất thanh khoản do giá trị là việc mất thanh khoản xảy ra trong trường hợp giá trị thị trường tổng tài sản của công ty nhỏ hơn so với giá trị các khoản nợ
và do đó khái niệm này còn được coi là giá trị kinh tế ròng âm Khái niệm này cho thấy khi cần xử lý các tài sản để đáp ứng nghĩa vụ tài chính, nghĩa vụ nợ thì thanh lý các tài sản sẽ không đủ
- Mất thanh khoản do dòng tiền xảy ra trong trường hợp các công ty hoạt động nhưng không thể tạo ra tổng dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, dòng tiền từ tài chính, dòng tiền từ đầu tư để đảm bảo và đáp ứng được nghĩa vụ tài chính hiện tại và do đó khái niệm này còn được gọi là mất thanh khoản kỹ thuật
Vỡ nợ : khác với thất bại và mất thanh khoản, Altman và Hotchkiss, (2005) đã đưa
ra một khái niệm tài chính khác liên quan đến kiệt tài chính đó là “Vỡ nợ” Các nhà nghiên cứu cho rằng vỡ nợ là tình trạng các công ty không có đủ tài chính, nguồn tiền
để thanh toán được khoản nợ gốc, lãi đến hạn đối với các chủ nợ Việc không thanh toán được các khoản nợ này như đã cam kết với các chủ nợ được coi như vi phạm các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký giữa các bên Khi đó, các chủ nợ sẽ thực hiện các hành động pháp lý như khởi kiện ra Tòa án kinh
tế để yêu cầu các công ty trả nợ
Cũng tương tự như thất bại và mất thanh khoản, các nhà nghiên cứu cũng phân chia
vỡ nợ ra nhiều hình thức để có cái nhìn chính xác hơn Theo đó, Gilson và cộng sự (1990) và Altman và Hotchkiss (2005) phân chia khái niệm vỡ nợ ra làm 2 khái niệm nhỏ hơn là vỡ nợ thanh toán và vỡ nợ kỹ thuật:
- Vỡ nợ thanh toán được hiểu là các công ty không thể thanh toán tất cả các khoản nợ gốc, lãi đến hạn đối với các chủ nợ
Trang 17- Vỡ nợ kỹ thuật được hiểu là các công ty vi phạm các điều khoản đã thỏa thuận giữa công ty và các nhà cung cấp tín dụng trong các hợp đồng tín dụng hay khế ước nhận nợ đã ký
Với việc định nghĩa vỡ nợ như trên thì rất nhiều người sẽ có sự nhầm lẫn giữa các công ty bị mất thanh khoản và các công ty trong tình trạng vỡ nợ Để phân biệt hai tình trạng này thì chúng ta để ý tới thời điểm đáo hạn của các khoản nợ:
- Một công ty được xem trong tình trạng mất thanh khoản có thể kéo dài từ đầu
và chịu đựng trong thời gian dài
- Trong khi đó, một công ty được xem trong tình trạng vỡ nợ tại thời điểm đáo hạn của khoản nợ Cũng tại thời điểm đáo hạn này, các công ty phải cố gắng đàm phán để tái tục các hợp đồng tín dụng, đáo hạn các khoản nợ, cơ cấu (tái cấu trúc thời hạn trả nợ) đối với các chủ nợ hoặc các nhà cung cấp tín dụng để tránh rơi vào tình trạng phá sản
Phá sản: Altman và Hotchkiss (2005) cho rằng Phá sản là việc mà các công ty nộp
đơn xin phá sản chính thức đến tòa án hoặc các cơ quan có thẩm quyền tùy thuộc vào đặc điểm mỗi quốc gia và được tòa án phê duyệt cho phép phá sản Sau khi được các
cơ quan có thẩm quyền chấp thuận cho phá sản, công ty sẽ có 2 hướng để thực hiện:
- Một là các công ty bán tài sản (còn gọi là thanh lý tài sản) để trả các khoản nợ cho các chủ nợ
- Hai là các công ty thực hiện việc tài cấu trúc để có thể hoạt động trở lại bình thường
Trong các nghiên cứu thực nghiệm, các tác giả sử dụng khái niệm phá sản, thất bại tài chính, vỡ nợ và kiệt quệ tài chính thay thế nhau trong các bài nghiên cứu của mình Việc sử dụng thay thế nhau này có thể cung cấp tính linh động trong phương diện nghiên cứu nhưng cần phải nhấn mạnh rằng kiệt quệ tài chính là một định nghĩa linh động hơn so với phá sản và phá sản là một hình thái đặc biệt của kiệt quệ tài chính Khi các tác giả sử dụng kiệt quệ tài chính thì điều đó có nghĩa cung cấp mạnh hơn không chỉ trong thực tiễn mà còn trong lý thuyết vì tất cả các công ty kiệt quệ tài
Trang 18chính không phải đều phải phá sản Phá sản chỉ là sự lựa chọn cuối cùng đối với các công ty khi mà chúng không thể giải quyết các vấn đề tài chính (Aktas, 1993) Tóm lại, dựa trên các phân tích trên có thể xem kiệt quệ tài chính bao gồm các trường hợp sau:
- Công ty không thể đáp ứng hoặc có đáp ứng nhưng đáp ứng một cách không đầy đủ và tương đối khó khăn các nghĩa vụ tài chính của mình đối với các chủ
nợ
- Công ty có doanh thu không đủ bù đắp chi phí hoặc tỷ suất sinh lợi thực tế trên vốn đầu tư là thấp hơn đáng kể so với các tỷ số của các nhà đầu tư tương đương trên thị trường
- Công ty không thể tạo ra dòng tiền từ hoạt động kinh doanh để đảm bảo và đáp ứng cho các nghĩa vụ tài chính hiện tại
- Giá trị thị trường của tổng tài sản thấp hơn so với giá trị của các khoản nợ mà công ty cần thanh toán
- Công ty không thể thanh toán đầy đủ khoản nợ gốc, lãi của các chủ nợ khi đến hạn
- Công ty thanh lý tài sản hoặc thực hiện tái cấu trúc sau khi được tòa án hoặc các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận việc phá sản của công ty
2.1.2 Các dấu hiệu để nhận biết kiệt quệ tài chính
Từ phân tích ở trên ta có thể thấy rằng các công ty với sức khỏe tài chính kém và có nhiều vấn đề về nợ vay thì có thể dễ dàng lâm vào kiệt quệ tài chính Tuy nhiên, trong những nền kinh tế ổn định, có lợi nhuận tốt, nếu các nhà quản trị của công ty quản lý, dẫn dắt công ty của mình hoạt động không phù hợp với xu hướng hiện tại thì cũng có thể xảy ra kiệt quệ tài chính Perold (1999) trong bài nghiên cứu của mình đã nhấn mạnh rằng một công ty phòng ngừa bằng chứng khoán phái sinh thậm chí được quản trị bởi một nhà khoa học đạt giải Nobel cũng có thể bị phá sản
Quá trình kiệt quệ tài chính thường kéo dài, thay đổi liên tục và các công ty phải trải qua các thời kỳ và giai đoạn khác nhau:
Trang 19- Quá trình này có thể bắt đầu với một sự kiện nghiêm trọng trong thời gian ngắn
- Hoặc các sự kiện kéo dài liên tục
- Hoặc một sự kiện lặp đi lặp lại trong thời gian dài, làm tình hình tài chính của công ty giảm xuống ngưỡng chấp nhận
Mỗi giai đoạn của kiệt quệ tài chính có những đặc điểm khác nhau và đóng góp một cách khác nhau đến thất bại của doanh nghiệp Tuy nhiên, để xác định điểm bắt đầu hay các điểm trung gian giữa các giai đoạn kiệt quệ tài chính hay các đặc điểm ở từng giai đoạn là tương đối khó khăn Các giai đoạn sau là hệ quả của giai đoạn trước và các giai đoạn trước là một phần tác động đến các giai đoạn sau nên các giai đoạn của kiệt quệ tài chính không thể phân biệt một cách tuyệt đối Theo quan điểm chung, kiệt quệ tài chính thường trải qua ba giai đoạn chính, đó là: giai đoạn sớm, giai đoạn giữa và giai đoạn sau, với các dấu hiệu cụ thể như sau:
Giai đoạn sớm: trong giai đoạn này, các công ty có doanh số sụt giảm, tỷ suất
sinh lợi trên cổ phiếu bị âm (Opler và Titman, 1994), lợi nhuận hoạt động giảm nghiên trọng (Whitaker, 1994), khách hàng phàn nàn và các khách hàng thân thiết không còn gắn bó, việc công bố thông tin diễn ra chậm trễ (Scherrer, 1988), tiền mặt bị thiếu hụt trong vài khoảng thời gian nhất định và công ty gặp vấn đề trong việc thu hồi các công nợ Đó là những vấn đề dễ quan sát đồng thời cũng là những điểm mà một công
ty trong tình trạng kiệt quệ tài chính phải trải qua
Giai đoạn giữa: trong giai đoạn này, các công ty sẽ phải đối mặt với các đặc
điểm như tỷ suất sinh lợi giảm, tiền mặt giảm do thua lỗ liên tục (Makridakis, 1991), công ty phải cắt giảm thậm chí là ngưng chi trả cổ tức (Turetsky và McEwen, 2001), công ty phải làm việc với chủ nợ để tái tục các hợp đồng tín dụng, xin gia hạn thời hạn trả nợ hay điều chỉnh kỳ hạn trả nợ gốc, lãi phù hợp, vi phạm các ràng buộc hay thỏa thuận đã ký trong các hợp đồng tín dụng, gián đoạn việc thanh toán nợ, bị cắt giảm hạn mức hoặc thời hạn cấp tín dụng từ các chủ nợ (Altman và Hotchkiss, 2005)
Giai đoạn sau: trong giai đoạn này các công ty đối mặt với việc thường xuyên
bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh, việc thiếu hụt tiền mặt gia tăng và việc vi phạm
Trang 20hợp đồng tín dụng trở thành vấn đề rất nhức nhối và rất khó tìm cách giải quyết Chính
vì những điều đó, các công ty khi không còn phương án nào khác sẽ nộp đơn xin phá sản lên tòa án hoặc các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt tùy theo đặc điểm mỗi quốc gia (Altman và Hotchkiss, 2005) Cùng với đó, trong giai đoạn khó khăn như vậy, công ty khắc phục nợ xấu là điều không thể không thể, các nhân viên sẽ dần rời bỏ công ty dẫn tới tỷ lệ nghỉ việc của nhân viên gia tăng (Hambrick và Aveni, 1988)
2.1.3 Ảnh hưởng của kiệt quệ tài chính
Kiệt quệ tài chính có thể diễn ra trong thời gian ngắn và cũng có thể xảy ra trong một khoảng thời gian rất dài Khi lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính, sức khỏe tài chính của một công ty bắt đầu suy yếu, dần trở nên tồi tệ và việc các công ty bị kiệt quệ gây ảnh hưởng không chỉ lên chính công ty mà còn đối với cả ngành mà công ty đang hoạt động và nền kinh tế quốc gia
2.1.3.1 Đối với công ty
Đối với các công ty, việc bị kiệt quệ tài chính sẽ phát sinh các chi phí trực tiếp và gián tiếp cho công ty Chi phí trực tiếp bao gồm các chi phí pháp lý, chi phí kiểm toán, chi phí thuê các tổ chức có chức năng hành nghề hoặc chuyên gia có kinh nghiệm trong những lĩnh vực khác nhau để tư vấn và để bán tài sản (thanh lý tài sản) trả nợ Chi phí gián tiếp bao gồm việc công ty bị tổn thất do mất thị phần, giá trị thị trường giảm, các nhà quản trị cấp cao nói riêng và các nhân viên trong công ty nghỉ việc nói chung, cụ thể như:
Thứ nhất, một công ty đang trong tình trạng kiệt quệ tài chính có thể mất
khách hàng đặc biệt là các khách hàng thân thiết gắn bó với công ty, các nhà cung cấp những nguyên liệu đầu vào quan trọng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và các nhân sự cấp cao cũng như các nhân viên của công ty Opler và Titman (1994) đưa ra các bằng chứng thực nghiệm cho thấy một công ty kiệt quệ tài chính bị mất thị phần đáng kể vào tay các đối thủ đang hoạt động tốt trong thời kỳ suy thoái của ngành với các nguyên nhân như sau:
Trang 21- Các khách hàng không thích kinh doanh với một công ty bị kiệt quệ tài chính
vì điều đó không đảm bảo được chất lượng sản phẩm mà các công ty cung cấp
ra thị trường
- Các đối thủ cạnh tranh lợi dụng tình trạng công ty đang suy yếu về tài chính
để giảm giá sản phẩm, thực hiện các chiến lược quảng cáo mạnh mẽ nhằm thu hút khách hàng Các đối thủ cạnh tranh mà đang hoạt động tốt sẽ có đủ tài chính để thực hiện những chiến lược của mình nhằm đánh bại những đối thủ khác trong tình trạng kiệt quệ tài chính
Nghiên cứu của Chevalier (1995a, b) cũng đã tìm thấy bằng chứng cho rằng nợ vay làm yếu đi vị thế cạnh tranh của công ty Những công ty có đòn bẩy tài chính càng cao thì bên cạnh những ưu thế đạt được từ lợi ích tấm chắn thuế sẽ đánh đổi bằng mất thị phần càng nhiều so với những đối thủ có đòn bẩy thấp hơn trong điều kiện ngành
đi xuống
Thứ hai, các mâu thuẫn về quyền lợi giữa trái chủ hay chủ sở hữu và cổ đông
của công ty bị kiệt quệ tài chính có thể đưa đến các quyết định yếu kém về hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động đầu tư:
- Vì quyền lợi cá nhân, các cổ đông sẽ chuyển dịch rủi ro từ họ sang cho các chủ nợ gánh chịu bằng cách thực hiện các trò chơi như từ chối đóng góp vốn
cổ phần, thu tiền và bỏ chạy, kéo dài thời gian, thả mồi bắt bóng để làm giảm tổng giá trị của công ty
- Các chủ nợ thì muốn ngăn chặn các trò chơi này Do đó, các chủ nợ thường áp đặt các điều khoản trong hợp đồng nợ như duy trì giá trị tài sản ròng hoặc tỷ
lệ nợ trên vốn cổ phần tối đa đối với công ty đi vay,… làm mất đi sự linh hoạt trong hoạt động của công ty đồng thời lãng phí thời gian, chi phí trong việc giám sát và thực hiện các hợp đồng nợ cho vay
Ngoài ra, một công ty kiệt quệ tài chính thì có nhiều khả năng vi phạm các hợp đồng
nợ vay hoặc chậm trễ trong việc thanh toán lãi và nợ gốc Sự vi phạm này gánh chịu
Trang 22một khoản chi phí nặng nề dưới dạng các hình phạt tài chính như là phạt lãi chưa trả
để thúc đẩy việc trả nợ
Cuối cùng, nếu công ty lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính sẽ phát sinh các
chi phí liên quan đến thủ tục phá sản như chi phí thanh toán cho tòa án, chi phí pháp
lý và hành chính khác phải nộp cho các cơ quan nhà nước và các chi phí gián tiếp khác do gặp phải khó khăn trong việc quản lý và điều hành một công ty đang trong tình trạng nộp đơn phá sản
2.1.3.2 Đối với ngành
Các công ty kiệt quệ tài chính có khả năng dẫn tới phá sản, do đó, có thể khẳng định
là kiệt quệ tài chính sẽ giúp loại bỏ các công ty hoạt động kém hiệu quả ra khỏi ngành, làm gia tăng các vụ mua bán và sáp nhập, giúp cho ngành hoạt động hiệu quả hơn Tuy nhiên, khi thông tin về một công ty trong ngành bị kiệt quệ tài chính và phá sản được công bố ra các phương tiện thông tin thì có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến các công ty còn lại trong ngành vì người tiêu dùng trở nên mất niềm tin đối với các sản phẩm của ngành dẫn tới chuyển sang sử dụng các hàng hóa nhập khẩu từ quốc gia khác
Trong nghiên cứu của Kanas (2004) về ngành ngân hàng ở các nước Anh, Mỹ, Tây Ban Nha và Thụy Sĩ, ông phát hiện ra rằng khi một ngân hàng ở Anh và Tây Ban Nha
bị kiệt quệ và phá sản, các ngân hàng còn lại sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực theo và các ảnh hưởng tiêu cực này có thể lan rộng sang các quốc gia khác
Một ví dụ thực tế khác, năm 2008, đã xảy ra vụ sữa nhiễm melamine của tập đoàn Tam Lộc (Trung Quốc) và làm cho tập đoàn này phá sản Ban đầu đánh giá chỉ có mỗi công ty này phải chịu hậu quả nhưng không ngờ điều này đã ảnh hưởng tiêu cực đến các công ty cùng ngành vì người tiêu dùng Trung Quốc mất niềm tin hoàn toàn với các sản phẩm sữa nội và chuyển sang dùng hàng nhập khẩu từ các quốc gia khác dẫn tới hàng loạt công ty sữa ở Trung Quốc không thể bán được hàng và liên tiếp đi đến phá sản
Trang 232.1.3.3 Đối với nền kinh tế:
Đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia, về tầm vĩ mô, kiệt quệ tài chính có một số tác động tích cực là làm cho các nhà đầu tư chuyển dòng vốn đầu tư từ nơi kém hiệu quả sang nơi hiệu quả hơn nhưng cũng có rất nhiều điểm tiêu cực như:
- Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, sản lượng sản phẩm và số lượng dịch vụ được cung cấp giảm
- Thu nhập của cả nền kinh tế nói chung và thu nhập của người dân nói riêng bị giảm
Như vậy, kiệt quệ tài chính có thể gây ra cả ảnh hưởng tiêu cực và tích cực Tuy nhiên, đứng trên vị thế của một công ty thì kiệt quệ mang nặng tính tiêu cực nên việc
dự báo kiệt quệ tài chính sớm và có các hành động khắc phục ngay lập tức, sẽ giúp cho các công ty ra khởi thời điểm nguy hiểm càng nhanh càng và nếu vượt qua giai đoạn khó khăn này sẽ phải chịu chi phí và tổn thất nhỏ Ngược lại, dự báo kiệt quệ tài chính trễ có thể làm gia tăng tổn thất và có thể là quá muộn để đưa ra những giải pháp để giải cứu công ty để công ty không còn cách nào khác là phá sản Ngoài ra,
dự báo kiệt quệ tài chính cũng giúp cho các nhà đầu tư, ngân hàng, v.v… trong việc lựa chọn đầu tư và cho vay nợ, giảm thiểu rủi ro mất vốn
2.1.4 Mô hình xác định kiệt quệ tài chính
Dự báo phá sản và kiệt quệ tài chính đã được nhà tác giả nghiên cứu quan tâm từ những năm 60 của thế kỷ trước Do vậy, có rất nhiều bài nghiên cứu về vấn đề này với các phương pháp tiếp cận khác nhau Các nghiên cứu về dự báo đầu tiên là được thực hiện bởi Ramster và Foster (1931) và Merwin (1942) (Ugurlu và Aksoy, 2006)
Do hạn chế về kỹ thuật tính toán nên các ông chỉ so sánh giá trị tỷ số tài chính giữa các công ty bị kiệt quệ tài chính và các công ty không bị kiệt quệ tài chính, qua đó phát hiện ra rằng tỷ số tài chính của các công ty kiệt quệ là kém hơn so với các công
ty không kiệt quệ Đến cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, các nghiên cứu mang tính đột phá về dự báo kiệt quệ tài chính mới xuất hiện, đó là các nghiên cứu của Beaver (1966) và Altman (1968) Và cứ như vậy tiếp diễn, nhiều nghiên cứu
Trang 24khác nhau được thực hiện tại Mỹ và nhiều nước khác Trong phần tiếp theo, tác giả
sẽ nêu lại một số mô hình dự báo đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới áp dụng
2.1.4.1 Mô hình phân tích đa biến Z-Score của Altman (1968)
Altman đã sử dụng phương pháp phân tích đa biệt số (MDA – Multiple Discriminant Analysis) dựa trên sự kết hợp nhiều tỷ số để đưa ra một mô hình dự báo kiệt quệ tài chính Kỹ thuật phân tích đa biệt số là một kỹ thuật thống kê được dùng để phân loại một đối tượng được quan sát vào một nhóm cho trước dựa vào các đặc trưng riêng biệt của đối tượng đó Kỹ thuật phân tích đa biệt số tạo ra một kết hợp tuyến tính hoặc bậc hai của các biến là các đặc trưng sao cho phân biệt tốt nhất giữa các nhóm Trong bài nghiên cứu này, Altman kết hợp cả dữ liệu tài chính và dữ liệu thị trường cho mẫu nghiên cứu gồm 66 công ty trong lĩnh vực sản xuất được chia thành hai nhóm với mỗi nhóm gồm 33 công ty Nhóm (1) bao gồm các công ty nộp đơn phá sản trong suốt giai đoạn 1946 – 1965 Nhóm (2) bao gồm các công ty vẫn còn tồn tại đến năm 1966 và được chọn tương ứng theo cặp với các công ty trong nhóm (1) về quy mô và ngành hoạt động Hàm phân biệt của Altman được mô tả cụ thể như sau:
Z = 0,012X1 + 0,014X2 + 0,033 X3 + 0,006X4 + 0,999X5Trong đó:
Z : Tỷ số tổng thể
X1 : Tỷ số vốn luân chuyển chia cho tổng tài sản
X2 : Tỷ số thu nhập giữ lại chia cho tổng tài sản
X3 : Tỷ số thu nhập trước thuế và lãi vay chia cho tổng tài sản
X4 : Tỷ số giá trị thị trường của vốn cổ phần chia cho giá trị sổ sách của tổng nợ
X5 : Tỷ số doanh thu chia cho tổng tài sản
Dựa trên tính toán chỉ số Zscore thì Altman cho rằng tất cả các công ty có tỷ số Z ≤ 1.81 được xem là các công ty có vấn đề nghiêm trọng về tài chính, các công ty có 1.81 < Z < 2.99 được xem là không có vấn đề trong ngắn hạn nhưng cần phải xem
Trang 25xét điều kiện tài chính một cách thận trọng và cuối cùng là các công ty có Z ≥ 2.99 được xem là các doanh nghiệp có tài chính lành mạnh
Kết quả cho thấy mức độ chính xác của hàm phân loại là 95% đối với các công ty trong mẫu ban đầu Hơn nữa, mô hình có thể dự báo chính xác 83% đối với các công
ty 2 năm trước khi phá sản mặc dù mức độ chính xác giảm dần sau năm thứ 2 do khoảng thời gian tăng lên Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu này đã cung cấp thêm bằng chứng cho các kết quả nghiên cứu trước đó về tính hữu dụng của các dữ liệu tài chính
và dữ liệu thị trường trong việc dự báo vỡ nợ
Sau nghiên cứu năm 1968, Altman đã phát triển, mở rộng nhiều hàm phân biệt hay nhiều công thức để có thể áp dụng theo từng loại hình và ngành của doanh nghiệp như chỉ số Z’, Z’’ và Z’’ điều chỉnh Cụ thể, chỉ số Z’’ điều chỉnh có công thức như sau:
Z’’ điều chỉnh = Z’’ + 3.25 = 6.56 X1 + 3.26 X2 + 6.72 X3 + 1.05 X4 + 3.25 Tuy phát triển nhiều công thức nhưng nhìn chung phương pháp tính theo Altman thì cho rằng chỉ số Zscore càng thấp thì càng được xem là tình hình tài chính khó khăn
và khả năng kiệt quệ tài chính càng cao
2.1.4.2 Mô hình phân tích logit của Ohlson (1980)
Phân tích logit khác với phân tích phân biệt (chỉ xác định được công ty là kiệt quệ hay không kiệt quệ) là còn có thể xác định được xác suất xảy ra kiệt quệ tài chính của công ty
Theo đó, các hệ số của mô hình phân tích logit được ước lượng bằng phương pháp
“hợp lý cực đại” (maximum likelihood) Phân tích logit sử dụng hàm số xác suất tích lũy logistic để dự báo kiệt quệ tài chính Kết quả của hàm số có giá trị trong khoảng
0 và 1, đó là xác suất xảy ra kiệt quệ tài chính, có dạng như phương trình sau:
𝑃(𝑂) = 1
1 + 𝑒−(𝛽1𝑥1+𝛽2𝑥2+⋯.+𝛽𝑛𝑥𝑛)
Trang 26Trong đó: βi (i = 1, 2, …, n) là hệ số; xi (i = 1, 2, …, n) là biến độc lập và tỷ số tài chính Nhà nghiên cứu đầu tiên sử dụng phân tích logit trong dự báo kiệt quệ tài chính
là Ohlson (1980)
Ohlson phê bình phương pháp phân tích phân biệt đa biến vì các giới hạn như:
- Đòi hỏi sự giống nhau của ma trận hiệp phương sai giữa nhóm công ty kiệt quệ và nhóm công ty không kiệt quệ
- Đòi hỏi các biến phải có phân phối chuẩn Điểm số Z-score từ phương pháp phân tích phân biệt không cung cấp thông tin về xác suất xảy ra kiệt quệ của một công ty, mà chỉ cho biết một công ty là kiệt quệ hay không kiệt quệ
Để khắc phục vấn đề này, ông sử dụng phân tích logit để ước lượng xác suất xảy ra kiệt quệ tài chính và so với phân tích phân biệt, lợi thế của phân tích logit là thoát khỏi các giả định về phân phối chuẩn và ma trận hiệp phương sai
Ohlson trích xuất dữ liệu các công ty kiệt quệ tài chính từ báo cáo tài chính 10-K5 Ông thu thập mẫu 105 công ty phá sản và mẫu 2058 công ty không phá sản trong giai đoạn 1970 đến 1976 Các chỉ số dự báo của nghiên cứu được chọn lựa từ các nghiên cứu trước đó Mô hình của Ohlson có 9 biến, đó là:
𝑂 = −1,32 − 0,407𝑆𝐼𝑍𝐸 + 6,03𝑇𝐿𝑇𝐴 − 1,43𝑊𝐶𝑇𝐴 + 0,0757𝐶𝐿𝐶𝐴
− 2,37𝑁𝐼𝑇𝐴 − 1,83𝐹𝑈𝑇𝐿 + 0,285𝐼𝑁𝑇𝑊𝑂 − 1,72𝐸𝑁𝐸𝐺
− 0,521𝐶𝐻𝐼𝑁 Trong đó:
SIZE : log của tổng tài sản chia cho chỉ số giảm phát GNP,
TLTA : tổng nợ chia cho tổng tài sản,
WCTA : vốn luân chuyển chia cho tổng tài sản,
CLCA : nợ ngắn hạn chia cho tài sản ngắn hạn,
OENEG : bằng 1 nếu tổng nợ lớn hơn tổng tài sản, bằng 0 nếu ngược lại,
NITA : thu nhập ròng chia cho tổng tài sản,
Trang 27FUTL : dòng tiền hoạt động chia cho tổng nợ,
INTWO : bằng 1 nếu thu nhập ròng là âm trong 2 năm, bằng 0 nếu ngược lại, CHIN : (NIt – NIt-1)/([NIt] + [NIt-1]) với NIt là thu nhập ròng kỳ gần nhất Biến này nhằm mục đích đo lường sự thay đổi trong thu nhập ròng
Mô hình Ohlson ở trên là mô hình 1 của nghiên cứu với độ chính xác đạt 96,12% Tổng thể, Ohlson xây dựng 3 mô hình: mô hình dự báo trước 1 năm, mô hình 2 dự báo trước 2 năm và mô hình 3 dự báo trước 1 năm hoặc 2 năm
2.1.4.3 Mô hình dựa trên thị trường MKV-Merton (1974)
Các mô hình dự báo kiệt quệ của Altman và Ohlson là các mô hình thống kê dạng tĩnh, cả 2 mô hình đều không quan tâm đến thông tin của thị trường nên Black và Scholes (1973), Merton (1974) đã phát triển một mô hình dựa trên thị trường là mô hình định giá quyền chọn để tính toán khả năng xảy ra quệ tài chính của công ty vì các tác giả cho rằng sự thay đổi trong luật pháp, chuẩn mực báo cáo tài chính và quy định kế toán cũng làm thay đổi khả năng dự báo của các tỷ số tài chính
Mô hình này giả định rằng thị trường biết tất cả những thông tin cần thiết về công ty
và phản ảnh các thông tin này thông qua giá cổ phiếu Vì vậy, mô hình này là sự kết hợp giữa giá trị thị trường các tài sản và giá trị nợ của công ty
Hình 1.1 Dự báo xác xuất kiệt quệ tài chính
Trang 28Như đã biết, các công ty cổ phần chỉ có trách nhiệm hữu hạn trong việc hoàn trả nợ vay Khi nợ đáo hạn, người nắm giữ vốn sẽ trả hết nợ cho chủ nợ nếu giá trị thị trường các tài sản của công ty (VA) cao hơn giá trị nợ vay (X) đến hạn Tuy nhiên, người nắm giữ vốn sẽ không có nghĩa vụ phải trả hết nợ nếu giá trị thị trường các tài sản của công ty (VA) không đủ cao hơn so với giá trị nợ (X) đến hạn Khi lâm vào kiệt quệ, công ty nộp đơn xin phá sản và được giả định là sẽ chuyển quyền sở hữu sang cho các chủ nợ mà không tốn chi phí nào Người nắm giữ vốn sẽ lấy phần còn lại (VE) sau khi đã hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ nợ Kết quả là quá trình này có cách thức hoạt động giống như quyền chọn mua
Mô hình Merton có 2 giả định quan trọng:
Giả định thứ nhất là giá thị trường các tài sản của một công ty (V) tuân theo nguyên
tắc “chuyển động Brown cấp số nhân” với độ lệch tức thời (μ), độ biến động (σ) và quy trình Wiener chuẩn (W)
𝑑𝑉
𝑉 = 𝜇𝐴𝑑𝑡 + 𝜎𝐴𝑑𝑊
Giả định thứ hai là công ty chỉ phát hành một trái phiếu chiết khấu đến hạn trong
thời gian T Vốn chủ sở hữu của công ty (VE) được xem như là 1 quyền chọn mua trong khi giá trị thị trường tổng tài sản của công ty (VA) được xem như là tài sản cơ
Trang 29bản, giá trị nợ (X) đáo hạn tại thời điểm T Dựa trên mô hình định giá quyền chọn Black-Scholes-Merton, các biến số trên có mối quan hệ như phương trình dưới đây:
𝐸 = 𝑉𝑁(𝑑1) − 𝑒−𝑟𝑇𝐷𝑁(𝑑2) Trong phương trình trên, N(.) là phân phối chuẩn tắc tích lũy, D là mức độ nợ, r là lãi suất phi rủi ro và tham số d1, d2 là có liên hệ với nhau thông qua phương trình:
Mối quan hệ giữa giá trị vốn cổ phần và giá trị tài sản:
𝜎𝐸 = 𝑉
𝐸𝑁(𝑑1)𝜎𝐴𝑁(−𝑑2) là xác suất kiệt quệ tài chính của Công ty Giá trị này càng cao thì xác suất kiệt quệ tài chính càng cao
Các điểm tích cực chính của mô hình KMV-Merton là:
Mô hình cung cấp thông tin kiệt quệ từ thực tế thị trường
Có một số lượng rõ ràng các biến trong mô hình và các biến không thay đổi như trong các mô hình dự trên thống kê kế toán
Mô hình dựa trên thị trường là mô hình “nhìn từ tương lai”, chứa đựng thông tin kỳ vọng về tương lai
Mô hình có xem xét độ biến động của tài sản trong phân tích
Tuy nhiên, mô hình dựa trên thị trường cũng có khuyết điểm lý thuyết này cho rằng mọi thông tin từ thị trường đều phản ảnh vào giá cổ phiếu trong khi thực tế thị trường không phản ảnh toàn bộ thông tin về tình hình của một công ty vào giá cổ phiếu
Trang 30Khuyết điểm khác của mô hình là chỉ xem xét các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, không xem xét đối với các công ty tư nhân Ngoài ra, mô hình còn dựa trên giả định phân phối chuẩn, trong khi thực tế phân phối xác suất của mô hình KMV-Merton là rộng hơn so với phân phối chuẩn
Ngoài các mô hình được nêu ở trên thì có rất nhiều nhà nghiên cứu khác áp dụng nhiều mô hình để dự báo kiệt quệ tài chính nhưng mỗi mô hình đều có điểm mạnh, điểm yếu riêng nên chưa có một mô hình nào thể hiện được ưu việt vượt trội
2.2 Lý thuyết về tránh thuế
2.2.1 Thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế thu nhập doanh nghiệp (thu nhập chịu thuế x mức thuế suất theo luật định) là một loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận của các doanh nghiệp.1 Theo đó: thu nhập chịu thuế = doanh thu chịu thuế - chi phí chịu thuế
Để xác định thu nhập doanh nghiệp làm cơ sở tính thuế thì chúng ta căn cứ vào 2 thành phần được nêu trên là doanh thu và chi phí Hai thành phần này biến động và phụ thuộc vào quá trình sản xuất, kinh doanh của các công ty
Đối với kế toán kinh doanh thì tất cả chi phí và số thu đều phải ghi nhận vào báo sổ sách để tính lợi nhuận thực tế của đơn vị, có sự chênh lệch về thời điểm xác định doanh thu so với thực tế Bên cạnh đó, các chi phí không phù hợp với quy định của
cơ quan ban hành thuế thu nhập doanh nghiệp cũng không được thừa nhận để khấu trừ
Do đó, ở góc độ kế toán thuế và kế toán kinh doanh có sự khác biệt và trên thực tế có một số lỗ hổng liên quan đến việc xác định và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp giữa các công ty và cơ quan tính thuế
1 Ở Việt Nam, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009
Trang 312.2.2 Tránh thuế thu nhập doanh nghiệp
Ở góc độ doanh nghiệp, giảm thiểu được số thuế phải nộp mà không trái với quy định của pháp luật được xem là chiến lược quản lý thuế của các nhà quản trị công ty Đối với các công ty lớn, thuế là một chi phí rất lớn và vô cùng quan trọng Để có thể phát triển được một chiến lược dài hạn, công ty cần vốn, đó là một trong những động lực thúc đẩy các công ty tìm biện pháp làm giảm thiểu số thuế phải nộp
Theo quan điểm lý thuyết, tránh thuế là biện pháp làm giảm số thuế phải nộp (Hanlon, 2010) Trong khi việc trốn thuế là một hành động phi pháp, làm sai quy định (Feizi
và các cộng sự, 2016) thì tránh thuế là khai thác những nhược điểm trong các quy định để làm giảm thiểu số thuế phải nộp Theo đó, vì hành vi tránh thuế được xem là hợp pháp nên dễ kiểm tra, phát hiện hơn hành vi trốn thuế Cũng bởi vì hành vi tránh thuế xảy ra trong một thời gian cố định (chung thời điểm với việc lập các báo cáo tài chính) nên không có một quy định cụ thể nào về luật pháp để giới hạn cũng như kiểm soát được hành vi tránh thuế (Mohammad Jam, 2000) Theo như Desai and Dharmapala (2006), Rego (2003) và Slemrod (2001) thì tránh thuế thu nhập doanh nghiệp là một phần không thể thiếu trong chiến lược quản trị vốn của một công ty Hầu như rất nhiều các công ty có liên quan tới hành vì tránh thuế không nhiều thì ít,
do đó, việc xem xét các nhân tố nào ảnh hưởng đến việc tránh thuế của các công ty
là tương đối quan trọng Kế hoạch tránh thuế thường đi kèm với việc tìm hiểu và điều chỉnh những tài khoản kế toán, thực hiện một cách sáng tạo các tài khoản hoặc tránh công bố tất cả những thông tin cần thiết (Mousavi Jahromi et al, 2009) Ngoài ra, các công ty sử dụng để tránh thuế thường liên quan đến việc cấu trúc lại các hạch toán kế toán các nghiệp vụ phát sinh để tận dụng những thuận lợi trong sự khác biệt giữa luật thuế và các quy định liên quan (Lisowsky, 2010; Wilson, 2009)
Có nhiều phương pháp có thể nhận dạng việc điều chỉnh thu nhập như đối chiếu trực tiếp số liệu trong các báo cáo tài chính với các chứng từ sổ sách liên quan hoặc dựa vào sự khác biệt giữa thu nhập chịu thuế được tính theo các phương pháp và quy định của kế toán và thu nhập chịu thuế được tính theo phương pháp và quy định của cơ
Trang 32quan thuế do một số khoản thu nhập và chi phí được xác định trên các cơ sở khác nhau giữa các quy định Đối với các quy định, chuẩn mực về kế toán thì công ty phải ghi nhận tất cả các khoản thu và khoản chi trên cơ sở dồn tích theo chính sách thuế phù hợp với chiến lược của công ty thì cơ quan thuế xác định các khoản thu nhập chịu thuế và chi phí chịu thuế dựa trên các cơ sở luật thuế Các khoản mục thường được các công ty khai thác qua điều chỉnh các phương pháp khấu hao, điều chỉnh lãi vay, chuyển lỗ trong thời gian cho phép Nghiên cứu của Mills (1998) cho rằng sự khác biệt này càng lớn thì chứng tỏ càng gia tăng tránh thuế thu nhập doanh nghiệp
2.3 Bằng chứng thực nghiệm về tránh thuế thu nhập ở các nước trên thế giới 2.3.1 Các mghiên cứu về hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp:
McGuire và các cộng sự (2012) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa việc kiểm toán và tránh thuế thu nhập ở các công ty Kết quả cho thấy rằng khi các công ty kiểm toán càng chuyên nghiệp thì các khách hàng của họ lại càng liên quan đến việc tránh thuế Mặt khác, các nhà kiểm toán được xem như những chuyên gia trong ngành cũng liên quan đến mức độ cao hơn của hành vi tránh thuế khi so sánh với các công ty khác Hoopes và các cộng sự (2011) kiểm tra liệu rằng quy định kiểm toán IRS có ngăn cản việc tránh thuế thu nhập của các công ty Họ kiểm tra trong trong 17,323 công ty ở
Mỹ trong giai đoạn 1992 – 2008 và kết luận rằng nếu IRS tăng việc giám sát thì làm giảm đáng kể việc tránh thuế
Kết quả từ nghiên cứu của Wang (2010) cho thấy rằng việc tránh thuế có mối quan
hệ rất lớn với các doanh nghiệp công khai hơn các doanh nghiệp khác Đối với các công ty có chất lượng thông tin công khai hơn thì việc tránh thuế có mối quan hệ đáng
kể và đồng biến với giá trị doanh nghiệp
Haghighat & Mohammadi (2012) nghiên cứu mối quan hệ giữa hành vi tránh thuế thu nhập và giá trị doanh nghiệp và chất lượng thông tin công bố Kết quả chỉ ra rằng những công ty có sự minh bạch càng cao thì có ít khả năng phát sinh các vấn đề liên quan đến chi phí đại diện và nhiều khả năng có việc tránh thuế so với các công ty có
sự minh bạch không cao
Trang 33Zayer & Shafiei (2009) nghiên cứu tác động của khủng hoảng tài chính toàn đầu lên thuế thu nhập của quốc gia cụ thể là nghiên cứu khủng hoảng tài chính toàn cầu lên các biến kinh tế vĩ mô ở Iran Kết quả chỉ ra rằng sau năm 2009, tác động của khủng hoảng tài chính có nhiều chứng cứ hơn so với năm 2008
Cuối cùng là theo ước lượng của IMF về việc số thuế thu được trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, để có thể đáp ứng vốn cho hoạt động kinh doanh của mình, các công
ty sử dụng việc tránh thuế như một kênh quan trọng để bảo tồn vốn hoặc để đối đầu với việc giảm nhu cầu vốn trong giai đoạn khủng hoảng, đồng thời các khoản thuế được tiết kiệm có thể giúp tài trợ cho hoạt động ngắn hạn của công ty nhắm duy trì mức xếp hạng tín nhiệm, giữ các thỏa thuận trong hợp đồng vay hoặc thậm chí có thể giảm rủi ro phá sản (Brondolo, 2009)
2.3.2 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và tránh thuế
Nghiên cứu của Chen và các cộng sự (2010) điều tra 1003 công ty trong chỉ số chứng khoán S&P 1500 giai đoạn 1996 – 2000 với tổng số mẫu nghiên cứu là 3,865 và biến tránh thuế được sử dụng trong đề tài là tỷ suất thuế thực (ETR = chi phí thuế/thu nhập chịu thuế) đã chứng minh khi lợi ích biên vượt chi phí biên thì các công ty được xem
là có động cơ tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, thậm chí là đối với các công ty trong điều kiện hoạt động bình thường Khi các công ty bị đánh giá đang gặp phải tình trạng kiệt quệ tài chính thì có ít lựa chọn nhưng sẽ chấp thuận cơ hội với rủi ro cao hơn và càng có nhu cầu tránh thuế do mong muốn gia tăng tiền mặt từ việc tiết kiệm chi phí thuế Trong giai đoạn bị kiệt quệ tài chính, các công ty đối mặt với nhiều vấn đề cần phải giải quyết và không có nhiều phương án như chi phí sử dụng vốn gia tăng, khả năng huy động nguồn tài trợ thấp thì các chiến lược trước đây được xem là nhiều rủi
ro và tốn kém lại trở nên hấp dẫn và khả thi vì mang lợi ích từ việc gia tăng tránh thuế (Edwards và các cộng sự, 2013)
Nghiên cứu của Richardson và các cộng sự (2014) đã nghiên cứu mối quan hệ của tình trạng kiệt quệ tài chính đối với việc tránh thuế của 300 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Australia trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2010 Theo kết
Trang 34quả nghiên cứu của nhóm tác giả, kiệt quệ tài chính có mối quan hệ cùng chiều và tác động đáng kể với việc tránh thuế thu nhập, theo đó, các tác giả chứng minh được rằng khi các công ty được dự báo là kiệt quệ tài chính thì có xu hướng tăng cường tránh thuế thu nhập doanh nghiệp bằng cách sử dụng phương pháp gọi là điều chỉnh thu nhập dựa trên khoảng chênh lệch thu nhập theo chuẩn mực kế toán và thu nhập chịu thuế hoặc trì hoãn các khoản thuế phải nộp sang kỳ sau trong thời gian cho phép của luật thuế Cũng theo kết quả bài nghiên cứu này, các tác giả cho rằng trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì mối quan hệ này càng mạnh hơn do giai đoạn khủng hoảng là giai đoạn mà các công ty lâm vào hoàn cảnh rất khó khăn
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 đã tóm lược lý thuyết kiệt quệ tài chính, các mô hình dự báo tình trạng kiệt quệ tài chính, lý thuyết về tránh thuế thu nhập doanh nghiệp cũng như những nghiên cứu thực nghiệm về hành vi tránh thuế, về mối quan hệ giữa hành vi tránh thuế và kiệt quệ tài chính liên quan đến đề tài nghiên cứu Từ những lý thuyết nền tảng này, tác giả sẽ áp dụng vào đề tài nghiên cứu của mình để tìm mô hình và những biến số phù hợp với mẫu nghiên cứu của các công ty tại Việt Nam
Trang 36CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong chương này, tác giả sẽ mô tả mô hình nghiên cứu, các bước thực hiện, phương pháp nghiên cứu và khái quát về dữ liệu cũng như quy trình chọn mẫu Nội dung chương 3 gồm các phần như sau:
- Mô hình nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu
- Dữ liệu và chọn mẫu
3.1 Mô hình nghiên cứu
Tác giả hồi quy theo mô hình của Richardson và các cộng sự (2014) để xem xét mối tương tác giữa kiệt quệ tài chính và hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Tp.HCM Theo đó, tác giả lược bỏ một số biến không phù hợp với tình hình các doanh nghiệp Việt Nam như:
- Biến chi phí nghiên cứu phát triển (ở Việt Nam chưa có số liệu thống kê về các chi phí này)
- Biến THAV (đại diện việc công ty có công ty con có trụ sở hoạt động tại nơi được hưởng mức thuế suất ưu đãi) Việc loại bỏ biến này vì khi chiến lược thiên đường thuế thường được các công ty đa quốc gia sử dụng thì phần lớn các công ty ở Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ nên rất ít các công ty mà có các công ty con có trụ sở tại các nước có thuế suất ưu đãi
Do đó, mô hình cuối cùng được sử dụng trong bài nghiên cứu của tác giả để xem xét mối tương quan giữa tình trạng kiệt quệ tài chính và hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tp.HCM tại Việt Nam là:
CTA = αit+ β1FDISSit+ β2FACEit+ β3SIZE + β4LEVit+ β5CINTit+
β6INVINTit+ β7MKTBKit+ εit (1)
Trang 37Mô tả các biến:
- Biến CTA là phụ thuộc thể hiện hành vi tránh thuế của các doanh nghiệp được
tính bằng 02 cách của Theo Gupta & Newberry (1997) là biến ETR và Rego (2003) và Richardson và các cộng sự (2014) là biến CTA Cụ thể phương pháp tính được trình bày chi tiết trong phần 3.2.2
- Biến FDISS: đo lường tình trạng kiệt quệ tài chính của công ty theo 02 cách
là mô hình phân tích đa biến Z-Score của Altman (1968) và Mô hình phân tích logit của Ohlson (1980) Cụ thể phương pháp tính được trình bày chi tiết trong phần 3.2.2
- Biến FACE: Số năm hoạt động của công ty trên thị trường chứng khoán
Tp.HCM Richardson và các cộng sự (2014) cho rằng một Công ty hoạt động càng lâu trên thị trường thì khoảng trống thuế càng cao do thích ứng với thị trường
- Biến SIZE: Quy mô Công ty theo tổng tài sản (logarit của tổng tài sản)
Richardson và các cộng sự (2014) cho rằng Công ty càng lớn thì càng có khả năng tránh thuế, khoảng trống thuế càng cao vì họ có sức mạnh kinh tế vượt trội so với những công ty nhỏ
- Biến LEV: đòn bẩy tài chính công ty được đo lường bằng tỷ số nợ dài hạn chia
cho tổng tài sản Theo đó, LEV càng cao thì khả năng tránh thuế càng cao do được khấu trừ thuế từ tấm chắn thuế
- Biến CINT: đo lường bằng tỷ số tài sản cố định hữu hình chia cho tổng tài sản
Theo đó, quan điểm lý thuyết cho rằng tài sản cố định hữu hình càng cao thì khoảng trống thuế càng cao liên quan đến chi phí khấu hao tài sản
- Biến INT: Tỷ số hàng tồn kho chia cho tổng tài sản Richardson và các cộng
sự (2014) thêm biến này vào mô hình do theo quan điểm của Stickney và McGee(1982) thì đối với các công ty cần đầu tư nhiều hàng tồn kho thì ít có khả năng tránh thuế hơn các công ty cần đầu tư nhiều vốn Điều này xuất phát
từ việc các công ty đầu tư nhiều hàng tồn kho không có lợi ích từ tấm chắn thuế trong khi các công ty nhiều vốn thì đầu tư nhiều khoản mục khác và có
Trang 38thể có lợi từ tấm chắn thuế hay cách khác là các khoản mục có thể được giảm trừ thuế Do đó, các tác giả cho rằng biến INT ngịch biến với biến thể hiện hành vi tránh thuế
- Biến MKTBK: đo lường bằng giá trị thị trường của vốn cổ phần chia cho giá
trị sổ sách vốn cổ phần Theo nghiên cứu của Gupta and Newberry (1997) thì các nghiên cứu trước đây có những kết quả trái ngược về mối tương quan giữa biến MKTBK nên tùy theo mỗi nghiên cứu sẽ có những dự đoán về mối quan
hệ đồng biến (hay nghịch biến) với biến đo lường hành vi tránh thuế
Bảng 3.1 Kỳ vọng dấu của các biến trong phương trình tránh thuế
Dự đoán mối quan hệ với CTA
Dự đoán mối quan
hệ với ETR CTA, ETR Đo lường hành vi tránh thuế
1
2 FACE Số năm hoạt động trên thị trường
3 SIZE Quy mô Công ty theo tổng tài sản + -
5 CINT Tỷ số tài sản cố định hữu hình/tổng
6 INVINT Tỷ số hàng tồn kho/Tổng tài sản - +
7 MKTBK Giá trị thị trường của vốn cổ
phần/giá trị sổ sách vốn cổ phần +/- -/+
Do hai phương pháp tính biến đo lường tránh thuế và kiệt quệ tài chính khác nhau nên kỳ vọng dấu trong mỗi trường hợp sẽ khác nhau và sẽ được giải thích ở phần phương pháp nghiên cứu
Trang 393.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong phần này, tác giả trình bày chi tiết cách tính biến đo lường hành vi tránh thuế,
đo lường tình trạng kiệt quệ tài chính và phương pháp ước lượng cho phương trình nêu trên
3.2.1 Tính toán biến kiệt quệ tài chính
Để có thể có nhiều so sánh đối với kết quả thì trong đề tài này, tác giả sẽ sử dụng hai phương pháp để đo lường tình trạng kiệt quệ tài chính là đo lường chỉ số ZSCORE theo mô hình phân tích đa biến của Altman (1968) và xác suất Ohlson theo mô hình phân tích logit của Ohlson (1980) Cụ thể cách đo lường của hai phương pháp được trình bày cụ thể như sau:
3.2.1.1 Cách 1: Biến Zscore theo mô hình phân tích đa biến của Altman (1968)
Như mục 2.1.4 đã trình bày về phương trình dự báo tình trạng kiệt quệ tài chính thì hàm phân biệt của Altman được tính như sau:
Zscore = 0,012WCTA + 0,014RETA + 0,033EBIT + 0,006METL+ 0,999STA Trong đó:
WCTA = Vốn luân chuyển
= Tài sản ngắn hạn - nợ ngắn hạn
RETA
=
Thu nhập giữ lại
= Lợi nhuận sau thuế và lãi vay - cổ tức
METL = Vốn hóa thị trường
= Số lượng x giá trị thị trường 1 Cổ phiếu
STA =
Doanh thu Tổng tài sản
Trang 40Zscore là chỉ số tổng thể Dựa trên tính toán chỉ số Zscore thì Altman cho rằng tất cả các công ty có tỷ số Zscore ≤ 1.81 được xem là các công ty có vấn đề nghiêm trọng
về tài chính, các công ty có 1.81 < Zscore < 2.99 được xem là không có vấn đề trong ngắn hạn, tuy nhiên cần phải xem xét điều kiện tài chính một cách thận trọng và cuối cùng là các công ty có Zscore ≥ 2.99 được xem là các doanh nghiệp có tài chính lành mạnh Như vậy, đối với biến này, trong bài nghiên cứu, chỉ số Zscore càng thấp thì tình trạng kiệt quệ càng nghiêm trọng và có mối quan hệ nghịch biến (đồng biến) với biến đo lường hành vi tránh thuế thu nhập nhập doanh nghiệp CTA (ETR)
3.2.1.2 Cách 2: Biến Ohlson theo mô hình phân tích logit của Ohlson (1980)
Như mục 2.1.4 đã trình bày về phương trình dự báo tình trạng kiệt quệ tài chính thì
mô hình tính xác suất kiệt quệ của Ohlson (1980) có dạng như sau:
𝑂 = −1,32 − 0,407𝑆𝐼𝑍𝐸 + 6,03𝑇𝐿𝑇𝐴 − 1,43𝑊𝐶𝑇𝐴 + 0,0757𝐶𝐿𝐶𝐴
− 2,37𝑁𝐼𝑇𝐴 − 1,83𝐹𝑈𝑇𝐿 + 0,285𝐼𝑁𝑇𝑊𝑂 − 1,72𝑂𝐸𝑁𝐸𝐺
− 0,521𝐶𝐻𝐼𝑁 Trong đó:
SIZE = Log ( Tổng tài sản
) chỉ số giảm phát TLTA = Tổng nợ vay
= Tổng tài sản
WCTA = Vốn luân chuyển
OENEG = 1 ( nếu Tổng tài sản ) và ngược lại = 0