Nhưng các tác giả chủ yếu nghiên cứu khái quát lí luận chung, chỉ đưa ra một số trường hợp chuyển trường nghĩa tiêu biểu chứ chưa đi vào văn bản cụ thể có sử dụng hiện tượng chuyển trườn
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn khóa luận TS Phạm Thị Hòa đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học
- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa luận này
Khóa luận được hoàn thành song không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ phía thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài nghiên cứu của chúng tôi tiếp tục được hoàn thành
Tôi xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Người thực hiện
Lê Thị Thái
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ của Giáo viên hướng dẫn TS Phạm Thị Hòa Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực chưa từng được ai công bố trong bất
cứ công trình nghiên cứu nào trước đây
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Người thực hiện
Lê Thị Thái
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Cấu trúc khóa luận 4
NỘI DUNG 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Lý thuyết chung về trường nghĩa 5
1.1.1 Khái niệm trường nghĩa 5
1.1.2 Vấn đề phân lập trường 7
1.2 Các loại trường nghĩa 7
1.2.1 Trường nghĩa dọc (trường biểu vật và trường biểu niệm) 7
1.2.2 Trường nghĩa ngang (trường tuyến tính) 12
1.2.3 Trường liên tưởng 13
1.3 Hiện tượng chuyển trường nghĩa 14
1.3.1 Khái niệm 14
1.3.2 Tác dụng của hiện tượng chuyển trường nghĩa 16
1.4 Đặc điểm học sinh lớp 4 và hoạt động dạy từ ngữ theo trường nghĩa cho học sinh lớp 4 tại trường Tiểu học Hùng Vương 17
1.4.1 Đặc điểm học sinh lớp 4 17
1.4.2 Hoạt động dạy từ ngữ theo trường nghĩa cho học sinh lớp 4 tại trường Tiểu học Hùng Vương 19
1.5 Tiểu kết chương 1 20
Trang 5Chương 2 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CỦA TỪ NGỮ CHUYỂN TRƯỜNG NGHĨA TRONG CÁC VĂN BẢN TẬP ĐỌC LỚP 4 22
2.1 Khảo sát các từ ngữ chuyển trường nghĩa trong các văn bản tập đọc lớp 4 222.1.1 Kết quả khảo sát 222.1.2 Nhận xét 292.2 Hiệu quả của việc sử dụng từ ngữ chuyển trường nghĩa 302.2.1 Hiện tượng chuyển trường nghĩa từ trường con người sang trường động vật 312.2.2 Hiện tượng chuyển trường nghĩa từ trường con người sang trường thiên nhiên 362.2.3 Hiện tượng chuyển trường nghĩa từ trường con người sang trường đồ vật 402.2.4 Hiện tượng chuyển trường nghĩa từ trường con người sang trường thực vật 432.2.5 Hiện tượng chuyển trường từ trường thiên nhiên sang trường con người 462.3 Tiểu kết chương 2 46
KẾT LUẬN 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 6và các hoạt động giao tiếp Môn Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác
tư duy; bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt; hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của môn Tiếng Việt; góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trong dạy học Tiếng Việt ở trường Tiểu học nói chung, dạy học Tập đọc nói riêng có vị trí vô cùng quan trọng trong hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh Nói đến bậc Tiểu học là nền tảng để học sinh có điều kiện học tiếp lên các bậc học cao hơn thì dạy Tập đọc có vị trí then chốt để học sinh có kĩ năng sử dụng tốt tiếng mẹ đẻ, trau dồi ngôn ngữ, bồi dưỡng vốn kiến thức về đời sống, giúp các em có cơ hội học tốt các môn học khác
Hiện tượng chuyển trường nghĩa là một hiện tượng khá đặc biệt trong
sử dụng ngôn ngữ Nó tạo ra những giá trị biểu đạt mới cho từ, theo nó tạo
ra nhiều liên tưởng bất ngờ về ý nghĩa cho câu và văn bản Hiện tượng này khi xuất hiện một cách tập trung và có chủ ý sẽ khiến cho cuộc giao tiếp ngôn ngữ mang một sắc thái khác lạ Việc sử dụng từ vựng chuyển đổi
Trang 72
trường nghĩa là một trong những cách thức độc đáo và hiệu quả Có thể nói chuyển đổi trường nghĩa từ vựng có thể được coi là một biện pháp tu từ hiệu quả trong sáng tác văn chương
Trong các bài tập đọc lớp 4, nhiều tác giả đã sử dụng từ chuyển trường nghĩa trong bài Mặc dù ở lớp 4 vốn từ vựng của học sinh khá nhiều, tuy nhiên để hiểu được ý nghĩa cũng như hiệu quả sử dụng của nó trong các bài tập đọc còn hạn chế Việc nhận biết được hiệu quả sử dụng của các từ chuyển trường nghĩa sẽ giúp học sinh biết cách sử dụng từ ngữ trong giao tiếp tốt hơn và sử dụng chúng như thế nào cho hiệu quả nhất
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu hiệu quả sử dụng của các từ ngữ chuyển trường nghĩa trong các văn bản Tập đọc lớp 4”
2 Lịch sử vấn đề
Hiện tượng chuyển trường nghĩa là hiện tượng diễn ra phổ biến trong các tác phẩm văn chương cũng như hoạt động giao tiếp hằng ngày Nhờ có hiện tượng này lên việc thể hiện tư tưởng, tình cảm, thái độ của con người trong giao tiếp nói chung trở nên sinh động và giàu giá trị gợi cảm
Chính vì những tác dụng to lớn ấy, vấn đề chuyển trường nghĩa của từ ngữ đã được nhiều nhà Việt ngữ học quan tâm nghiên cứu Người đi tiên
phong trong lĩnh vực này là Giáo sư Đỗ Hữu Châu Trong giáo trình Từ
vựng - ngữ nghĩa Tiếng Việt tác giá đã nêu lên những quy luật cơ bản của
hiện tượng chuyển trường nghĩa Đó là các từ trong một trường biểu vật thường lôi léo nhau chuyển nghĩa theo một hướng nhất định Để chứng minh cho điều này tác giả lấy ví dụ từ “lửa” Từ này có thể chuyển sang trường chỉ “tình cảm, trạng thái tâm lý” kéo theo các từ “hừng hực, nhen nhóm, đốt…” cùng chuyển sang trường đó Hoặc từ chỉ bộ phận con người chuyển sang chỉ bộ phận của vật thể:
Ví dụ: Đầu → đầu sông, đầu núi
Trang 83
Tay → tay bầu, tay bí
Chân → chân bàn, chân mày, chân núi
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu sự chuyển từ trường thực vật sang trường con người:
Ví dụ: Quả → quả tim
Tác giả Phạm Thị Hòa lại nghiên cứu sự chuyển trường nghĩa của các động từ biểu thị hành động vật lý sang hành động nói năng như: tâng bốc,
bới móc, vặn, chọc, kích… trong “Ngôn ngữ số 5 - 2000”
Trên đây chính là một số đóng góp của các nhà nghiên cứu về hiện tượng chuyển trường nghĩa trong từ vựng nói chung Nhưng các tác giả chủ yếu nghiên cứu khái quát lí luận chung, chỉ đưa ra một số trường hợp chuyển trường nghĩa tiêu biểu chứ chưa đi vào văn bản cụ thể có sử dụng hiện tượng chuyển trường nghĩa cũng như là hiệu quả sử dụng của nó
Qua đề tài này, người viết dựa vào lý luận chung áp dụng vào việc nghiên cứu hiệu quả sử dụng của các từ ngữ chuyển trường nghĩa trong các văn bản Tập đọc lớp 4
3 Mục đích nghiên cứu
Từ việc hướng dẫn học sinh nhận biết và phân tích được hiệu quả sử dụng các từ ngữ chuyển trường nghĩa trong các văn bản của sách giáo khoa Tiếng Việt 4 sẽ giúp học sinh tìm hiểu bài tập đọc tốt hơn, hiệu quả giờ dạy
học Tiếng Việt cao hơn
Trang 94
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nói trên, người viết phải thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tìm hiểu cơ sở lý thuyết và thực tiễn có liên quan đến đề tài
- Khảo sát hiện tượng chuyển trường nghĩa trong các bài Tập đọc lớp 4
- Phân tích để thấy được hiệu quả sử dụng của các từ ngữ chuyển trường nghĩa trong các văn bản Tập đọc lớp 4
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Hiệu quả sử dụng của các từ ngữ chuyển trường nghĩa trong các văn bản Tập đọc lớp 4
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loai
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ
- Phương pháp tổng hợp
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khoá luận gồm hai chương
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn
Chương 2: Hiệu quả sử dụng của các từ ngữ chuyển trường nghĩa trong các văn bản Tập đọc lớp 4
Trang 105
NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
1.1 Lý thuyết chung về trường nghĩa
1.1.1 Khái niệm trường nghĩa
Có rất nhiều các quan điểm khác nhau về trường nghĩa được các nhà ngôn ngữ đưa ra, song tất cả đều dựa trên một nét chung, một nét cơ sở nào
đó để đưa ra một khái niệm đầy đủ về trường nghĩa
Năm 1896, M.Pokrovxkij viết: “Từ và ý nghĩa của chúng không tồn
tại tách rời nhau mà liên kết với nhau trong tư tưởng chúng ta thành những nhóm nhất định Cơ sở để tập hợp những nhóm như vậy là sự đồng nhất hay đối lập giữa chúng về nghĩa Chúng ta đã biết một cách tiên nghiệm rằng: Các từ như vậy hoặc giống nhau hoặc song hành với nhau trong sự biến đổi ý nghĩa và trong lịch sử của chúng, chúng ảnh hưởng lẫn nhau”
Ở đây, M.Pokrovxkij đã đề cập đến sự liên tưởng nhất định giữa các từ trong cùng một trường và cơ sở để xác lập, tập hợp những nhóm từ trong cùng một trường là sự đồng nghĩa hay trái nghĩa và có liên quan đến nhau
về mặt ngữ nghĩa.”
Theo J.Trer: “Trong ngôn ngữ mỗi từ tồn tại trong một trường, giá trị
của nó do quan hệ với các từ khác trong trường quyết định, rằng trường là hiện thực ngôn ngữ nằm giữa từ riêng lẻ với toàn bộ từ vựng”
Còn theo L.Weisgerber: “Các trường cấu tạo từ, mỗi từ trong một dãy
là trung tâm của một trường cấu tạo bằng một yếu tố thống nhất nói chung
có ý nghĩa giống nhau” Theo tác giả cẫn phải tính đến các góc nhìn khác
nhau mà tác động giữa chúng sẽ cho kết quả là sự ngôn ngữ hóa một số lĩnh vực nào đó trong cuộc sống
Trang 116
Đến Fe.DeSaussure cho rằng: “Giá trị của bất kì yếu tố nào cũng do
yếu tố xung quanh quy định” Ông đã chỉ ra hai dạng chung nhất của ngôn
ngữ: quan hệ dọc và quan hệ ngang Từ đó có hai loại trường nghĩa: trường nghĩa dọc và trường nghĩa ngang
Ở Việt Nam, trường nghĩa cũng được rất nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Việt Hùng, Trong đó, Đỗ Hữu Châu là người đi đầu trong việc đưa ra lý thuyết về trường nghĩa cũng như những phạm trù ngôn ngữ liên quan đến trường
nghĩa Ông cho rằng: “Do các từ có không ít sự đồng nhất về hình thức và
về ý nghĩa, căn cứ vào giữa cái chung, giữa các từ để tiến hành sự phân lập toàn bộ từ của Tiếng Việt thành những hệ thống nhỏ hơn để đưa vào trường nghĩa” [2, 169] Hệ thống là tính chất hàn lâm về ngữ nghĩa của từ
vựng Tuy nhiên, do quá lớn và phức tạp nên những liên hệ ngữ nghĩa trong
từ vựng không thể hiện ra một cách trực tiếp giữa các từ được lựa chọn ngẫu nhiên Chẳng hạn, hai từ “mặt trời” và “đôi dép” ngưới ta khó có thể nhận ra sự khác biệt giữa chúng
Do thế giới phản ánh vào ngôn ngữ mang tính tổng thể, liên tục, để hiểu được nó chúng ta buộc phải chia cắt tổng thể thành những bộ phận nhỏ hơn Chia hệ thống từ vựng thành hệ thống nhỏ hơn dựa trên ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa các tiểu hệ thống của chúng Quan điểm về trường nghĩa trong luận văn này chúng tôi lấy quan
điểm của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở nghiên cứu Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa
được gọi là một trường nghĩa Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau
về ngữ nghĩa [2,170]
Chính do sự phong phú và phức tạp khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến trường nghĩa Việc tìm ra một khái niệm trường nghĩa đầy đủ, trọn vẹn vẫn đang là một vấn đề được đặt ra Nhưng để phục vụ cho phạm vi
Trang 12Fe.DeSaussure trong giáo trình Ngôn ngữ học đại cương đã chỉ ra hai
dạng quan hệ: quan hệ ngang (quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan
hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (quan hệ trực tuyến và quan hệ hệ hình)
Theo hai dạng quan hệ đó có thể có hai loại trường nghĩa là trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến) và trường nghĩa ngang (trường nghĩa
tuyến tính) Trong giáo trình Từ vựng - ngữ nghĩa Tiếng Việt, Đỗ Hữu
Châu cũng phân lập theo hướng trên và giới thiệu các loại trường nghĩa, trong đó tác giả đi sâu vào hai trường nghĩa dọc: Trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm
từ về mặt biểu vật, là những nét nghĩa cụ thể, thu hẹp ý nghĩa của từ Như vậy, chúng ta sẽ đưa một từ vào một trường nghĩa biểu vật nào đó khi nét nghĩa biểu vật của nó trùng với tên gọi của danh từ trên
Ví dụ với từ tay, ta có các trường sau:
- Bộ phận của tay: cánh tay, bàn tay, cổ tay, ngón tay, khuỷu tay, đốt, móng, lòng bàn tay, mu bàn tay, bắp tay, kẽ tay, ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa, ngón nhẫn, ngón út, hoa tay…
Trang 13Ví dụ với từ “mắt”, ta có các trường:
- Bộ phận của mắt: lông mày, lông mi, mí, lòng trắng, lòng đen, con ngươi, nước mắt…
- Cảm giác về mắt: chói, quáng, hoa, cộm, xót,…
- Đặc điểm về ngoại hình của mắt: bồ câu, ốc nhồi, lợn luộc, dao cau, lươn, lá răm, (mày) lưỡi mác, (mày) dài, chổi xể, nhung, huyền, xanh đen,…
- Đặc điểm về năng lực của mắt: đờ dẫn, sắc, lờ đờ, tinh anh, tốt, kém, toét, mù, lòa,…
- Hoạt động của mắt: nhòm, trông, thấy, ngó, liếc, nghé, nom, dòm, lúng liếng, đong đưa, nhìn trộm, trợn trừng, quắc…
- Bệnh của mắt: quáng gà, mắt hột, thong manh, cận thị, viễn thị, vảy
cá, hạt gạo,…
Khi xem xét các trường biểu vật cần chú ý những điều sau đây
So sánh các trường lớn với nhau cũng như so sánh các trường nhỏ trong cùng một trường lớn (như trường biểu vật của tay so với của chân), chúng ta thấy nó có sự khác nhau về số lượng từ ngữ và về tổ chức Nếu lại
so sánh các trường cùng một tên gọi (tức các danh từ) trong các ngôn ngữ khác nhau thì sự khác nhau trên càng rõ hơn nữa
Nếu tạm gọi một trường nhỏ (hay một nhóm nhỏ trong một trường nhỏ) là một “miền” của trường thì thấy, các miền trong các trường thuộc
Trang 149
các ngôn ngữ rất khác nhau Có những miền trống - tức không có từ ngữ - ở ngôn ngữ này nhưng lại không trống ở ngôn ngữ kia Điều này khẳng định tính ngôn ngữ và tính dân tộc của trường biểu vật
Cần chú ý rằng, khi phân lập các trường, chúng ta cần chú ý đến nghĩa biểu vật chứ không chú ý đến từ Nói rõ hơn, phân lập trường không phải là phân loại từ Không phải một từ đã ở trường này thì không thể ở trường kia được nữa Vì từu có tính nhiều nghĩa biểu vật, do đó từ có thể nằm trong nhiều trường biểu vật khác nhau hay trong nhiều trường nhỏ khác nhau tùy theo số lượng các ý nghĩa biểu vật của nó Tuy nhiên, vì có sự phân biệt ý nghĩa biểu vật chính và ý nghĩa biểu vật phụ, cho nên chúng ta có thể phân biệt các trường biểu vật chính và phụ của từ Nếu nghĩa chính của từ nằm trong trường nào thì trường đó là trường biểu vật chính của nó
Như thế, chúng ta có thêm một chỉ số nữa để đánh giá các từ: chỉ số
đó là số lượng cá trường mà từ đó có thể đi vào như một thành viên
Có những từ chỉ số trường là 1, có nghĩa là từ đó chỉ có thể nằm trong
một và chỉ một trường mà thôi (như các từ bồng, xách, quắc, phưỡn…) Đó
là những từ điển hình của trường
Bên cạnh đó, lại có những từ đi vào hầu hết các trường biểu vật có thể
có của một ngôn ngữ, như các từ tốt, xấu, cao, thấp,… Rõ ràng là các từ có chỉ số trường biểu vật thấp là những từ bị quy định về biểu vật rất mạnh, trái lại những từ càng đi vào nhiều trường thì tính bị quy định về biểu vật càng yếu, ý nghĩa càng khái quát
Do chỗ có các từ đi vào nhiều trường, cho nên các trường biểu vật có thể “thẩm thấu” vào nhau “giao thoa” với nhau Hai trường biểu vật giao thoa với nhau khi một số từ của trường này cũng nằm trong trường kia Căn cứ vào số lượng các từ chung cho hai trường nhiều hay ít mà chúng ta nói đến tính độc lập tương đối nhiều hay ít giữa hai trường
Trang 1510
Ví dụ: Chúng ta nói hai trường “người” và “thực vật” độc lập với nhau
cao hơn là hai trường “người” và “động vật” (hầu hết các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể của trường “người”, một số hoạt động của người đều dùng
chung cho động vật, trong khi đó, các từ của trường thực vật như cành, rễ,
Ngoài cái lõi của trường là các lớp từ khác mỗi lúc một đi xa ra khỏi lõi, liên hệ với trường mờ nhạt đi
b Trường biểu niệm
Căn cứ để phân lập các trường biểu niệm là các ý nghĩa biểu niệm của từ Cấu trúc biểu niệm không chỉ riêng cho từng từ mà chung cho nhiều
từ Một trường biểu niệm là một tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu
niệm [2, 176]
Ví dụ: Trường biểu niệm (vật thể nhân tạo)… (phục vụ sinh hoạt):
- Dụng cụ để ngồi, nằm: ghế, giường, phản, đi văng,…
- Dụng cụ để che, phủ: màn, mùng, khăn, chăn, chiếu…
Ví dụ: Trường biểu niệm (hoạt động tác động đến X)… (làm X có tình trạng Y)
Trang 1611
Với cấu trúc biểu niệm này, chúng ta chỉ đưa vào trường những động
từ chỉ hoạt động tác động vào những đối tượng khác chủ thể của hoạt động
và gây ra những biến đổi thực sự nào đó ở đối tượng Đây là một trường lớn, căn cứ vào Y mà chia thành những trường nhỏ:
- Làm cho X động (tĩnh - động) hoặc tĩnh (động - tĩnh)
+ X động hay tĩnh tại chỗ một cách cơ giới: rung, lay, lắc, lung lay… + X dời chỗ hoặc dừng lại một cách cơ giới: đẩy, xô, ném, lao, giật, bẩy, hàm, phanh, dừng…
+ X là thiết bị cơ giới: phát động, khởi động, nổ (nổ máy), hãm, tắt (máy)…
- Làm cho X có những biến đổi cho bản thân: co, dãn, căng, mở, đóng, khép, bẹp, xẹp, phình,…
- X bị chết, mất đi: giết, ám sát, sát hại, diệt, xử tử, hành hình, hành quyết, ngộ sát, đầu độc, ám sát,…
Các trường biểu niệm lớn có thể phân chia thành các trường nhỏ và cũng có những “miền” với mức độ khác nhau
Do có hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm, cho nên một từ có thể đi vào nhiểu trường biểu niệm (hay đi vào những trường nhỏ) khác nhau Vì vậy, cũng giống như các trường biểu vật, các trường biểu niệm có thể giao thoa với nhau, thẩm thấu vào nhau và cũng có lõi trung tâm với các từ điển hình
và những từ ở những lớp kế cận trung tâm, những từ ở lớp ngoại vi
Khi nói về hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm, chúng ta đề cập đến các
từ điển hình cho cấu trúc biểu niệm Các từ điển hình này tạo thành những cái lõi, thành những trung tâm của các trường biểu niệm Nhờ chúng mà sự tồn tại của một trường biểu niệm mới được khẳng định Cũng chính nhờ sự đối chiếu với chúng mà chúng ta mới biết một từ có thể thuộc về bao nhiêu trường biểu niệm khác nhau Trong các ví dụ về trường và về nhóm nhỏ
Trang 1712
trong trường, chúng ta đã đưa ra không ít những từ điển hình và những từ ngữ đi vào nhiều trường
Sự phân lập từ vựng thành trường biểu vật hay trường biểu niệm, như
đã nói, dựa trên sự phân biệt hai thành phần ngữ nghĩa trong từ Nó phản ánh hai cách nhìn từ vựng ở hai góc độ khác nhau Tuy nhiên, hai loại trường nghĩa dọc này có liên hệ với nhau: nếu lấy nét nghĩa biểu vật trong cấu trúc biểu niệm làm tiêu chí lớn để tập hợp thì chúng ta có các trường biểu vật Nhưng chỉ cần phân lập một trường biểu vật thành các trường nhỏ thì phải dựa vào các nét nghĩa khác trong cấu trúc biểu niệm Trái lại, khi phân lập các trường biểu niệm, chúng ta đưa vào cấu trúc biểu niệm, song khi phân nhỏ chúng ra, đến một lúc nào đó phải sử dụng nét nghĩa biểu vật
Ví dụ: Để phân nhỏ trường (hoạt động) (tác động đến X)… (làm X dời
chỗ), chúng ta phải dùng đến các nét nghĩa biểu vật như (người) (động vật),
(phương tiện vận tải) (nước)… để phân biệt các từ vác, khiêng, đẩy,… với
tha, quắp… với tải, chở… với cuốn…
Dựa vào ý nghĩa của từ mà chúng ta phải phân lập được các trường Nhưng, cũng nhờ các trường, nhờ sự định vị được từng từ một trong trường thích hợp, mà chúng ta hiểu sâu sắc thêm ý nghĩa của từ
1.2.2 Trường nghĩa ngang (trường tuyến tính)
Tiêu chí để phân loại trường tuyến tính là dựa hẳn vào ngữ nghĩa của
từ trung tâm Để lập nên các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả các từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ
Ví dụ: Trong trường tuyến tính của từ tay là búp măng, mềm, ấm,
lạnh, nắm, cầm, dùi đục, bốc,… Những từ ngữ như: đá, đạp không thuộc
trường tuyến tính của từ tay
Các từ trong một trường tuyến tính là những từ thường xuất hiện với
từ trung tâm trong các loại ngôn bản Phân tích ý nghĩa của chúng, chúng ta
Trang 1813
có thể phát hiện được những nội dung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp
và tính chất của các quan hệ đó Thực tế chúng là những từ cùng thuộc một trường biểu vật đi với nhau sao cho nét nghĩa biểu vật của chúng phải phù
hợp với nhau Chúng ta nói đi thoăn thoắt chứ không ai nói đi liến thắng,
vì liến thắng đòi hỏi nét nghĩa biểu vật nói, không đòi hỏi nét nghĩa đi mặc
dù cả hai từ thoăn thoắt và liến thắng đều có nét nghĩa biểu niệm “liên tiếp,
nhanh chóng thành từng chuỗi”
Cùng với các trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm, thì trường nghĩa tuyến tính góp phần phát hiện ra tính hệ thống, quan hệ ngữ nghĩa giữa các đơn vị từ vựng trong hệ thống từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và những hoạt động của từ
1.2.3 Trường liên tưởng
Sự phân lập các trường biểu vật, biểu niệm như trên là vấn đề cần thiết
để tìm hiểu và cấu trúc ngữ nghĩa - ngữ pháp, phát hiện những đặc điểm nội tại và đặc điểm hoạt động của từ Nhưng đó mới chỉ là sự phân tích “cấu trúc bề mặt” của ngôn ngữ trong ngôn ngữ còn “cấu trúc bề sâu” Đó là lý
do để xác lập trường liên tưởng
Nhà ngôn ngữ học người Pháp Ch Bally là tác giả đầu tiên của khái niệm trường liên tưởng Theo ông, mỗi từ có thể là một trung tâm của trường liên tưởng như từ bò của tiếng Pháp chẳng hạn, có thể gợi ra do liên tưởng: + Bò cái, bò mộng, bê, sừng, gặm cỏ, nhai trầu,…
+ Sự cày bừa, cái cày, cái ách,…
+ Những ý niệm về tính thụ động mà chúng ta gặp trong các lối so sánh trong các thành ngữ Pháp
Dễ dàng nhận thấy rằng các từ trong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, sự cố định bằng từ các ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm Các từ trong một trường liên tưởng trước hết là những từ cùng nằm trong trường biểu vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính, tức là những
Trang 1914
từ có quan hệ cấu trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm Song, trong trường liên tưởng còn có nhiều từ khác được liên tưởng tới do xuất hiện đồng thời với từ trung tâm trong những ngữ cảnh có chủ đề tương đối đồng nhất, lặp đi lặp lại Điều này khiến cho các trường liên tưởng có tính dân tộc, tính thời đại và cá nhân
Ý nghĩa biểu vật có những từ trong trường liên tưởng giống nhau, nhưng cũng có những từ khác nhau về nghĩa Các trường liên tưởng thường không ổn định, nên ít có tác dụng phát hiện những quan hệ cấu trúc về ngữ nghĩa của các từ và từ vựng Có nhiều trường hợp phải dùng tới nhiều trường liên tưởng nhưng như vậy thì dẫn tới một chuỗi kết hợp mơ hồ về nghĩa
Ví dụ: Khi nhắc tới chiến tranh thì ta liên tưởng tới: bom, đạn, hỏa lực, pháo đài,…
Khi nhắc tới mùi vị thì ta liên tửng tới: mặn, nhạt, đắng, thơm,…
1.3 Hiện tượng chuyển trường nghĩa
1.3.1 Khái niệm
Từ có thể đi vào một số trường lập thành ngoại vi của trường đó do:
- Tính nhiều nghĩa khiến từ nhập nhằng
- Do bản thân cấu trúc ngữ nghĩa mà chúng ta lấy làm cơ sở chứa một hoặc một vài nét nghĩa chung, nét nghĩa này có mặt trong một số cấu trúc ngữ nghĩa khác
Ví dụ: từ “sập” trong tiếng Việt có thể phân biệt hai loại đồ dùng: loại
để chứa đựng điển hình là các từ: tủ, giường, ghế… loại để đỡ thân thể con người giường, ghế, phản… Nhưng cái sập được cấu tạo vừa để đỡ thân thể con người ở tư thế nghỉ ngơi và vừa được cấu tạo để chứa đựng Do vậy, từ sập có thể đi vào trường nghĩa thứ nhất hay thứ hai đều được
Do đó hiện tượng chuyển trường biểu vật và biểu niệm nên một từ có thể đi vào nhiều trường biểu vật, biểu niệm khác nhau vì thế xảy ra hiện chuyển trường nghĩa của từ
Trang 2015
Các từ trong cùng một trường do có sự thống nhất về mặt ngữ nghĩa nên các từ bao giờ cũng có sự trung hòa, dễ tạo ra sự mòn sáo Để tạo sự lạ hóa trong giao tiếp, người ta có thể nhắc từ ở trường này sang ở trường khác Nói cách khác, với sự chuyển nghĩa linh hoạt và thường xuyên của các từ trong văn bản cũng như hoạt động giao tiếp thì ta thấy ranh giới giữa các trường nghĩa bị xóa mờ, các từ có xu hướng thâm nhập từ trường nghĩa này sang trường nghĩa khác Đó là hiện tượng chuyển trường nghĩa
Hiện tượng chuyển trường nghĩa là hiện tượng một trường thuộc ý niệm này được chuyển sang dùng cho sự vật thuộc trường ý niệm khác
Do nhu cầu giao tiếp ngày càng đa dạng và phức tạp của con người, từ (đơn hoặc phức) lúc mới xuất hiện chỉ có một nghĩa biểu vật nhưng khi sử dụng một thời gian nó có thêm nhiều nghĩa biểu vật mới Đó là sự chuyển biến ý nghĩa biểu vật của từ Khi nghĩa biểu vật của từ thay đổi thì nghĩa biểu niệm của từ cũng có nhiều khả năng thay đổi Từ đó, nghĩa biểu thái của nó cũng có thể thay đổi theo
Sự chuyển nghĩa trên của từ chính là cơ sở của sự chuyển trường nghĩa của từ Không phải bất cứ hiện tượng chuyển nghĩa nào cũng dẫn đến
sự chuyển trường nghĩa của từ, nhưng có thể khẳng định rằng, sự chuyển trường nghĩa bắt đầu từ sự chuyển nghĩa của từ Bởi vì, khi từ chuyển nghĩa thì nội dung biểu thị của từ thay đổi dẫn đến từ cũng chuyển sang trường nghĩa mới tương ứng với nội dung biểu thị mới của nó
Ví dụ: từ “mũi” là từ có nhiều nghĩa, mỗi lần chuyển biến ý nghĩa thì
từ lại chuyển sang một trường nghĩa khác
- Bộ phận của cơ quan hô hấp: mũi người, mũi chó, mũi mèo,…
(Từ thuộc trường con người hoặc trường động vật)
- Phần trước của tàu thuyền: mũi tàu, mũi thuyền,…
(Từ thuộc trường phương tiện giao thông)
Trang 2116
- Bộ phận nhọn của vũ khí: mũi dao, mũi gươm, mũi súng,
(Từ thuộc trường đồ vật)
- Phần đất nhô ra ngoài biển: mũi đất, mũi Cà Mau,…
(Từ thuộc trường đất đai)
Khi các từ ngữ chuyển từ trường nghĩa này sang trường nghĩa khác, chúng mang theo những đặc điểm vốn có của nó ở trong trường nghĩa ban đầu Như ở ví dụ từ “mũi” ở trên, nét nghĩa về sự vật (nhọn, nhô ra trước hết so với cái toàn thể) của từ “mũi” trong trường hợp đầu tiên chuyển vào nghĩa của các từ thuộc các trường nghĩa còn lại
Hiện tượng chuyển trường nghĩa là hiện tượng thẩm thấu, giao thoa lẫn nhau giữa các các trường và có lõi trung tâm với từ điển hình Ở mỗi trường nghĩa có những từ ngữ mang ý nghĩa mới bổ sung dựa trên nét nghĩa cơ bản ban đầu
Đây là hiện tượng có tính quy luật nên khi chuyển có những từ chuyển hướng đồng loạt cùng hướng (các từ có phạm vi biểu vật hay cùng một cấu trúc biểu niệm thì khi chuyển nó chuyển theo cùng một hướng)
Ví dụ: Khi chuyển trường nghĩa thì một số từ chỉ bộ phận của con người: đầu, cổ, tay, mũi, miệng,… có thể chuyển sang một số trường nghĩa khác như:
- Chuyển sang trường thực vật: mắt mỉa, tay tre,…
- Chuyển sang trường thiên nhiên: đầu núi, đầu sông, mặt trời, mặt đất,…
- Chuyển sang trường thực vật, hiện tượng: cổ chai, cổ áo, mũi thuyền, mặt ghế,…
1.3.2 Tác dụng của hiện tượng chuyển trường nghĩa
Tác dụng đầu tiên của hiện tượng chuyển trường nghĩa đối với ngôn ngữ là làm giàu vốn từ vựng Khi một từ chuyển trường nó biến thành từ đa nghĩa, từ vẫn giữ nguyên hình thức ngữ âm cũ nhưng lại mang một nội
Trang 2217
dung mới hay nghĩa mới, nội dung này luôn có quan hệ tương sinh với nội dung cũ (nghĩa cũ, nghĩa gốc) của từ Từ càng chuyển qua nhiều trường nghĩa thì càng mang nhiều nghĩa mới - nội dung biểu đạt của nó càng
phong phú Thí dụ, từ tóc vốn thuộc về trường con người, biểu hiện sợi
lông mọc trên đầu người, khi chuyển sang trường sự vật nó biểu hiện dây
kim loại trong bóng đèn tròn (tóc bóng đèn)
Chuyển trường nghĩa của từ không chỉ có tác dụng làm giàu vốn từ vựng, đáp ứng nhu cầu giao tiếp của con người mà còn góp phần làm tăng khả năng diễn đạt, tăng sức biểu cảm của ngôn từ
Khi chuyển trường nghĩa, ngoài những giá trị biểu đạt mới xuất hiện ở trường nghĩa mới, từ còn giữ được những ấn tượng ngữ nghĩa vốn có của trường nghĩa cũ Đặc tính này làm cho giá trị biểu đạt của từ càng phong phú
1.4 Đặc điểm học sinh lớp 4 và hoạt động dạy từ ngữ theo trường nghĩa cho học sinh lớp 4 tại trường Tiểu học Hùng Vương
1.4.1 Đặc điểm học sinh lớp 4
Chúng ta đã biết với đặc điểm của học sinh Tiểu học hiện nay là rất hiếu động, thích khám phá Việc tiếp nhận tri thức của các em ngày càng được nâng cao, tư duy ngày càng phát triển hơn so với trước Với học sinh lớp 4 thì năng lực nhận thức, tiếp nhận tri thức của các em đã được nâng cao rõ rệt
a Đặc điểm tâm lý
Học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng
Ở giai đoạn này, hoạt động học tập có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển tâm lí của học sinh tiểu học Dựa trên những thành tựu phát triển tâm lí đã đạt được của giai đoạn trước, trẻ sẽ tạo lập nên những cái mới trong đời sống tâm lí của mình, mà trước hết là tính chủ định, kĩ năng làm việc trí óc, sự phản tỉnh - những cấu tạo tâm lí mới đặc trưng cho lứa tuổi này
Trang 2318
Tuổi tiểu học là tuổi của sự phát triển hồn nhiên bằng phương thức lĩnh hội Cùng với việc lĩnh hội, tiếp thu một hệ thống tri thức về các môn học, trẻ em học cách học, học kĩ năng sống trong môi trường trường học và môi trường xã hội Cùng với sự ảnh hưởng khá lớn của môi trường giáo dục gia đình và quan hệ bạn bè cùng tuổi, cùng lớp và trường học, học sinh tiểu học lĩnh hội các chuẩn mực quy tắc đạo đức của hành vi Sự lĩnh hội trên tạo ra những biến đổi cơ bản trong sự phát triển tâm lí của học sinh tiểu học Chúng không chỉ đảm bảo cho các em thích ứng với cuộc sống nhà trường và hoạt động học, mà còn chuẩn bị cho các em những bước ngoặt quan trọng trong cuộc sống ở tuổi thiếu niên- lứa tuổi có xu thế vươn lên làm người lớn
b Đặc điểm ng n ng
Hầu hết học sinh tiểu học lứa tuổi này có ngôn ngữ nói thành thạo, ngôn ngữ viết đang dần thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự học,
tự đọc, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lí tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ
c Đặc điểm tư duy
Ở học sinh lớp 4, đang trong giai đoạn cuối bậc Tiểu học tư duy của học sinh sẽ chuyển từ trực quan cụ thể sang trừu tượng khái quát Đó là kết quả của quá trình học sinh tiếp xúc với thực tế, trao đổi với xã hội và học tập và đặc biệt là hoạt động học tập trong nhà trường Các thao tác phân
Trang 2419
tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa của học sinh được hình thành và phát triển Ở giai đoạn này, tư duy cụ thể ít mang tính trực tiếp đã tách nhiều ra khỏi tri giác trực tiếp và dần mang tính trừu tượng
Tưởng tượng của các em đang hình thành và phát triển trong hoạt động học tập và các hoạt động khác của các em Khuynh hướng tưởng tượng ở học sinh là tiến dần đến phản ánh một cách đúng đắn và đầy đủ hiện thực khách quan trên cơ sở những tri thức tương ứng Hình ảnh tưởng tượng trở nên trọn vẹn hơn, phân biệt hơn bởi số lượng chi tiết nhiều hơn
và sự sắp xếp chúng càng chặt chẽ, có lí hơn
d Đặc điểm ch ý
Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị
phân tán trong quá trình học tập
Ở cuối tuổi tiểu học, đặc biệt là từ học sinh lớp 4 dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần
và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài, Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định
1.4.2 Hoạt động dạy từ ng theo trường nghĩa cho học sinh lớp 4 tại trường Tiểu học Hùng Vương, Ph c Yên, Vĩnh Ph c
Học sinh lớp 4 chưa được học khái niệm về trường nghĩa và hiện tượng chuyển trường nhưng cácem đã được học biện pháp tu từ nhân hóa Đây
Trang 2520
thực chất là hiện tượng chuyển trường nghĩa từ các trường không chỉ người sang trường con người Vì vậy, để có thể hướng dẫn học sinh tìm hiểu, học tập một cách tốt nhất thì giáo viên cần nắm vững, hiểu rõ về khái niêm trường nghĩa, hiện tượng chuyển trường nghĩa và phân tích được các hiện tượng chuyển trường nghĩa có ở các từ mà giáo viên đang giảng dạy Nhưng qua dự giờ và qua trao đổi với giáo viên, chúng tôi thấy giáo viên chưa có ý thức làm rõ tác dụng của hiện tượng chuyển trường nghĩa của các từ đã làm cho: con vật, đồ vật, thiên nhiên, cây cối sang trường con người có tác dụng như thế nào Giáo viên mới chỉ nói được nhân hóa làm cho các đối tượng vô tri vô giác sống động như thế giới con người mà chưa có ý thức làm sáng rõ cái hay của biện pháp nhân hóa mà thực chất là hiện tượng chuyển trường nghĩa này, luôn làm người đọc đối chiếu hình ảnh đối tượng ở
hai trường nghĩa Ví dụ hình ảnh nhân hóa chị Nhà Trò vừa cho người đọc
liên tưởng tới hình ảnh con vật mảnh mai, lại vừa liên tưởng tới hình ảnh cô gái gầy gò yếu ớt Liên tưởng này có được là do sự quan sát tài tình và cách dùng từ ngữ để chuyển trường nghĩa của tác giả vô cùng chuẩn xác
Thứ hai, đó là hiện tượng chuyển trường nghĩa Đây là hiện tượng một trường thuộc ý niệm này được chuyển sang dùng cho sự vật thuộc trường ý niệm khác Bên cạnh đó tìm hiểu được tác dụng của hiện tượng chuyển trường nghĩa
Trang 2621
Thứ ba, đó chính là đặc điểm học sinh lớp 4 và hoạt động dạy từ ngữ theo trường nghĩa của giáo viên Mặc dù học sinh không được học về trường nghĩa nhưng giáo viên cần nắm vững kiến thức này để giảng dạy sâu sắc hơn
Trang 2722
Chương 2 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CỦA TỪ NGỮ CHUYỂN TRƯỜNG NGHĨA
TRONG CÁC VĂN BẢN TẬP ĐỌC LỚP 4
2.1 Khảo sát các từ ngữ chuyển trường nghĩa trong các văn bản tập đọc lớp 4
Một từ có thể vừa thuộc trường nghĩa này vừa thuộc trường nghĩa kia
Vì vậy, để phân loại trường nghĩa, chúng tôi dựa vào nét nghĩa chung nhất của các đơn vị từ vựng trong một trường nghĩa
Giữa các trường nghĩa có sự giao thoa - các trường nghĩa có chung một số đơn vị từ Vì vậy, sự phân loại của chúng tôi cũng chỉ mang tính chất tương đối
Để phù hợp với hoạt động dạy Tập đọc cho học sinh lớp 4, chúng tôi chỉ khảo sát và phân loại các từ theo các trường biểu vật
Chuyển sang trường nghĩa
1 Dế mèn
bênh vực
kẻ yếu
Một hôm qua một vùng nước
xanh dài, tôi chợt nghe tiếng khóc