Ông có đóng góp đáng kể cho nền văn học nước nhà nói riêng và nền văn học thế giới nói chung trên nhiều thể loại như tiểu thuyết, hồi ký, truyện ngắn,… Song, chỉ riêng với truyện ngắn, T
Trang 1CỦA TOBIAS WOLFF
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Người hướng dẫn khoa học:
ThS Lương Thị Hồng Gấm
Người hướngNgưng dẫn khoa học: ThS Lương Thị Hồng Gấm
HÀ NỘI, 2017
Trang 2CỦA TOBIAS WOLFF
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Người hướng dẫn khoa học:
ThS Lương Thị Hồng Gấm
Người hướngNgưng dẫn khoa học: ThS Lương Thị Hồng Gấm
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc của mình tới cô giáo hướng dẫn khoa học ThS Lương Thị Hồng Gấm, người đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tập thể thầy cô khoa Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ bộ môn Văn học nước ngoài và trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
đã giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu và học tập tại trường
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn là điểm tựa cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu!
Hà Nội, Ngày tháng năm
Tác giả
Trần Thu Trang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, khóa luận với đề tài “Vô thức trong Chuyện chúng
ta bắt đầu của Tobias Wolff” là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng
dẫn khoa học của ThS.Lương Thị Hồng Gấm
Các số liệu, trích dẫn và tài liệu tham khảo trong khóa luận là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, Ngày tháng năm
Tác giả
Trần Thu Trang
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Cấu trúc của khóa luận 7
NỘI DUNG 8
Chương 1 PHÂN TÂM HỌC VỚI THUYẾT VÔ THỨC 8
1.1 Phân tâm học và S.Freud 8
1.1.1 Bối cảnh ra đời của phân tâm học 8
1.1.2 S.Freud – cha đẻ của phân tâm học 10
1.2 Phân tâm học như là một lý thuyết về vô thức 11
1.2.1 Những khái niệm và định đề cơ bản 11
2.2.2 Ý nghĩa của vô thức trong khoa học và đời sống 19
1.3 Tobias Wolff với những ám ảnh vô thức 23
Tiểu kết 25
Chương 2 BIỂU HIỆN CỦA VÔ THỨC TRONG CHUYỆN CHÚNG TA BẮT ĐẦU 26
2.1 Vô thức thể hiện qua những giấc mơ xa rời hiện thực 27
2.2 Vô thức thể hiện qua bản năng tính dục 33
2.3 Vô thức thể hiện qua những mặc cảm thân phận - sự nói dối 39
Tiểu kết 50
KẾT LUẬN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Phân tâm học – chủ nghĩa Freud là một trong những trào lưu có tầm ảnh
hưởng rất rộng lớn đối với nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ XX, nó đã nhanh chóng trở thành một hiện tượng mang tính thời
sự nóng hổi suốt thế kỷ, là trào lưu gây nhiều tranh cãi vào bậc nhất Điều này không chỉ xuất phát bởi việc “gây dư luận trái chiều” là tình hình chung mà mọi trào lưu khi mới ra đời phải chấp nhận mà còn vì những nội dung mà chủ nghĩa Freud bàn tới là cực kỳ nhạy cảm, không chỉ ở phương Đông mà cả phương Tây Nhưng không thể phủ nhận rằng, phân tâm học có ảnh hưởng sâu rộng trong nhiều lĩnh vực như: y học, triết học, tâm lý học, xã hội học,… Ảnh hưởng của học thuyết phân tâm học đối với văn học, nghệ thuật cũng đáng chú ý không kém, trong đó trọng tâm là vấn đề vô thức Sự can thiệp của vô thức vào đời sống ý thức của con người được thể hiện một cách hệ thống và bài bản nhất Nội dung biểu hiện của phân tâm học không ngoài các phương diện: vô thức và bản năng tính dục, cấu trúc nhân cách, giấc mơ xa rời hiện thực Qua đó, chúng ta không chỉ nhận ra những nét độc đáo nội tại trong tác phẩm mà còn có những phát hiện sâu sắc hơn về cảm quan nhà văn cũng như độc giả với cả một thời đại văn học Bên cạnh đó, việc tiếp cận sáng tác của nhà văn hậu hiện đại dưới góc nhìn vô thức của phân tâm học là một điều cần thiết vì nó chính là một sự kiểm nghiệm của lý thuyết này Chúng tôi lựa chọn đi theo hướng nghiên cứu còn nhiều mới mẻ này, góp phần xua đi những định kiến lâu dài về hướng tiếp cận phân tâm học với văn học Và sau là với mong muốn khám phá và đánh giá giá trị của tác phẩm văn học từ một góc độ mới
1.2 Tobias Wolff (1945) là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc
nhất của văn học đương đại Mỹ Ông có đóng góp đáng kể cho nền văn học nước nhà nói riêng và nền văn học thế giới nói chung trên nhiều thể loại như tiểu thuyết, hồi ký, truyện ngắn,… Song, chỉ riêng với truyện ngắn, Tobias Wolff cũng xứng đáng được coi là bậc thầy bên cạnh những cây bút nổi tiếng cùng thời như: Raymond Carver, Flannery O’Connor, Donald Barthelme,… Sự thành công của ông
Trang 7đã được ghi nhận bằng nhiều giải thưởng văn chương danh giá Tuy nhiên, với bạn đọc Việt Nam, Tobias Wolff vẫn là một cái tên còn khá lạ lẫm, cùng với các tác phẩm văn chương kiệt xuất của ông vẫn chưa được biết đến rộng rãi Bởi vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu đề tài này cũng sẽ góp phần không nhỏ trong việc giới thiệu
và mở mang thêm những hiểu biết về cây bút truyện ngắn xuất sắc này của văn học
Mỹ đương đại tới các bạn đọc Việt Nam
1.3 Chuyện chúng ta bắt đầu (Our Story Begins) là tuyển tập truyện ngắn
mới nhất của Tobias Wolff Cuốn truyện được ra mắt bạn đọc Mỹ vào năm 2008
Và đến cuối năm 2011, cuốn sách này đã chính thức được dịch giả Phan Việt giới
thiệu tại Việt Nam Chuyện chúng ta bắt đầu đã mang đến cho Tobias Wolff giải
thưởng văn học uy tín dành cho tập truyện ngắn hay nhất năm 2008 tại Mỹ Bên cạnh hình thức truyện độc đáo với những mẩu chuyện không xuyên suốt và những kết thúc lại chẳng phải là kết thúc… là một thế giới nghệ thuật đầy thú vị - cái thế giới đã được mã hóa, được xem như ký hiệu của văn bản khổng lồ Việc tiếp cận chính là giải mã nó mà chìa khóa phần nào nằm trong sự soi chiếu bằng lý thuyết phân tâm học cụ thể là vấn đề vô thức Việc nghiên cứu vấn đề vô thức trong
Chuyện chúng ta bắt đầu của Tobias Wolff sẽ không chỉ giúp ngườii đọc có những
hiểu biết sâu sắc hơn về tuyển tập truyện này mà còn nhận diện được những cách tân cũng như sự kế thừa truyền thống độc đáo của Tobias Wolff Trên cơ sở đó,
hướng nghiên cứu cũng góp phần lý giải vì sao Chuyện chúng ta bắt đầu (Our story
begins) lại đem đến cho nhà văn Tobias Wolff thành công lớn đến vậy
2 Lịch sử vấn đề
Tobias Wolff đã và đang là cây bút truyện ngắn xuất sắc, thu hút sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu, đặc biệt là ở Mỹ Tuy nhiên, như đã nói ở trên, tại Việt Nam, nhà văn này và những tác phẩm của ông vẫn chưa được biết đến rộng rãi Điều này trở thành một trong những khó khăn cho chúng tôi khi tìm hiểu lịch sử vấn đề Mặt khác, hạn chế về điều kiện sưu tầm cũng như vốn ngoại ngữ nên chúng tôi mới chỉ tập hợp được một số tài liệu nhất định Song, những tài liệu ấy chính là nguồn định hướng quý báu giúp chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài này
Trang 82.1 Nguồn tài liệu Tiếng Việt
Như đã nói, Tobias Wolff vẫn chưa là một cái tên quen thuộc trong giới nghiên cứu văn học Việt Nam Bởi vậy, nguồn tài liệu tiếng Việt mà chúng tôi sưu
tầm được về Wolff cũng như những gợi mở về vô thức trong tuyển tập Chuyện
chúng ta bắt đầu của ông, cho đến nay, cũng còn rất hạn chế Trước hết, về sáng
tác, có thể thấy rằng, Wolff không chỉ nổi danh ở lĩnh vực truyện ngắn mà ông còn được biết đến với những cuốn tiểu thuyết và hồi ký Tuy nhiên, số lượng các tác phẩm của ông đã được dịch sang Tiếng Việt hiện nay chưa nhiều Chúng mới chỉ
tập trung ở những truyện ngắn nằm trong tuyển tập Chuyện chúng ta bắt đầu (Our
Story Begins, do dịch giả Phan Việt dịch, Nxb Trẻ, 2011) Tập truyện ngắn này cũng là nguyền tài liệu chính mà chúng tôi triệt để vận dụng trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Trong Lời giới thiệu của Chuyện chúng ta bắt đầu, Tobias Wolff đã bày tỏ
quan điểm cũng như mong muốn của mình khi sáng tác: “Và khi tôi viết những tiểu thuyết và truyện ngắn của chính mình, tôi mong muốn mang lại cho độc giả niềm vui giống như niềm vui tôi đã có từ văn học, và cũng để mang lại một hình hài nghệ thuật cho những suy nghĩ và hiểu biết mà tôi có được từ các kinh nghiệm sống” [16] Từ đây, có thể thấy rằng, vốn hiểu biết và những kinh nghiệm từng trải của Tobias Wolff đã góp phần không nhỏ cho nhà văn xây dựng những tác phẩm của mình Đây cũng chính là một hướng tiếp cận mà chúng tôi sẽ vận dụng trong phần nội dung của khóa luận Bên cạnh đó, ông còn hé mở cho người đọc những hiểu biết
về các nhân vật được biểu hiện trong các truyện ngắn của ông Trên cơ sở ấy, người đọc với những khả năng tri nhận của riêng mình, sẽ có những cách cắt nghĩa khác nhau về đời sống, về nhân vật, và tự tìm thấy mình trong những con người, nhân vật
ấy Bằng cách này, truyện ngắn của Tobias Wolff có thể đến với độc giả và cuộc sống hậu hiện đại một cách chân thực hơn, gần gũi hơn
Tiêu biểu là trong bài viết với đề mục Tương lai nằm ngoài mọi sự chờ đợi,
Nguyễn Vĩnh Nguyên đã khẳng định sức hấp dẫn của mỗi truyện ngắn trong
Chuyện chúng ta bắt đầu, đồng thời cũng gợi lên trong mỗi người đọc những ý
Trang 9tưởng sáng tạo riêng: “Khó lòng đọc hết cuốn sách này trong một lúc Vì mỗi truyện
là một dạng thức hư cấu ngắn về một thứ hiện thực hoàn toàn dị biệt Ở đó, người đọc không đóng vai trò tiêu thụ trí tưởng tượng của người sáng tạo, mà chính là kẻ
có thể chủ động mở rất nhiều cánh cửa khác nhau để bước vào trung tâm câu chuyện, làm chủ hư cấu” [12] Trong đó người đọc mới là kẻ làm chủ sự tạo nghĩa, chứ không phải nhà văn Trong khóa luận của mình, chúng tôi cũng đã vận dụng tối
đa tinh thần đó để tạo ra những cách nhìn, cách hiểu khá rộng mở và thú vị cho mỗi câu chuyện của Wolff Ngoài ra, bài viết còn điểm lược một vài thông tin về tiểu sử
và những sáng tác gây tiếng vang trước đó của Tobias Wolff như: Đời của cậu bé
này (This Boy’s Life, 1989), Trong quân đội Phanaoh (In Phanaoh’s Amy, 1994)
Nhưng quan trọng hơn, Nguyễn Vĩnh Nguyên đã đưa ra cho người đọc một triết lý viết truyện ngắn của nhà văn này, trong mối liên hệ từng được bắt gặp ở truyện ngắn của E Hemingway và Raymond Carver, đó là “chủ trương xóa hết mọi dấu viết sắp đặt, trả lại cho những chuyện kể sự tinh khôi và ngẫu nhiên của hiện thực, tôn trong sự dẫn dắt của cái phi lý Hay nói cách khác, ông tiết chế cảm xúc người viết, đồng thời phó mặc câu chuyện cho chính sự vận động của nó, cho trí tưởng tượng của người đọc tùy nghi dẫn dắt” [12] Đây là một nhận định cho thấy những cây bút đi trước, đặc biệt là Hemingway và Raymond Carver đã có một sức ảnh hưởng không nhỏ trong nghệ thuật viết truyện ngắn của Tobias Wolff Dường như, trong mỗi câu chuyện của nhà văn này đều có một “tảng băng trôi”, kích thích trí tò
mò và khát khao chiếm lĩnh từ độc giả Và như thế, tính chất liên văn bản của tập truyện cũng sẽ được mở rộng ra trên nhiều chiều kích khác nhau, qua những nhìn nhận và khám phá khác nhau của người đọc
Trong những trang đầu của cuốn Chuyện chúng ta bắt đầu, Phan Việt cũng
đã dịch và đưa ra những lời nhận định của một số tạp chí nước ngoài về tuyển tập
này Theo mục điểm sách của Thời báo Los Angeles, Chuyện chúng ta bắt đầu (
Our Story Begins) là “một cuốn sách nên có trên giá sách của mọi người, bên cạnh Hemingway, Salinger, Flannery O’Connor, Raymond Carver, Gabriel Garci
Marquez, William Trevor, và Alice Munro,…” Còn mục điểm sách của tờ Thời
Trang 10báo New York Times thì lại viết: “Cuốn sách này tập hợp một số truyện ngắn hay
nhất của Tobias Wolff và phản ánh tài năng của ông với thể loại này Trong những câu chuyện về các cặp vợ chồng, về những đứa trẻ giàu và nghèo, về những người lính và những người mẹ…, giọng văn của Wolff luôn chân thực, ông đón nhận những kinh nghiệm của đời sống Mỹ bằng sự thấu suốt và bao dung” [16,6] Bên
cạnh đó, Phạn Việt còn dẫn ra những nhận định của The New York Sun,
Entertainmrnt Weekly, Chicago Sun- Times Nhìn chung, tất cả đều nhằm tập
chung khẳng định giá trị và những thành công của tập truyện ngắn này, đồng thời cũng khẳng định tài năng “Bậc thầy về truyện ngắn” (The New York Sun) của nhà văn Tobias Wolff
Bài dịch phỏng vấn nhà văn Tobias Wolff do Phan Việt thực hiện đăng trên
trang điện tử www.tuoitre.vn cũng gợi mở nhiều điều thú vị về con người, tư tưởng,
quan niệm sáng tác của nhà văn Tobias Wolff Ông cho rằng, bất cứ một nhà văn trẻ nào trong quá trình trưởng thành cũng đều cần có nhu cầu tìm kiếm một người cha hay người mẹ nghệ thuật nào đó, và sau đó, cũng như là đối với cha mẹ đẻ của mình, họ tách khỏi cha mẹ nghệ thuật Họ có nhu cầu chịu ảnh hưởng và chối bỏ ảnh hưởng từ người khác Về nhiều mặt, sự trưởng thành của một nhà văn cũng giống như sự trưởng thành của một con người, anh ta phải tìm kiếm thần tượng, tìm kiếm chỗ đứng của mình trong thế giới, phải tìm cách để viết, để bày tỏ bản thân, phải tìm ra giọng của chính mình; nó cũng giống như thử quần áo vậy, anh ta sẽ nhận ra, có những quần áo mặc vào không hợp với mình, thậm chí làm mình trông hết sức lố bịch, vậy là phải tìm cái hợp với mình” [14] Với quan niệm này, Tobias Wolff đã ngầm khẳng định rằng, bất cứ tác phẩm văn học của nhà văn nào cũng đều được nảy sinh và phát triển trong cái nôi nghệ thuật của nó, có mối liên hệ, sự ảnh hưởng qua lại với những văn bản sáng tác của những nhà văn khác Song, trên cái nền ấy, chúng sẽ vươn lên thể hiện những ấn tượng riêng, thành công riêng không lẫn vào đâu mà chỉ người “cha đẻ” tinh thần của chúng mới tạo ra được
2.2 Nguồn tài liệu tiếng anh
Nguồn tài liệu tiếng anh của Tobias Wolff và Our Story Begins (Chuyện
chúng ta bắt đầu) mà chúng tôi sưu tầm được chủ yếu là những bài viết, bài nghiên
Trang 11cứu, tiểu luận được đăng tải trên những trang web nước ngoài Riêng ở trang
www.nvtimes.com chúng tôi đã thống kê được đến gần ba mươi bài viết về Wolff và
những tác phẩm của ông Tuy nhiên để phục vụ cho nội dung đề tài Vô thức trong
Chuyện chúng ta bắt đầu của Tobias Wolff, chúng tôi chỉ tập trung quan tâm đến
các bài viết có liên quan hay có tính gợi mở hướng nghiên cứu của khóa luận
Nhìn chung, tất cả những tài liệu chính bằng tiếng Việt và tiếng Anh mà chúng tôi thu thập được trên đây đều ít nhiều xoay quanh những vấn đề nổi bật
trong Chuyện chúng ta bắt đầu của Tobias Wolff Tuy nhiên, chưa có bài viết, bài
nghiên cứu nào đề cập (một cách có hệ thống) về tập truyện này trong vấn đề vô thức Mặc dù vậy, với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé vào công cuộc nghiên cứu Tobias Wolff ở nước nhà, những tài liệu quý giá, được tìm kiếm và chắp nhặt từ nhiều nguồn khác nhau, cả trong nước và ngoài nước ấy sẽ trở thành những
định hướng gợi mở, dẫn đường cho chúng tôi thực hiện đề tài: Vô thức trong
“Chuyện chúng ta bắt đầu” của Tobias Wolff
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện khóa luận, chúng tôi tập trung nghiên cứu đối tượng là tuyển tập
truyện ngắn Chuyện chúng ta bắt đầu (Our Story Begins), Phan Việt dịch (Nhà xuất
bản Trẻ, 2011)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu ở vấn đề Vô Thức trong Chuyện
chúng ta bắt đầu của Tobias Wolff, được tập trung vào hai nội dung chính: Phân tâm học với thuyết vô thức và Biểu hiện của vô thức trong “Chuyện chúng ta bắt đầu” (giấc mơ xa rời hiện thực, bản năng tính dục và mặc cảm thân phận).
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
_ Khái quát thuyết vô thức của phân tâm học, vận dụng vào tìm hiểu cấu trúc tâm lý và vô thức trong tập truyện ngắn “Chuyện chúng ta bắt đầu” của Tobias Wolff Nêu được những điểm cơ bản về dạng thức biểu hiện và bản chất của vô thức, chỉ ra được quan niệm con người của nhà văn thông qua tìm hiểu vô thức nhân
Trang 12vật nói riêng và thuyết vô thức nói chung
_ Phân tích những yếu tố độc đáo trong bút pháp thể hiện vô thức của Tobias Wolff trên các phương diện: ngôn ngữ (đối thoại và độc thoại), các thủ pháp nghệ thuật Qua đó, kết quả của khóa luận hi vọng sẽ ít nhiều góp phần khẳng định tên tuổi, những giá trị nghệ thuật cũng như thành công lớn trong sáng tác của Tobias Wolff
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp tổng hợp tư liệu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
- Phương pháp phân tích tác phẩm và phân tích nhân vật
- Phương pháp thống kê, so sánh
6 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận , Thư mục tài liệu tham khảo, khóa luận được
kết cấu thành 2 chương như sau:
Chương 1: Phân tâm học với thuyết vô thức
Chương 2: Biểu hiện của vô thức trong Chuyện chúng ta bắt đầu
Trang 13NỘI DUNG Chương 1 PHÂN TÂM HỌC VỚI THUYẾT VÔ THỨC
1.1 Phân tâm học và S.Freud
1.1.1 Bối cảnh ra đời của phân tâm học
Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX là lúc chủ nghĩa tư bản đi vào giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, các mâu thuẫn trong xã hội ngày càng sâu sắc Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chạy theo lợi nhuận tối đa đã đẩy con người vào tình trạng bị tha hóa cùng cực Những tệ nạn xã hội cùng với sự tàn phá khủng khiếp của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) cùng với nguy cơ nổ ra chiến tranh thế giới thứ 2 (1939 -1945) đã đẩy con người vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc trong đời sống tinh thần Gây ra các căn bệnh tinh thần mà y học truyền thống không thể giải quyết Thời kỳ đó người ta thường quan niệm, nguồn gốc chủ yếu của các căn bệnh thuộc loại tinh thần là do tổn thương của hệ thần kinh với tư cách là một cơ quan phủ tạng như các cơ quan phủ tạng khác gây ra Với loại bệnh này thầy thuốc phải dùng thuốc hay phẫu thuật khi cần thiết với hi vọng chữa trị có hiệu quả Trong trường hợp này người thầy thuốc dù có coi trọng yếu tố tinh thần đến đâu cũng không thể thay thế hoàn toàn thuốc Với hiểu biết thời đó, người ta chưa biết đến một loại bệnh có nhiều triệu chứng như bệnh thần kinh mà ngày nay chính thức được gọi là những loại bệnh tâm thần Đó là những loại bệnh không phải do những tổn thương của hệ thần kinh với tư cách là một cơ quan phủ tạng là thủ phạm chính gây ra mà là do những hụt hẫng, những cú sốc về tinh thần gây ra Với loại bệnh này việc chữa trị theo phương pháp cũ là không có tác dụng hoặc nếu có thì cũng chỉ là tạm thời, không triệt để Thực trạng này nhắc nhở mọi người phải tìm căn nguyên bệnh tâm thần ở phương diện tâm lý, do đó nảy sinh việc nghiên cứu tâm lý học biến thái mà hai người thầy của Freud là J.M.Charcot và J.Breuer là những người nghiên cứu nổi tiếng Đó cũng là bối cảnh cho Freud sáng lập ra phương pháp phân tâm học (tức phân tích tâm lý), chú trọng đến phân tích đời sống nội tâm của con người Từ đó, căn bệnh tâm thần chỉ được chữa trị có hiệu quả và triệt để bằng các tác động tinh thần, các thủ pháp chữa trị bằng thuốc và phẫu thuật chỉ là sự hỗ trợ khi cần thiết mà thôi
Trang 14Đặc biệt, phân tâm học ra đời còn chịu ảnh hưởng không nhỏ của bầu không khí ở Viên nơi Freud sống và làm việc vào cuối thế kỷ XIX Châu Âu lúc này thực
tế tồn tại hai xã hội đầy mâu thuẫn và căng thẳng Một mặt, khoa học phát triển đã làm mất sức mạnh của đạo đức, tôn giáo truyền thống, biến Châu Âu thành xã hội
“duy lý”, thói đạo đức giả trở thành “mốt” của thời đại Kinh tế phát triển nhưng đạo đức, văn hóa thì suy đồi Mặt khác, một xã hội sục sôi những nhu cầu sinh lý cơ bản bị thói đạo đức giả và tôn giáo chèn ép đang được xã hội quan tâm với thái độ khác nhau, nó nổi lên như một vấn đề quan trọng trong đời sống tinh thần suốt cả cuộc đời của mỗi người như vấn đề vô thức, vấn đề tính dục và các nhu cầu sinh học khác được biểu hiện trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong các ấn phẩm khoa học Trước khi ra đời học thuyết Freud, đã có hàng loạt công trình về bệnh học tính dục, tính dục trẻ em cũng như ảnh hưởng của dồn nén ham muốn tính dục đến sức khỏe tinh thần và thể chất của con người Freud không phải người đầu tiên nói đến vấn đề vô thức và tính dục, phần lớn những nội dung này đã được đồng nghiệp
đề cập ở nhiều mức độ khác nhau Chính giới chuyên môn và dư luận xã hội đã chuẩn bị cho việc nhận thức vấn đề này làm tư tưởng của Freud ra đời càng nhận được sự hưởng ứng to lớn
Phân tâm học đã tác động lớn đến tư duy thế giới và góp phần “định dạng lại nhiều khía cạnh trong xu thế xã hội, văn hóa và tri thức của thế kỷ 20” [13,48] Nhận định sức mạnh của học thuyết này, Barry D.Smith và Harold J.Vetter, trong cuốn
Các học thuyết về nhân cách viết: “Xây dựng thuyết phân tâm học, S.Freud đã xây
nên một cây cầu vĩ đại, một sự khải hoàn của kiến trúc trí tuệ, nó bắc qua vực thẳm giữa triết học và tâm lý học, nối liền tâm trí và thể xác con người và thúc đẩy sự tiến
bộ từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX Những xà cầu đồ sộ của cây cầu do Freud xây thừa đủ hỗ trợ những mặt quan trọng của vô số các ngành học, đủ rộng để cho phép xây dựng vô số những học thuyết “vụn vặt” mà không làm trở ngại đáng kể đến sự phát triển tiến bộ của đường giao thông huyết mạch học thuyết trọng yếu, và đủ mạnh để chịu nôit sức đè từ các lời phê bình” [13,108]
Như vậy, thuyết phân tâm học do S.Freud sáng tạo không chỉ có giá trị khám phá vĩ đại, sự ảnh hưởng sâu sắc mà còn là nền móng cho nhiều ngành khoa học trí
Trang 15tuệ Bên cạnh đó, phân tâm học còn thực sự là “một thuyết khoa học đầu tiên về hành vi con người, thể hiện cái nhìn tổng quan nhận thức về bản chất con người”,
“giá trị và cũng là thành công vĩ đại của học thuyết nằm trong quan niệm đầy đủ và
ý nghĩa của Freud khi xem con người như là một tạo vật mà cùng lúc vừa thô sơ, vừa phức tạp, vừa bốc đồng, vừa duy lý, ích kỷ và quảng đại, thoái hóa và sáng tạo, con và người” [13,110]
1.1.2 S.Freud – cha đẻ của phân tâm học
S.Freud sinh năm 1856 tại Freiburg (Moravia, nay là Pribor, Cộng hòa Czech) trong một gia đình Do Thái, vốn là bác sĩ trị bệnh tâm thần Nhận thấy sự hạn chế của phương pháp thôi miên trong việc điều trị bệnh thần kinh, Freud đã bỏ nhiều công sức nghiên cứu nhằm tìm ra một phương pháp hiệu quả hơn Trong quá trình tìm hiểu và quan sát các bệnh nhân, ông đã tiến hành phân chia bệnh thần kinh
ra làm hai loại: loại thông thường do các rối loạn sinh lí, tổn thương cơ cấu hệ thần kinh, có thể chữa trị bằng cách châm cứu, dùng thuốc điều trị, bấm huyệt và loại bệnh có nguyên nhân từ tâm lí, thường liên quan đến dục tính Theo ông, thôi miên chỉ có thể chữa cho những bệnh nhân bị tổn thương cơ cấu thần kinh mà ít có tác dụng đối với bệnh nhân bị tâm thần do tâm lí Kết hợp nghiên cứu tâm sinh lí các bệnh nhân, Freud đã chia ra ba thời kỳ phát triển tâm sinh học của con người là: sinh lí trẻ con (từ lúc mới sinh đến 5 tuổi), thời kì tiềm ẩn và thời kì phát dục (bắt đầu từ tuổi thanh xuân và mở rộng suốt tuổi trưởng thành) Ông cho rằng những bệnh nhân bị nhiễu tâm (bệnh tâm thần do rối loạn nhân cách dẫn đến Bệnh nhân luôn sống trong sự kinh sợ, lo âu, thất vọng, ám ảnh, thúc ép và chứng cuồng loạn) xuất phát từ những gì trải qua ban đầu thuở ấu thơ, phát triển trong một thời gian dài và mọc rễ sâu trong nội tâm người bệnh Chủ yếu là do bản năng tính dục mạnh
mẽ bị ám ảnh và ức chế không được giải tỏa Ông đã thay phương pháp thôi miên bằng phương pháp liên tưởng tự do, cho phép bệnh nhân trình bày các ý nghĩ trong trạng thái thư giãn tỉnh táo và ông thông giải các ẩn ức thời thơ ấu, các giấc mộng
để giúp bệnh nhân nhận biết một cách có ý thức các tình huống bị lãng quên, từ đó
bộc lộ nguyên nhân gây bệnh Danh xưng psychoanalyse ban đầu là do Freud đặt ra
Trang 16thực chất là để chỉ một hệ thống tâm thần bệnh học cùng cách điều trị để đặc biệt ứng xử với bệnh rối loạn nhân cách chứ chưa có ý nghĩa là một thuyết như sự phát triển về sau
Như một hệ quả và cũng là sự bù đắp công sức cho S.Freud, quá trình phân tích, nghiên cứu tâm lý và chữa trị cho bệnh nhân tâm thần đã giúp ông nhận ra hiện tượng vô thức và tầm quan trọng của nó đói với sự phát triển của nhân cách Ông trở thành người đầu tiên đưa vô thức vào làm thành tố trung tâm của nhân cách Trước kia, người ta tự tin rằng con người có thể dùng ý thức để quyết định hành vi, hoạt động của chính mình Nhưng Freud đã lật ngược vấn đề, xúc phạm lòng tự kiêu của nhân loại bằng cách chỉ ra vai trò quyết định của vô thức đối với hành vi
và tin rằng những xung đột bản năng chịu trách nhiệm tối thượng cho toàn bộ những hành động Dưới ánh sáng của thuyết vô thức của Freud, con người từ ngỡ ngàng đến bàng hoàng, giật mình nhìn lại thân phận để rồi chợt nhận ra cái tôi không phải là chủ nhân của chính ngôi nhà của mình, không phải được tự do hành động mà là bị hành động Sau này cùng với sự nghiên cứu về tính dục, nhân cách, giấc mơ,… Khi được nhiều người ủng hộ Freud đã lập ra học thuyết phân tâm học với tính cách là một triết học về tâm lý, nhân cách người, một khoa học nghiên cứu
về vô thức
1.2 Phân tâm học nhƣ là một lý thuyết về vô thức
1.2.1 Những khái niệm và định đề cơ bản
Trước Freud, khái niệm vô thức đã được bàn luận khá rộng rãi trong giới trí thức Tuy nhiện chỉ đến những công trình của S.Freud, những vấn đề vô thức mới thực sự trở thành một học thuyết mang tính hệ thống chặt chẽ và có ảnh hưởng sâu sắc nhất Đồng thời ông cũng là người đầu tiên hoàn thiện khái niệm vô thức, nghiên cứu tỉ mỉ vai trò của vô thức và đưa nó trở thành nhân tố trung tâm trong cấu trúc tâm lý con người
S.Freud không phải người đầu tiên nhận thức được sự tồn tại của vô thức Rất nhiều triết gia, nhà tâm lý học trước Freud đã nhận ra sự tồn tại của nó
Thế kỷ 17, La Rochefoucauld nhận định: “Con người tưởng mình tự do hành động trong lúc thật ra mình bị bó buộc phải hành động” [8,29]
Trang 17Thế kỷ 19, Schaupenhauer nhận định: “Ở mỗi người có ẩn sâu một ý chí mù quáng và xuất phát căn nguyên của sự sống” [8,30]
Và đến Carl G.Carus trong cuốn Tâm thần còn nhấn mạnh hơn sự tồn tại của
vô thức và chức năng giới tính của nó cũng như một số cách vô thức bộc lộ trong các giấc mơ Theo ông, chìa khóa cho sự hiểu biết về đặc tính của cuộc sống có nhận thức nằm ẩn dưới vô thức
Theo quan điểm Mác xít, vô thức là một trong các yếu tố thuộc kết cấu ý thức khi tiếp cận ý thức theo chiều sâu của nội tâm con người nhằm nhận thức về chính mình khác với cách tiếp cận với các nhân tố giúp con người nhận thức thế giới bên ngoài Quan điểm này không phủ nhận sự tồn tại khách quan tất yếu của vô thức nhưng coi vô thức như là một yếu tố thuộc kết cấu ý thức, được điều khiển chung bởi tổ chức vật chất cao đó là bộ óc của con người Đều có chung nguồn gốc
là thế giới khách quan nhưng vô thức có những đặc điểm, cơ chế riêng không đồng nhất với ý thức Các biểu hiện của vô thức có chức năng “giải tỏa những ức chế trong hoạt động thần kinh vượt ngưỡng”, “góp phần lặp lại thế cân bằng trong hoạt động tinh thần của con người mà không dẫn tới trạng thái ức chế quá mức”[3,176]
Vô thức mặc dù có những biểu hiện rất phong phú, đa dạng, thậm chí là thường xuyên và cần thiết trong đời sống nhưng nó không thể thay thế ý thức, càng không thể đóng vai trò là yếu tố chỉ đạo, quyết định hành vi con người bởi mọi hành vi của con người đều cần sự điều khiển có tổ chức và chặt chẽ của ý thức Sự xác định nguồn gốc “vô thức là gì?” chính là điểm khác biệt về chất trong quan niệm về vô thức của Freud với các nhà Mác xít trước đó Nếu như các nhà Mác xít cho rằng nguồn gốc xã hội trong đó có nguồn gốc tự nhiên là yếu tố không thể thiếu nhưng chưa đủ mà điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của ý thức là nguồn gốc xã hội bao gồm: lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội Như vậy, tựu trung lại thì ý thức nói chung và vô thức nói riêng đều xuất phát từ thế giới khách quan, là sự phản ánh thế giới khách quan theo những điều kiện, khả năng và nhu cầu của chủ thể phản ánh là con người thì đến Freud lại cho rằng nguồn gốc của vô thức là do các xung năng tính dục (libido) sinh ra, vô thức có nguồn gốc hoàn toàn do bản năng sinh học của con người quy định
Trang 18Vào giai đoạn bắt đầu của cuộc nghiên cứu, Freud cho rằng nguồn gốc của
vô thức là do “xung năng tính dục” thúc đẩy và ông quy về một lực lượng duy nhất là năng lượng tính dục (libido) - xung năng quan trọng nhất trong số những bản năng Tuy nhiên theo Freud, libido không phải là nhu cầu tình dục theo tư duy truyền thống gắn với việc sinh sản và cơ quan sinh dục mà Freud mở rộng khái niệm libido là những khoái lạc được tạo ra do nhu cầu tính dục được thỏa mãn (khi đói thì được ăn, khát thì được uống…) Quan niệm này rất gần với quan niệm “dục vọng” trong Phật giáo, khi Đức Phật cho rằng “dục vọng” là những thứ có thể là tiền bạc, danh vọng và
cả những thứ tưởng chừng lặt vặt như bát cơm, manh áo khi toàn bộ trí lực và niềm vui sướng của chúng tập trung vào nó Năng lực libido khiến chúng ta sống, hành động, hưởng thụ, di truyền nòi giống…tổng quát hơn là hoàn chỉnh sự thăng bằng bên trong cơ thể Freud gọi đó là “nguyên tắc khoái lạc” của năng lực tính dục, thúc đẩy ta thỏa mãn thường xuyên nhu cầu của chúng ta nhằm tránh những căng thẳng, đau dớn, luôn luôn đưa tới khoái lạc Tất cả các bản năng làm phát sinh “nguyên tắc khoái lạc” đó, Freud gọi là “bản năng sống” - là bản năng duy trì sự tồn tại sự sống, là động lực cơ bản và duy nhất của vô thức cũng như mọi hoạt động tinh thần khác Nhưng không phải lúc nào “nguyên tắc khoái lạc” cũng được thực hiện; trong điều kiện hoàn cảnh không cho phép, các nhu cầu thỏa mãn ấy phải bị trì hoãn lại cho đến khi tìm đươc một hoàn cảnh thích hợp để đảm bảo không làm ảnh hưởng đến các hoạt động xã hội khác Đó chính là “nguyên tắc thực tại” của “năng lực tính dục” Các nguyên tắc đan xen lẫn nhau giữ trạng thái ổn định cân bằng cho đời sống tâm hồn con người Một trong những điều đầu tiên Freud nhận thấy là có một xu hướng thường xuyên muốn kéo dài, muốn kéo dài việc đạt tới cực khoái càng lâu càng tốt như là: các giấc mơ lặp đi lặp lại, trẻ em muốn nghe mãi những câu chuyện cổ tích
mà chúng đã thuộc từ lâu, người già thích kể lại những kỷ niệm trong quá khứ,… Từ
đó “nguyên tắc cưỡng bức lặp lại” ra đời, nó là nhu cầu trở về quá khứ hay lặp lại những trạng thái đã từng xảy ra là các trạng thái mà ta đạt được khoái cảm Đến khi
sự lặp lại đó không còn gây hứng thú như ban đầu nữa thì cũng là lúc Freud rút ra khái niệm “bản năng chết” trên nền tảng của bản năng tự hủy hoại “Bản năng chết”
Trang 19được xem như là xung lực tàn phá có ở tất cả mọi người nhằm khôi phục lại trạng thái trước đó Freud cho rằng bản năng sống mạnh mẽ hơn bản năng chết nên nó giúp chúng ta tồn tại chứ không phải là tự phá hủy
Từ những lý luận của mình S.Freud đã đề xướng mô hình họa đồ của nhân cách làm tiền đề giải thích cho những tư tưởng, quan niệm của ông về vô thức Mô hình đầu tiên gồm ba tầng: vô thức, tiềm thức và ý thức Về sau, nhận thấy chưa hợp
lý, Freud đã bổ sung và điều chỉnh lại mô hình cấu tạo nhân cách của mình Vẫn là kết cấu ba tầng nhưng được hình dung bằng các khái niệm khác, trực diện với con người chứ không chỉ đơn thuần là trạng thái tâm lý: di ngã, bản ngã và siêu ngã
S.Freud hình dung thế giới tinh thần con người giống như một tảng băng Trong đó ý thức chỉ là phần nhỏ nhô lên khỏi mặt nước còn vô thức chính là phần lớn chìm sâu khuất trong lòng nước Ý thức bao gồm sự cảm giác, tri giác, tư duy,
sự đánh giá…là hệ thống đối diện với thế giới bên ngoài Nó không ổn định hay nói cách khác là thay đổi từ thời điểm này đến thời điểm khác Trong khi đó, vô thức chi phối hành vi con người qua những ham muốn bản năng, những ham muốn này chịu trách nhiệm cho toàn bộ những hành vi quan trọng của con người Giữa ý thức
và vô thức có một miền trung gian là tiền thức Miền này chứa đựng những suy nghĩ , ký ức và hiểu biết của con người về các đối tượng thuộc thế giới bên ngoài và dễ dàng trở thành nhận thức khi chúng trở thành trung tâm của sự chú ý Ba bộ phận này không hoạt động độc lập mà có sự tương tác, chuyển hóa lẫn nhau trong hoạt động tâm lý của con người
Trang 20(Sơ đồ cấu trúc nhân cách theo quan niệm của S.FREUD)
S.Freud cho rằng nội dung của vô thức là những xung động bản năng mà lõi
của nó là những ham muốn về tình dục Mà bản năng là “một cấu trúc cực kỳ
nguyên sơ và không có tổ chức, vô tư, vô luận và bốc đồng” [13,147] Về cơ bản nó
là sự kích thích tâm lý bẩm sinh, đáp ứng cho nguồn kích hoạt vật lý nào đó trong
cơ thể Những kích thích thân xác bắt nguồn từ tình trạng tạm thời hoặc định kỳ nào
Động cơ và nhu cầu
Tư duy
Bản ngã Quá trình thứ hai Nguyên lí thực tại
Xung động bản năng Nguyên lí khoái lạc Quá trình căn bản
Sự lo âu vô thức Bản năng giới tính Bản năng gây hấn
Ham muốn bản năng Vô thức
Trang 21đó của mô tế bào, được gọi là một nhu cầu, tạo nên động cơ cung cấp lực đẩy cho nhân cách và hành vi của con người Bản năng là kho chứa những động cơ, ước nguyện, ham muốn tạo thành nguyên nhân chính giữ quyền quyết định tối thượng cho hành động của con người
Trong con người luôn tồn tại hai loại bản năng có sức mạnh ngang nhau và có
xu hướng chống đối nhau: một lực đẩy thúc đẩy ta hành động, sống và chinh phục cuộc sống; một lực kéo thúc ép chúng ta buông xuôi, tan biến và chết Sự tương tác mâu thuẫn này dẫn đến tính chất “lưỡng năng tình cảm” trong cảm xúc con người
Do đó, cơ chế hoạt động của vô thức liên quan chặt chẽ đến tính dục và được đặt trong mối quan hệ với bản ngã và siêu ngã Những bản năng về tính dục hoạt động trên nền tảng nguyên lý khoái lạc, luôn đòi hỏi có sự thỏa mãn ngay lập tức những ham muốn trỗi dậy Từ đó con người thường có những tác động phản ứng để đáp lại Hoạt động của con người hướng đến đối tượng thỏa mãn ở thế giới bên ngoài dưới sự chi phối của nguyên tắc khoái lạc có tính chất bốc đồng, thiếu suy xét, vì vậy có thể đặt con người vào những tình huống nguy hiểm S.Freud quan niệm, những xung năng này không hoạt động độc lập mà có sự tương tác với siêu ngã và bản ngã Xung động bản năng về tính dục để được thỏa mãn thì phải chiến đấu với thực tế, với tính hợp lý của bản ngã và tính luận lý của siêu ngã
Mối quan hệ giữa xung động bản năng (di ngã), siêu ngã và bản ngã được minh họa bằng sơ đồ như sau:
Trong tâm lý con người, hai cực bản năng và siêu ngã luôn luôn kéo bản ngã về phía nó Ở các nhân nào siêu ngã mạnh hơn thì nó sẽ kéo bản ngã về phía nó và vì thế con người sống tự chủ, biết kiềm chế mình trong những ham muốn, sống nghị lực, ý chí, tuân theo chuẩn mực đạo đức xã hội Còn ở cá nhân nào bản năng mạnh hơn thì
nó sẽ kéo bản ngã về phía nó và bởi thế con người chỉ hành động theo bản năng, hoàn toàn buông thả theo những dục vọng, bị ham muốn chi phối mà không thể điều khiển
Bản ngã Xung động
bản năng
Siêu ngã
Trang 22được bản thân Nhưng trong suốt cuộc đời con người, không phải bản năng hay siêu ngã chiếm ưu thế trọn vẹn, hoàn toàn mà có sự dao động trong những khoảng thời gian nhất định, từng thời điểm cụ thể, từng giai đoạn phát triển tâm sinh lý.Ở một con người có phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh cũng không thể tránh khỏi trong cuộc đời mình những lúc không tự chủ được mà chạy theo những cám dỗ Đó cũng là
do sự chi phối của bản năng nhất thời Trên thực tế thì những tiến trình của xung đột bản năng bao giờ cũng có khuynh hướng thoát khỏi sự kiềm tỏa của siêu ngã và ý thức Và những ham muốn không được giải tỏa sẽ bị dồn nén, khi không được giải thoát thì nó sẽ trở thành nguyên nhân gây bệnh tâm thần Mà S.Freud cho rằng có hai con đường cơ bản để giải thoát những ham muốn tính dục mà sẽ không vi phạm đạo đức xã hội, đó là: giấc mơ và sự sáng tạo nghệ thuật
Đối với S.Freud vấn đề vô thức trong kết cấu ý thức được nghiên cứu một cách có hệ thống Không chỉ thông qua việc xây dựng các “mô hình kiến trúc” cho
sự tồn tại của các yếu tố mà ông còn nghiên cứu về chiều sâu các cơ chế, nguồn gốc của các yếu tố đó Mối quan hệ giữa vô thức và ý thức được Freud xây dựng và dần dần hoàn thiện theo xu hướng nghiên cứu ngày càng mở rộng và phức tạp của thuyết phân tâm học Cho thấy Freud luôn mong muốn hoàn thiện hơn nữa lý thuyết của mình, đó là tinh thần khoa học nghiêm túc của một nhà khoa học chânchính Thuyết vô thức của Freud sau này cũng được những học trò xuất sắc cũng ông phát triển nhưng theo những hướng mới
Trong đó phải kể đến K.Jung (1875 – 1961), người mà S.Freud cho rằng sẽ kế tiếp sự nghiệp của ông Nhưng cũng chính những nội dung về vô thức và nguồn gốc của vô thức mà K.Jung đã đoạn tuyệt với thầy mình để đưa ra một lý thuyết riêng
mà ở đó vai trò của vô thức đã khác hẳn với những gì mà thầy ông đã nghiên cứu Xét về nguồn gốc của vô thức, nếu S.Freud cho rằng “xung lực tính dục” (libido, tức nguồn năng lượng do tính dục sinh ra) là xung năng chủ yếu thúc đẩy vô thức thì K.Jung lại mở rộng hơn nữa khái niệm libido khi cho rằng libido là một loại sức sống phổ biến, biểu hiện sự sinh trưởng, sinh sôi và ở các hoạt động khác nữa chứ không chỉ là tính dục đơn thuần như S.Freud quan niệm Với K.Jung, libido hầu như
Trang 23mất đi hàm nghĩa tính dục Cũng từ nguồn gốc này của vô thức, K.Jung bổ sung cho
vô thức của S.Freud (mà K.Jung gọi là “vô thức cá nhân”) thêm một khía cạnh khác
là “vô thức tập thể” Vì K.Jung cho rằng “vô thức cá nhân” của S.Freud tồn tại nhược điểm lớn là đã coi vô thức quá nhỏ hẹp Từ đó “vô thức tập thể là sự phát triển rộng hơn và là nền tảng cho “vô thức cá nhân” “Vô thức cá nhân” là những gì
bị lãng quên, áp chế và được cảm thụ cá nhân còn “vô thức tập thể” còn bao gồm mọi cơ năng tinh thần mang tính phổ biến, được bảo lưu bởi sự di truyền, bao hàm những kinh nghiệm từ quá khứ tích lũy mà thành K.Jung đã có đóng góp nhất định vào vấn đề vô thức nhưng cũng đồng thời lại làm cường điệu hơn nữa vai trò của vô thức trong kết cấu ý thức khi mở rộng hơn nữa phạm vi của vô thức so với S.Freud Cũng là học trò của S.Freud, A.Adler (1870 – 1937) lại tiếp cận vô thức của S.Freud theo một hướng khác K.Jung Nếu K.Jung phân tích vô thức để tìm ra “vô thức tập thể” thì A.Adler lại đưa ra lý thuyết về “tâm lý học cá nhân” A.Adler đối lập với Freud khi Freud quá nhấn mạnh tính dục trong vô thức còn A.Adler lại tối thiểu hóa vai trò của tính dục cùng với quan niệm hành vi của con người được xác định trước hết không phải bởi yếu tố sinh học mà bởi yếu tố xã hội Theo đó, A.Adler tập trung vào ý thức chứ không phải là vô thức Ông cho rằng hành vi của con người được hình thành dựa vào mục đích của chúng ta trong tương lai Chúng
ta hoàn toàn có khả năng tạo lập một cách có ý thức số phận của mình chứ không phải phụ thuộc vào quá khứ (những uẩn khúc chưa được giải quyết thời thơ ấu) như Freud quan niệm A.Adler cho rằng động lực thức đẩy sự phát triển của con người không phải là “tính dục” như S.Freud quan niệm mà là do “mặc cảm tự ti” hay nói cách khác chính là những khuyết điểm cơ thể, thể chất, tâm lý xã hội Từ những mặc cảm tự ti này mỗi chúng ta sẽ tìm ra một phương thức, phương pháp, hình thức đặc trưng nào đó để “bù lại” những yếu kém thực sự của bản thân mà ông gọi là mặc cảm tự tôn
Những quan điểm của K.Jung và A.Adler thể hiện sự li khai với quan điểm của S.Freud đã cho thấy những cách nhìn khác nhau về vô thức cũng như vai trò của
nó đối với ý thức Quan điểm của A.Adler có phần khả thi hơn khi đã về cao vai trò
Trang 24của yếu tố xã hội nhưng cũng như K.Jung, ông không tách khỏi được lý thuyết về phân tích tâm lý thuần túy mà S.Freud đã xây dựng, về bản chất vẫn là sự công nhận một cách “vô thức” vai trò của Vô thức trong đời sống tinh thần của của con người
2.2.2 Ý nghĩa của vô thức trong khoa học và đời sống
Xét về mặt bản chất, vô thức cũng là một trong các yếu tố thuộc tâm lý con người giống như ý thức Tuy nhiên qua những nghiên cứu của Freud,vô thức hiện lên như một yếu tố có các đặc điểm khác biệt cơ bản so với ý thức, thể hiện như sau: Tính nguyên thủy: vô thức là nhân tố cấp thấp nhất, giản đơn nhất, cơ bản nhất của tâm lý cho dù xét từ hàng loạt sự phát triển của hệ thống nhân loại hay là sự phát dục tâm lý cá nhân, nó đều là điểm xuất phát của tâm lý con người Cái nó tuân theo là “phép tắc suy nghĩ vốn có” của thời kỳ trẻ thơ và thời kỳ nguyên thủy Vì vậy, các phương diện như cấu tạo, cơ chế và công năng của nó đều không hoàn bị lắm Trong khi đó ý thức chỉ được thể hiện khi con người bắt đầu có những tiếp xúc đầu tiên với thế giới bên ngoài và tri giác về thế giới đó, ý thức không mang tính di truyền nguyên thủy
Tính chủ động: chủ yếu thể hiện ở chỗ nó luôn luôn muốn được thực hiện, nó không nằm yên ở vị trí bị áp chế mà luôn tìm cơ hội để biểu hiện ra trong đời sống hiện thực Chính vì chịu sự áp chế cực lớn nên nó có sức mạnh trưởng thành vươn lên rất mạnh Tính chủ động và sức sống của nó được quyết định bởi tính nguyên thủy Bất cứ sự vật nào càng nằm ở giai đoạn nguyên thủy càng có sức sống Cũng theo quan điểm phân tâm học, Freud cho rằng bên cạnh tính chủ động của vô thức là tính
bị động của ý thức Ý thức chịu sự điều khiẻn, nhào nặn của vô thức Tuy nhiên, bản chất ý thức không chịu sự điều khiển của vô thức mà nó mang trong mình tính chủ động, sáng tạo vô cùng mạnh mẽ Nó được quyết định bởi khả năng tác động vào thế giưới khách quan, khám phá, làm chủ và thay đổi thế giới của con người
Tính phi logic: vô thức là tâm lý nguyên thủy nhất, do chưa có quan hệ qua lại toàn diện, thành thực với thế giới vật chất khách quan hoặc đời sống xã hội, cho nên
nó được định sẵn mang một dấu ấn có tính phi logic Sau khi xuất hiện, nó không chú ý gì đến tất cả, chỉ tìm cho được tự ngã đề thực hiện, tạo cho con người một ấn
Trang 25tượng hoàn toàn bất chấp đạo lý, thiếu tính liên quan nhân quả Điều này rõ ràng trái ngược với ý thức không chỉ trong quan điểm khách quan khoa học mà chính Freud cũng công nhận tính chất có tổ chức, logic rất cao của ý thức Ý thức vì thế có nhiệm
vụ như một vị “giám đốc” có thẩm quyền quyết định những vấn đề cấp cao
Tính phi ngôn ngữ: phải được học tập mới biết sử dụng “từ”, “khái niệm” của ngôn ngữ Do vô thức còn nằm trong trạng thái nguyên thủy hỗn độn, nó không thể phân biệt một cách chính xác đối tượng cho nên nó không thể sử dụng “từ” và ngôn ngữ Do không đạt được mức độ sử dụng ngôn ngữ trong quá trình khái quát nên nó chỉ có thể sử dụng các loại hình tượng, ý tượng cụ thể để biểu đạt sự vật Đối với ý thức, nó biểu hiện nội dung qua “cái vỏ vật chất của tư duy” là ngôn ngữ, con người không thể chuyển tải được những nội dung tư tưởng của mình trong mọi quá trình hiện thực
Tính phi đạo đức: biểu hiện ở thái độ đối với đời sống xã hội, chính là việc vô thức coi trọng nguyên tắc đạo đức là “bất chấp tất cả" chỉ lấy thực hiện tự ngã của bản thân làm trung tâm Ngược lại, đối với ý thức, nó luôn đảm nhận vai trò điều chỉnh hành vi của chủ thể theo những chuẩn mực đạo đức tròn xã hội
Các đặc điểm trên không chỉ cho thấy sự khác biệt giữa vô thức với ý thức mà
nó còn cho thấy, để đánh giá đúng vai trò của mỗi yếu tố là không hề đơn giản cho
dù chúng luôn tồn tại thống nhất trong một kết cấu Vấn đề của người nghiên cứu là tìm thấy được bản chất của mỗi yếu tố để hiểu kết cấu đó một cách khoa học
Sự ra đời của phân tâm học với thuyết vô thức là một cuộc cách mạng trong khoa học về nhân tính Qua phân tâm học, nhân loại đã có ý thức về đáy sâu thăm thẳm của tâm hồn con người, khám phá và giải mã đời sống tâm linh Phân tâm học xuất hiện đã đưa nhân loại thoát khỏi thời kỳ thống trị của chủ nghĩa duy lý trong triết học
Trước Freud, các nhà triết học phương Tây chủ yếu nghiên cứu nhân cách con người ở bình diện ý thức và khẳng định ý thức là một sức mạnh to lớn, đời sống tâm linh cũng là đời sống ý thức Theo họ, ý thức là trung tâm của thế giới và thế giới trở thành đối tượng của chủ thể suy tư
Trang 26Trong một thời gian dài, hình ảnh con người với sức mạnh lí tính, tư cách làm chủ đã trở thành niềm tự hào, là điểm tựa cho con người có thể vượt qua tất cả Khi chủ nghĩa duy lí còn ngự trị thì con người còn mang ảo tưởng về sức mạnh cải tạo
tự nhiên và năng lực nhận thức vô biên của mình Thuyết vô thức của phân tâm học
ra đời đã nghiềm ngẫm con người với một tầm nhìn mới, nghiên cứu con người ở phần khó nhận thức, khó cảm thức được Tuy không phải mọi thành phần tư tưởng đều là chân lý nhưng đã góp phần giúp con người nhìn lại bản thân, nhìn lại đời sống tâm linh của mình với bao điều còn che giấu Luận thuyết này là sự cảnh tỉnh cho loài người phải chấp nhận thực tế với sự hữu hạn trong nhận thức của mình Đồng thời với quan niệm cho rằng con người là những sinh vật vô thức có phần phi
lí và bốc đồng, tính dục của nó là nguyên nhân gây ra những động cơ, thúc đẩy xung đột, Freud đã làm nhân loại phải sững sờ và sửng sốt khi họ vẫn đinh ninh mình là loại động vật cao cấp, không có tính dục, bản năng mà biết suy tính, ý thức Một nhà phê bình đã khá hài hước khi nhận xét rằng: “Đối với đời người thì do sự phổ biến của học thuyết này, Freud đã nổi bật lên như một kẻ phá bĩnh vĩ đại nhất trong lịch sử tư tưởng nhân loại Ông đã biến đổi sự giễu cợt và những niềm vui nhẹ nhàng của con người thành những hiện tượng dồn nén, bí hiểm và sầu thảm, đã tìm thấy sự hằn thù trong nguồn gốc yêu thương, ác ý trong lòng sự âu yếm, loạn luân trong tình yêu thương giữa cha mẹ và con cái, tội lỗi trong thái độ đai lượng và trạng thái của sự căm uất bị dồn nén của mọi người cha như là một thứ được lưu truyền của nhân loại”[13,20]
Phân tâm học với sự phát hiện thế giới vô thức của con người còn góp phần vạch ra ranh giới giữa tâm lý học hiện đại và tâm lý học cổ điển “Tâm lý học cấu tạo của W.Wande chỉ nghiên cứu nội dung tâm lý mà con người ý thức được Tâm
lý học cơ năng của W.James cũng chỉ nghiên cứu sự nảy sinh ý thức trong mối tương tác giữa con người và ngoại giới Mặc dù có những đóng góp khác nhau nhưng những trường phái tâm lí nói trên đều nghiên cứu những hoạt động ý thức rõ ràng”[10] Còn S.Freud nghiền ngẫm vấn đề với một tầm nhìn hoàn toàn khác:
“Quá trình tâm lý chủ yếu là thuộc về tiềm thức, còn như quá trình tâm lý của ý
Trang 27thức chẳng qua chỉ là một động tác bộ phận được tách ra từ toàn bộ tâm linh”[4] Phân tâm học với thuyết vô thức đã đưa ngành tâm lý học sang một bước ngoặt mới
có sự chú trọng nghiên cứu phần tiềm thức và vô thức ẩn sâu trong tâm lý người
“Đánh đổ luận thuyết tâm lý khô khan, cầu kỳ của thế kỷ XIX, Freud đã đưa ra phản luận phân tâm chứa đầy rối ren”[13,82]
Phân tâm học cũng gây ảnh hưởng sâu sắc và bền vững đối với các lĩnh vực như: y học, xã hội học, nghệ thuật, khoa học thực nghiệm, ngôn ngữ học,… Giá trị và tầm quan trọng của học thuyết này còn biểu hiện rõ rệt nhất ở chỗ nó đã chi phối lịch
sử tư duy của thế giới, góp phần định dạng lại kiến thức và giá trị của loài người Riêng với lĩnh vực văn học nghệ thuật, phân tâm học cùng với thuyết vô thức, trong đó có quan niệm về nhà văn và tác phẩm văn học cũng gây tác động không nhỏ đối với lĩnh vực lí luận phê bình và sáng tác văn chương Trào lưu phê bình phân tâm học ra đời và rất thịnh hành ở phương Tây những năm đầu thế kỷ 20 Nội dung chủ yếu của khuynh hướng này không ngoài các phương diện: vô thức, bản năng tính dục, cấu trúc nhân cách và giải thích giấc mơ Mục đích nghiên cứu của trào lưu này tìm hiểu những biểu hiện vô thức và những ẩn ức tâm lý dồn nén của nhà văn được thể hiện qua hệ thống biểu tượng trong tác phẩm, cấu trúc tâm lý nhân vật, tâm lý độc giả Phân tâm học cũng đặt nền tảng cho sự phẫn nộ của hàng loạt tác phẩm khai thác đời sống bản năng, hoạt động tính dục, đời sống tâm linh, những bí ẩn khó nhận biết của con người Trên văn đàn thế giới, từ những năm 60, phân tâm học đã hiện diện qua các sáng tác của nhiều nhà văn qua chủ đề tình dục, khai thác những biểu hiện đa dạng, nhiều màu sắc của đời sống bản năng con người như: Alberto Moravia với La
Giocara, Nathalie Sarraute với Kỷ nguyên ngờ vực, Tony Laine và Daniel Karlin với
Kẻ sát nhân đang ở trong buồng, G.Marquer với Trăm năm cô đơn… Tuy phản ánh
đời sống bản năng con người nhưng các tác phẩm của họ không bị rơi vào dung tục, thô thiển mà vẫn trở nên sâu sắc , ám ảnh và giàu giá trị nhân bản Bởi các nhà văn đã thông qua đời sống bản năng, tâm linh để lột tả nhiều góc cạnh của đời sống nhục dục con người Biểu hiện cho đến cùng tận những số phận, thân phận bi kịch Đi sâu vào tận những ngóc nghách, khai phá những niềm sâu thẳm của tâm hồn con người với những niềm vui, nỗi buồn, nỗi đau giấu kín…
Trang 281.3 Tobias Wolff với những ám ảnh vô thức
Tobias Wolff sinh ngày 19-6-1945 tại Thành phố Birmingham, bang Alabama,
Mỹ Ông là một nhà văn đương đại nổi tiếng và thành công trên nhiều lĩnh vực văn xuôi như tiểu thuyết, hồi ký, truyện ngắn,… Để có được những thành công ấy, sự từng trải trong thời đại, gia đình và bản thân của nhà văn đã có những ảnh hưởng không nhỏ Tuy nhiên, để phục vụ cho vấn đề nghiên cứu của khóa luận, chúng tôi chỉ tập trung sự chú ý của mình đến những bất hạnh trong cuộc đời của nhà văn, nhất là khi ông còn nhỏ
Chính Tobias Wolff đã từng nói: “Tất cả những câu chuyện của tôi là bằng cách này hay cách khác tự truyện” Giấu mình qua những vỏ bọc của các nhân vật trong từng câu chuyện, đó cũng là một cách nhà văn trốn chạy hiện thực, né tránh bản ngã của chính mình Mỗi câu chuyện là mỗi góc khuất sâu kín, được ngụy trang kín đáo Tuổi thơ cơ cực, bất hạnh đã tạo nên một Tobias Wolff luôn dè chừng, hoài nghi và sợ hãi… Và sáng tạo nghệ thuật chính là cách để Wolff có thể giải phóng tâm hồn, tư tưởng, ít nhiều sống thật với chính con người của mình
Tuổi thơ của Tobias Wolff gắn liền với những lời nói dối, lừa đảo và giả mạo… công việc sớm nhất của ông là viết chi phiếu giả Cuộc hôn nhân giữa bố mẹ Wolff sớm tan vỡ, từ đó đưa đẩy Wolff và Geoffrey – người anh trai ruột của ông đến những cuộc sống và số phận khác nhau Geoffrey ở với người cha cùng người
mẹ kế tốt bụng trong khi Toby – tên thường gọi ở nhà lúc bé của Wolff lại phải sống chung với mẹ cùng người cha dượng tàn bạo Cũng chính là người đàn ông đã
để lại cho Wolff những ám ảnh luôn thường trực, khắc khoải Mẹ của Wolff đã chọn nhầm một người đàn ông tồi Dù đã cố gắng hết mình nhưng dường như bà chưa bao giờ bảo vệ được Wolff trước người đàn ông nguy hiểm đó Không dễ dàng chán nản hay tuyệt vọng, người mẹ trong lòng Wolff luôn phản ứng với nghịch cảnh một cách mạnh mẽ, bà đã truyền cảm hứng và sự tự tin cho Wolff
Wolff bắt đầu viết truyện khi còn nhỏ Đó là những mẩu truyện có thể làm mẹ của ông vui sau những giờ làm việc vất vả: “Tôi viết những câu chuyện phiêu lưu, những truyện ngụ ngôn về loài vật, truyện cổ tích, truyện về những người anh hùng
Trang 29phải đối mặt với những thử thách lớn Tôi đoán rất nhiều đứa trẻ làm điều này, cho đến lúc chúng lớn lên và tìm ra cách sử dụng thời gian thực tế hơn Tôi thì không bao giờ lớn Những truyện ngắn và tiểu thuyết mà tôi đọc vẫn tiếp tục thành – đầu tiên như một nguồn vui đơn giản, rồi sau đó như một cách để hiểu về thế giới và những con người quanh tôi” [16]
Khi xem xét toàn bộ tiểu sử cuộc đời của Tobias Wolff, có những biến cố, những thăng trầm, những thiệt thòi, đau khổ, chúng tôi nhận ra rằng, ông luôn bị ám ảnh bởi những hành động nói dối Chính Wolff cũng đã từng tự khẳng định về mình không chút giấu giếm: “Tôi là một kẻ nói dối ngay khi còn là một đứa trẻ Tôi vẫn
là một kẻ nói dối, thật vậy và tôi không có ý kể những câu chuyện và sẽ trở thành một nhà văn viết truyện Tôi sẽ không bao giờ muốn tạo nên một phiên bản đen tối
về sự thật khi tôi nói với mọi người về một câu chuyện Tôi không biết rằng tôi thực
sự có khả năng đó không” [12] Mặt khác khi được hỏi trong một cuộc phỏng vấn là tại sao rất nhiều nhân vật của ông lại nói dối, Tobias Wolff trả lời: “Thế giới này là không hoàn hảo, có lẽ vậy? Nói dối là để nói không đúng về điều đó, do đó, rõ ràng là một bất hạnh với cái được gọi là một sự bất mãn” [12]
Tobias Wolff với một tuổi thơ đầy bất hạnh trong sự chia ly của gia đình và cuộc sống đầy ải với người cha ghẻ tàn bạo Đây chính là những tổn thương vô cùng to lớn trong tinh thần của một đứa trẻ Do đó, Wolff đã thực hiện những câu chuyện với những giấc mơ giữa hiện thực, những bản năng tính dục và những hành
vi dối trá,…để trốn tránh hiện thực và để tiếp tục tồn tại, như một cách để tự bảo vệ chính mình, để che giấu những ẩn ức, những đau khổ, những bất hạnh, và để tìm kiếm một cuộc sống dễ chịu hơn Chính những ẩn ức vô thức trong tuổi thơ đã qua của Tobias Wolff đã có ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng nhân vật trong các sáng tác của ông Dường như, những con người đó với những mẩu chuyện của riêng mình đã ngầm chứa không chỉ những ẩn ức cá nhân của riêng mình mà còn là ẩn ức của chính tác giả Tobias Wolff