Những khái niệm về đất đô thị, sử dụng đất trong đô thị đã được xây dựng và tổng quan ở một số giáo trình Giáo trình kinh tế Tài nguyên đất [45], Giáo trình quy hoạch đô thị và điểm dân
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong những công trình để bảo vệ bất kỳ một học vị nào
Tác giả luận án
Ngô Thị Hải Yến
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được rất nhiều
sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, đồng nghiệp, bạn bè và những người thân
Lời đầu tiên, tự đáy lòng mình, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới GS.TS Đỗ Thị Minh Đức, GS.TS Nguyễn Viết Thịnh, PGS.TS Lương Tú Quyên là những Thầy, Cô giáo, những nhà khoa học đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi về mọi mặt để tôi hoàn thành luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Phòng Sau Đại học, Phòng Tài chính - Kế toán, Ban Chủ nhiệm Khoa Địa lý, các Thầy, Cô trong bộ môn Địa lý Kinh tế - Xã hội và các đồng nghiệp trong Khoa Địa lý đã ủng hộ và giúp đỡ tôi về tinh thần, kiến thức và thời gian để tôi được học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Tổng cục Quản lí đất đai thuộc Bộ Tài nguyên môi trường Sở TNMT tỉnh Bắc Ninh, Phòng TNMT của thành phố Bắc Ninh, Phòng TNMT thị xã Từ Sơn Tôi xin gửi lời cảm ơn đến UBND phường Đồng Nguyên, phường Đình Bảng và bà con sống ở nơi đây đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình tôi đi điều tra thực địa
Cuối cùng, cho tôi bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình tôi: mẹ, chồng và những người thân đã luôn chia sẻ, động viên, chăm sóc và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận án
Ngô Thị Hải Yến
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ix
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ x
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam 2
2.1 Những nghiên cứu về đô thị hóa 2
2.2 Những nghiên cứu về sử dụng đất đô thị 6
2.3 Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa ĐTH và sử dụng đất đô thị 8
2.4 Những nghiên cứu liên quan đến tỉnh Bắc Ninh 10
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 10
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 10
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Giới hạn nghiên cứu 11
4.1 Giới hạn về nội dung 11
4.2 Giới hạn về thời gian 11
4.3 Giới hạn về không gian 12
5 Quan điểm nghiên cứu 12
5.1 Quan điểm hệ thống 12
5.2 Quan điểm lãnh thổ 12
5.3 Quan điểm tổng hợp 12
5.4 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh 13
5.5 Quan điểm phát triển bền vững 13
6 Phương pháp nghiên cứu 13
6.1 Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu 13
6.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh 13
6.3 Phương pháp chuyên gia 13
6.4 Phương pháp điều tra xã hội học 14
6.5 Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin Địa lý (GIS) 15
7 Những đóng góp của luận án 15
8 Cấu trúc của luận án 15
Chương 1 16
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HÓA 16
VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐÔ THỊ 16
Trang 41.1 Cơ sở lí luận 16
1.1.1 Đô thị hóa 16
1.1.1.1 Khái niệm đô thị và đô thị hóa 16
1.1.1.2 Đặc điểm của đô thị hóa 21
1.1.1.3 Các giai đoạn đô thị hóa 23
1.1.1.4 Các lý thuyết phát triển đô thị 25
1.1.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến đô thị hóa 28
1.1.1.6 Một số tiêu chí đánh giá đô thị hóa 30
1.1.2 Sử dụng đất đô thị 32
1.1.2.1 Khái niệm đất, đất đô thị và sử dụng đất đô thị 32
1.1.2.2 Đặc điểm đất đô thị 35
1.1.2.3 Phân loại đất đô thị 36
1.1.2.4 Các lý thuyết trong sử dụng đất đô thị 37
1.1.2.5 Các mô hình sử dụng đất trong phát triển đô thị 39
1.1.2.6 Các tiêu chí đánh giá về sử dụng đất đô thị 43
1.1.3 Mối quan hệ giữa đô thị hóa và sử dụng đất đô thị 44
1.1.3.1 Đô thị hóa với sử dụng đất đô thị 44
1.1.3.2 Sử dụng đất đô thị và phát triển kinh tế - xã hội ở những khu vực đang diễn ra đô thị hóa 45
1.2 Cơ sở thực tiễn 47
1.2.1 Ở các nước đang phát triển 47
1.2.2 Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở Việt Nam 50
1.3 Tiểu kết chương 1 55
Chương 2 57
ĐÔ THỊ HÓA VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐÔ THỊ Ở TỈNH BẮC NINH 57
2.1 Đô thị hóa ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015 57
2.1.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa ở tỉnh Bắc Ninh 57
2.1.1.1 Lịch sử phát triển tỉnh Bắc Ninh 57
2.1.1.2 Vị trí địa lý 58
2.1.1.3 Các nhân tố kinh tế - xã hội 59
2.1.1.4 Điều kiện tự nhiên và Tài nguyên thiên nhiên 65
Trang 52.1.2 Hiện trạng đô thị hóa ở tỉnh Bắc Ninh 66
2.1.2.1 Chức năng đô thị 66
2.1.2.2 Kinh tế - xã hội đô thị 66
2.1.2.3 Cơ sở hạ tầng đô thị 77
2.1.2.4 Cấu trúc không gian đô thị 80
2.2 Sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015 83
2.2.1 Khái quát chung về sử dụng đất 83
2.2.1.1 Biến động về diện tích và cơ cấu sử dụng đất 83
2.2.1.2 Biến động sử dụng đất theo không gian 86
2.2.2 Sử dụng đất đô thị 87
2.2.2.1 Diện tích và cơ cấu sử dụng đất đô thị 87
2.2.2.2 Sử dụng đất đô thị theo không gian 89
2.3 Mối quan hệ giữa đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh 96
2.3.1 Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị 96
2.3.1.1 Đô thị hóa làm tăng diện tích và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đô thị theo xu hướng công nghiệp hóa 96
2.3.1.2 Đô thị hóa làm thay đổi mục đích sử dụng đất đô thị 98
2.3.2 Sử dụng đất đô thị và phát triển kinh tế - xã hội ở những khu vực đang diễn ra đô thị hóa 102
2.3.2.1 Khái quát về hộ điều tra và tình hình thu hồi đất NN ở P Đình Bảng và P Đồng Nguyên 102
2.3.2.2 Sử dụng đất đô thị (thu hồi đất NN) tác động đến phát triển KT - XH 110 2.4 Tiểu kết chương 2 118
2.4.1 Những thuận lợi và khó khăn trong ĐTH và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh 118
2.4.1.1 Thuận lợi 118
2.4.1.2 Khó khăn 118
2.4.2 Những kết quả đã đạt được và những tồn tại cần khắc phục 119
2.4.2.1 Những kết quả đạt được 119
2.4.2.2 Những tồn tại cần khắc phục 120
Trang 6Chương 3 121
ĐỊNH HƯỚNG, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐÔ THỊ HÓA VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐÔ THỊ Ở TỈNH BẮC NINH ĐẾN NĂM 2030 121
3.1 Những căn cứ xây dựng định hướng đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh 121
3.1.1 Những thành tựu và thách thức trong đô thị hóa 121
3.1.2 Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 124
3.1.3 Quy hoạch vùng Thủ đô Hà Nội 124
3.1.4 Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030, định hướng đến năm 2050 126
3.2 Định hướng ĐTH và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030 128
3.2.1 Định hướng phạm vi, chức năng đô thị 128
3.2.2 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội đô thị 129
3.2.3 Định hướng sử dụng đất đô thị 130
3.2.4 Định hướng hạ tầng kỹ thuật và môi trường đô thị 130
3.2.5 Định hướng cấu trúc không gian đô thị 133
3.3 Một số giải pháp thực hiện đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh 139
3.3.1 Giải pháp về quy hoạch và quản lý đô thị 139
3.3.2 Đầu tư xây dựng, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng đô thị 140
3.3.3 Nâng cao chất lượng nguồn lao động để thực hiện đô thị hóa 142
3.3.4 Thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư trong phát triển đô thị 143
3.3.5 Tạo mối liên kết các đô thị trong tỉnh và gắn kết các đô thị tỉnh Bắc Ninh với vùng Thủ đô Hà Nội 143
3.3.6 Đô thị hóa gắn liền với phát triển khu vực nông thôn 144
3.3.7 Giải pháp trong sử dụng đất 146
3.4 Tiểu kết chương 3 147
PHẦN KẾT LUẬN 149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Tiếng Việt 152
Tiếng Anh 157
PHỤ LỤC 159
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 Chữ viêt tắt tiếng Việt
2 Chữ viết tắt tiếng Anh
7 SSRC Social Science Research Council
9 UNESCO United Nations Educcational Scientific and
Cultural Oganization
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1.1 Dân số đô thị trên thế giới giai đoạn 1990-2014 và dự báo đến năm 2050 47
Bảng 1.2 Số đô thị trên 500 nghìn dân, giai đoạn 1990-2014 47
Bảng 1.3 Tỉ lệ dân đô thị phân theo các vùng giai đọan 2005 - 2015 51
Bảng 1.4 Dân số đô thị và tỉ lệ dân đô thị của Hà Nội và TP Hồ Chí Minh 52
Bảng 1.5 Diện tích đất đô thị, dân số đô thị của TP Hồ Chí Minh, Hà Nội 54
Bảng 2.1 Quy mô dân số tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015 59
Bảng 2.2 Gia tăng dân số tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015 60
Bảng 2.3 Cơ cấu lao động tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015 62
Bảng 2 4 Số dự án, số vốn đăng kí, số vốn thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài 63
Bảng 2.5.Tổng số dân, số dân đô thị, số dân nông thôn tỉnh Bắc Ninh 67
Bảng 2.6 Quy mô dân số đô thị phân theo đơn vị hành chính giai đoạn 2005 - 2015 67
Bảng 2.7 Tỉ lệ dân đô thị các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2005-2015 70
Bảng 2.8 Tỉ lệ dân đô thị tỉnh Bắc Ninh phân theo địa phương giai đoạn 2005-2015 70
Bảng 2.9 Tốc độ tăng dân số phân theo ĐVHC tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005-2015 71
Bảng 2.10 GDP của tỉnh Bắc Ninh phân theo khu vực kinh tế giai đoạn 2005 - 2015 74 Bảng 2.11 Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 2005 - 2015 76
Bảng 2.12 Tốc độ tăng trưởng kinh tế phân theo khu vực kinh tế giai đoạn 2005-2015 76 Bảng 2.13 Giá trị sản xuất công nghiệp vùng KTTĐBB giai đoạn 2005 - 2015 77
Bảng 2.14 Cơ cấu GTSXCN phân theo tiểu vùng tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005-2015 77
Bảng 2.15 Số lượng đô thị và mật độ đô thị tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015 80
Bảng 2.16 Diện tích, dân số, mật độ dân số, tỉ lệ dân đô thị ở 2 tiểu vùng năm 2015 81
Bảng 2.17 Biến động diện tích đất tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015 84
Bảng 2.18 Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2000 - 2015 84
Bảng 2.19 Cơ cấu sử dụng đất NN tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015 85
Bảng 2.20 Cơ cấu sử dụng đất phi NN ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015 85
Bảng 2.21 Diện tích và cơ cấu sử dụng đất đô thị tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005-2015 88
Bảng 2.22 Biến động diện tích đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015 88
Bảng 2.23 Diện tích đất đô thị và tỉ lệ đất đô thị tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005-2015 89
Bảng 2.24 Cơ cấu đất đô thị phân theo khu vực đô thị ở TP Bắc Ninh năm 2015 90
Bảng 2.25 Hiện trạng sử dụng đất khu vực đô thị cũ của TP Bắc Ninh năm 2015 91
Bảng 2.26 Hiện trạng sử dụng đất ở khu vực đô thị mới của TP Bắc Ninh năm 2015 92
Bảng 2.27 Biến động diện tích đất đô thị TX Từ Sơn giai đoạn 2005 - 2015 93
Bảng 2.28.Tỉ lệ các loại đất đô thị phân theo địa phương của TX Từ Sơn năm 2015 94
Trang 9Bảng 2.29 Biến động diện tích đất đô thị tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015 97
Bảng 2.30 Cơ cấu đất đô thị phân theo các đô thị tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005-2015 97
Bảng 2.31 Lý do thu hồi đất NN ở P Đồng Nguyên và P Đình Bảng, TX Từ Sơn 103
Bảng 2.32 Số trường hợp thu hồi đất phân theo tỉ lệ đất NN bị thu hồi 105
Bảng 2.33 Biến động diện tích đất NN trước và sau khi thu hồi 106
Bảng 2.34 Biến động diện tích các loại đất NN trước và sau khi thu hồi 106
Bảng 2.35 Biến động đất nông nghiệp theo địa bàn nghiên cứu 106
Bảng 2.36 Biến động các loại đất theo địa bàn nghiên cứu 107
Bảng 2.37 Mức độ hài lòng về giá đất NN được đền bù phân theo phường 108
Bảng 2 38 Tỉ lệ hộ dân sử dụng tiền đền bù theo mục đích 109
Bảng 2.39 Thu nhập bình quân trước và sau khi thu hồi đất phân theo phường 112
Bảng 2.40 Cơ cấu thu nhập trước khi thu hồi đất phân theo nghề nghiệp 112
Bảng 2.41 Cơ cấu thu nhập sau khi thu hồi đất phân theo nghề nghiệp 113
Bảng 2.42 Đồ dùng trong gia đình hộ nông dân trước và sau khi thu hồi đất NN 114
Bảng 2.43 Thống kê mô tả về đánh giá của người dân về sự thay đổi chất lượng cuộc sống ở P Đình Bảng và P Đồng Nguyên 115
Bảng 2.44 Ý của người được hỏi về chủ trương thu hồi đất NN ở địa bàn nghiên cứu 116 Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu KT - XH của Bắc Ninh đến năm 2020 và định hướng 127
Bảng 3.2 Các chỉ tiêu định hướng về dân cư, lao động tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030 129
Bảng 3.3 Định hướng sử dụng đất đến năm 2030 130
Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu định hướng cấp nước tỉnh Bắc Ninh đến 2030 132
Bảng 3.5 Lộ trình nâng cấp đô thị tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2015 - 2030 134
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Tình hình xuất cư và nhập cư tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015 61
Biểu đồ 2.2 Dân số đô thị phân theo địa phương tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015 68 Biểu đồ 2.3 Số dân đô thị và tỉ lệ dân đô thị giai đoạn 2005 - 2015 69
Biểu đồ 2.4 Số lượng lao động phi nông nghiệp giai đoạn 2005 - 2015 73
Biểu đồ 2.5 Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2005 - 2015 73
Biểu đồ 2.6 Biểu đồ cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015 75
Biểu đồ 2.7 Biến động diện tích đất theo địa phương giai đoạn 2005 -2015 87
Biểu đồ 2.8 Biến động đất ở TP Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015 90
Biểu đồ 2.9 Đất NN và đất phi NN phân theo địa phương ở TX Từ Sơn năm 2015 95
Biểu đồ 2.10 Tỉ lệ dân đô thị, tỉ trọng kinh tế phi NN và tỉ lệ đất phi NN tỉnh Bắc Ninh năm 2005 và năm 2015 98
Trang 10Biểu đồ 2.11 Cơ cấu đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015 99
Biểu đồ 2.12 Số lượng hộ phân theo tỉ lệ đất NN bị thu hồi 104
Biểu đồ 2.13 Quy mô đất nông nghiệp bị thu hồi phân theo tỉ lệ đất bị thu hồi 105
Biểu đồ 2.14 Quy mô đất nông nghiệp bị thu hồi phân theo phường 105
Biểu đồ 2.15 Tỉ lệ hộ dân sử dụng tiền đền bù theo mục đích phân theo 109
Biểu đồ 2.16 Thu nhập bình quân trước khi thu hồi đất phân theo phường 111
Biểu đồ 2.17 Thu nhập bình quân sau khi thu hồi đất phân theo phường 111
Biểu đồ 2.18 Biểu đồ cơ cấu thu nhập phân theo nghề nghiệp trước khi thu hồi đất 112
Biểu đồ 2.19 Biểu đồ cơ cấu thu nhập phân theo nghề nghiệp sau khi thu hồi đất 113
Biểu đồ 2.20 Nhà ở của người dân trước và sau khi thu hồi đất NN 114
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 1.1 Các quá trình trong đô thị hóa 23
Hình 1.2 Sơ đồ phân kỳ đô thị hóa theo R.M Northam 23
Hình 1.3 Biểu đồ chuyển dịch lao động giữa ba khu vực kinh tế (theo J Fourastié) 25
Hình 1.4 Mô hình “Các vòng tròn đồng tâm” 41
Hình 1.5 Mô hình sử dụng đất đô thị cuả Hoyt 42
Hình 1.6 Mô hình đa tâm 42
Hình 1.7 Mô hình sử dụng đất ở thành phố Đông Nam Á 49
Hình 1.8 Mô hình sử dụng đất ở thành phố Mỹ Latinh 50
Hình 1.9 Diện tích đất đô thị và quy mô dân số đô thị Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010 53 Hình 1.10 Diện tích đất đô thị và dân số đô thị phân theo vùng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010 54
Hình 1.11 Sự mở rộng ranh giới đô thị ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Nguồn 55
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ
Bản đồ 2.3 Bản đồ quy mô và cơ cấu sử dụng đất TP Bắc Ninh năm 2015 84 Bản đồ 2.4 Bản đồ quy mô và cơ cấu sử dụng đất TX Từ Sơn năm 2015 85 Bản đồ 2.5 Bản đồ thị xã Bắc Ninh (đến tháng 3/2007) 90 Bản đồ 2.6 Bản đồ thị xã Bắc Ninh (từ tháng 4/2007) 90 Bản đồ 2.7 Bản đồ thị xã Từ Sơn (từ tháng 10/2008) 92 Bản đồ 2.8 Bản đồ cấu trúc không gian đô thị TP Bắc Ninh năm 2015
Bản đồ 2.9 Bản đồ cấu trúc không gian đô thị TX Từ Sơn năm 2015
99
101
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đô thị hóa (ĐTH) là một hiện tượng tất yếu của quá trình phát triển kinh tế
xã hội (KT- XH) ở mỗi quốc gia Hiện nay, ĐTH đang diễn ra với tốc độ nhanh ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Dân số sống trong các đô thị và số lượng đô thị trên thế giới ngày một tăng lên Năm 2015, có 53,5% dân số thế giới (8,9 tỉ người) đang sống tại các đô thị Thời điểm này, cả thế giới đã có
457 đô thị có trên 1 triệu dân [114] Các đô thị thường là các trung tâm về chính trị, KT - XH của các quốc gia Đô thị luôn có vai trò đầu tầu và thúc đẩy các khu vực khác trong quá trình phát triển KT - XH chung của mỗi quốc gia
ĐTH không chỉ là một chỉ tiêu phản ánh tổng hợp sự phát triển KT - XH
mà còn là một nhân tố ảnh hưởng đến một số “thành phần” KT - XH khác trong mỗi đô thị, đó là: dân cư - lao động đô thị, kinh tế đô thị và không gian đô thị Mỗi “thành phần” trên đã biến đổi theo một quy luật riêng trong quá trình ĐTH
Sử dụng đất trong đô thị cũng không nằm ngoài quy luật đó Đất đai trong đô thị được cho là thành phần có nhiều chuyển biến nhất khi đô thị phát triển Ngoài ra sự tác động từ sử dụng đất đến ĐTH theo chiều ngược lại đã ảnh hưởng sâu sắc đến những “thành phần” KT - XH trong một khu vực có phạm vi hẹp
Đó là mối quan hệ 2 chiều đã và đang diễn ra ở nhiều khu vực chuyển đổi từ nông thôn sang đô thị
Ở nước ta, ĐTH bắt đầu từ sau Đổi mới nhưng đến tận đầu thế kỉ XXI quá
trình trên mới thực sự khởi sắc ĐTH đã diễn ra trên khắp cả nước nhưng phát triển mạnh ở những địa phương đang thực hiện công nghiệp hóa (CNH) hoặc những địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi Tỉnh Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (KTTĐBB), có nhiều thuận lợi về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện KT - XH Nhờ khai thác được những lợi thế sẵn có đó nên giai đoạn
2005 - 2015 tỉnh Bắc Ninh đã đạt được những thành tựu ấn tượng trong CNH và ĐTH Tỉ lệ dân đô thị đã tăng từ 13,5% (năm 2005) lên 28,6% (năm 2015) Tỉ trọng lao động và kinh tế phi nông nghiệp (NN) ngày càng cao trong cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế Đất đô thị tăng về diện tích và chuyển dịch trong cơ cấu
sử dụng Mạng lưới và cấu trúc không gian đô thị của tỉnh Bắc Ninh nhờ vậy cũng thay đổi cả về số lượng và chất lượng đô thị Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu trên vẫn còn một số vấn đề tồn tại đó là: tỉ lệ dân đô thị vẫn đang ở mức thấp hơn
so với đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và cả nước, mức độ ĐTH chưa tương xứng với trình độ của CNH, môi trường và cảnh quan ở một số khu vực đô thị vẫn còn
Trang 12mang tính chất nửa nông thôn nửa đô thị, tệ nạn xã hội ngày một phức tạp hơn, nhất là ở những khu vực mới chuyển đổi từ nông thôn sang đô thị Vì vậy, với mong muốn hiểu sâu hơn về quá trình ĐTH, đặc biệt là mối quan hệ giữa ĐTH và
sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: Đô thị hóa và
sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 2005 - 2015 làm luận án Tiến
sĩ chuyên ngành Địa lí học
2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
2.1 Những nghiên cứu về đô thị hóa
Những khái niệm đầu tiên về ĐTH được Cerda đưa ra vào năm 1860 khi tác giả nghiên cứu để mở rộng thành phố Barcelona, Tây Ban Nha Cerda đã tổng kết lý thuyết chung về đô thị bao gồm 5 lĩnh vực: cơ sở công nghệ, hành chính, chính trị, luật pháp và kinh tế [dẫn theo 66] Đầu thập kỉ 60 của thế kỉ XX, Ủy ban nghiên cứu khoa học xã hội thế giới (SSRC) đã tổng quan những nghiên cứu
về đô thị Ngoài việc đưa ra những khái niệm về ĐTH, SSRC đã nhận định một cách toàn diện về cấu trúc, tiến trình và các giai đoạn của ĐTH theo cả thời gian
và không gian Trên cơ sở những lí luận đó, những khái niệm liên quan đến ĐTH
đã ra đời trong thời kì này là: Quá độ đô thị, Đô thị hóa đảo ngược của Brian.T.Berry [92], Đô thị hóa vùng ven của Alan Rabinowitz [104], Tăng trưởng
đô thị của Michael Spence [1] và các kiểu thay đổi không gian đô thị trong ĐTH
của Pierre Laborde [38]
Năm 1931 là thời điểm khởi sắc của những nghiên cứu về đô thị trên thế giới
khi Đại hội địa lí quốc tế tại Paris đã đưa vấn đề phát triển chùm đô thị là một
trong những nội dung nghiên cứu chính Tiếp sau đó, các nghiên cứu về quần cư nông thôn, quần cư đô thị và sự phát triển các đô thị trên toàn thế giới đã được nghiên cứu theo nhiều khía cạnh khác nhau [86]
Trong bối cảnh khoa học kỹ thuật (KHKT) của thế giới bắt đầu phát triển, Đại hội Địa lý quốc tế lần thứ XXIII tại Matxcova (năm 1976), đã có nghiên cứu
về ĐTH dưới góc độ địa lý Từ đây, các điều kiện tự nhiên (tài nguyên đất), điều kiện KT - XH (cấu trúc của hệ thống dân cư, sự phát triển nền kinh tế và tính liên tục của nông thôn và thành thị) được đặt trong mối quan hệ mật thiết với sự phát triển của các đô thị Những lí luận đó đã dẫn đường cho một số nghiên cứu về không gian, cơ cấu kinh tế, sự phát triển cảnh quan đô thị ở những vùng ĐTM ở một số nước Tây Âu, Hoa Kì, Canada [99] và một số nước ở châu Phi, châu Á (trong đó có Việt Nam) [105] Theo hướng nghiên cứu trên, một số lý thuyết hiện
đại về ĐTH đã tiếp tục được đưa ra trong Urban Geography - a global perspective
Trang 13như: ĐTH ngoại vi, ĐTH quá tải, ĐTH dựa vào nguồn vốn đầu tư bên ngoài, mô
hình phát triển các thành phố tiền công nghiệp (CN) và quy luật phát triển của các thành phố từ nhỏ đến lớn [103]
Dân cư, KT - XH và môi trường là những yếu tố then chốt trong các nghiên cứu về ĐTH ở nhiều quốc gia trên thế giới [108] Sự tương tác giữa các yếu tố trên
đã quyết định đến tính bền vững hay không bền vững của mỗi đô thị Một trong những biểu hiện của ĐTH là số dân đô thị tăng nhanh, trong đó gia tăng cơ học đóng vai trò chính David E Bloom đã dự đoán được xu hướng gia tăng dân số đô thị của thế giới và từ đó đưa ra một số mô hình ĐTH trên thế giới [93] Micheal Timberlake và Alan Rabinowitz đã nhận định, CNH là nguyên nhân của dòng di
cư từ nông thôn đến đô thị [110] Những quốc gia đang ở trong giai đoạn đầu và giữa của CNH, các ngành CN chế biến sẽ phát triển mạnh trở thành nơi có lực hút dòng lao động từ các vùng nông thôn Các thành phố như Thượng Hải, Bắc Kinh, New Deli, Bangkoc, Manila, thành phố Hồ Chí Minh (TP Hồ Chí Minh) đang có sức rất hút mạnh với dân cư nông thôn [98,105] Dòng di cư nông thôn - đô thị không chỉ làm thay đổi quy mô, cơ cấu dân số, lối sống dân cư mà còn làm tăng nhu cầu về đất đai trong các đô thị Gia tăng cơ học do di cư không chỉ làm tăng
số lượng lao động mà còn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động ở các đô thị Ở các nước phát triển như Hoa Kì, các nước Tây Âu, và một số nước châu Á (Nhật Bản, Singapore…) ĐTH đã đi vào giai đoạn ổn định nên không còn hiện tượng dịch cư theo chiều sâu Nền kinh tế ở những quốc gia này đã đạt trình độ cao và phát triển đồng đều nên dân cư đã có xu hướng phân tán từ các đô thị lớn ra các
đô thị nhỏ và các vùng ven đô [109]
Thời gian gần đây, ĐTH trở thành một vấn đề mang tính toàn cầu, nhiều tổ chức quốc tế như UNESCO, UNDP, WB, ADB đã nghiên cứu ĐTH để làm sáng
tỏ những mối liên kết giữa toàn cầu hóa và ĐTH Các thành phố đang ngày càng trở thành động lực quan trọng cho quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế ở các
quốc gia và khu vực trên thế giới [91,110] ĐTH không chỉ góp phần làm thay đổi
cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng khu vực II, khu vực III, giảm tỉ trọng khu vực I mà còn thúc đẩy kinh tế tăng trưởng kinh tế ở các đô thị Ở Đông Nam Á, các đô thị phần lớn là các trung tâm CN và trung tâm kinh tế nên quá trình phát triển đô thị thường song song với quá trình phát triển kinh tế Đô thị còn là nơi chịu ảnh hưởng của toàn cầu hóa thông qua các hoạt động thương mại (TM) [105,107] Nếu Jo Beall, Basudeb Guha và Ravi Kanbur coi kinh tế là động lực của đô thị hóa thì Nhiêu Hội Lâm coi các đô thị là trung tâm phát triển của mỗi
Trang 14khu vực theo các cơ chế khác nhau Vì vậy, trong Kinh tế học đô thị có những đặc
điểm để nhận dạng khu kinh tế đô thị với hệ thống đô thị [46,91]
Mặt trái của ĐTH được David Drakakis nêu ra trong Third World Cities Ở
những nước có ĐTH nhanh, nhất là những nước thuộc “thế giới thứ ba” đang phải đối mặt với nhiều vấn đề xã hội Tình trạng thất nghiệp, thiếu nhà ở, thiếu nước sạch, ô nhiễm môi trường, chênh lệch giàu nghèo, tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng [108].TheoMichael Pacione, các siêu đô thị ở châu Phi, châu Mỹ Latinh và châu
Á tập trung nhiều lao động chân tay, lao động có thu nhập thấp nên xã hội bất ổn, bạo lực gia tăng và có nguy cơ xảy ra chiến tranh đô thị [103] Brian J.L Berry đưa
ra cảnh báo chiến lược phát triển kinh tế không kiểm soát, tốc độ tăng dân số nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ sở hạ tầng (CSHT) kém phát triển khiến sức
chứa lãnh thổ ở nhiều đô thị quá tải Hiện tượng ĐTH đảo ngược, ĐTH giả tạo đã
xảy ra ở nhiều nước châu Á, châu Phi và Mỹ latinh khiến cho mặt trái của ĐTH ngày một thêm sâu sắc [92,108]
Sau một số nghiên cứu về thực tiễn ĐTH, các nhà địa lý người Mỹ là Kaplan, Wheeler, Holloway đã nhận thấy ĐTH cần phải song song với tái cấu trúc đô thị
để khắc phục những tồn tại và chữa những căn bệnh do ĐTH mang lại [98] Trong
Ubanization - an introduction to urban geography, Paul L.Knox và Linda
McCarthy đã nhấn mạnh mỗi nhóm nước phải đối mặt với những thách thức khác nhau về ĐTH vì thế cần tạo nên sự cân bằng, đồng đều giữa tỉ lệ tăng dân số đô thị với tốc độ tăng trưởng kinh tế và mức độ hiện đại hóa CSHT [98, 99] Ngoài ra, xây dựng một hệ sinh thái đô thị toàn cầu dựa trên những đặc điểm lịch sử, thể chế chính trị, chức năng đô thị, quy mô dân số và trình độ phát triển kinh tế đô thị cho riêng mỗi quốc gia cũng là giải pháp hữu hiệu [109] Những nước đang trong quá trình chuyển đổi nông thôn thành đô thị cần có những sách lược khác biệt với những nước ĐTH đã đi vào giai đoạn ổn định [100]
Ở Việt Nam, các nội dung về ĐTH đã được nghiên cứu tương đối toàn diện
Tác giả Đàm Trung Phường là một trong những nhà khoa học đi đầu và đặt nền móng cho nghiên cứu về ĐTH ở Việt Nam Ngoài những cơ sở lí luận về ĐTH như: các khái niệm về đô thị, các nhân tố tác động đến ĐTH, đặc điểm ĐTH, thực tiễn về ĐTH ở Việt Nam, tác giả đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc đô thị và chức năng chuyển hóa của đô thị Những lý thuyết này thực sự có ý nghĩa cho những nghiên cứu về đô thị ở thời kì sau [53] Trên cơ sở tổng quan từ các nghiên cứu trên thế giới (Cerda, A Gutnov, I Lejav), tác giả Trương Quang Thao đã làm rõ hơn các chức năng của đô thị, diễn biến ĐTH và sự tác động của cuộc cách mạng KHKT
Trang 15đến ĐTH [66] Những lí thuyết về đô thị tiền CN, đô thị CN, đô thị hậu CN được
tác giả Nguyễn Thế Bá đề cập trong Quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị [2] Quá trình phát triển đô thị ở Việt Nam được sắp xếp, phân tích và bình luận
theo từng giai đoạn lịch sử bởi các tác giả Nguyễn Sĩ Quế [54], Đặng Thái Hoàng
[31] và Nguyễn Quốc Thông [67] Dưới góc độ kinh tế các tác giả Trần Văn Tấn
[62], Nguyễn Đình Hương [35], Phạm Ngọc Côn [15] phân tích những luận điểm
để chứng minh rằng quá trình phát triển đô thị cần lấy tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm trên cơ sở vận dụng lý thuyết các cực tăng trưởng Thực hiện ĐTH cần
chú ý đến lý thuyết phát triển đô thị dựa vào kinh tế xuất khẩu và lý thuyết phát
triển kinh tế lấy con người làm trung tâm
Trên quan điểm, coi những thay đổi về dân cư - lao động là một thành phần
tạo nên ĐTH, tác giả Đào Hoàng Tuấn đã phân tích mối quan hệ giữa nông thôn
và đô thị thông qua dòng di cư tự phát từ nông thôn đến các đô thị lớn ở Việt Nam [78] Qua nghiên cứu thực tiễn ĐTH ở một số đô thị Việt Nam, nhóm nghiên cứu
thuộc Ngân hàng Thế giới đã kết luận: gia tăng dân số đô thị và di cư nông thôn -
đô thị là một trong 5 thành phần chuyển đổi rõ rệt trong bối cảnh ĐTH ở Việt Nam hiện nay [42] Cơ cấu lao động đang chuyển dịch khá nhanh ở các đô thị lớn cũng
là điều kiện tốt để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đô thị [63] Dân số tăng nhanh là nguồn lực nhưng lại trở thành áp lực cho phát triển KT - XH đô thị nếu không có những chính sách sử dụng lao động, quy hoạch đô thị, chiến lược phát triển kinh
tế hợp lý [19] Theo tác giả Đỗ Thị Minh Đức, khi “cung” lớn hơn “cầu” trong sử dụng lao động thì việc cơ cấu lại các thành phần kinh tế sẽ có xu hướng đẩy lao động ra xa các đô thị, tức là phạm vi đô thị sẽ được mở rộng Khi đó đô thị sẽ phải gánh sức ép từ các vùng nông thôn [26] Tác động từ ĐTH đến cơ cấu lao động,
cơ cấu nghề nghiệp ở vùng đang chuyển đổi được tác giả Phan Thanh Khôi nhấn
mạnh trong Một số vấn đề nảy sinh trong tiến trình CNH, HĐH vùng đồng bằng
sông Hồng [37] Chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần và chính sách của
thị trường lao động đã làm gia tăng quá trình di chuyển lao động từ nông thôn ra
đô thị theo hình thức mùa vụ trở [64] Bên cạnh đó, các quá trình dân số trong đô thị, cấu trúc dân cư đô thị, cấu trúc gia đình trong đô thị cũng ảnh hưởng đến tốc
độ và mức độ của ĐTH [32]
Từ khi ĐTH được nghiên cứu dưới góc độ địa lý KT - XH thì mối quan hệ giữa nông thôn và đô thị đã được chú ý nhiều hơn Xu hướng chuyển đổi không gian nông thôn thành không gian đô thị được tác giả Đỗ Thị Minh Đức đề cập trong luận án tiến sĩ Địa lý [26] Một số luận án tiến sĩ đã nghiên cứu về ĐTH
Trang 16nhưng ở các khía cạnh khác nhau, như: Vận dụng phương pháp phân tích đa tiêu
chí đánh giá mức độ ĐTH nhằm góp phần xây dựng các quan điểm phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020, lấy Hà Nội làm ví dụ của tác giả Nguyễn Hữu Đoàn
[23], Tác động của những biến động KT - XH đến sự phát triển đô thị ở thị xã Lạng
Sơn của tác giả Hoàng Phúc Lâm [39], Quá trình ĐTH và ảnh hưởng của nó đến môi trường nước và không khí ở thành phố Việt Trì của tác giả Phạm Văn Nhật
[52] và Phân tích quá trình ĐTH ở thành phố Hải Phòng giai đoạn 1985 - 2007
của tác giả Vũ Thị Chuyên [14]
Quản lí nhà nước và quản lí kinh tế trong đô thị được đề cập và phân tích
trong nghiên cứu của tác giả Võ Kim Cương [18] Các vấn đề về xã hội học đô thị,
dân số học đô thị đã được các tác giả Trần Hùng, Trần Cao Sơn, Trịnh Duy Luân
đi sâu nghiên cứu [32,50,57] Ngoài ra còn có các nghiên cứu liên quan đến Chính
sách phát triển đô thị của tác giả Võ Kim Cương, Nguyễn Đình Hương, Phạm
Ngọc Côn [15,19,35] và Quản lí đô thị của tác giả Nguyễn Ngọc Châu, Phạm Sĩ
Liêm [6,48]
2.2 Những nghiên cứu về sử dụng đất đô thị
Vấn đề sử dụng đất đã được quan tâm, nghiên cứu ngay từ khi các đô thị trên thế giới được hình thành Mỗi nhà nghiên cứu có một cách phân tích, đánh giá và đưa ra những định hướng về sử dụng đất khác nhau qua mỗi mô hình ĐTH Alan Rabinowitz là một trong những người đi đầu nghiên cứu sử dụng đất trong ĐTH
Trong Urban Economic and Land use in America - The transformation of Cities
in the Twentieth Century ông đã nghiên cứu các kiểu sử dụng đất trong đô thị và
tìm ra điểm khác nhau giữa mô hình sử dụng đất trong thành phố xã hội và thành phố vườn Theo Alan Rabinowitz, ý tưởng xây dựng thành phố Vườn của Howard trở thành một lí luận tiêu biểu cho phát triển vùng ngoại ô ở Hoa Kì Từ đó mối quan hệ giữa sử dụng đất với phát triển mạng lưới giao thông đô thị, giữa xây dựng nhà ở đô thị và các công trình công cộng khác được chú ý hơn Qua phân tích thực tiễn ĐTH ở Hoa Kì, ông đưa ra một số định hướng về sử dụng đất công cộng, đất
đô thị, trong bối cảnh ĐTH thế ở thế kỉ XXI [104]
Một số mô hình sử dụng đất ở các đô thị đã ra đời theo xu hướng phát triển
chung của thế giới là: Các đường tròn đồng tâm (năm 1925) với địa tô giảm dần theo hướng từ trung tâm ra ngoại ô của Ernest Burgess, mô hình thành phố của Hoyt (năm 1939), mô hình thành phố đa cực (năm 1945) của Chauncy Harris and
Edwad Ullman [103] Các mô hình trên đã được vận dụng trong một số trường hợp
cụ thể ở thời kì sau đó ở một số đô thị trên thế giới [38] Khi nghiên cứu về ĐTH
Trang 17đạt trình độ cao hơn đã có lý thuyết Vị trí trung tâm (Central Place Theory) của
nhà địa lý người Đức - Walter Christaller (năm 1933) Nó đã mang lại nhiều ý nghĩa về mối quan hệ mật thiết giữa khu vực trung tâm thành phố và khu vực ngoại
ô [98]
Khi ĐTH ở Việt Nam bước vào thời kì khởi sắc, sử dụng đất đã có mặt trong một số nghiên cứu về đô thị Những khái niệm về đất đô thị, sử dụng đất trong đô
thị đã được xây dựng và tổng quan ở một số giáo trình Giáo trình kinh tế Tài
nguyên đất [45], Giáo trình quy hoạch đô thị và điểm dân cư nông thôn [3], Giáo trình quy hoạch và sử dụng đất [55] của trường Đại học Nông nghiệp Sau đó là
một số công trình nghiên cứu về đất đô thị và quá trình hình hình thành đất đô thị trong phát triển kinh tế hàng hóa [21,49,62] Các nhân tố ảnh hưởng, cơ cấu, chi phí sử dụng đất đô thị có bồi hoàn dựa trên thuyết địa tô tuyệt đối đô thị, địa tô chênh lệch đô thị, địa tô lũng đoạn đô thị và đặc điểm cơ bản của thị trường đất đô
thị đã được tác giả Phạm Ngọc Côn phân tích trong Kinh tế học đô thị [15]
Theo Adam Smith, đất có giá trị sử dụng ngay từ khi còn là đất nông nghiệp (NN) Mức thuế của đất dựa vào độ phì nhiêu và giá trị của những sản phẩm NN [56] Hernado De Soto coi đất đai là một tài sản có thể mang đi thế chấp hoặc dùng như một nguồn vốn để kinh doanh [58] Một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam cho rằng đất đai là tài sản quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống [5] Vị trí của mảnh đất trong đô thị hoặc vị trí của
đô thị có ý nghĩa đặc biệt trong phát triển đô thị [21] ĐTH đã khiến giá trị sử dụng đất đô thị tăng lên trong khi giá đất đô thị phụ thuộc vào vị trí của nó [5] Trong khi Việt Nam thực hiện CNH, ĐTH, đất được chuyển đổi mục đích sử dụng là thực
sự cần thiết [33,71] Kinh tế học đô thị đã phân tích mối quan hệ giữa đất đai đô
thị và kinh tế đô thị Theo đó, đất đai sẽ là cơ sở cho mọi hoạt động sản xuất, mọi hoạt động kinh tế trong đô thị Địa tô đô thị ảnh hưởng đến các hoạt động này thông qua giá thành sản phẩm [46]
Quy hoạch và chính sách quản lí đất đai trong ĐTH ở Việt Nam đã có trong nhiều nghiên cứu theo nhiều quan điểm và khía cạnh khác nhau Cụ thể: Quy hoạch, quản lý và xây dựng đô thị cần được thực hiện đồng bộ [2], các chính sách
về chuyển đổi mục đích sử dụng đất cần được đổi mới trong quá trình CNH và ĐTH cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của xã hội [33] Các nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Đình Hương, Võ Kim Cương, Trần Ngọc Hiên chú trọng đến xây dựng chính sách sử dụng đất bền vững trong khi thực hiện ĐTH
[19,30,35] Trong Đổi mới chính sách đất đai ở Việt nam, tác giả Nguyễn Văn Sửu
Trang 18đã phân tích mối quan hệ giữa tốc độ tăng dân số, phát triển kinh tế, phát triển CSHT với phát triển không gian trong mỗi đô thị Từ đó ông đặt mỗi đô thị trong tổng thể không gian đô thị của cả nước để đưa ra những chính sách, quy hoạch sử dụng đất phù hợp cho từng đô thị [59]
Ở nước ta hiện nay, khi ĐTH đã và đang diễn ra trên khắp cả nước thì việc nghiên cứu sử dụng đất trong ĐTH là việc làm cần thiết Một số luận án tiến sĩ đã
nghiên cứu vấn đề này như: Chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất vùng Đồng bằng sông
Hồng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của
tác giả Phạm Lan Hương [36], Nghiên cứu tác động chuyển đổi cơ cấu sử dụng
đất đến phát triển nông nghiệp, nông thôn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên của tác
giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh [42], Nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóa
đến cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp khu vực Đông Anh - Hà Nội của tác giả Trịnh
Thị Hoài Thu [70], Phân tích quá trình đô thị hóa ở thành phố Hải Phòng giai
đoạn 1985 - 2007 của tác giả Vũ Thị Chuyên [14] Ngoài ra còn có nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất ven đô dưới tác động của công nghiệp hoá – đô thị hóa và những ảnh hưởng của nó đến kinh tế - xã hội cũng như vấn đề sinh kế cho người nông dân ở những vùng ven đô của tác giả Nguyễn Văn Sửu [59] Những
hệ quả của chuyển đổi mục đích sử dụng đất là nông dân bị mất đất NN dẫn đến những khó khăn trong khi tìm sinh kế mới, để giữ mức thu nhập ổn định và đối mặt với các vấn đề về xã hội đô thị đã được tác giả Võ Văn Đức đề cập và phân tích [28]
2.3 Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa ĐTH và sử dụng đất đô thị
Trong Đô thị trong thế giới toàn cầu hóa, Frannie A Lesautier cho rằng:
ĐTH là sự phát triển tất yếu của xã hội Các đô thị ra đời và quá trình phát triển đô thị đã làm cho vấn đề sử dụng đất ở đô thị thay đổi theo thời gian [47] Quan điểm của Paul L Knox và Linda Mc.Carthy về mối quan hệ này là: ĐTH đã tác động sâu rộng đến sử dụng đất trong đô thị bởi trong quá trình ĐTH chứa đựng những thay đổi về không gian, về dân cư và các yếu tố KT - XH khác Ngược lại, sử dụng đất đô thị trong ĐTH có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cơ cấu lao động, cơ cấu nghề nghiệp, chất lượng cuộc sống và các vấn đề xã hội ở các đô thị [99]
Mối quan hệ giữa ĐTH và sử dụng đất đô thị là: ĐTH đã làm tăng quy mô đất đô thị khi ranh giới hành chính đô thị thay đổi, đặc biệt là ở các đô thị được nâng cấp [42] ĐTH và sử dụng đất có mối quan hệ đặc biệt Tốc độ tăng trưởng kinh tế, tốc độ gia tăng dân số, những thay đổi về số lượng và lao động lao động
Trang 19đã khiến đất đai ở các đô thị thay đổi cả về giá trị và giá trị sử dụng [108] Nói về mối quan hệ này, tác giả Nguyễn Ngọc Châu đã cho rằng ĐTH không chỉ mở rộng ranh giới hành chính cho đô thị mà còn là nhân tố tạo nên tính hàng hóa cho đất đai cho đô thị Và giá trị của đất đai trong đô thị còn phụ thuộc vào vị trí địa lí, quy mô của đô thị Giá trị và giá trị sử dụng đất dẫn đến hình thành những khu vực đất đai có chức năng khác nhau trong các đô thị [6]
Theo Đô thị hóa và tăng trưởng, quá trình tăng trưởng đô thị chính là sự tăng
về số dân ở mỗi thành phố [1] Các điều kiện quyết định đến tăng trưởng đô thị là những thay đổi trong phân loại đô thị, quá trình gia tăng cơ học và gia tăng tự nhiên của dân số Dân số tăng lên vừa tạo động lực vừa gây sức ép cho quá trình tăng trưởng ở mỗi đô thị Michael Spence, Patricia Clarke Annez và Robert M.Buckley cho rằng dân số tăng lên trong ĐTH là một trong những nguyên nhân cho các đô thị mở rộng không gian ra vùng ngoại ô [1] Theo David Drakakis Smith, ở các nước đang phát triển, di cư trong CNH đã làm thay đổi về quy mô và cơ cấu sử dụng đất đô thị [108] Ở một số thành phố thuộc khu vực Đông Nam Á, đất NN giảm nhanh khi có hiện tượng nhập cư ồ ạt và chiến lược phát triển kinh tế đô thị
ưu tiên cho phát triển ngành CN [107]
Sử dụng đất đô thị và phát triển KT - XH là vấn đề nổi cộm trong ĐTH Quá
trình phát triển KT - XH có mối quan hệ khá đặc biệt với sử dụng đất trong các đô thị Mối quan hệ này thể hiện qua tỉ lệ tương quan giữa tỉ lệ khu vực II, khu vực III trong cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và tỉ lệ dân đô thị ĐTH không chỉ làm thay đổi mục đích sử dụng đất mà còn làm thay đổi các khu vực chức năng vốn có
từ rất lâu trong các đô thị [101,46]
Đất NN tuy bị mất đi trong ĐTH nhưng bù lại nông dân có được một khoản
tiền để đầu tư, mua sắm và chuẩn bị cho nghề mới [100] CNH, ĐTH và biến đổi
sinh kế ở ven đô Hà Nội của tác giả Nguyễn Văn Sửu đã cho rằng, khi đất NN bị
chuyển đổi thành đất phi NN nông dân ở những vùng ĐTM phải chịu nhiều thiệt thòi nhiều nhất vì sinh kế của họ bị ảnh hưởng nghiêm trọng [60] Thất nghiệp, thiếu việc làm, thu nhập không bền vững, bất ổn về an ninh xã hội đã tăng lên trong bối cảnh trên [28,51] Ngoài ra, những rủi ro, bấp bênh trong quá trình kiếm tìm sinh kế mới [108], sự phân hóa giàu nghèo ngày càng cao giữa các tầng lớp dân
cư trong đô thị [106], xung đột với chính quyền do những bất đồng về thu hồi đất cũng ảnh hưởng tiêu cực đến ĐTH [60]
Trang 20Các đô thị luôn là động lực phát triển và là hạt nhân quan trọng ở mỗi quốc gia Để ĐTH nhanh và bền vững thì nó cần được đặt trong bối cảnh có một nền kinh tế trưởng nhanh, xã hội ổn định và cơ cấu sử dụng đất hợp lí [1]
2.4 Những nghiên cứu liên quan đến tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh là một trong các tỉnh đứng đầu vùng ĐBSH và vùng KTTĐBB
về phát triển CN và chuyển đổi mục đích sử dụng đất Vì vậy, trong thời gian
qua, đã có một số nghiên cứu về tỉnh Bắc Ninh, đó là: LATS Nghiên cứu sự
phân hóa giàu nghèo ở nông thôn tỉnh Bắc Ninh của tác giả Nguyễn Nhân Chiến
[13], LATS chuyên ngành Kinh tế Quá trình CNH, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn tỉnh Bắc Ninh từ năm 1986 đến nay: Thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp của tác giả Nguyễn Sĩ [61] và LATS chuyên ngành Kinh tế Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn tỉnh Bắc Ninh của tác giả Nguyễn Đức Tuyên
[80]
Sử dụng đất và mối quan hệ của nó với phát triển KT - XH là vấn đề khá nổi bật ở Bắc Ninh trong quá trình ĐTH Một số luận án tiến sĩ đã bảo vệ về vấn đề
trên là: LATS chuyên ngành Kinh tế chính trị Chuyển đổi mục đích sử dụng đất
nông nghiệp và tác động của nó đến nhóm lợi ích tỉnh Bắc Ninh của tác giả Nguyễn
Công Thắng [65], LATS chuyên ngành Quản lí đất đai Nghiên cứu tác động của
quát trình CNH đến sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân huyện Quế
Võ, tỉnh Bắc Ninh thuộc chuyên ngành Quản lí đất đai của tác giả Nguyễn Thị Hải
Yến [82] Tuy nhiên, các luận án trên chỉ mới tập trung nghiên cứu các vấn đề xã
hội và sử dụng đất ở tỉnh Bắc Ninh chứ chưa đi sâu nghiên cứu vấn đề sử dụng đất
đô thị
Như vậy, những nghiên cứu về ĐTH dưới các khía cạnh khác nhau đã có rất nhiều trên thế giới và Việt Nam Tuy nhiên, những nghiên cứu về sử dụng đất đô thị còn ít, đặc biệt là nghiên cứu sâu về sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh Bởi vậy, nghiên cứu sinh đã tìm hiểu, kế thừa và chọn lọc những công trình nghiên cứu
đi trước và một số nghiên cứu thuộc lĩnh vực này để xây dựng cơ sở lí luận và thực
hiện đề tài “Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh trong quá trình đô
thị hóa, giai đoạn 2005 - 2015”
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là phân tích quá trình ĐTH và sử dụng đất đô thị, tìm ra mối quan hệ giữa ĐTH và sử dụng đất đô thị, từ đó đưa ra những giải pháp để thực hiện những định hướng ĐTH và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030
Trang 213.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan các vấn đề lí luận và thực tiễn về ĐTH, sử dụng đất đô thị, mối quan hệ giữa ĐTH và sử dụng đất đô thị Đó là những cơ sở khoa học cho tác giả nghiên cứu đặc điểm ĐTH và vấn đề sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh
- Phân tích quá trình ĐTH ở tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 2005 - 2015
- Đánh giá thực trạng biến đổi sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh về mặt thời gian và không gian
- Phân tích mối quan hệ giữa ĐTH và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh
- Đề xuất các giải pháp thực hiện các định hướng ĐTH và sử dụng đất đô thị
ở tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030
4 Giới hạn nghiên cứu
4.1 Giới hạn về nội dung
Luận án giới hạn nội dung nghiên cứu về ĐTH ở tỉnh Bắc Ninh bao gồm những chuyển biến về dân số - lao động, về KT - XH, CSHT đô thị và về cấu trúc không gian đô thị Trong nội dung biến đổi về dân số - lao động, luận án đi sâu phân tích sự thay đổi về quy mô dân đô thị, tốc độ tăng dân số đô thị, tỉ lệ dân số
đô thị, mức độ ĐTH (theo tỉ lệ dân đô thị) và số lượng, cơ cấu lao động phi NN Trong nội dung biến đổi về kinh tế, luận án phân tích những thay đổi về quy mô nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong nội dung về biến đổi hệ thống CSHT đô thị, luận án phân tích hệ thống giao thông đô thị, hệ thống điện đô thị, hệ thống thông tin liên lạc và hệ thống cấp thoát nước đô thị Trong nội dung về cấu trúc không gian đô thị, luận án phân tích về số lượng đô thị, sự phân bố các đô thị và nhấn mạnh đặc điểm cấu trúc không gian ở
Mối quan hệ giữa ĐTH và sử dụng đất đô thị được đặt trong mối quan hệ biện chứng hai chiều: ĐTH với sử dụng đất đô thị và sử dụng đất đô thị với phát triển KT - XH ở khu vực đang diễn ra ĐTH
4.2 Giới hạn về thời gian
Luận án nghiên cứu về ĐTH và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh từ năm
2005 đến 2015 và định hướng đến năm 2030 Trong đó, ở TX Từ Sơn, tác giả đi
Trang 22sâu nghiên cứu trong giai đoạn 2008 - 2015 bởi vì ĐTH ở đô thị này bắt đầu từ năm 2008
4.3 Giới hạn về không gian
Luận án nghiên cứu trên toàn bộ tỉnh Bắc Ninh bao gồm: Thành phố (TP) Bắc Ninh, thị xã (TX) Từ Sơn và 6 huyện Quế Võ, Tiên Du, Yên Phong, Gia Bình, Lương Tài và Thuận Thành Tuy nhiên, ĐTH và những chuyển đổi trong sử dụng đất đô thị chỉ diễn ra chủ yếu ở hai đô thị lớn nên tác giả tập trung, đi sâu nghiên cứu những nội dung trên ở TP Bắc Ninh và TX Từ Sơn
5 Quan điểm nghiên cứu
5.1 Quan điểm hệ thống
ĐTH là tất yếu khách quan trong quá trình phát triển KT - XH ĐTH ở Việt Nam là sự chuyển đổi của 5 yếu tố: hành chính, không gian, kinh tế, dân số và phúc lợi xã hội Khi nghiên cứu sự chuyển đổi về mặt không gian (sử dụng đất) phải đặt nó trong bối cảnh sự chuyển đổi của cả 4 yếu tố trên Không gian đô thị thay đổi được thể hiện qua quá trình thay đổi của dân cư, lao động, kinh tế gắn với diện tích đất đô thị tăng lên, cơ cấu sử dụng đất trong đô thị chuyển đổi nhanh chóng Bởi vậy luận án phải xác định rõ những bộ phận về mặt không gian để phân tích sự thay đổi của nó, làm rõ mối quan hệ giữa chúng với các yếu tố còn lại trong quá trình ĐTH ở tỉnh Bắc Ninh
5.2 Quan điểm lãnh thổ
Sử dụng đất đô thị vừa là biểu hiện, vừa là kết quả của ĐTH Những thay đổi theo thời gian và không gian đã khiến các hoạt động kinh tế và không gian sống của một bộ phận dân cư thay đổi theo Vận dụng quan điểm lãnh thổ, tác giả phân tích vấn đề sử dụng đất đô thị trong quá trình ĐTH và đặt nó trong mối quan hệ với không gian của các hoạt động kinh tế, không gian sống của dân cư khu vực đô thị ở tỉnh Bắc Ninh
5.3 Quan điểm tổng hợp
Trong bối cảnh ĐTH diễn ra khá nhanh trong một thời điểm nên đất đô thị
ở tỉnh Bắc Ninh đã chịu sự tác động bởi các quá trình như: gia tăng dân số đô thị; quá trình CNH gắn liền với sự xuất hiện một số ngành CN chủ lực; những chính sách, quy hoạch phát triển kinh tế; sự phát triển rộng rãi của mạng lưới
TM, sự hiện đại hóa CSHT Các nhân tố trên tác động đồng thời đến vấn đề sử dụng đất trong các đô thị ở tỉnh Bắc Ninh Vì vậy, dựa trên quan điểm tổng hợp, luận án đã đánh giá mức độ ĐTH và mức độ biến đổi trong sử dụng đất đô thị
ở tỉnh Bắc Ninh
Trang 235.4 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Dựa vào quan điểm lịch sử - viễn cảnh, chúng tôi phân tích những đặc điểm ĐTH và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 2005 - 2015 và đưa ra
định hướng ĐTH cũng như định hướng sử dụng đất đến năm 2030
5.5 Quan điểm phát triển bền vững
ĐTH và những chuyển đổi trong sử dụng đất đô thị gắn liền với những thay đổi về về dân cư - lao động, các hoạt động kinh tế cũng như các khía cạnh khác của xã hội Khi ĐTH càng nhanh thì mức độ ảnh hưởng của nó đến môi trường càng lớn Bởi vậy, dựa trên quan điểm phát triển bền vững tác giả xem xét sự tác động của vấn đề sử dụng đất đô thị lên môi trường đô thị và ngược lại, sự ảnh hưởng của môi trường đến vấn đề sử dụng đất trong các đô thị ở tỉnh Bắc Ninh
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu
Những tài liệu sơ cấp và thứ cấp được tác giả thu thập từ nhiều nguồn khác nhau Số liệu sơ cấp là những số liệu tác giả có được thông qua quá trình điều tra
xã hội học ở P Đồng Nguyên và P Đình Bảng (TX Từ Sơn) Số liệu thứ cấp là những cuốn sách, những công trình nghiên cứu, luận án, đề án quy hoạch, những bài viết về ĐTH và sử dụng đất ở Bắc Ninh được công bố trên các tạp chí trong và ngoài nước Ngoài ra, các niên giám thông kê Việt Nam, niên giám thống kê của tỉnh Bắc Ninh, niên giám thống kê của TP Bắc Ninh, niên giám thống kê của TX
Từ Sơn và niên giám thống kê của các huyện là những tài liệu thứ cấp được tác giả
sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài Bản đồ sử dụng đất của tỉnh Bắc Ninh
và các địa phương cũng nguồn là tài liệu thứ cấp quí giá cho tác giả
6.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
Từ những tài liệu đã thu thập được, tác giả đã phân tích đặc điểm ĐTH và những chuyển biến trong sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh theo thời gian và không gian Phương pháp so sánh, đối chứng đã giúp tác giả rút ra được mối quan
hệ giữa ĐTH và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh trong thời kì 2005 - 2015
6.3 Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tham khảo các ý kiến của các nhà khoa học thuộc lĩnh vực địa lí, đất đai, đô thị và các nhà quản lí đại diện cho UBND tỉnh, sở Quy hoạch - Kiến trúc, sở Tài nguyên môi trường tỉnh Bắc Ninh và Tổng cục Quản lí đất đai thuộc Bộ Tài nguyên Môi trường Dựa trên những ý kiến đóng góp của các chuyên gia, tác giả đã tháo gỡ, giải quyết những khó khăn và tìm ra được hướng đi cho luận án Phương pháp chuyên
Trang 24gia còn giúp tác giả đưa ra được những mục tiêu nghiên cứu cũng như lựa chọn phương pháp nghiên cứu cho luận án
6.4 Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp điều tra xã hội học là phương pháp quan trọng trong quá trình tác giả thực hiện luận án Những kết quả nghiên cứu của luận án không chỉ dựa trên nguồn tài liệu thứ cấp mà còn được xử lí từ những bảng hỏi mà tác giả điều tra, thu thập từ ngoài thực địa Những số liệu và thông tin từ điều tra
xã hội học đã giúp tác giả có cái nhìn sâu hơn, hoàn chỉnh hơn khi đưa ra những kết quả nghiên cứu
Xây dựng nội dung, lựa chọn thời gian, địa bàn, xác định đối tượng và phương pháp điều tra được tác giả thực hiện như sau:
Nội dung điều tra: Tác giả đã điều tra 60 phiếu ở 2 phường Đình Bảng (P
Đình Bảng) và phường Đồng Nguyên (P Đồng Nguyên) thuộc TX Từ Sơn (30 phiếu/phường) với các nội dung chính: về chủ hộ, số lao động/hộ, diện tích và giá đất NN bị thu hồi, nghề nghiệp của hộ trước và sau khi thu hồi đất, thu nhập của
hộ trước và sau khi thu hồi đất, quan điểm của các hộ về chủ trương chuyển đổi đất NN, về các vấn đề môi trường và xã hội Từ đó, tác giả làm rõ sự ảnh hưởng của thu hồi đất NN đến phát triển KT - XH ở 2 địa bàn trên thông qua chuyển dịch
cơ cấu nghề nghiệp, những thay đổi về thu nhập, thay đổi về chất lượng cuộc sống
và các vấn đề an ninh xã hội, môi trường đô thị
Thời gian điều tra: Sau khi điều tra mẫu vào tháng 10 năm 2015, tác giả
đã chỉnh sửa và hoàn chỉnh bảng hỏi và tiến hành điều tra chính thức vào tháng
3 năm 2016
Đối tượng điều tra: 60 hộ bị thu hồi đất NN để chuyển đổi mục đích sử dụng
sang đất phi NN
Phương pháp điều tra: Để có được những thông tin và nội dung cần điều tra,
ngoài những câu hỏi trong bảng hỏi, tác giả còn trò chuyện, phỏng vấn sâu với các
chủ hộ và các thành viên trong các hộ được điều tra
Số mẫu điều tra: 60 mẫu (phụ lục 1.1) được chia đều cho 2 phường, mỗi
phường 30 mẫu
P Đồng Nguyên và P Đình Bảng thuộc TX Từ Sơn là địa bàn được tác giả
lựa chọn để nghiên cứu bởi đây là 2 địa bàn bị thu hồi đất NN với diện tích khá lớn nhưng mục đích thu hồi đất lại khác nhau Trước ĐTH, 2 phường trên vẫn là khu vực nông thôn Năm 2008, huyện Từ Sơn được nâng cấp lên đô thị loại IV (thị
Trang 25xã), một số khu vực nông thôn đã trở thành nội thị, trong đó có P Đồng Nguyên
và P Đình Bảng
Ở P Đồng Nguyên, tác giả điều tra 30 hộ thuộc khu phố Nguyễn Giáo vì phần lớn số hộ bị thu hồi đất NN của phường tập trung ở đây Ở P Đình Bảng tác giả điều tra các hộ thuộc khu phố Hạ, khu phố Thượng, khu phố Bà La vì các hộ
bị thu hồi đất ở phường này phân bố rải rác
Công việc điều tra kết thúc, với những thông tin có được, tác giả đã xử lý trên phần mềm SPSS để đưa ra những kết quả nghiên cứu chính xác và tin cậy
6.5 Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin Địa lý (GIS)
Các số liệu sơ cấp và thứ cấp được chúng tôi xử lý trên các phần mềm Exel, SPSS để đưa ra những kết quả nghiên cứu sơ bộ Từ đó, thông qua phần mềm Mapinfor tác giả thành lập các cơ sở dữ liệu, xây dựng hệ thống sơ đồ, biểu đồ và các bản đồ chuyên đề để thể hiện kết quả nghiên cứu một cách cụ thể, khoa học và chính xác
7 Những đóng góp của luận án
- Đúc kết và làm sáng tỏ cơ sở lí luận và thực tiễn về ĐTH, về sử dụng đất
đô thị, mối quan hệ giữa ĐTH và sử dụng đất đô thị để vận dụng vào nghiên cứu
ở tỉnh Bắc Ninh
- Làm rõ ảnh hưởng của các nhân tố (lịch sử phát triển, vị trí địa lí, KT- XH,
tự nhiên) đến quá trình ĐTH và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh
- Nêu được đặc điểm ĐTH thông qua những biến đổi về dân cư, lao động,
KT - XH theo thời gian, theo không gian và những biến đổi trong sử dụng đất trong các đô thị ở tỉnh Bắc Ninh
- Phân tích mối quan hệ giữa ĐTH và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 2005 - 2015 thông qua điều tra xã hội học ở P Đình Bảng và P Đồng Nguyên, TX Từ Sơn
- Đề xuất được các giải pháp để thực hiện những định hướng về ĐTH và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030 theo hướng phát triển bền vững
8 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận án được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị hóa và sử dụng đất đô thị Chương 2: Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh
Chương 3: Định hướng và giải pháp trong đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030
Trang 261.1.1.1 Khái niệm đô thị và đô thị hóa
- Khái niệm về đô thị
Từ khi đô thị được nghiên cứu và trở thành một ngành khoa học “Đô thị học”,
đã có nhiều định nghĩa về đô thị C Mác cho rằng: Thành thị (đô thị) là nơi tập trung dân cư, tập trung công cụ sản xuất, tập trung tư bản, các nhu cầu và sự hưởng thụ của người lao động Nông thôn ngược lại với đô thị, mọi điều trên tương đối biệt lập và phân tán Đô thị không phải là con số cộng của những bộ phận cấu thành mà đô thị là một cơ thể sống riêng biệt theo kiểu riêng của nó [41] Như vậy,
C Mac đã coi đô thị là một cơ thể sống riêng biệt, đối lập với nông thôn về sự tập trung dân cư, sự tập trung tư bản và lực lượng sản xuất (LLSX)
Các nhà nghiên cứu đô thị học ở Mỹ gồm Kaplan, Wheeler và Holloway đã định nghĩa về đô thị như sau: Đô thị là những nơi có dân cư sinh sống đông đúc với mật độ cao, người dân sống ở đó thường làm các ngành nghề không liên quan đến lĩnh vực NN và đó thường là những trung tâm chính trị, kinh tế và xã hội Đô thị còn là nơi diễn ra các hoạt động kinh tế phi NN [98]
Ở Việt Nam đã có nhiều khái niệm về đô thị Đô thị được hiểu là một không gian cư trú của cộng đồng người sinh sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi NN [81] Đô thị là trung tâm chuyên ngành hay tổng hợp có vai trò thúc đẩy phát triển KT - XH của cả nước, của một vùng, của một tỉnh hay một huyện [2] Theo giáo sư Đàm Trung Phường, đô thị là một đơn vị KT - XH phản ảnh sự vận động của bản thân LLSX và tổ chức xã hội, khi bột phát, khi phát triển bình thường, khi suy thoái làm cho cấu trúc đô thị luôn luôn chuyển hóa Quá trình chuyển hóa này vừa mang tính chất sinh học, vừa mang tính chất cơ học và có thể diễn ra từ trong tâm đô thị ra ngoài hoặc từ vùng nông thôn, vùng ngoại ô ngoài tác động vào tâm đô thị [53]
Về mặt quản lý nhà nước, khái niệm về đô thị được đưa ra trong thông tư số 34/2009/TT - BXD và quy định chi tiết một số nội dung của nghị định 42/2009/NĐ
- CP của Chính phủ: đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi NN, là trung tâm chính trị, hành chính,
Trang 27kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành có vai trò thúc đẩy phát triển KT - XH của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố, nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn [4]
Như vậy, đô thị là nơi tập trung dân cư với mật độ cao, lao động phi NN
chiếm tỉ lệ lớn trong cơ cấu lao động, là nơi diễn ra các hoạt động kinh tế phi
NN, CSHT tương đối đồng bộ, là nơi chứa đựng sự vận động của LLSX và có vai trò như một hạt nhân thúc đẩy phát triển KT - XH cho cả nước, cho một tỉnh
và một huyện
- Cấu trúc không gian của đô thị: Cấu trúc không gian đô thị chính là hình
thức tồn tại về không gian KT - XH Nó không chỉ bao gồm mối quan hệ không gian giữa các ngành sản xuất vật chất (CN, TM, dịch vụ - DV) với ngành NN ở vùng ngoại ô mà nó còn tồn tại cả mối quan hệ không gian với các ngành sản xuất phi vật chất (văn hoá, giáo dục, y tế, các DV hành chính) Cấu trúc không gian đô thị còn là sự kết hợp giữa các khu nhà ở, các cơ sở CN, TM, DV, CSHT với đất
đai với con người sống trong các đô thị
Cấu trúc không gian của đô thị gồm cấu trúc cứng và cấu trúc mềm: Phần
cấu trúc cứng là mạng lưới hạ tầng kĩ thuật và các bộ phận của thiên nhiên cần
được bảo tồn Phần cấu trúc mềm là mạng lưới nhà ở, hạ tầng đô thị và các yếu tố
có khả năng chuyển thể theo mức sống, nếp sống trong xã hội cùng các bộ phận
của thiên nhiên được phép cải tạo, thay đổi và tôn tạo Phần cấu trúc điều hòa là
các tổ chức hoạt động phát triển của cộng đồng gắn kết 2 phần cấu trên trong từng thời gian và không gian cụ thể Đó là các chính sách quản lý và những tiến bộ KHKT [53]
Cấu trúc không gian đô thị thể hiện rõ tính địa lý trong đó Một đô thị có cấu trúc không gian hợp lí sẽ ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội
và hiệu quả môi trường trong đô thị
- Các phân khu chức năng của đô thị: Các khu vực chức năng của đô thị được
phân chia dựa trên yêu cầu tập trung hóa các ngành kinh tế và các yếu tố xã hội trong đô thị Các khu vực chức năng nếu được phân chia và kết hợp một cách hợp
lí sẽ thúc đẩy phát triển KT - XH hội đô thị Ngược lại, KT - XH đô thị sẽ bị kìm
hãm nếu các khu vực chức năng được phân chia bất hợp lí Những điều kiện ảnh
hưởng đến quá trình phân chia các khu vực chức năng là: các quy luật phân bố của sản xuất, khối lượng và chất lượng các nguồn tài nguyên, sự phát triển của yếu tố thị trường, số lượng và chất lượng nguồn lao động, mạng lưới giao thông vận tải
Trang 28(GTVT), tính chất của đô thị, giá đất và mức chênh lệch địa tô t đô thị, nhu cầu và
thu nhập của người dân trong đô thị
• Phân khu chức năng công nghiệp: CN phát triển là tất yếu khách quan trong
ĐTH Phân bố các KCN trong CNH có vai trò đặc biệt quan trọng Chức năng chính của khu vực này là sản xuất nên chịu tác động của nhiều yếu tố (nguồn nguyên liệu, thị trường tiêu thụ, quãng đường và phương tiện chuyên chở…) Mỗi
đô thị có tính chất khác nhau nên quỹ đất dành cho CN sẽ khác nhau Vị trí địa lí thuận lợi, địa hình bằng phẳng, chất lượng đất tốt và khả năng chịu được sức ép cường độ lớn là những điều kiện tốt để tập trung các cơ sở CN Đất dành cho CN không chỉ để xây nhà xưởng sản xuất mà còn là nơi chứa đựng các thiết bị phụ trợ
và khoảng cách về không gian tối thiểu giữa các công trình Quy mô đất dành cho khu vực chức năng CN còn tùy thuộc vào tính chất của mỗi ngành CN KCN là một bộ phận chức năng nằm trong đô thị nên mối tương quan giữa hiệu quả của các KCN với các thành phần khác của đô thị cần được chú trọng Ngoài ra, trong khu chức năng CN cần có không gian để xây dựng mạng lưới GTVT, mạng lưới điện, khu vực xử lý chất thải, khoảng cách cần thiết để tránh ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn cho đô thị
Ngành CN không ngừng phát triển nên khi nó phát triển quá giới hạn cho phép khu vực chức năng CN thường được di dời từ trung tâm ra vùng ngoại ô Quá trình này được gọi là “ngoại ô hóa” trong ĐTH Vì vậy, các khu vực chức năng
CN ngày tiến ra xa trung tâm đô thị [46]
• Phân khu chức năng dịch vụ - thương mại: Tính chất của ngành DV - TM
là lưu thông nên khu vực chức năng này không phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên
mà phụ thuộc nhiều vào các yếu tố KT - XH, đặc biệt là yếu tố thị trường Hoạt
động DV - TM thường ổn định hơn các hoạt động CN và nó là một trong những chức năng chính của kinh tế đô thị Tuy các đô thị có khác nhau về quy mô nhưng mức độ tập trung của ngành TM không khác nhau nhiều bởi mạng lưới DV - TM thường phát triển trước khi đô thị mở rộng Nếu ngành CN chỉ cần chú trọng đến quy mô và mức độ tập trung các cơ sở sản xuất thì ngành TM lại vừa chú ý đến quy mô, mức độ tập trung sản xuất, vừa chú ý đến mức độ phân tán của các hoạt động TM Mức độ phân tán của ngành DV là sự phân bố của các trung tâm TM bán buôn, bán lẻ Các trung tâm DV không tập trung ở một nơi mà thường dọc
theo các tuyến giao thông
Mỗi một đô thị thường có một khu trung tâm như một hạt nhân của đô thị, theo tiếng Anh là CBD (Central Business District) CBD thường có mật độ TM
Trang 29cao với các cửa hàng đa dạng sản phẩm và chất lượng tốt CBD còn là nơi tập trung các trung tâm tài chính, trung tâm thông tin và các đầu mối GTVT Khu vực này, tập trung những tinh hoa về văn hóa, chất lượng cao về hàng hóa và những hoạt động kinh tế một cách tối ưu của các dòng vốn nhất Mỗi một CBD là một hạt nhân của và thúc đẩy đô thị phát triển Khi các hoạt động DV - TM lan tỏa mạnh ra khu vực xung quanh đô thị và có thể làm dịch chuyển CBD sang khu vực có hoạt động này phát triển mạnh hơn Ngoài ra, khi chênh lệch địa tô đô thị lên cao, bên cạnh CBD hạng 1 sẽ xuất hiện thêm các CBD hạng 2, hạng 3 tạo thành một mạng lưới hạt nhân thúc đẩy phát triển cho toàn đô thị
• Phân khu chức năng ngoại ô: Ngoại ô là một vành đai chuyển tiếp giữa
nông thôn và đô thị, là một bộ phận không thể tách rời khỏi đô thị Chức năng của ngoại ô là kéo dài khu vực sản xuất, không gian sinh sống và lưu thông của đô thị Ngoài vai trò đảm bảo phát triển kinh tế cho đô thị thông qua việc cung cấp tài nguyên, sức lao động, lương thực thực phẩm, nguồn vốn, ngoại ô còn là nơi giao nhau giữa đô thị và nông thôn về mặt xã hội Vì thế khu vực ngoại ô là nơi đầu
tiên giúp cho đô thị mở rộng không gian hoặc nâng cấp đô thị [75]
- Khái niệm về đô thị hóa
ĐTH là một hiện tượng KT- XH, trong đó chứa đựng mối quan hệ đặc biệt giữa thành thị và nông thôn ĐTH đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt từ khi có ngành nghiên cứu riêng về đô thị ra đời Trường phái nghiên cứu địa lý đô thị của Liên Xô (cũ) cho rằng ĐTH là một quá trình KT - XH thay đổi nhanh trong thời đại KHKT phát triển Biểu hiện của ĐTH là tăng nhanh
về số lượng và quy mô các đô thị hay mức độ tập trung dân cư cao trong các thành phố ĐTH còn là những chuyển biến sâu sắc trong cấu trúc kinh tế và trong các hoạt động đời sống xã hội ở các đô thị [26]
Dưới góc độ kinh tế học đô thị, ĐTH được coi là một quá trình biến đổi trong phân bố LLSX và trong sắp xếp dân cư từ vùng ngoại ô, vùng nông thôn thành dân
cư đô thị ĐTH là quá trình phát triển các đô thị hiện có theo chiều sâu ĐTH còn
là sản phẩm của xã hội CN Trình độ ĐTH được đánh giá dựa trên những thay đổi
tỉ lệ dân đô thị, tỉ lệ lao động phi NN, tỉ trọng GDP của các ngành phi NN [15]
Khái niệm ĐTH trong Kinh tế học đô thị được hiểu theo cả theo nghĩa rộng và
nghĩa hẹp Nghĩa rộng của ĐTH là quá trình thay đổi tính chất trạng thái của đô thị, tăng nhanh về số lượng và nâng cao chất lượng đô thị Nghĩa hẹp của ĐTH là quá trình dân cư, lao động phi NN tập trung với quy mô lớn tại đô thị và khu vực
đô thị [46]
Trang 30Từ góc độ địa lý KT - XH, theo nghĩa rộng, ĐTH là quá trình lịch sử nâng cao vai trò của các đô thị trong vận động phát triển chung của xã hội Quá trình này bao gồm những thay đổi trong phân bố LLSX, trước hết là phân bố dân cư, trong cơ cấu lao động và nghề nghiệp, trong cơ cấu dân số, trong lối sống, văn hóa,
tổ chức không gian của môi trường sống ĐTH là một phần của quá trình KT - XH dựa trên cơ sở các hình thức phân công lao động xã hội và phân công lao động theo lãnh thổ Theo nghĩa hẹp, ĐTH là phát triển hệ thống các thành phố và nâng cao vai trò của nó trong phát triển KT - XH của đất nước ĐTH là sự tập trung dân
cư trong các thành phố lớn hay thành phố cực lớn cùng với lối sống văn minh, hiện đại trở thành phổ biến [79]
Từ góc độ nhân khẩu học, ĐTH được hiểu là quá trình di cư từ nông thôn tới
đô thị, là sự tập trung dân cư ngày càng cao ở các đô thị Về mặt xã hội, ĐTH là quá trình tổ chức lại môi trường cư trú của con người và làm chuyển hóa những khuôn mẫu của đời sống KT - XH ĐTH là quá trình thay đổi về số lượng như tăng trưởng dân số, mở rộng diện tích lãnh thổ, tăng thu nhập trong sản xuất và là quá trình thay đổi về mặt chất lượng như nâng cao mức sống, làm phong phú các khuôn mẫu về văn hóa [74]
Trên quan điểm coi ĐTH là một quá trình phát triển, thì ĐTH là quá trình chuyển hóa nông thôn thành đô thị [26], là quá trình tập trung dân cư vào các đô thị [2], là những thay đổi theo chiều hướng tăng lên về số người sống ở các đô thị [107] và là một quá trình hình thành, phát triển các hình thức sống, các điều kiện sống ở nông thôn theo kiểu đô thị [15] ĐTH còn là quá trình mở rộng không gian
đô thị thông qua chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất NN sang đất phi NN và tăng diện tích đất đô thị Một trong những nhân tố quan trọng tạo nên ĐTH là chuyển
đổi cơ cấu sử dụng đất [21] Theo nhà nghiên cứu đô thị người Mỹ, P L Knox và
L McCarthy: ĐTH là một quá trình có nhiều liên quan đến những người sống và làm việc ở các thành phố lớn và các vùng siêu đô thị Quá trình ĐTH diễn ra với những chuyển biến trong cùng một thời điểm một loạt các yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau như: kinh tế, chính trị, văn hóa, môi trường, dân cư, nhân khẩu, xã hội và công nghệ Và kết quả của những biến đổi này đã tác động đến hệ thống đô thị và các vấn đề khác như sử dụng đất, môi trường xây dựng, sinh thái xã hội và
kiến trúc trong đô thị [99]
Những khái niệm về ĐTH được nêu ở trên rất rộng, phức tạp và đa chiều
Vậy, theo tác giả, ĐTH là hiện tượng KT - XH bao gồm các quá trình tăng quy
mô dân số đô thị, tăng tỉ lệ dân đô thị cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu
Trang 31lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng nhóm ngành phi nông nghiệp Bên cạnh đó ĐTH còn là thay đổi không gian đô thị thông qua việc tăng lên số lượng đô thị cùng với chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất đô thị
1.1.1.2 Đặc điểm của đô thị hóa
- Đô thị hóa mang tính xã hội và lịch sử
ĐTH là quá trình phát triển về quy mô và số lượng đô thị ĐTH là quá trình nâng cao vai trò của đô thị và hình thành các chùm đô thị ĐTH gắn liền với những chuyển biến sâu sắc về KT - XH của đô thị và nông thôn trên cơ sở phát triển các ngành CN, XD, GTVT và ngành DV Phương hướng và điều kiện phát triển của ĐTH phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển của LLSX và quan hệ sản xuất [24]
Đô thị được ví như một cơ thể sống nên các thành phần trong cấu trúc không gian của đô thị luôn biến đổi trong quá trình ĐTH Cấu trúc không gian của đô
thị bao gồm phần cứng (CSHT đô thị), phần mềm (con người, nhà ở và những thành phần liên quan đến sinh hoạt, văn hóa, tinh thần của con người) và phần
điều hòa (các hoạt động kinh tế) tạo ra sự gắn kết giữa 2 phần cấu trúc cứng và
cấu trúc mềm) Các thành phần trên trong cấu trúc không gian đô thị được ví như
3 bộ phận của một cơ thể gắn kết chặt chẽ với nhau và không thể tách rời Đặc điểm này vừa biểu hiện tính sống của đô thị, vừa biểu hiện mối gắn kết chặt chẽ giữa đô thị với phát triển của xã hội ĐTH với ranh giới đô thị mở rộng, dân số trong đô thị tăng lên là khi LLSX, giá trị sản xuất và các giá trị văn hóa ở đô thị thay đổi ĐTH diễn ra là khi yếu tố con người (số dân đô thị, lối sống trong đô thị), các hoạt động kinh tế (chuyển dịch cơ cấu kinh tế) và CSHT biến đổi có thể theo hướng tích cực hoặc tiêu cực Điều này vừa là thời cơ, vừa là thách thức cho
đô thị phát triển và ổn định [18]
- Đô thị hóa song song với công nghiệp hóa
CNH gồm 4 tiến trình diễn ra song song, đó là: nâng cao năng suất lao động, chuyển đổi lao động từ nhóm ngành NN sang nhóm ngành phi NN, chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng lên Cả 4 tiến trình trên cũng xuất hiện trong ĐTH Vì vậy, có thể coi CNH vừa là nhân tố tác động vừa là kết quả của quá trình ĐTH [18]
ĐTH là một quá trình vận động phát triển mang tính quy luật của các bộ phận trong cấu trúc không gian của đô thị Các thành phần của cấu trúc không gian đô thị luôn vận động và biến đổi có tính quy luật trong quá trình ĐTH Khi ĐTH diễn
ra càng mạnh, các thành phần đó chuyển đổi càng nhanh Điều này thể hiện rõ
Trang 32thông qua những chuyển biến về dân cư, lao động, cơ cấu kinh tế và sử dụng đất
Giữa đô thị và nông thôn luôn có mối quan hệ khăng khít Khi các hoạt động kinh tế trong đô thị phát triển, nhu cầu về đất để mở rộng không gian sản xuất ngày một tăng lên Trong khi đó quỹ đất của các đô thị vốn đã hạn hẹp nên phải mở rộng không gian ra vùng ngoại ô, thậm chí mở rộng đến các vùng nông thôn Cùng với
đó, nhu cầu về nhà ở đô thị cũng tăng lên theo tốc độ tăng dân số đô thị Vì vậy, trong quá trình ĐTH không chỉ diện tích đất đô thị tăng lên, cơ cấu sử dụng đất trong đô thị biến đổi mà khu vực chức năng trong đô thị cũng được mở rộng và phân bố lại
Con người có thể điều khiển những hoạt động kinh tế trong đô thị theo đúng các quy luật khách quan Ngoài ra con người còn có thể đưa ra những định hướng
và can thiệp vào các quá trình vận động trong đô thị để ĐTH được bền vững [19,110]
- Bối cảnh toàn cầu hóa tác động ngày càng mạnh đến đô thị hóa
Ở các nước đang diễn ra ĐTH và CNH thường gặp phải một số khó khăn khi hội nhập với nền kinh tế thế giới Nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là kinh tế của các
đô thị lớn vừa bị ảnh hưởng bởi các quy luật vận động, phát triển kinh tế toàn cầu, vừa chịu sự chi phối của các chính sách phát triển kinh tế trong nước Khi chính sách phát triển kinh tế trong nước chưa bắt kịp và chưa phù hợp với nền kinh tế toàn cầu thì các đô thị gặp phải những thách thức rất lớn trong thu hút đầu tư, phát triển nền kinh tế, xử lí các vấn đề tiêu cực trong môi trường và xã hội đô thị Xu hướng ĐTH tự phát, ĐTH giả tạo đang phát triển ở một số quốc gia sẽ để lại những hậu quả nặng nề về KT - XH cho các đô thị
Trang 33Hình 1.1 Các quá trình trong đô thị hóa Nguồn: [99]
1.1.1.3 Các giai đoạn đô thị hóa
ĐTH là một hiện tượng nổi bật trong quá trình phát triển KT - XH nên nó có mối quan hệ chặt với trình độ phát triển của quá trình trên Đô thị ra đời gắn liền với những thay đổi về ngành nghề trong sản xuất NN ĐTH diễn ra nhờ những phát triển vượt bậc trong sản xuất CN Các giai đoạn của ĐTH được chia theo nhiều cách khác nhau Theo tác giả Đỗ Thị Minh Đức, có thể chia các giai đoạn của ĐTH theo lịch sử hình thành và phát triển của đô thị Ngoài ra có thể chia các giai đoạn đó dựa theo các cuộc CMKHKT hoặc dựa vào vận động của LLSX [26]
Dù có khác nhau về tiêu chí phân chia nhưng cách chia nào cũng phản ảnh được mối quan hệ giữa quá trình phát triển đô thị và phát triển của LLSX
Theo Ray M Northam, quá trình ĐTH được phân chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn đầu của ĐTH, giai đoạn ĐTH tăng tốc, giai đoạn kết của ĐTH (dẫn theo [98])
Hình 1.2 Sơ đồ phân kỳ đô thị hóa theo R.M Northam Nguồn: [98]
Trang 34Vận dụng lý thuyết của J Fourastié về chuyển dịch lao động giữa ba khu vực kinh tế (NN, CN và DV), chuyển dịch của cơ cấu kinh tế, gắn với phát triển của LLSX, kết hợp với phân kỳ ĐTH của Ray M Northam, ta có thể miêu tả các giai đoạn của ĐTH như sau:
- Giai đoạn 1: Đây là giai đoạn ứng với văn minh NN, với các nước có thu
nhập thấp, ít sử dụng máy móc trong sản xuất, năng suất lao động thấp, trình độ học vấn và dân trí thấp Đây là giai đoạn phần lớn dân cư còn sống ở nông thôn, cuộc sống dựa vào nông nghiệp, ĐTH chậm chạp và kém phát triển
- Giai đoạn 2: Là giai đoạn ứng với văn minh CN, nay ứng với các nước
có thu nhập trung bình Thời kì này, cách mạng KHCN đã có những thành tựu nhất định nên việc sử dụng máy móc trong sản xuất phổ biến hơn Các sản phẩm tiêu dùng trong xã hội được chế biến từ tự nhiên và từ những nguyên liệu mới không có sẵn trong tự nhiên Thu nhập quốc dân tăng lên, chất lượng cuộc sống của dân cư được cải thiện, tổ chức xã hội đạt trình độ cao hơn CNH thúc đẩy ĐTH và tạo nên lực hút đối với các dòng di cư từ nông thôn vào đô thị
- Giai đoạn 3: Là giai đoạn hậu CN hay còn gọi là nền văn minh DV và ứng với các nước có thu nhập cao Tự động hóa trở nên phổ biến trong cả NN
và CN Nhờ vậy, nhu cầu lao động trong trong 2 ngành trên giảm trong khi nhu cầu về lao động trong ngành DV lại tăng lên Ở giai đoạn 3, cấu trúc của nền kinh tế phức tạp hơn Dưới tác động của cách mạng KHCN, các dòng vốn lưu chuyển nhanh hơn, vật tư kĩ thuật phát triển vượt bậc, thông tin liên lạc và các dịch vụ công đã thay đổi một cách khác biệt Chất lượng cuộc sống của dân cư đạt mức cao và ngoài thời gian làm việc lao động có nhiều thời gian rảnh rỗi nên nhu cầu dịch vụ cho cá nhân và cộng đồng tăng lên Đây là thời
kì dân số tập trung khá nhanh vào đô thị nên các đô thị lớn và đô thị cực lớn
đã xuất hiện Ở một số nước có trình độ phát triển kinh tế cao, dân đô thị đang
có xu hướng chuyển từ trung tâm của đô thị ra vùng ngoại ô Hiện tượng này được gọi là “phản ĐTH”
Trang 35Hình 1.3 Biểu đồ chuyển dịch lao động giữa ba khu vực kinh tế (theo J Fourastié)
Nguồn: [98]
Dựa trên những biến đổi về bố cục không gian đô thị và quan hệ giữa thành thị - nông thôn, dựa trên phương thức tập trung dân số và hoạt động kinh tế phi
NN, người ta chia ra ĐTH tập trung và ĐTH phân tán ĐTH tập trung thường xuất
hiện ở thời kì đầu của ĐTH Đó là khi nông dân và lao động NN di chuyển ra đô
thị làm cho các đô thị tăng lên cả quy mô và mật độ dân số ĐTH phân tán là giai
đoạn sau của quá trình ĐTH Đó là khi khu vực ngoại thành của các đô thị lớn phát triển nhanh nhờ mở rộng, nâng cấp mạng lưới GTVT Dòng chuyển cư gồm lực lượng lao động các doanh nghiệp di chuyển từ trung tâm thành phố ra khu vực ngoại ô ngày càng nhiều để tránh không gian sinh sống chật chội, tình trạng tắc nghẽn giao thông đồng thời giảm chi phí thuê nhà giá cao và chi phí đi lại hàng ngày Phạm vi sinh sống và không gian làm việc mở rộng của lực lượng trên là nhân tố khiến khu vực nông thôn cũng dần bị ĐTH Vì thế không gian các đô thị ngày càng được mở rộng [15]
1.1.1.4 Các lý thuyết phát triển đô thị
- Lý thuyết ba khu vực hoạt động kinh tế của Jean Fourastier
Jean Fourastier là người đầu tiên nghiên cứu một cách tổng hợp có hệ thống
và đưa ra lý thuyết “ba khu vực hoạt động KT - XH” Theo lý thuyết này, tất cả các hoạt động của các cộng đồng được chia thành 3 khu vực: khu vực I (khu vực nông nghiệp), khu vực II (khu vực CN) và khu vực III (khu vực DV) Ông cho rằng có mối quan hệ đặc biệt giữa việc di chuyển lao động giữa các khu vực với
Trang 36phát triển của KHKT và trở thành một quy luật Thời kì đầu, khi dân cư lao động tập trung chủ yếu ở khu vực I cũng chính là thời kì đầu của ĐTH (ĐTH NN) Đến giai đoạn tiếp theo, lao động dần chuyển sang khu vực II, tương ứng với thời điểm cách mạng CN là giai đoạn II của ĐTH (ĐTH CN) Giai đoạn tin học và công nghệ
tự động hóa phát triển tương ứng với chuyển dịch lao động từ khu vực I, II sang khu vực III cũng là lúc đô thị mở rộng rất nhanh cả về số lượng đô thị và quy mô dân số Lý thuyết ba khu vực hoạt động kinh tế của Jean Fourastier có một ý nghĩa rất lớn bởi nó phù hợp với 3 thời kỳ của quá trình ĐTH đang diễn ra trên tất cả các nước [53]
- Lý thuyết hệ thống vị trí trung tâm theo quan điểm của Christaller
Nhà Địa lý người Đức, Walter Christallaer, là người đầu tiên nghiên cứu về
vị trí dưới góc độ địa lý Trong lý thuyết vị trí trung tâm ông đã chỉ ra quy luật về quy mô, số lượng và phân bố của các đô thị Dựa trên 3 nguyên tắc: thị trường, giao thông và hành chính ông đã chỉ ra vị trí trung tâm có chức năng cơ bản là cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khu vực xung quanh Theo nguyên tắc thị trường, mỗi đô thị như một trung tâm và có mối quan hệ mật thiết với các đô thị xung quanh tạo ra phân chia thứ bậc đô thị Theo nguyên tắc giao thông, vị trí trung tâm thường nằm trên những tuyến giao thông chạy từ trung tâm cao nhất của đô thị ra các hướng khác nhau theo hình nan quạt Theo nguyên tắc hành chính, các trung tâm đô thị ở bậc thấp nằm hoàn toàn trong khu vực của trung tâm bậc cao hơn Như vậy, lý thuyết trung tâm có ý nghĩa rất lớn trong quy hoạch đô thị, lựa chọn địa điểm xây dựng các cơ sở kinh tế và phân chia các khu vực chức năng trong đô thị [62]
- Lý thuyết ĐTH ngoại vi (Peripheral Urbanization) là mô hình được hình thành dựa trên thuyết “Hệ thống thế giới phụ thuộc” Trên quan điểm kinh tế chính
trị, thuyết “Hệ thống thế giới phụ thuộc” đã đưa ra những điểm khái quát về ảnh hưởng của chủ nghĩa Tư bản toàn cầu đến hệ thống đô thị trong khu vực các nước đang phát triển Phạm vi của chủ nghĩa Tư bản mở rộng vào các khu vực ngoại vi
đã thúc đẩy ĐTH nhanh hơn Quá trình này được chia làm các giai đoạn:
Dòng di cư hướng về thành phố tăng lên do các hình thức nông nghiệp tiền
tư bản bị phá vỡ và hàng nhập khẩu giá rẻ cạnh tranh với các mặt hàng thủ công truyền thống
Những thặng dư ở các vùng ngoại vi nông thôn được khai thác bởi các tập đoàn tư bản quốc gia và các đại diện của các công ty có vốn nước ngoài thường được bố trí ở khu trung tâm đô thị Quá trình này dẫn đến việc mở rộng các trung
Trang 37tâm chợ, đầu mối giao thông chính và tăng trưởng nhanh ở các đô thị lớn hay các cảng lớn
Lực hút ở các thành phố ngày càng lớn bởi cơ hội việc làm, thu nhập cao hơn
và chất lượng cuộc sống được cải thiện nên ngày càng đông lao động tập trung về đây Sau thời gian lao động ở đô thị, lực lượng lao động này có tích lũy tư bản để
mở rộng khu vực kinh tế tư nhân Nhà nước hỗ trợ mở rộng lĩnh vực CN bằng cách phát triển CSHT và cung cấp các dịch vụ xã hội ở các trung tâm đô thị chính Các siêu đô thị phát triển tăng tốc, nguồn vốn tư nhân bắt đầu phân tán, lan tỏa đến các khu vực rìa thành phố để tránh thuê nhà xưởng, lao động giá cao và tắc nghẽn giao thông Như vậy, khu vực đô thị cứ dần mở rộng ra các khu vực ngoại ô
Mô hình ĐTH ngoại vi đã phản ánh rõ bản chất ĐTH ở các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á (Indonexia, Malaixia), khu vực Đông Á (Trung Quốc) và một số nước Mỹ Latinh [103]
- Lý thuyết ĐTH từ bên ngoài (Exo - Urbanization)
Theo Michael Pacione, ĐTH từ bên ngoài là quá trình ĐTH dựa trên nguồn
vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) FDI từng được xem là yếu tố chính dẫn đến ĐTH tăng tốc ở một số quốc gia trên thế giới Trước khi diễn ra ĐTH, ở nhiều quốc gia, CSHT còn yếu kém do thiếu vốn để xây dựng Khắc phục khó khăn này, chính phủ các nước đó đã chủ động kêu gọi nguồn vốn FDI Khi CSHT hiện đại hơn, chính phủ buộc phải quy hoạch lại các đô thị cho phù hợp với xu thế phát triển Các phân khu chức năng CN, TM và DV được mở rộng và phân chia lại một cách hợp lý hơn Điều này đã nên tạo cú hích rất lớn cho quá trình ĐTH [103] Các tập đoàn xuyên quốc gia trên thế giới đã sử dụng FDI một cách hữu hiệu trong việc
đào tạo và sử dụng bộ phận lao động quốc tế Theo Lý thuyết kinh tế phụ thuộc và
dựa trên kinh nghiệm của một số nước Mỹ Latinh, FDI đã làm tăng thêm phụ thuộc vào nền kinh tế nước ngoài ở những nước nhận vốn đầu tư ngày một sâu sắc Hiện tượng ĐTH quá mức còn là kết quả của việc tập trung vốn đầu tư vào các đô thị lớn (thành phố chính) ở một quốc gia
Hiệu quả và triển vọng vào FDI được rút ra từ kinh nghiệm của các nước CN mới (NICs) ở Đông Á và Đông Nam Á Tp Quảng Châu (Trung Quốc) là một ví
dụ điển hình cho mô hình ĐTH từ bên ngoài ĐTH ở đây dựa trên phát triển ngành
CN lắp ráp linh kiện Đó là ngành CN hướng ra xuất khẩu dựa trên đầu vào là nguồn nguyên liệu giá thấp, thuê lao động và thuê đất với giá rẻ Trường hợp này
còn được gọi là ĐTH từ bên trên (dựa trên phát triển của các thành phố CN và thu
Trang 38hút đầu tư) Ngoài ra còn có hiện tượng ĐTH từ bên dưới Đây là hình thức ĐTH
được đặc trưng bởi dân nhập cư tăng nhanh, đô thị phát triển nhanh từ các đô thị nhỏ, cảnh quan khu vực nông thôn thay đổi rõ rệt với pha trộn giữa các hoạt động
NN và phi NN FDI còn tác động đến ĐTH thông qua việc tăng thêm các kiểu mở rộng đô thị Điều này thấy rõ qua phân tích của Mc Gee’s về một số kiểu phát triển
đô thị ở Jakarta, Manila và Bangkok Ngoài ra, ở Trung Quốc, trên lưu vực sông
Trường Giang, ĐTH từ bên ngoài đã xuất hiện ở một số đô thị nhỏ Lao động giá
rẻ, môi trường đầu tư hấp dẫn, chính sách linh hoạt, giá thuê đất thấp ở các đô thị nhỏ nơi đây đã tạo nên sức hấp dẫn lớn với FDI
Như vậy, hiện tượng ĐTH từ bên ngoài không chỉ là một nhân tố làm đa dạng
hóa các hình thức ĐTH mà còn có vai trò của FDI trong phát triển kinh tế và phát triển đô thị FDI [103]
1.1.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến đô thị hóa
ĐTH là một hiện tượng KT - XH nên trong nó chứa đựng nhiều mối quan hệ phức tạp giữa các nhân tố tự nhiên, sự phát triển của LLSX và các yếu tố tạo nên nền kinh tế Có nhiều nhân tố tác động đến ĐTH nhưng trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ làm rõ những nhân tố nổi bật nhất
- Lịch sử phát triển đô thị là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến quá trình ĐTH
Bề dày lịch sử của đô thị không chỉ tạo nên đặc trưng riêng của đô thị đó mà còn phản ảnh mối quan hệ giữa nó với các đô thị xung quanh Qua những lần điều chỉnh địa giới hành chính, đô thị đã có thêm các khu vực hành chính mới Mỗi lần đô thị được nâng cấp thì quy mô dân số, các thành phần của nền kinh
tế, diện tích đất trong đô thị tăng lên và cơ cấu sử dụng đất chuyển dịch theo
- Vị trí địa lý là nhân tố quan trọng cho quá trình hình thành đô thị và ảnh
hưởng đến tính chất và quá trình phát triển đô thị Điều kiện lí tưởng để một đô thị phát triển khi nó có được thuận lợi về cả vị trí tự nhiên, vị trí GTVT và vị trí địa chính trị Trong lịch sử hình thành và phát triển, các đô thị trên thế giới và ở Việt Nam đều có vị trí địa lý thuận lợi như: ở các lưu vực sông lớn, các vùng châu thổ phù sa màu mỡ, gần bờ biển hoặc ở trên tuyến đường giao thông quan trọng Mối quan hệ giữa các đô thị góp phần thúc đẩy hoặc cản trở quá trình ĐTH Vì vậy, có thể nói vị trí địa lý góp phần ảnh hưởng đến tốc độ, mức độ và chất lượng của ĐTH
- Các điều kiện kinh tế - xã hội là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá
trình ĐTH
Trang 39• Dân cư và lao động: Nghiên cứu dưới khía cạnh dân số thì ĐTH là quá trình
gia tăng dân số đô thị Các quá trình dân số trong đô thị như: sinh, tử, chuyển cư
đã quyết định đến tốc độ tăng dân số đô thị và tốc độ ĐTH Tỉ lệ lao động trong các khu vực I, II, III không chỉ phản ánh trình độ phát triển kinh tế đô thị mà còn phản ánh trình độ của ĐTH
• Trình độ phát triển kinh tế: Quy mô nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế,
cơ cấu kinh tế (theo ngành và theo thành phần kinh tế) ảnh hưởng khá nhiều đến tốc độ ĐTH Khi trình độ phát triển kinh tế tương đương với trình độ phát triển của CSHT sẽ thuận lợi để thu hút FDI Số dự án, số vốn FDI tập trung chủ yếu vào lĩnh vực CN, DV đã tạo động lực để 2 ngành này phát triển Từ đó cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động chuyển dịch và tạo thuận lợi cho ĐTH
CNH với những tiến bộ về KHKT là tiền đề cho đô thị phát triển CNH làm
tăng giá trị sản xuất CN và tăng tỉ trọng ngành này trong cơ cấu GDP Từ đó CNH thúc đẩy phát triển kinh tế và mở rộng không gian đô thị Trình độ CNH được biểu hiện qua trình độ ĐTH thông qua cấu trúc không gian và sắp xếp các phân khu chức năng trong đô thị
• Bối cảnh toàn cầu hóa và các nguồn vốn đầu tư: Quá trình giao lưu về kinh
tế, văn hóa, KHKT và công nghệ giữa các quốc gia trên thế giới diễn ra liên tục và thường xuyên trong bối cảnh toàn cầu hóa Dòng chuyển động về vốn, lao động và hàng hóa tạo nên sức cạnh tranh không chỉ giữa các quốc gia trên thế giới mà còn giữa các đô thị (là các trung tâm về CN, TM và DV của thế giới) Hội nhập kinh
tế quốc tế không chỉ mang đến những cơ hội trong đầu tư, hợp tác kinh tế mà còn giúp cho các đô thị hiện đại hóa CSHT, mở rộng không gian đô thị, tăng số lượng
và chất lượng đô thị Hội nhập và toàn cầu hóa đã thúc đẩy ĐTH nhanh hơn [107]
• Cơ sở hạ tầng đô thị: CSHT là thành phần quan trọng và là điều kiện tiên
quyết cho quá trình ĐTH Mức độ hiện đại của CSHT ảnh hưởng đến quá trình hình thành và chất lượng của các đầu mối giao thông, các trung tâm dịch vụ và sức hút về vốn đầu tư để phát triển KT – XH trong đô thị Mức độ hoàn thiện về CSHT, nhất là mức độ hoàn thiện về GTVT là yếu tố quan trọng nhất góp phần mở rộng mối quan hệ giữa các đô thị và các vùng xung quanh Nhờ vậy, không gian đô thị
ngày một mở rộng
• Đường lối và chính sách phát triển kinh tế - xã hội: Đường lối và chính
sách phát triển KT - XH ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình ĐTH Ở mỗi địa phương, chiến lược ĐTH luôn gắn liền với chiến lược phát triển KT - XH Những đường lối, chính sách của nhà nước sẽ tác động đến ĐTH dưới nhiều cách thức khác nhau
Trang 40có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp Những chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến ĐTH bao gồm: chính sách CNH, chính sách về nhà ở, chính phát triển đô thị, luật đất đai, luật đầu tư nước ngoài Ngoài ra, trình độ quản lí nhà nước về đô thị cũng là
nhân tố then chốt, thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình ĐTH
- Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là những tiền đề cần thiết
cho ĐTH Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ trở thành nhân tố thúc đẩy phát triển mạng lưới đô thị và ĐTH diễn ra nhanh hơn Điều kiện địa hình quyết định đến hình thái và cảnh quan đô thị Diện tích và chất lượng đất đai quyết định đến quy
mô, khả năng mở rộng, hướng phát triển và cách sắp xếp không gian trong đô thị Đặc điểm phân bố của các mỏ khoáng sản phần nào quyết định chức năng của đô thị Điều kiện khí hậu ảnh hưởng đến cả chức năng, cảnh quan, kiến trúc và mức
độ mở rộng đô thị
Ngoài các nhân tố kể trên, những biến động về tình hình chính trị xã hội trong
và ngoài nước cũng ảnh hưởng đến ĐTH với mức độ khác nhau trong các thời điểm khác nhau
1.1.1.6 Một số tiêu chí đánh giá đô thị hóa
- Cơ sở để xác định các tiêu chí đánh giá
Các tiêu chí để đánh giá về ĐTH trong luận án đã được tác giả tham khảo từ các nguồn tư liệu sau: các Nghị định của chính phủ về đô thị, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học và thực tiễn ĐTH ở địa bàn tác giả nghiên cứu
Các tiêu chí để đánh giá về ĐTH trong các nghị định của chính phủ đã thay đổi theo thời gian Nghị định 72/2001/NĐ-CP đã sử dụng 13 tiêu chí đánh giá và được chia thành 5 nhóm: chức năng đô thị, quy mô dân số, tỉ lệ lao động phi NN, mật độ dân số và CSHT Đến nghị định 42/2009/NĐ - CP (kèm thông tư số 34/2009/TT -BXD) thêm 01 tiêu chí đánh giá Tổng số tiêu chí là 18 và chia thành
6 nhóm: chức năng đô thị, quy mô dân số, tỉ lệ lao động phi NN, mật độ dân số, CSHT và kiến trúc, cảnh quan đô thị Hội nghị đô thị toàn quốc (năm 2009) đã đưa
ra một hệ thống tiêu chí để đánh giá và chọn lựa ra những đô thị trong diện ưu tiên đầu tư nâng cấp đô thị với 6 tiêu chí: tỉ lệ hộ nghèo, thiếu hụt hạ tầng, ô nhiễm môi trường, tỉ lệ ĐTH, mật độ dân số và CSHT đô thị [8]
Trong nhiều nghiên cứu về đô thị, đã có một số tiêu chí được đưa ra để đánh giá ĐTH theo các khía cạnh và ở nhiều địa phương khác nhau Tác giả Nguyễn Hữu Đoàn đã xây dựng một hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ ĐTH cho Hà Nội trong luận án tiến sĩ với 32 tiêu chí thuộc 4 nhóm: KT - XH đô thị, CSHT xã hội, CSHT kỹ thuật và quản lí đô thị Trong luận án tiến sĩ “Phân tích quá trình ĐTH ở