Công tác quy hoạch sử dụng đất cấp xã, phát triển sản xuất lâm nghiệp cấp xã đã góp phần phẩn bổ đất đai một cách hợp lý phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, phù hợp với mục
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Tác giả luận văn
Chu Văn Tiệp
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo Cao học tại trường Đại học Lâm
nghiệp, gắn đào tạo với thực tiễn sản xuất tôi thực hiện luận văn " Nghiên
cứu đề xuất phương án sử dụng đất, phát triển sản xuất nông lâm nghiệp tại xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La giai đoạn 2016 – 2020, định hướng tới năm 2030"
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp, Khoa đào tạo sau Đại học và các thầy cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp, đặc biệt là GS.TS Trần Hữu Viên là người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong thời gian học tập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ và nhân dân xã Hát Lót, phòng Địa chính - nông nghiệp, phòng thống kê, trung tâm khuyến nông khuyến lâm huyện Mai Sơn đã giúp đỡ và cung cấp những số liệu chuẩn xác cho tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài này
Mặc dù đã làm việc với tất cả sự nỗ lực của bản thân nhưng do trình độ
và thời gian hạn chế nên Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các nhà khoa học và đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 11 năm 2015
Tác giả
Chu Văn Tiệp
Trang 3MỤC LỤC
Trang Tên trang bìa
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮTDANH MỤC CÁC BIỂU v
DANH MỤC CÁC BIỂU vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Trên Thế giới 3
1.2 Ở Việt Nam 8
1.2.1 Một số nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn của QHSDĐ 8
1.2.2 Các công trình nghiên cứu và quan điểm về QHLN cấp xã 11
1.2.3 Các nguyên tắc cơ bản của QHSDĐ 14
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG 18
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 18
2.2 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu 18
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.2.2 Giới hạn nghiên cứu 18
2.3 Nội dung nghiên cứu 18
2.4 Phương pháp nghiên cứu 19
2.4.1 Quan điểm phương pháp luận 19
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 19
2.4.3 Phương pháp phân tích tổng hợp số liệu và đánh giá hiệu quả SDĐ 24
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
Trang 43.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn quy hoạch sử dụng đất, phát triển sản xuất
nông lâm nghiệp xã 27
3.1.1 Hệ thống quan điểm sử dụng đất, phát triển sản xuất nông lâm nghiệp xã 27
3.1.2 Căn cứ pháp lý cho quy hoạch sử dụng đất và phát triển sản xuất nông lâm nghiệp 30
3.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - Xã hội và nhân văn của xã Hát Lót 32
3.3 Tình hình quản lý, sử dụng đất và phát triển sản xuất NLN tại xã Hát Lót 39 3.3.1 Hiện trạng sử dụng đất lâm nông nghiệp xã Hát Lót 39
3.3.2 Phân tích hiệu quả của các kiểu sử dụng đất trên địa bàn xã Hát Lót 41 3.3.3 Lựa chọn và đề xuất tập đoàn cây trồng nông lâm nghiệp 49
3.4 Quy hoạch phát triển sản xuất nông lâm nghiệp xã Hát Lót giai đoạn 2015-2020, định hướng tới năm 2030 54
3.4.1 Phương hướng phát triển sản xuất nông lâm nghiệp xã Hát Lót 54
3.4.2 Phương án phân bổ sử dụng đất 54
3.4.3 Phương án sản xuất lâm nông nghiệp xã Hát Lót 64
3.4.4 Dự tính đầu tư và hiệu quả 66
3.4.5 Giải pháp thực hiện của phương án qui hoạch 69
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 75
1 Kết luận 75
2 Tồn tại 77
3 Kiến nghị 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBA Phương pháp phân tích chi phí lợi ích
CHXHCN Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
CRESS Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường
PRA Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia
của người dân
Trang 63.3 Tổng hợp hiệu quả kinh tế của một số loại cây hoa màu 48
3.5 ổng hợp kết quả lựa chọn các loài cây trồng lâm nghiệp 50
3.7 Tổng hợp kết quả lựa chọn cây hoa màu, cây công nghiệp 52
3.8 Tổng hợp kết quả phân loại, lựa chọn vật nuôi cho xã Hát Lót 53
3.9 Tổng hợp nhu cầ u sử dụng đất xã Hát Lót 57
3.10 Phân bố sử dụng đất xã Hát Lót đến năm 2030 58
3.12 Phân bổ đất sản xuất lâm nghiệp đến năm 2030 61
3.13 Đất xã Hát Lót trước và sau quy hoạch (2030) 63
3.14 Tổng hợp sản xuất nông lâm nghiệp xã Hát Lót 64
3.15 So sánh diện tích đất đai trước và sau quy hoạch xã Hát Lót 65
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là TNTN vô cùng quý giá, là TLSX đặc biệt Đất đai là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu vực dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng Đất đai cần thiết cho mọi ngành sản xuất, vừa là TLSX không có gì có thể thay thế được, sản xuất ra của cải vật chất, lương thực thực phẩm nuôi sống con người Vì vậy, đất đai là tài sản rất quý báu của mỗi quốc gia
Nước ta với 3/4 diện tích đất đai là vùng đồi núi và trung du, diện tích đất đồng bằng nhỏ hẹp chỉ khoản 1/4 diện tích đất đai toàn quốc Phần lớn dân
số tập trung sinh sống ở vùng nông thôn, trung du và miền núi, đời sống kinh
tế của nhân dân ở những vùng này vẫn dựa chủ yếu vào canh tác nông nghiệp, NLKH và lâm nghiệp với trình độ canh tác còn lạc hậu, KHKT phát triển chậm Hòa nhịp với sự phát triển đất nước, đời sống KTXH của các dân tộc vùng cao những năm gần đây đã có nhiều khởi sắc, từng bước vươn lên xóa đói giảm nghèo và làm giàu trên chính mảnh đất của mình Đạt được những thành tựu đáng khích lệ này, ngoài sự nỗ lực của nhân dân địa phương còn phải kể đến sự trợ giúp của nhà nước, cộng với sự tiến bộ của KHKT, sự nhiệt tình năng nổ đội của đội ngũ khuyến nông khuyến lâm và đặc biệt của các chủ trương chính sách đúng đắn, kịp thời của Đảng và Nhà nước giúp nhân dân các dân tộc vùng cao vươn lên bằng con đường phát triển sản xuất nông lâm nghiệp
Với vai trò là đơn vị nhỏ nhất trong các đơn vị quản lý lãnh thổ hành chính và là đơn vị cơ bản quản lý và sản xuất lâm nghiệp của các thành phần kinh tế tập thể và tư nhân, cấp xã ngày càng phát huy vai trò thế mạnh của mình trong việc phát triển kinh tế xã hội cũng như phát triển sản xuất nông lâm nghiệp vùng nông thôn miền núi Công tác quy hoạch sử dụng đất cấp xã, phát triển sản xuất lâm nghiệp cấp xã đã góp phần phẩn bổ đất đai một cách hợp lý phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, phù hợp với mục đích sử dụng đất đai một cách bền vững, với mục tiêu, phương hướng phát triển của các quản lý trên cũng như tâm tư nguyện vọng của người dân, đặc biệt là những người sống trong hoặc gần rừng Không những thế nó còn góp
Trang 8phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân nông bản, đáp ứng nhu cầu của người dân về lương thực, thực phẩm, gỗ củi, sinh thái môi trường… Như vậy, công tác quy hoạch sử dụng đất phát triển nông lâm nghiệp đã đang và sẽ thu được những thành công to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội vùng nông bản miền núi, đóng góp cho sự nghiệp chung của cả nước
Hát Lót là một xã trong nhiều năm qua đã có nhiều cố gắng trong việc phát triển sản xuất lâm - nông nghiệp, ổn định cuộc sống người dân, đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội chung của cả xã Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại, thiếu sót như : Tiềm năng đất đai còn bị bỏ phí,hệ thống canh tác còn lạc hậu,việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế đặc biệt là cơ cấu cây trồng vật nuôi còn nhiều lúng túng, người dân thiếu vốn sản xuất, thiếu khoa học kỹ thuật…chưa có quy hoạch cụ thể, chi tiết cho sản xuất lâm – nông nghiệp Do
đó, việc giúp xã phân bổ lại đất đai, lập kế hoạch phát triển sản xuất lâm nông nghiệp, đồng thời giúp người dân đề xuất được cơ cấu vật nuôi, cây trồng phù hợp với gia đình mình, với nền kinh tế thị trường là rất cần thiết
Xuất phát từ nhận thức thực tiễn trên nhằm góp phần xây dựng một số
cơ sở lý luận và thực tiễn của quy hoạch sử dụng đất cấp xã trên địa bàn nông bản miền núi và vận dụng phương pháp quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia
của người dân Tôi tiến hành thực hiện đề tài “ Nghiên cứu đề xuất phương
án sử dụng đất, phát triển sản xuất nông lâm nghiệp tại xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La giai đoạn 2016 – 2020, định hướng tới năm 2030”
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Trên Thế giới
Lịch sử công trình nghiên cứu về QHSDĐ đã trải qua hơn 100 năm, được quan tâm từ thế kỷ thứ XIX Các công trình này đã đạt được những thành tựu về phân loại đất và xây dựng bản đồ đất là cơ sở quan trọng cho việc sử dụng đất đai một cách hiệu quả và lâu dài Các công trình nghiên cứu
về QHSDĐ đều xuất phát từ đòi hỏi thực tế khách quan nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một tăng của xã hội loài người
Tại Đức tác giả Haber năm 1972 đã xuất bản tài liệu “Khái niệm về sử dụng đất khác nhau”, đây được coi là lý thuyết sinh thái về QLSDĐ dựa trên quan điểm về mối quan hệ hợp lý giữa tính đa dạng của hệ sinh thái cũng như
sự ổn định của chúng với năng suất và khả năng điều chỉnh
Từ năm 1976 Hội đồng nông nghiệp Châu Âu đã phối hợp với tổ chức FAO tổ chức nhiều hội nghị về PTNT và QHSDĐ Các hội nghị này khẳng định rằng quy hoạch vùng nông bản trong đó quy hoạch các ngành sản xuất như nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, chế biến nhỏ cũng như quy hoạch
cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao bảng phải dựa trên cơ sở quy hoạch đất đai
Ngay từ thế kỷ XVII, QHNLN đã được xác nhận như một chuyên ngành bắt đầu từ các quy hoạch vùng Vào thời gian này, quy hoạch quản lý rừng và lâm sinh ở Châu Âu được xem như một lĩnh vực phát triển ở mức cao trên cơ sở QHSDĐ ( Olschowy, 1975)
Đến thế kỷ XIX, với các khái niệm “lập địa hợp lý”, “ năng suất sử dụng” (Weber, 1921) đã mở đầu thời ký quy hoạch phát triển nông nghiệp trên cơ sở QHSDĐ theo địa lý với vùng sản xuất là nền tảng của quy hoạch vùng cho sản xuất nông lâm nghiệp
Trang 10Tại Châu Âu, vào thập kỷ 30 và 40 của thế kỷ XX, quy hoạch ngành giữ vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ Năm 1946 Jacks G.V đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiền về phân loại đất đai với tên “ Phân loại đất đai cho QHSDĐ” Đây cũng là tài liệu đầu tiên đề cập đến đánh giá khả năng của đất cho QHSDĐ
Năm 1966, Hội đất học và Hội nông học Mỹ cho ra đời chuyên khảo về hướng dẫn điều tra đất, đánh giá khả năng của đất và ứng dụng trong QHSDĐ Ngoài ra còn một số chuyên khảo khác cũng ra đời đề cập đến “ môi trường con người” trong đánh giá khả năng thích hợp của đất cho quy hoạch nông nghiệp và lâm nghiệp
Phương pháp QHNLN cấp địa phương có thể được khái quát bằng 2 cách tiếp cận chủ yếu : Tiếp cận từ trên xuống và các tiếp cận từ dưới lên Cách tiếp cận thứ nhất được hình thành từ khi có quy hoạch ra đời cho đến nay Cách tiếp cận thứ hai được hình thành khi các nhà xã hội học chứng minh rằng cộng đồng nông bản có vai trò không thể thiếu trong lập kế hoạch
và quản lý tài nguyên của cộng đồng Từ đây, thuật ngữ “ Quy hoạch dựa vào cộng đồng” bắt đầu xuất hiện
Gilmour (1997) đã phân biệt hai loại tiếp cận, đó là tiếp cận kinh điển
và tiếp cận lấy người dân làm trung tâm Những nghiên cứu của ông về quy hoạch và quản lý rừng cộng đồng ở Nepal chứng tỏ những ưu thế về tiếp cận mới trong xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cộng đồng
Từ cuối những năm 1970, các phương pháp điều tra đánh gá cùng tham gia được nghiên cứu rộng rãi như : Đánh giá nhanh nônh bản ( PRA), phương pháp quá trình sáng tạo, phân tích HTCT cho QHSDĐ vi mô, vào những năm
1980 và đầu những năm 1990 của thế kỷ XX, những thử nghiệm các phương pháp PRA trong phát triển nông bản và lập kế hoạch SDĐ được thực hiện trên
Trang 1130 nước phát triển cho thấy ưu thế của các phương pháp này trong lập kế
hoạch lâm nông nghiệp cấp bản bản [10]
Luning (1990) lần đầu tiên nghiên cứu kết hợp đánh giá đất đai với phân tích HTCT cho QHSDĐ Năm 1994, FAO đã công bố quy trình kết hợp đánh giá đất đai với phân tích HTCT cho QHSDĐ (LEFA), hạn chế là đòi hỏi
hệ thống bảng tin phân tích lớn, khó áp dụng cho quy hoạch địa phương Theo Erwin (1999), phân tích HTCT là công cụ cho phân tích các trở ngại trong hệ thống nông trại hộ gia đình để xác định mục tiêu quy hoạch, xác định các kiểu SDĐ hiện tại và phương pháp SDĐ mới, đánh giá phương án SDĐ khác nhau nhằm mục đích lựa chọn phương án một cách tốt nhất
FAO (1976) đã đề xuất cấu trúc khung QHSDĐ với 10 điểm chính Trong đó phân loại đánh giá và đề xuất các kiểu và dạng SDĐ được xét như là các bước chính trong quá trình quy hoạch
Năm 1980, BuchWald đề xuất quá trình quy hoạch 8 bước, trong đó có những nghiên cứu đánh giá về sinh thái và KTXH được đề cập tách biệt ở các bước khác nhau Điểm hạn chế này tạo nên sự thiếu tính liên ngành trong quy hoạch Maydell (1984) cho rằng 4 điểm chính trong quá trình QHNLN các nước nhiệt đới là : Phân tích xu hướng nghĩa là phân tích hiện trạng và phát triển, xác định mục tiêu và nhiệm vụ, phân tích phương pháp, tiến hành đánh
giá Năm 1985, một nhóm chuyên gia tư vấn quốc tế được FAO thành lập
nhằm xây dựng một quy trình QHSDĐ
Wikingson (1985) nghiên cứu QHSDĐ theo khía cạnh luật pháp, ông
đề nghị một hệ thống luật pháp thích hợp cần được phát triển nhằm mục đích : Cung cấp chính sách và mục tiêu rõ ràng của Nhà nước về đất đai, thiết lập các tổ chức SDĐ phù hợp, yêu cầu sử dụng theo quy trình kế hoạch và kỹ thuật, tăng cường sự bảng hiểu về SDĐ và khuyến khích xây dựng cơ chế giám sát và cưỡng chế
Trang 12Hệ thống nông nghiệp là sự biểu hiện không gia của sự phối hợp các ngành sản xuất và kỹ thuật do một xã hội thực hiện để thỏa mãn các nhu cầu
Nó biểu hiện một sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinh học – sinh thái
và môi trường tự nhiên là đại diện và một hệ thống xã hội - văn hóa, qua các hoạt động xuất phát từ những thành quả kỹ thuật ( Vissac, 1979)
Hệ thống trồng trọt là hoạt động sản xuất cây trồng trong một nông hộ
Hệ thống cây trồng là tổ hợp cây trồng bố trí theo không gian và thời gian với các biện pháp kỹ thuật được thực hiện
HTCT là một phức hợp của đất đai, cây trồng, vật nuôi, lao động và các nguồn lợi đặc trưng khác trong một ngoại cảnh mà nông hộ quản lý theo sở thích, khả năng và kỹ thuật có thể có trong một phạm vi nhất định để tạo ra sản phẩm nông nghiệp thỏa mãn nhu cầu ăn, mặc của con người
Du canh là HTCT đầu tiên trên thế giới Đây là kiểu SDĐ nông nghiệp trong đó đất được phát quang để canh tác trong thời gian ngắn hơn thời gian
bỏ hóa ( Conklin ,1957) Cho đến nay, phương thức này vẫn được sử dụng phổ biến ở các vùng nhiệt đới Tuy nhiên về chiến lược PTBV, du canh không được nhiều Chính phủ và cơ quan quốc tế coi trọng bởi vì du canh được coi là phí phạm về sức người và tài nguyên đất đai, là nguyên nhân gây mất rừng, là nguyên nhân chính gây nên tình trạng xói mòn và thoái hóa đất xảy ra nghiêm trọng ( Grinnell, 1977)
Trên cơ sở giải quyết những nhược điểm của phương thức di canh đã
có một số mô hình, HTCT mới ra đời Trong các PTCT nông nghiệp, canh tác nông lâm kết hợp ( NLKH) là một PTCT lâu đời trên thế giới
Blandford (1988) đã mô tả Taungya dường như là một PTCT cũ được áp dụng mà ở đó điều kiện hoàn cảnh rừng được tái tạo nên trên những trang trại của người nông dân và theo đó người ta thu được những hiệu quả có ích từ cấu
Trang 13trúc rừng Chính vì vậy các hệ thống Taungya cần phải được xem như là một hệ thống quản lý SDĐ có ý nghĩa cho phát triển nông nghiệp ( Nair, 1995)
Tuy nhiên, dưới sức ép ngày càng lớn của việc gia tăng dân số thì Taungya tỏ ra không thích hợp Vấn đề đặt ra là phải có những phương thức mới, những mô hình SDĐ mới có hiệu quả và bền vững hơn Một trong những nghiên cứu thành công là việc tìm ra HTCT trên đất dốc ( Slopping Agricultural Land Technology – SALT) đã được Trung tâm phát triển Nông bản Bapsip Midanao Philippines tổng kết và phát triển từ những năm 1970 Trải qua thời gian dài nghiên cứu và hoàn thiện, đến năm 1992 các nhà khoa học đã cho ra đời 4 mô hình tổng hợp về kỹ thuật canh tác trên đất dốc và đã được các tổ chức quốc tế, nhiều quốc gia ghi nhận và áp dụng là SALT 1, SALT 2, SALT 3, SALT 4
- SALT 1 ( Slopping Agricultural Land Technology) là mô hình tổn hợp canh tác trên đất dốc với thành phần 25% cây lâm nghiệp, 25% cây nông nghiệp và 50% cây hàng năm
- SALT 2 (Simple Agro – livestock Land Technology) là mô hình kỹ thuật canh tác nông súc đơn giản với 40% nông nghiệp, 20 % lâm nghiệp, 20% chăn nuôi, 20% làm nhà ở và chuồng trại
- SALT 3 ( Sustainable Agro – forest Land Technology) là mô hình canh tác nông lâm nghiệp bền vững với 60% cây lâm nghiệp, 40% cây nông nghiệp Mô hình này đòi hỏi đầu tư cao cả về nguồn lực và vốn liếng cũng như sự hiểu biết
- SALT 4 ( Small Agro – fruit likelihood Technology) là mô hình kỹ thuật canh tác sản xuất nông lâm nghiệp kết hợp cây ăn quả trên quy mô nhỏ với thành phần 60% cây lâm nghiệp, 15% cây nông nghiệp, 25% cây ăn quả Đây là mô hình đòi hỏi phải đầu tư cao nguồn lực, vốn cũng như kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm
Trang 141.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Một số nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn của QHSDĐ
Ở Việt Nam các vấn đề về nghiên cứu đất đai, QHSDĐ đã được bắt đầu
từ năm 1930, sau đó được hoàn thiện dần theo thời gian
Trong giai đoạn 1925 – 1975, công tác điều tra, phân loại đất đã được tổng hợp một cách có hệ thống trên toàn miền Bắc Nhưng đến sau năm 1975, các số liệu nghiên cứu về phân loại đất mới được thống nhất cơ bản
Xung quanh chủ đề phân loại đất đã có nhiều công trình khác nhau triển khai thực hiện trên các vùng sinh thái ( Ngô Nhật Tiến, 1986, Đỗ Đình Sâm,1994…) Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại
ở mức độ nghiên cứu cơ bản, thiếu những đề xuất cần thiết cho việc SDĐ Công tác điều tra phân loại đã không gắn liền với công tác SD
Qua việc nghiên cứu hệ thống nông nghiệp tai khu vực đồng bằng sông Hồng, Đào Thế Tuấn ( 1989 ) đã chỉ ra được vấn đề tồn tại, nguyên nhân của
nó và đề xuất các mục tiêu giải pháp
Trên cơ sở tổng hợp các luận điểm về các công trình nghiên cứu trong
và ngoài nước các tác giả Trần Văn Diễn, Phạm Tiến Dũng, Phạm Chí Thành, Trần Đức Viên (1993) đã xây dựng giáo trình hệ thống nông nghiệp Ngoài phần hệ thống hóa nông nghiệp, các tác giả đã đề xuất chiến lược phát triển,
dự kiến cấu trúc và thứ bậc hệ thống nông nghiệp, công trình hỗ trợ đắc lực cho công tác nông nghiệp trên cả 2 phương diện lý luận và thực tiễn
Trong giai đoạn trước năm 1993, QHSDĐ được thực hiện bởi tổ chuyên môn trong từng ngành Căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế của nhà nước, nhiệm vụ phát triển kinh tế của từng địa phương mà có các quy hoạch tầm vĩ mô
Năm 1996, tác giả Trần An Phong nghiên cứu các mô hình sử dụng đất dốc đã đi đến kết luận, biện pháp sử dụng đất có hiệu quả là bố trí chế độ
Trang 15thâm canh hợp lý, triệt để lợi dụng nước trời, áp dụng các biện pháp canh tác nhằm bảo vệ, giữ gìn độ ẩm tối đa trong các lớp đất đảm bảo cây tròng phát triển tốt [17]
TS Lê Sỹ Việt và TS Trần Hữu Viên (1999) đã đề cập đến việc quy hoạch lâm nghiệp cho các đơn vị thuộc cấp quản lý lãnh thổ và cấp quản lý sản xuất kinh doanh [6]
TS Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997) đã đưa ra khái niệm về hệ thống SDĐ và đề xuất một số hệ thống và kỹ thuật SDĐ bền vững trong điều kiện Việt Nam, đi sâu phân tích các vấn đề về hệ thống SDĐ bền vững, kỹ thuật SDĐ bền vững, chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trong các hệ thống, kỹ thuật SDĐ
Để làm cơ sở cho chiến lược sử dụng đất đai hợp lý có hiệu quả theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu dài, Nguyễn Huy Phồn (1997) trong luận
án phó tiến sỹ khoa học nông nghiệp đã tiến hành đánh giá các loại hình đất chủ yếu trong nông – lâm nghiệp góp phần định hướng sử dụng đất vùng trung tâm của miền núi Bắc bộ Việt Nam Trên cơ sở đánh giá một cách tương đối có hệ thống về đất đai và hiện trạng sử dụng đất nông – lâm nghiệp, tác giả đã xây dựng bản đồ thích nghi sử dụng đất tỷ lệ 1/250000 đối với một
số loại hình sử dụng đất bền vững phục vụ các mục tiêu kinh tế và môi trường cho toàn vùng
Vấn đề sử dụng đất đai gắn với việc bảo vệ độ phì nhiêu của đất và môi trường ở vùng trung du miền núi phía Bắc Việt Nam, Lê Vĩ (1996) đã nêu :
- Tiềm năng đất vùng trung du
- Hiện trạng sử dụng đất trung du
- Các kiến nghị về sử dụng đất bền vững
Trang 16Trong tài liệu hướng dẫn công tác quy hoạch sử đụng dất và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân, Đoàn Diễm (1997) đã tập trung vào các chủ đề sau :
- Phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam
- Phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp của dự án GCP/VIE/024/TTA
- Những tồn tại của quy hoạch sử dụng đất, giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam và thế giới
- Kiến nghị phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp đơn giản có sự tham gia của người dân
Tác giả Ngô Đình Quế, Đinh Thanh Giang năm 2001 nghiên cứu về mô hình canh tác nương rẫy hợp lý, nhằm nâng cao năng suất cây trồng, duy trì sản xuất của đất nương rẫy, thúc đẩy quá trình phục hồi độ phì đất bỏ hóa Tác giả cũng kết luận để áp dụng các mô hình cải tiến vào sản xuất cần phải
sử dụng tổng hợp các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, các giống cây trồng mới có năng suất cao, phẩm chất tốt
Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế, Vũ Tấn Phương ( 2005) đã xây dựng hệ thống đánh giá đất lâm nghiệp Việt Nam, nghiên cứu và áp dựng đánh giá đất lâm nghiệp ở Việt Nam với việc đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp của vùng đồi núi, vùng ven biển, vùng ngập mặn và vùng chua phèn của đồng bằng sông Cửu Long, tổng hợp đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp, đánh giá và phân chia lập địa trong lâm nghiệp cho các cấp vĩ mô, trung gian,
vi mô Cũng trong công trình nghiên cứu này, các tác giả đã xây dựng tiêu chí
và chỉ tiêu đánh giá đất lâm nghiệp cấp xã phục vụ cho công tác trồng rừng
TS Đoàn Công Quỳ (2006) đã xây dựng cơ sở khoa học của công tác QHSDĐ đất bao gồm những vấn đề chung về QHSDĐ, trình bày công tác điều tra cơ bản phục vụ QHSDĐ, vấn đề QHSDĐ cấp xã và đã đưa ra 3 bài
Trang 17tập về tổng hợp kết quả điều tra cơ bản, xây dựng bản đồ hiện trạng SDĐ và
bản đồ QHSDĐ, dự báo nhu cầu SDĐ phục vụ QHSDĐ cấp xã
1.2.2 Các công trình nghiên cứu và quan điểm về QHLN cấp xã
1.2.2.1 Quan điểm
Vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, các vấn đề QHNLN cấp xã được nhiều tác giả đề cập và nghiên cứu Năm 1990, Tổng cục quản lý ruộng đất có ban hành hướng dẫn QHSDĐ vi mô theo bảng tư số 106/ĐKTĐ Nhiều tỉnh thực hiện quy hoạch vi mô theo hướng dẫn này Tuy nhiên khi triển khai đã gặp khó khăn do phương pháp chưa thống nhất Mặc dù vậy, quy hoạch vi mô cũng đã là tiền đề để thay đổi quan điểm về quy hoạch cấp xã
Các nghiên cứu của Reichenberg (1992) và các nghiên cứu trong nước đều cho rằng Việt Nam chưa có QHSDĐ, quy hoạch nông nghiệp và lâm nghiệp cấp vi mô được xây dựng trên cơ sở xem xét mọi khía cạnh của tất cả các ngành trong tương lai Do vậy việc tiến hành QHNLN còn thiếu cơ sở để thực hiện
Reichenberg (1992) khi khảo sát 5 tỉnh Trung tâm miền núi phía Bắc Việt Nam đã cho rằng quy hoạch vi mô ở Việt Nam được nghiên cứu để phát triển khái niệm quy hoạch cấp xã trên 4 khía cạnh :
- Phủ toàn bộ đất đai trong xã, nghĩa là QHNLN dựa trên QHSDĐ trên toàn bộ diện tích hành chính xã
- Phối hợp các kế hoạch và các hoạt động giữa các cơ quan Nhà nước, nghĩa là khi quy hoạch phải đề cập đến quy hoạch của các ngành do cơ quan quản lý nhà nước quản lý
- QHSDĐ phục vụ cho giao đất và cấp giấy chứng nhận để SDĐ tốt hơn, tạo điều kiện cho cộng đồng tiến hành quy hoạch PTSX nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, cơ sở hạ tầng
- Chuẩn bị và phê duyệt quy hoạch đất theo đúng luật định
Trang 18Nguyễn Bá Ngãi (2001) cho rằng quan điểm QHNLN cấp địa phương nên theo các hướng sau :
- Tiến hành nghiên cứu và thực thi khả năng kết hợp QHNLN dựa vào chức năng SDĐ với đánh giá tiềm năng đất đai
- Rà soát và xem xét lại hệ thống chính sách nhằm hướng tới đa mục đích SDĐ bằng việc đa dạng hóa các hoạt động sản xuất trong mỗi bản quy hoạch của cộng đồng
- Gắn hai quá trình quy hoạch đất đai với giao đất và coi là hai bộ phận
có quan hệ chặt chẽ để làm cơ sở cho quy hoạch sản xuất nông lâm nghiệp ở mỗi địa phương, mỗi cộng đồng
- Nghiên cứu và thử nghiệm các phương pháp cùng tham gia trong quá trình quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp, xác định và phân tích rõ các chủ thể trong QHNLN cấp xã
1.2.2.2 Các nghiên cứu và thử nghiệm
Theo Nguyễn Văn Tuấn (1996) QHSDĐ được coi là nội dung chính và được thực hiện trước khi giao đất trên cơ sở tôn trọng tập quán nương rẫy cố định, lấy xã làm đơn vị để lập kế hoạch và giao đất, có sự tham gia tích cực của người dân
Năm 1993, nghiên cứu và thí điểm đầu tiên về QHSDĐ cấp xã được thực hiện ở xã Tử Nê, huyện Tân Lạc và xã Hang Kia, Pà Cò huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình do dự án đổi mới chiến lược phát triển lâm nghiệp thực hiện Bản đánh giá về QHSDĐ xã Từ Nê cho thấy cần phải có một kế hoạch SDĐ chi tiết thì mới đáp ứng được yêu cầu, tránh được những mâu thuẫn trong cộng đồng phát sinh sau quy hoạch
Chương trình Phát triển nông bản miền núi Việt Nam – Thụy Điển giai đoạn 1996 – 2001 trên phạm vi 5 tỉnh Lào Cai, Bắc Giang, Hà Giang, Tuyên
Trang 19Quang và Phú Thọ đã tiến hành thử nghiệm công tác quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp cấp xã trên cơ sở kế hoạch phát triển cấp bản bản và hộ gia đình
Năm 1998, tỉnh Lào Cai đã xây dựng mô hình sử dụng PRA để tiến hành QHSDĐ, tỉnh Hà Giang đã xây dựng quy hoạch và lập kế hoạch SDĐ 3 cấp: xã, bản và hộ gia đình Trong năm này trên vùng dự án đã có 78 bản bản được QHSDĐ và đã căn cứ vào nhu cầu và nguyện vọng của người SDĐ với cách tiếp cận từ dưới lên tạo ra kế hoạch có tính khả thi cao Tuy nhiên chưa tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa chủ trương của Nhà nước với nhu cầu, nguyện vọng của cộng đồng trong phương án quy hoạch được xây dựng
Vào những năm 1996, 1997 trong quá trình triển khai dự án quản lý nguồn nước hồ Yên Lập có sự tham gia của người dân tại Hoành Bồ, Quảng Ninh, Nguyễn Bá Ngãi đã thử nghiệm phương pháp PRA để quy hoạch lâm nông nghiệp cho 3 xã: Bằng Cả, Quảng La và Dân Chủ để xây dựng dự án cấp xã bản Sau 3 năm thực hiện cho thấy, bản quy hoạch tương đối phù hợp với tình hình hiện tại Đây là cơ sở vững chắc cho lập kế hoạch tác nghiệp hàng năm Một trong những hạn chế của dự án là do nghiên cứu về đất đai chưa đầy đủ trong phân tích HTCT dẫn đến việc lựa chọn cây trồng chưa thực
sự phù hợp
Năm 1996, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn từ nhiều địa phương khác nhau, Cục kiểm lâm đã cho ra tài liệu hướng dẫn “ Nội dung trình tự tiến hành giao đất lâm nghiệp trên địa bàn xã” Dự án lâm nghiệp xã hội Sông Đà trên cơ sở hướng dẫn này đã xây dựng phương pháp QHSDĐ và giao đất lâm nghiệp cấp xã 2 huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La và Tủa Chùa tỉnh Lai Châu Trong đó cấp bản bản đã được chọn là đơn vị quy hoạch phù hợp với đặc thù vùng cao Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu xã hội và cộng đồng của Donovan ( 1997) ở miền Bắc Việt Nam
Trang 20Nguyễn Bá Ngãi và nhóm tư vấn của Dự án khu vực lâm nghiệp Việt Nam –ADB (1999, 2000) đã nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp xây dựng tiền dự án cấp xã Mục tiêu là đưa ra một phương pháp QHNLN cấp xã
có sự tham gia của người dân để xây dựng tiểu dự án lâm nghiệp cho 50 xã của 4 tỉnh Sơn La, Gia Lai, Phú Yên và Quảng Trị
1.2.3 Các nguyên tắc cơ bản của QHSDĐ
1.2.3.1 Các nguyên tắc cơ bản mang tính định hướng của QHSDĐ
QHSDĐ là một hiện tượng KTXH, do vậy nó cũng cần tuân theo những nguyên tắc nhất định QHSDĐ phải tuân theo các quy luật phát triển khách quan của phương thức sản xuất xã hội, đây chính là yếu tố quyết định nội dung và phương pháp QHSDĐ ở mỗi quốc gia
QHSDĐ ở nước ta tuân theo những nguyên tắc cơ bản mang tính định hướng sau :
- Chấp hành quyền sở hữu Nhà nước về đất đai, củng cố và hoàn thiện các đơn vị SDĐ Nguyên tắc này là cơ sở của mọi hoạt động và biện pháp có liên quan đến quyền SDĐ, là nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động QHSDĐ Đây là căn cứ quan trọng để Nhà nước có điều kiện tập trung chỉ đạo PTSX, củng cố và hoàn thiện phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước, trên tất cả các khu vực lãnh thổ, trong tất cả các ngành, trong đó đặc biệt là nông lâm nghiệp
- Sử dụng đất tiết kiệm, bảo vệ đất và bảo vệ thiên nhiên Đất đai là có giới hạn trong khi dân số và nhu cầu của con người về mọi mặt ngày càng cao, do vậy SDĐ tiết kiệm là một nguyên tắc bắt buộc trong QHSDĐ Mặt khác, đất đai nếu được sử dụng đúng và hợp lý thì chất lượng đất sẽ được duy trì và ngày càng tốt lên, ngược lại nếu sử dụng không hợp lý sẽ làm đất thoái hóa biến chất, làm giảm năng suất, sản lượng cây trồng, ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái tự nhiên Do vậy, trong SDĐ phải chú ý ngăn ngừa quá
Trang 21trình xói mòn đất, chống ô nhiễm đất và bảo vệ các yếu tố của môi trường thiên nhiên
- Sử dụng tài nguyên đất vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân nói chung
và từng ngành nói riêng, trong đó ưu tiên cho ngành nông nghiệp Bất cứ sự phát triển một ngành kinh tế nào cũng có nhu cầu SDĐ ở các mức độ khác nhau Do vậy trong QHSDĐ phải căn cứ vào điều kiện tự nhiên, KTXH, quỹ đất và chiến lược phát triển, nhu cầu đất của các ngành để có phương án phân
bổ SDĐ hợp lý, hiệu quả nhất, tạo cho các ngành đều có đầy đủ điều kiện để phát triển
- Tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh thổ để thực hiện những nhiệm vụ
kế hoạch của Nhà nước, của riêng ngành nông nghiệp và từng đơn vị sản xuất
cụ thể Căn cứ vào chiến lược phát triển KTXH và an ninh quốc phòng của đất nước, chiến lược phát triển của từng ngành và quy hoạch phát triển của từng đơn vị, QHSDĐ phải đảm bảo tương quan tỷ lệ hợp lý giữa các ngành, các vùng lãnh thổ, phân bổ hợp lý sức sản xuất, tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh thổ đảm bảo phát triển tổng hợp các vùng kinh tế và trong từng đơn
vị sản xuất, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp
- Tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh thổ để nâng cao hiệu quả sản xuất trên cơ sở các phương pháp quản lý kinh tế tiên tiến để nâng cao độ màu
mỡ của đất, nâng cao trình độ canh tác và hiệu quả sử dụng máy móc QHSDĐ phải được phối hợp chặt chẽ với việc tổ chức sản xuất để tạo ra điều kiện tốt nhất cho sự phát triển và nâng cao trình độ lao động QHSDĐ trong nông lâm nghiệp phải tạo ra các điều kiện để áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, có hiệu quả để nâng độ màu mỡ của đất và trình độ kỹ thuật canh tác Vì vậy khi giải quyết các nội dung của QHSDĐ phải dựa trên các hình thức tổ chức lao động tiến bộ nhất, trình độ cơ giới hóa và khoa học công nghệ tiên tiến
Trang 22- Khi QHSDĐ phải tính đến các điều kiện tự nhiên, KTXH của từng vùng, từng đơn vị, xí nghiệp SDĐ Mỗi vùng, mỗi đơn vị SDĐ đều có những đặc điểm riêng về điều kiện tự nhiên, KTXH Nếu không tính đến các điều kiện đó thì không thể tổ chức sử dụng hợp lý đất đai Các yếu tố của điều kiện
tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, phát triển và năng suất, sản lượng của các loại cây trồng, vật nuôi Bên cạnh đó, các yếu tố của điều kiện KTXH cũng là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và tính ổn định của sản xuất Do vậy QHSDĐ cần dựa trên những bảng tin chính xác về điều kiện tự nhiên của đối tượng quy hoạch để tổ chức SDĐ hợp lý, nâng cao hiệu quả sản xuất
1.2.3.2 Các nguyên tắc cơ bản của QHSDĐ cấp xã
Theo PGS.TS Trần Hữu Viên (2005), QHSDĐ và kế hoạch SDĐ chi tiết trên địa bàn xã phải tuân thủ các nguyên tắc khi tiến hành lập QHSDĐ và
kế hoạch SDĐ cho các đơn vị, đồng thời tuân thủ các nguyên tắc chỉ đạo khi tiến hành QHSDĐ và lập kế hoạch SDĐ có sự tham gia của người dân Đặc biệt phải tuân thủ các nguyên tắc chung sau đây :
- Phù hợp với điều kiện tự nhiên, KTXH của vùng và của xã, phù hợp với quy hoạch tổng thể KTXH, an ninh quốc phòng trên địa bàn huyện, đồng thời sử dụng được nhu cầu SDĐ, nhu cầu phát triển các ngành, các đơn vị đối tượng SDĐ cấp dưới trên địa bàn xã
- Phân bố đất đai phải đảm bảo hợp lý, đúng mục đích, đúng đối tượng,
sử dụng để đem lại hiệu quả cao về mọi mặt
- Phân bố đất đai phải đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển KTXH, an ninh quốc phòng trong giai đoạn trước mắt và lâu dài, phù hợp với lợi ích kinh tế của Nhà nước và các chủ SDĐ
- SDĐ tiết kiệm và có hiệu quả, khai thác hợp lý tài nguyên đất đai đi đôi với việc bảo vệ môi trường sinh thái, cải tạo và bồi dưỡng nâng cao độ
Trang 23màu mỡ của đất đảm bảo sản xuất ổn định và ngày càng phát triển, đồng thời bảo vệ, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn
- Dân chủ và công khai trong quy hoạch và kế hoạch SDĐ và phải tiến hành kịp thời, được phê duyệt trong năm cuối của kỳ trước để đảm bảo tính khả thi trong việc thực hiện quy hoạch và kế hoạch SDĐ
Trang 24Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Về mặt lý luận: Góp phần nghiên cứu, xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận cho việc đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất Trên
cơ sở đó đề xuất các giải pháp phù hợp để phục vụ cho việc QHSDĐ
- Về mặt thực tiễn: Qua nghiên cứu tình hình thực tế của địa phương về một số mặt liên quan đến sử dụng đất của địa phương, để từ đó đề xuất phương án SDĐ nông, lâm nghiệp, những giải pháp sử dụng đất tổng hợp và bền vững, lâu dài cho xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
2.2 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Điều kiện cơ bản của xã Hát Lót
- Hiện trạng quản lý SDĐ
- Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp và thị trường nông lâm sản
- Các chính sách, pháp luật liên quan đến QHSDĐ hiện hành
- Nghiên cứu một số mô hình sử dụng đất tại xã Hát Lót Trong đó tập trung nghiên cứu sâu về đất NLN
2.2.2 Giới hạn nghiên cứu
- Về vấn đề lập quy hoạch SDĐ
- Về vấn đề PTSX nông lâm nghiệp
- Về địa điểm tiến hành nghiên cứu thu thập số liệu
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của quy hoạch sử dụng đất
Trang 25- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn tác động đến phương
án sử dụng đất, phát triển sản xuất nông lâm nghiệp tại xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
- Hiện trạng quản lý sử dụng đất, phát triển sản xuất nông lâm nghiệp tại xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
- Đề xuất một số giải pháp sử dụng đất phát triển sản xuất nông lâm nghiệp tại xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm phương pháp luận
QHSDĐ là một hệ thống các biện pháp về kinh tế - kỹ thuật và pháp luật của Nhà nước nhằm đạt được mục tiêu trước mẳt và lâu dài phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội trong toàn khu vực Để làm được vấn đề này chúng ta cần giải quyết các mối quan hệ giữa hiện tại và tương lai, giữa cung và cầu, nắm bắt được tình hình sản xuất về đất đai để quy hoạch đạt hiệu quả cao nhất mà vẫn đảm bảo được tính ổn định bền vững
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.2.1 Những thông tin cần thu thập
- Điều kiện tự nhiên
+ Vị trí địa lý
+ Điều kiện địa hình
+ Điều kiện khí hậu thủy văn
+ Điều kiện đất đai, thổ nhưỡng
- Điều kiện kinh tế xã hội
+ Dân số, lao động, văn hóa giáo dục và y tế
+ Cơ sở hạ tầng
+Thực trạng sản xuất lâm nông nghiệp trên địa bàn
Trang 262.4.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
* Phương pháp kế thừa số liệu tài liệu có liên quan
Thu thập số liệu, những vấn đề cần biết nhờ vào các tài liệu, văn bản có sẵn điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, hiện trạng tài nguyên rừng, tình hình sản xuất kinh doanh, điều kiện về cơ sở hạ tầng
* Phương pháp điều tra thực địa
Tuỳ theo yêu cầu, đặc trưng của các loại tài liệu mà đề tài sử dụng các phương pháp thu thập khác nhau
- Phương pháp điều tra nhanh nông thôn
Phương pháp điều tra nhanh RRA được áp dụng để thu thập các tài liệu
về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, thực trạng sử dụng đất, nguyện vọng của người dân địa phương trong việc phân bố sử dụng đất đai bảng qua các công
cụ phỏng vấn và tiếp xúc lãnh đạo, các ban ngành liên quan
- Phương pháp điều tra chuyên đề
Phương pháp điều tra chuyên đề được sử dụng để điều tra bổ sung các bảng tin không có trong tài liệu RRA tại các bản bảo theo các lĩnh vực
+ Lĩnh vực trồng trọt
+ Lĩnh vực chăn nuôi
+ Lĩnh vực lâm nghiệp
- Phương pháp xây dựng luận chứng có sự tham gia của người dân
Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân PRA là phương pháp mới đang được sử dụng phổ biến hiện nay nhằm thay đổi phương pháp tiếp cận truyền thống theo một chiều từ trên xuống trước đây trên tất cả các cấp bậc quy hoạch và tỏ rõ tính ưu việt của nó trong điều kiện của Việt Nam hay ở các nước
có hoàn cảnh tương đồng Với những ưu thế đặc biệt đó có khả năng khuyến khích hỗ trợ mọi khả năng hiện có của cộng đồng để họ xác định chính xác yêu cầu của mình, đề ra các mục tiêu rồi kiểm tra và đánh giá chung
Trang 27Bản chất của phương pháp tiếp cận này trong quy hoạch sử dụng đất là tất cả những ai liên quan đến sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn đều được tham gia vào quá trình này với đúng vai trò và khả năng của mình bằng các công cụ thích hợp Như vậy, tất cả các nhà quản lý, người lập chính sách, chuyên gia kỹ thuật, cán bộ địa phương và nhân dân cũng như các chủ sử dụng đất đều được tham gia vào quá trình quy hoạch sử dụng đất
Những nội dung của phương pháp PRA
+ Sử dụng công cụ ma trận phân loại để xác định cây trồng chính trong xã + Thảo luận nhóm nông dân trên sơ đồ về các vấn đề sử dụng đất và ranh giới các loại hình sử dụng đất, nhu cầu về sản xuất, những khó khăn và thách thức
+ Sử dụng công cụ vẽ sơ đồ hiện trạng thôn, bản có sự tham gia của người dân và thảo luận trên sơ đồ
+ Đi lát cắt để xác minh lại trên bản đồ, đánh giá bổ sung về hiện trạng
sử dụng đất và phân tích hệ thống canh tác
+ Sử dụng phương pháp phân tích điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức để đánh giá hiện trạng sử dụng đất
+ Họp bản đề trình bày kết quả, thảo luận và củng cố thông tin
- Phương pháp đánh giá đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất
Trang 28+ Tiến hành điều tra theo tuyến ( Đi lát cắt) và khảo sát điểm cụ thể có
sự tham gia của người dân để xác định các loại hình sử dụng đất của từng bản sau đó tổng hợp trên cơ sở mặt cắt về sử dụng đất của xã
+ Vẽ bản đồ được thực hiện theo 2 bước :
Bước 1 : Hoành chỉnh bản đồ ngoại nghiệp bằng cách chuyển hoạ ranh
giới các loại đất, loại rừng và bổ sung địa hình vật lên bản đồ Ghi các kết quả của các lo khoảng trạng thái và tính toán diện tích trên giấy kẻ ô li
Bước 2 : Xây dựng bản đồ thành quả tỷ lệ 1:10.000 theo quy phạm của
Viện điều tra quy hoạch rừng năm 1994
Sau khi hoàn chỉnh bản đồ tiến hành họp bản để trình bày kết quả, thảo luận và củng cố bảng tin thu thập trên bản đồ
- Phương pháp phân 3 loại rừng, phân cấp phòng hộ
Phương pháp phân 3 loại rừng, phân cấp phòng hộ được thực hiện dựa trên tiêu chuẩn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông bản ban hành kết hợp với sự tham gia, điều chỉnh trên thực địa có sự tham gia của người dân Ranh giới 3 loại rừng dựa vào kết quả chương trình rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng Nội dung phân chia 3 loại rừng là xác định ranh giới 3 loại rừng, xác định vị trí giữa bản đồ và thực tế, tính toán và tổng hợp diện tích các loại rừng
và xác định các giải pháp kỹ thuật lâm sinh xây dựng rừng, chuyển hoá ranh giới và trạng thái các loại rừng lên bản đồ phân chia 3 loại rừng
Phân chia rừng phòng hộ theo mức độ xung yếu
- Vùng rất xung yếu : Bao gồm nhưng nơi đầu nguồn nước, có độ dốc lớn, gần sông, gần hồ, có nguy cơ bị xói mòn mạnh, có yêu cầu cao nhất về sự điều tiết nước… đe doạ sản xuất và đời sống nhân dân có nhu cầu cấp bách nhất về phòng hộ phải quy hoạch, đầu tư xây dựng rừng chuyên phòng hộ, đảm bảo tỷ lệ che phủ của rừng trên 70%
Trang 29- Vùng xung yếu : Bao gồm những nơi có độ dốc, mức độ xói mòn và điều tiết nguồn nước trung bình, có điều kiện phát triển kết hợp phát triển sản xuất lâm nghiệp, có yêu cầu cao về bảo vệ và sử dụng đất, phải xây dựng rừng phòng hộ kết hợp sản xuất, đảm bảo tỷ lệ che phủ của rừng tối thiều 50%
- Phương pháp phân chia các loại trạng thái rừng
Việc phân chia các loại trạng thái rừng được thực hiện dựa trên các tiêu chuẩn kỹ thuật của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông bản ban hành kết quả điều tra khảo sát thực địa, bổ sung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Bổ sung hiện trạng tài nguyên rừng, hiện trạng sử dụng đất bằng phương pháp khoanh vẽ trạng thái rừng, lập ô tiêu chuẩn điều tra thu thập các tiêu chí lâm học chủ yếu và các bảng tin liên quan khác
- Chọn điểm hộ gia đình điều tra
+ Chọn bản điều tra: Trong xã chọn 3 bản đại diện điều tra với các tiêu chí Địa hình, sử dụng đất, dân cư dân tộc, trình độ dân trí và trình độ phát triển trung bình đại diện cho xã
+ Chọn hộ phỏng vấn : Mỗi bản chọn 10 hộ để phỏng vấn, trong đó có
3 hộ nghèo, 4 hộ trung bình và 3 hộ khá giàu trên cơ sở đó tiến hành rút mẫu ngẫu nhiên các loại hộ gia đình từ các nhóm( Nhóm 1 có điều kiện tốt nhất, nhóm 2 có điều kiện trung bình, nhóm 3 có điều kiện kém nhất) theo số liệu
đã đề ra
+ Phương pháp thảo luận nhóm : Đi sâu vào tình hình sử dụng đất đai
và chính sách liên quan đến sử dụng đất, những thuận lợi và khó khăn, nguyên nhân và tìm giải pháp khắc phục Khuyến khích người dân tham gia thảo luận đặc biệt là nhóm người nghèo và phụ nữ để họ đưa ra những ý kiến
+ Phương pháp phỏng vấn hộ : Xây dựng phiếu điều tra bao gồm các câu hỏi nhằm tìm hiểu tình hình sử dụng đất đai của hộ gia đình, những thuậ lợi khó khăn, nguyên nhân và những biện pháp giải quyết
Trang 302.4.3 Phương pháp phân tích tổng hợp số liệu và đánh giá hiệu quả SDĐ
2.4.3.1.Phương pháp xử lý tổng hợp và phân tích số liệu
Trên cơ sở những tài liệu đã khảo sát được ở trên, tiến hành chỉnh lý, tổng hợp và phân tích các mặt như sau :
- Tập hợp kết quả khảo sát theo tuyến lát cắt để lập sơ đồ lát cắt, các biểu mẫu thống kế, phân loại cây trồng và vật nuôi
- Tổng hợp những thuận lợi, khó khăn tại địa phương trong QHSDĐ, PTSX nông lâm nghiệp
- Sử dụng phần mềm Mapinfo để xây dựng bản đồ hiện trạng và bản đồ QHSDĐ
- Sử dụng các phương pháp thống kê trong lâm nghiệp để tính toán hiệu quả kinh tế
- Lập phương án SDĐ, PTSX nông lâm nghiệp trong tương lai
- Tổng hợp kết quả thảo luận để đề xuất các giải pháp hiệu quả
2.4.3.2 Phương pháp phân tích hiệu quả kinh tế
- Phương pháp tĩnh : Các yếu tố chi phí kết quả là độc lập và không
chịu tác động của yếu tố thời gian, mục tiêu đầu tư và giá trị biến động của đồng tiền Phương pháp này dùng phân tích hiệu quả của các phương thức canh tác ( PTCT) nông nghiệp do thời gian đầu tư ngắn, thường là 01 vụ hoặc
01 năm: Tổng lợi nhuận: P = TN - CP (2 - 1)
Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí:
100
C
P P
p
cp (2 - 2) Hiệu quả vốn đầu tư:
100 V
P P
dt
v (2 - 3) Trong đó: P : Tổng lợi nhuận trong một năm
TN: Tổng thu nhập trong một năm
Trang 31Cp: Tổng chi phí trong một năm
Vđt : Vốn đầu tư trong năm
- Phương pháp động : Việc tính toán, phân tích số liệu được thực hiện
bằng phương pháp động bảng qua sử dụng các hàm số : NPV, BCR, IRR…
+ NPV : Giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng đạt được trong cả chu kỳ
i) (1
C B NPV (2 - 4)
Trong đó : NPV là giá trị hiện tại thuần túy
Bt là thu nhập tại năm thứ t
Ct là chi phí tại năm thứ t
i là tỷ lệ lãi suất
t là thời gian Nếu NPV > 0 kinh doanh đảm bảo có lãi, phương án được chấp nhận Nếu NPV < 0 kinh doanh bị thua lỗ, phương án không được chấp nhận Chỉ tiêu này cho biết qui mô của lợi nhuận về mặt số lượng giữa các phương án có qui mô và kết quả đầu tư như nhau Cho phép lựa chọn phương
0
) 1 /( (2 – 5)
Trong đó : Ct là chi phí tại năm thứ t
i là tỷ lệ lãi suất + Giá trị hiện tại của thu nhập( BPV )
0
) 1 /( (2 – 6)
Trong đó : Bt là thu nhập lại năm thứ t
i là tỷ lệ lãi suất
Trang 32+ Tỷ lệ thu hồi nội bộ ( IRR) hay còn gọi là tỷ lệ lãi suất hồi qui, là một
tỷ lệ chiết khấu khi tỷ lệ này làm NPV = 0 có nghĩa là
NPV = 0 thì r = IRR (2 – 7)
Chỉ tiêu này cho ta biết khả năng thu hồi vốn đầu tư hay nó phản ánh mức độ quay vòng vốn
Vì vậy từ IRR cho phép ta xác định được thời điểm hoàn trả vốn đầu
tư, phương án nào có IRR lớn sẽ được lựa chọn
Nếu IRR > 0 phương án có khả năng hoàn trả vốn sẽ được chấp nhận Nếu IRR < 0 phương án không có khả năng hoàn trả vốn và sẽ không được chấp nhận
2.4.3.3 Phương pháp phân tích hiệu quả xã hội và môi trường
Hiệu quả xã hội và môi trường được phân tích dựa trên phương pháp cho điểm đánh giá theo các tiêu chí cụ thể và theo phương pháp PRA
- Hiệu quả xã hội của phương án QHSDĐ được đánh giá dựa trên các tiêu chí sau
+ Hiệu quả giải quyết việc làm : Hiệu quả giải quyết việc làm dựa trên
số công lao động như làm đất, trồng, chăm sóc, thu hoạch
+ Khả năng giao lưu mua bán sản phẩm
+ Đa dạng nguồn thu
+ Nâng cao kiến thức về kỹ thuật sản xuất nông lâm nghiệp
+ Khả năng tăng sản xuất hàng hoá của các phương pháp sản xuất
- Hiệu quả môi trường của các PTCT được thể hiện ở một số tiêu chí sau + Đa dạng cây trồng: Việc đa dạng cây trồng có tác dụng tăng mật độ tàn che và che phủ mặt đất cũng như nâng cao hiệu quả SDĐ
+ Tăng mật độ che phủ : Độ che phủ cao làm tăng độ phì, chống xói mòn + Tăng lượng vật rơi rụng
+ Sử dụng nhiều phân hữu cơ
+ Sử dụng ít phân bón hoá học và thuốc bảo vệ thực vật
Trang 33Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn quy hoạch sử dụng đất, phát triển sản xuất nông lâm nghiệp xã
3.1.1 Hệ thống quan điểm sử dụng đất, phát triển sản xuất nông lâm nghiệp xã
*) Phương án sử dụng đất nông - lâm nghiệp cấp xã trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất
Hiện nay hệ thống quy hoạch sử dụng đất cả nước bao gồm: Cấp quốc gia, cấp tỉnh huyện (cấp vĩ mô) Phương án sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất của xã được tích hợp nằm trong QHSDĐ và hế hoạch sử dụng đất hàng năm của huyện Cấp xã là cấp cơ sở (cấp vi mô) có chức năng quản lý hành chính nhà nước, vừa là cấp quản lý kế hoạch sử dụng đất tại địa phương theo hướng phát triển chung (cấp vĩ mô) Vì vậy phương án sử dụng đất cấp xã phải kết hợp hài hòa phương án vĩ mô và phương án vi mô, tức là vừa quy hoạch định hướng vừa quy hoạch quản lý sản xuất
*) Quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân
Những năm trước đây, việc quy hoạch phát triển nông thôn vẫn được áp dụng phương pháp tiếp cận một chiều từ trên xuống, thiếu vai trò tham gia của người dân địa phương Việc tiếp cận nông thôn có sự tham gia của cả người dân
là một bước tiến lớn trong công cuộc xây dựng chiến lược phát triển nông thôn hiện nay, vì vừa có thể quan tâm đến nhu cầu, nguyện vọng của người dân, vừa đảm bảo mang lại hiệu quả cao trong quá trình sử dụng đất
Ưu điểm của phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân làm thay đổi phương pháp luận và đánh giá, phát triển của công đồng trước đây, tạo
Trang 34ra quá trình học hỏi từ hai cả hai phía, vừa cho phép cộng đồng tự đề ra các giải pháp phù hợp với chính họ để có thể thực hiện và đạt được mục đích cao nhất
Vì vậy thay vì quy hoạch từ trên xuống dưới hay từ dưới lên trên, phương pháp phối hợp được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài nhằm phát huy vai trò của tất cả các thành phần tham gia và tất cả các kiến thức có liên quan đến sử dụng đất đều được phối hợp sử dụng triệt để
*) Phương án sử dụng đất cấp xã theo quan điểm hệ thống của FAO
Nếu coi sản xuất nông lâm nghiệp là một hề thống thì sản xuất lương thực, rau màu, chăn nuôi thủy lợi sẽ được coi là những bộ phận chức năng Những bộ phận này nằm trong một mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ Việc nghiên cứu cơ chế hoạt động, chỉ ra điểm mạnh yếu của hệ thống sẽ giúp người ta đưa ra được những quyết định, tác động vào những khâu của mắt xích ở những thời điểm thích hợp nhằm làm cho hệ thống được hoạt động nhịp nhàng, cân đối và đem lại hiệu quả cao nhất
Năm 1993 khi nghiên cứu các hệ thống sử dụng đất, FAO đã đưa ra một số khái niệm về sử dụng đất như sau:
- Loại hình sử dụng đất (Maior kind of land use) là một dạng chính trong sử dụng đất nông nghiệp nhờ nước trời, cây hàng năm, cây lâu năm, cây lâm nghiệp nó thường được dùng để ĐGĐD một cách định tính hoặc để khảo sát tài nguyên thiên nhiên
- Kiểu sử dụng đất là một dạng sử dụng đất được miêu tả chi tiết hơn
so với loại hình sử dụng đất
- Hệ thống sử dụng đất bao gồm kiểu sử dụng đất hoặc các loại sử dụng đất có quy mô lớn nhỏ tùy ý và luôn luôn là một hẹ thống cân bằng động Các yếu tố cấu thành luôn tác động qua lại lẫn nhau trong mối quan hệ biện chứng, qua đó con người phân tích bản chất hoặc đặc tính của các mối tác
Trang 35động qua lại để đề xuất hệ thống canh tác hợp lý nhằm khai thác tối đa tiềm năng của chúng phục vụ cho cuộc sống
- Đánh giá đất đai (theo FAO, 1976) là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất của vạt đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại (kiểu) sử dụng đất yêu cầu phải có
Như vậy ĐGĐĐ là quá trình thu thập bảng tin, xem xét toàn diện và phân định ra mức độ thích hợp cao hay thấp Kết quả đánh giá, phân hạng được thể hiện bằng bản đồ, báo cáo và các bảng biểu số liệu kèm theo
- Đơn vị đất đai (Land unit): Là những vùng đất trên thực tế, tương ứng với khoanh đất trên bản đồ có sự đồng nhất tương đối về tất cả các chỉ tiêu Một đơn vị Đất đai sẽ có cùng khả năng sử dụng, với cùng một mức độ thích hợp cho một loại sử dụng đất nào đó ĐVDĐ là cơ sở để tiến hành đánh giá, phân hạng mức độ thích hợp
*) Phương án sử dụng đất cấp xã theo quan điểm bền vững
Trong những năm gần đây, thuật ngữ "Phát triển bên vững" được quan tâm và nghiên cứu rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực nói chung và trong sản xuất nói riêng Việc nghiên cứu, đề xuất các phương pháp sử dụng đất mới như: Nông lâm kết hợp, VAC, SALT Trên cơ sở chính sách giao đất để phát triển kinh tế hộ gia đình ở các vùng nông bản, nhất là các vùng trung du miền núi đã góp phần đảm bảo trong hệ thống sử dụng đất và đạt được những hiệu quả thiết thực cho người dân
Để một hệ thống SDĐ được bền vững cần tập chung vào một số vấn đề sau:
- Duy trì được sự cân bằng dinh dưỡng trong đất
- Áp dụng các hệ thống nông lâm kết hợp, đa dạng hóa sản phẩm và sản suất theo phương châm lấy ngắn nuôi dài, để tận dụng hết tiềm năng và cải thiện được điều kiện đất đai
- Sử dụng các tập đoàn cây đa mục đích và cây cố định đạm
Trang 36- Xây dựng các mô hình tổng hợp về các hệ thống kỹ thuật canh tác trên đất dốc trên cơ sở có sự tham gia của người dân
- Chọn các loài cây và con giống thích hộ cho từng vùng đất
- Thực hiện các kỹ thuật canh tác tổng hợp
*) Phương án sử dụng đất cấp xã trong nền kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao, khi tất
cả quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất đều được tiền tệ hóa, các yếu tố của sản xuất như vốn, tài sản, sức lao động, chất xám, các sản phẩm và dịch
vụ làm ra đều có giá cả được hình thành bởi quy luật cung cầu Dựa trên sự phân tích khoa học về quân hệ cung - cầu ở thi trường và mỗi vùng để xác định phương hướng và quy mô sản xuất hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể Trong đó phải trả lời được 4 vấn đề cơ bản: Sản xuất và dịch vụ là gì? Sản xuất bao nhiêu? Sản xuất và dịch vụ như thế nào, cho ai? Lợi nhuận thu được bao nhiêu?
Trên cơ sở xác định phương hướng quy mô sản xuất hàng hóa và dịch
vụ mà mục đích cuối cùng của các chủ thể sản xuất là mục tiêu kinh doanh
Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất cần bám sát các mục tiêu kinh doanh đã xác định, căn cứ vào những điều kiện cơ bản của khu vực có liên quan đến sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, sự tiến bộ của khoa học công nghệ và điều kiện khác có liên quan để quy hoạch mặt bằng sử dụng đất và cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp mục đích kinh doanh (tức là phù hợp nhu cầu thị trường) và điều kiện địa phương trên cơ sở phát triển bền vững, bảo đảm hài hòa giữa lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội và môi trường sinh thái
3.1.2 Căn cứ pháp lý cho quy hoạch sử dụng đất và phát triển sản xuất nông lâm nghiệp
Trong quá trình phát triển và hội nhập của nước ta hiện nay, công tác quy hoạch, quản lý sử dụng đất có vai trò vô cùng quan trọng Nó chính là
Trang 37động lực giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát huy tối đa tiềm năng của đất đai và quản lý sử dụng đất một cách bền vững
Vai trò của cấp xã trong việc quản lý sử dụng đất đai tại địa phương
đã được khẳng định rõ tại điều 17, 18 hiến pháp nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Đối với việc quản lý sử dụng đất lâm nghiệp, vai trò của cấp
xã cũng được khẳng định trong luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 Bảng qua các văn bản chính sách và pháp luật đã thúc đảy quá trình phát riển sản xuất nông lâm nghiệp, đồng thời tạo động lực giúp người dân tin tưởng vào công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước, yên tâm đầu tư, mạnh dạn phát triển sản xuất tạo nhiều sản phẩm cho xã hội, nâng cao thu nhập cho hộ gia đình Đây chính là tiền đề cơ sở cho công tác quy hoạch sử dụng đất bền vững được tiến hành thuận lợi, lấy quy hoạch tổng thể làm định hướng, song rất tôn rộng sự tham gia của người dân trong xây dựng phương án
Quyết định số 08/2005/NĐ-CP ngày 24/11/2005 của Chính phủ v/v phê duyệt quy hoạch tổng thể, phát triển kinh tế xã hội tỉnh Sơn La đến năm 2020
Chỉ thị số 38/2005/CT-TT ngày 05/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ
về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất)
Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 7/9/2006 của Chính Phủ về quản
lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ và Thông tư số 08/2009/TT-BNN, ngày 26/02/2009 của Bộ NN và PTNT về Hướng dẫn thực hiện một số chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trang 38Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia nông bản mới Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về nông bản mới
Thông tư số 07/ 2010/TT-BNNPTNT ngày 8/2/2010 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông bản hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông bản mới
Quyết định số 1457/QĐ-UBND ngày 11/5/2011 của Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La về việc ban hành hướng dẫn lập quy hoạch xây dựng xã nông bản mới trên địa bàn tỉnh
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã Hát Lót huyện Mai Sơn nhiệm kỳ 2010-2015
3.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - Xã hội và nhân văn của xã Hát Lót
a, Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý:
Hát Lót là một xã vùng cao thuộc huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La cách trung tâm huyện lỵ 10km và cách trung tâm tỉnh lỵ gần 30 km
- Phía Đông giáp xã TT Hát Lót
- Phía Tây giáp xã Chiềng Mung
- Phía Nam giáp xã Cò Nòi
- Phía Bắc giáp xã Nà Pó
* Địa hình:
Xã có nhiều đồi núi cao, điạ hình phức tạp, bị chia cắt bởi các dãy núi, các con suối Phía Bắc cao và thấp dần về phía Nam, dọc theo các trục đường chính, địa hình có dạng thu lũng, các bưa bãi bằng và cách đồng lúa, màu Độ cao trung bình so với mặt nước biển là 600m, nơi thấp nhất là bản Rằng có độ cao trung bình so với mặt biển là 250m, nơi cao nhất có đỉnh đạt tới độ cao
Trang 39trung bình so với mặt nước biển là 850m ở bản Nà Chiếu Đất đai canh tác thường dốc, độ dốc trung bình khoảng 20 - 300 cá biệt có những nơi độ dốc lên tới 600
* Khí hậu thuỷ văn:
Hát Lót là xã miền núi nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm 4 mùa, song lại thể hiện rõ ở 2 mùa là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, vào mùa đông có sương mù và sương muối
Nhiệt độ trung bình năm là 230c cao nhất là 360c, thấp nhất là 60c Lượng mưa trung bình hàng năm là 1800 - 2000mm, chiếm 90% lượng mưa
cả năm
Độ ẩm không khí trung bình năm là 85%
Số giờ nắng trong năm từ 2.100 đến 3.000 giờ
Hướng gió chủ đạo là hướng Đông nam, Đông bắc và Tây Nam, hàng năm thường hay có gió mùa và rét đậm kéo dài
Qua các số liệu về khí tượng cho thấy khí hậu ở đây không thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển cho nhiều loại cây trồng, mùa hanh khô kéo dài rất nguy hiểm cho công tác phòng và chữa cháy rừng nói riêng và phòng cháy chữa cháy nói chung
Mùa mưa kéo dài đã gây nên hiện tượng xói mòn, rửa trôi tầng đất mặt làm cho đất ngày càng bị bạc màu, đặc biệt là những nơi chưa có rừng, đường giao bảng bị sạt lở ảnh hưởng đến vận chuyển hàng hoá và giao lưu bị tắc nghẽn Mùa đông xuất hiện sương mù, sương muối gây ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển cây trồng và hoạt động sản xuất kinh doanh của con người, là thời gian thường hay xuất hiện dịch bệnh
Trên địa bàn xã có một phần hồ sông Đà, có một hệ thống suối như: Suối Trầm, suối Sổ, suối Láo, suối Sưng… có các mố nước tự chảy cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân địa phương Ngoài ra, xã còn có hồ Nà Chiếu
Trang 40với diện tích 38,2 ha và một số hồ nhỏ dự trữ nước và điều tiết nước cho các cánh đồng
Tuy có nhiều hệ thống sông, suối, hồ ao nhưng vì điều kiện xã còn khó khăn, hệ thống thủy lợi, mương máng chưa đảm bảo nên việc sử dụng, tận dụng nguồn nước tưới tiêu từ hệ thống sông suối này còn rất hạn chế Việc sử dụng sông suối, hồ mới chỉ dừng lại ở mức là sử dụng phương tiện đi lại, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản
* Tài nguyên
+ Nguồn nước: Nguồn nước của xã chủ yếu phụ thuộc vào nước trời và nước suối, các suối đều có nước quanh năm, ngoài ra nhân dân địa phương còn sử dụng nước giếng trong sinh hoạt song thường ở độ sâu từ 10-15m mới
Đất vàng nhạt trên đá Sa Thạch có diện tích trên 3.000 ha (64%), chiếm
đa số diện tích của xã, phân bố ở độ cao dưới 600m
Đất phù sa ngòi suối, diện tích nhỏ chỉ vài chục ha hiện nay đang được trồng lúa nước
Nhìn chung đất đai của xã Hát Lót thích hợp với nhiều loại cây trồng như Lạc, Mía, dong riềng, chè tuyết và các loại cây ăn quả Trong số diện tích 4.842,0 ha, xã Hát Lót hiện còn 2205,5 ha đất đồi núi chưa sử dụng Đây là tiềm năng đất đai rất lớn của xã, cần đặc biệt quan tâm khai thác trong tương lai