1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh thái bình

109 112 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác kiểm tra không những là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước mà còn là một đòi hỏi khách quan trong quá trình quản lý thu thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là: Hoàng Ngọc Anh

Là học viên cao học Khóa 20, chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp của Khoa Kinh tế & Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Lâm nghiệp

Tôi xin cam đoan đề tài “Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với

doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Thái Bình” là kết quả

của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập và nghiêm túc Các số liệu trong luận văn được thu thập từ thực tế có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy, được xử lý trung thực và khách quan

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2014

Học viên

Hoàng Ngọc Anh

Trang 2

Cảm ơn cơ sở thực tập, các bạn học viên cùng khóa và gia đình đã động viên, hỗ trợ tôi hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2014

Học viên

Hoàng Ngọc Anh

Trang 3

MỤC LỤC

Trang TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ 4

1.1 Cơ sở lý luận về công tác kiểm tra thuế 4

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm kiểm tra thuế 4

1.1.2 Vai trò của kiểm tra thuế 5

1.1.3 Yêu cầu của công tác kiểm tra thuế 6

1.1.4 Nguyên tắc kiểm tra thuế 7

1.1.5 Các hình thức về kiểm tra thuế 7

1.1.6 Nội dung công tác kiểm tra đối tượng nộp thuế 11

1.1.7 Quy trình và phương pháp kiểm tra thuế 12

1.2 Đặc điểm quản lý thuế đối với doanh nghiệp NQD 16

1.2.1.Vai trò của DN NQD đối với việc tăng thu cho NSNN 16

1.2.2 Đặc điểm doanh nghiệp NQD tác động đến công tác kiểm tra thuế 16

1.3 Cơ sở thực tiễn 19

1.3.1 Kinh nghiệm của Cục thuế Hà Nội 19

1.3.2 Kinh nghiệm kiểm tra thuế của Malaysia 21

1.3.3 Kinh nghiệm kiểm tra thuế của Indônêxia 21

Trang 4

1.3.4 Kinh nghiệm kiểm tra thuế của Hàn Quốc 22

1.3.5 Kinh nghiệm kiểm tra thuế của Mỹ 23

1.3.6 Kinh nghiệm kiểm tra thuế của Anh 24

1.3.7 Bài học kinh nghiệm rút ra từ các nước trên thế giới về công tác kiểm tra tra thuế 25

1.4 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 29

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP 33

NGHIÊN CỨU 33

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33

2.2 Dự báo tình hình kinh tế xã hội của tỉnh thái bình và sự phát triển của doanh nghiệp ngoài quốc doanh giai đoan 2015 - 2020 34

2.3 Định hướng công tác kiểm tra thuế tại Cục thuế Thái bình 35

2.3.1 Định hướng kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục thuế Thái Bình 35

2.3.2 Định hướng quản lý thuế 35

2.4 Phương pháp nghiên cứu 36

2.4.1 Thu thập và phân tích các tài liệu thứ cấp 36

2.4.2 Lựa chọn doanh nghiệp điều tra 38

2.4.3 Phương pháp phiếu điều tra phỏng vấn 38

2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 38

2.4.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 40

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42

3.1 Tổ chức bộ máy quản lý tại Cục thuế Thái bình 42

3.1.1 Cơ cấu tổ chức Cục thuế Thái Bình 42

3.1.2 Công tác tổ chức cán bộ 45

3.1.3 Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ thuế 46

3.1.4 Chức năng, nhiệm vụ phòng Kiểm tra thuế 47

3.2 Thực trạng của công tác kiểm tra thuế 49

Trang 5

3.2.1 Tình hình kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp NQD 49

3.2.2 Điểm mạnh, điểm yếu của công tác kiểm tra thuế 61

3.3 Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 73

3.3.1 Các giải pháp đối với cơ quan nhà nước 73

3.3.2 Các giải pháp với Cục thuế Thái Bình 75

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Viết tắt Viết đầy đủ

NSNN Ngân sách nhà nước ĐTNT Đối tượng nộp thuế XHCN Xã hội chủ nghĩa GTGT Giá trị gia tăng NNT Người nộp thuế TTĐB Tiêu thu đặc biệt

TNHH Trách nhiệm hữu hạn NQD Ngoài quốc doanh CBCC Cán bộ công chức UBND Ủy ban nhân dân VAT Thuế giá trị gia tăng WTO Tổ chức thương mại thế giới XNK Xuất nhập khẩu

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài TNDN Thu nhập doanh nghiệp CBCC Cán bộ công chức NDTN Doanh nghiệp tư nhân CTCP Công ty cổ phần DNLD Doanh nghiệp liên doanh

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.2 Kết quả truy thuế hàng năm qua hoạt động kiểm tra thuế 54

3.3 Kết quả truy thu bình quân trên 01 đơn vị qua hoạt động

3.4 Kết quả kiểm tra các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 55

3.5 Tổng hợp sô thuế truy thu và phạt qua công tác kiểm tra

và thu hồi tiền thuế GTGT qua 4 năm 2010 - 2013 55

3.6 Tình hình kiểm tra hồ sơ tại cơ quan thuế của các doanh

nghiệp ngoài quốc doanh 4 năm 2010 – 2013 56

3.7 Tình hình kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sợ NTT qua 4

3.8 Kết quả công tác kiểm tra xác minh hóa đơn 59

3.9 Tình hình kiểm tra hồ sơ hoàn thuế GTGT qua 4 năm

2010 – 2013 đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 60 3.10 Tình hình miễn giảm thuế 4 năm gần đầy 60

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

1.1 Quy trình và phương pháp kiểm tra thuế 13

3.2 Biểu đồ Trình độ cán bộ công chức Cục thuế Thái Bình 43 3.3 Biểu đồ kết quả kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế 57

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trốn lậu thuế là hành vi luôn tồn tại song hành với hoạt động thu thuế của nhà nước Với hệ thống quản lý tốt thì tính tuân thủ của người nộp thuế ngày càng tăng, song không thể có sự tuân thủ tuyệt đối Thêm vào đó, kinh tế càng phát triển thì tình trạng khai man, trốn lậu thuế ngày càng tinh vi Doanh nghiệp ngoài quốc doanh thuộc nhóm đối tượng mà tính tuân thủ thuế thấp trong nhóm các đối tượng nộp thuế Đặc biệt trong những năm gần đây, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang phát triển nhanh chóng cả về số lượng

và chất lượng, đóng góp nhiều vào GDP và tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động, nhưng bên cạnh đó, đi kèm là những vi phạm pháp luật về thuế cũng gia tăng

Kiểm tra thuế là một nghiệp vụ của cơ quan thuế các cấp nhằm giám sát các tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành Luật pháp của Nhà nước trong lĩnh vực thuế Công tác kiểm tra không những là một chức năng thiết yếu của

cơ quan quản lý nhà nước mà còn là một đòi hỏi khách quan trong quá trình quản lý thu thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời cho ngân sách nhà nước, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với các tổ chức, cá nhân có sản xuất kinh doanh trên thị trường Trong thực tiễn, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác kiểm tra thuế vẫn chưa hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, chưa đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trong nền kinh tế thị trường hiện nay

Đối với cục thuế Thái Bình mặc dù đã áp dụng các biện pháp quyết liệt trong công tác kiểm tra thuế song các đơn vị vi phạm vẫn còn nhiều; việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hiệu quả còn thấp, Công tác kiểm tra đối với trường hợp có dấu hiệu chuyển giá chưa nhiều (theo số liệu năm 2013, chỉ phát hiện được 8 doanh nghiệp trên 500 doanh nghiệp được kiểm tra có hiện

Trang 10

tượng chuyển giá); số lượng và kết quả truy thu thuế của các doanh nghiệp được kiểm tra còn hạn chế đặc biệt là các Chi cục Thuế, chưa đôn đốc dứt điểm số phải thu của người nộp thuế theo kết luận kiểm tra

Xuất phát từ những lý do trên đề tài “Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Thái Bình” có tính thời sự và ý nghĩa thực tiễn thiết thực

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về công tác kiểm tra thuế, đề tài đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm tra trong lĩnh vực thuế tại Cục thuế tỉnh Thái Bình

- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Thái Bình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tuợng nghiên cứu:

Công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu là hoạt động kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh do văn phòng Cục thuế Thái Bình trực tiếp quản lý giai đoạn từ năm 2010- 2013

Trang 11

4 Nội dung nghiên cứu

Nội dung và các chỉ tiêu kiểm tra thuế

- Kiểm tra việc chấp hành những quy định về đăng ký kê khai nộp thuế Nội dung của công tác kiểm tra việc chấp hành những quy định đăng ký kê khai nộp thuế gồm kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ đăng ký kinh doanh, kiểm tra tính trung thực của các tài liệu, số liệu kê khai trong đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế về vốn, địa điểm kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, thời gian thực tế kinh doanh nhằm chấn chỉnh các hiện tượng gian lận trong việc kê khai đăng ký thuế

- Kiểm tra việc chấp hành chế độ lưu giữ số liệu, tài liệu kinh doanh nghĩa vụ bắt buộc của đối tượng nộp thuế Đây là cơ sở pháp lý để xác định nghĩa vụ nộp thuế của NNT Nội dung kiểm tra thuế trong lĩnh vực này tập trung vào kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ ban đầu, kiểm tra việc chấp hành chế độ và quy trình hạch toán kế toán, việc tính thuế, xác định số thuế phải nộp, số thuế được khấu trừ, việc lập các báo cáo tài chính và báo cáo thu nộp ngân sách của các đối tượng nộp thuế

- Kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của NNT Nộp thuế đầy

đủ và đúng hạn là nghĩa vụ của NNT Mọi trường hợp cố tình dây dưa, chậm nộp hoặc chây ỳ đều là những hành vi vi phạm và có ảnh hưởng xấu đến kỷ luật thu nộp cần phải được chấn chỉnh

5 Kết cấu luận văn tốt nghiệp

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của đề tài bao gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận, thực tiễn và tổng quan tài liệu nghiên cứu về công tác kiểm tra thuế

Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ

1.1 Cơ sở lý luận về công tác kiểm tra thuế

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm kiểm tra thuế

Hoạt động quản lý Nhà nước chính là sự tác động có định hướng của chủ thể quản lý (cơ quan thuế) tới các đối tượng quản lý (Đối tượng nộp thuế) nhằm đạt được mục tiêu động viên một phần thu nhập quốc dân vào NSNN

Do vậy kiểm tra thuế chính là một công đoạn và là một yếu tố cấu thành của hoạt động Lãnh đạo quản lý Nhà nước của cơ quan thuế Hoạt động quản lý của cơ quan thuế bao gồm từ việc xây dựng các mục tiêu kế hoạch trong giai đoạn nhất định đến việc tổ chức để thực hiện các mục tiêu kế hoạch đó và sau cùng là tiến hành kiểm tra, việc thực hiện đó như thế nào để từ đó tác động ngược trở lại từ khâu xác định chủ trương kế hoạch có hợp lý hay không nhằm đảm bảo cho hoạt động của cơ quan thuế đạt được hiệu quả cao

Kiểm tra thuế là một trong bốn chức năng cơ bản của quản lý thuế theo

mô hình chức năng Bên cạnh việc tôn trọng kết quả tự tính, tự khai, tự nộp thuế của người nộp thuế, cơ quan thuế thực hiện các biện pháp giám sát hiệu quả vừa đảm bảo khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện, vừa đảm bảo phát hiện ngăn ngừa các trường hợp vi phạm pháp luật thuế Kiểm tra thuế là một biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa vi phạm, giúp người nộp thuế nhận thấy luôn có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại và kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm của họ

Kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế,

Trang 13

nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh

tế – xã hội

Kiểm tra thuế có những đặc điểm chủ yếu sau:

Về mục đích: Phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi

phạm pháp luật thuế

Về cách thức tiến hành: Xem xét hoạt động thực tế của đối tượng để

phân tích, đánh giá, phát hiện và xử lý theo quy định pháp luật về thuế

Về nội dung: Xem xét doanh thu, chi phí, lợi nhuận

Về phương pháp: Phân tích xác định rủi ro, truy lần lại việc xử lý dữ

liệu, tính toán lại và xác minh

1.1.2 Vai trò của kiểm tra thuế

- Kiểm tra thuế góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật về thuế

Hệ thống thuế ở nước ta hiện nay bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau Mỗi sắc thuế điều tiết đến một số đối tượng xã hội nhất định và có những phương pháp quản lý thu khác nhau Về cơ bản mỗi sắc thuế khi được ban hành đều đã được nghiên cứu kỹ và chuẩn bị chu đáo nhưng do đặc điểm nền kinh tế nước ta đang ở thời kỳ chuyển đổi từ hành chính, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nên không tránh khỏi những khiếm khuyết, bất cập Chính vì vậy kiểm tra thuế là nơi cung cấp các căn cứ, các bằng chứng cụ thể phản ánh một cách chân thực, sống động các hoạt động diễn ra trong thực tế, để phục vụ cho việc hòan thiện, bổ sung các chính sách cho phù hợp

- Kiểm tra thuế là phương tiện phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm nảy sinh trong hoạt động quản lý thuế

Với tư cách là công cụ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, kiểm tra thuế chính là việc xem xét tại chỗ việc làm của các tổ chức, cơ quan và các cá nhân có đúng quy định của chính sách, pháp luật về thuế hay không? Qua đó

Trang 14

sử dụng các biện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các quyết định hành chính nhằm ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật của ĐTNT

Thực tế cho thấy không có hệ thống pháp luật nào có thể đảm bảo là không khiếm khuyết Đây chính là nguyên nhân để các đối tượng lợi dụng, cố tình lách luật để trục lợi cá nhân Kiểm tra thuế phải phát hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực để ngăn ngừa kịp thời

- Kiểm tra thuế có vai trò quan trọng trong việc cải cách thủ tục hành chính cả về quy chế và tổ chức thực hiện

Thông qua hoạt động kiểm tra thuế giúp giảm đến mức tối đa các thủ tục, quy chế không cần thiết gây phiền hà đến nhân dân và doanh nghiệp

1.1.3 Yêu cầu của công tác kiểm tra thuế

Hoạt động kiểm tra thuế nhằm giúp các đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật về công tác quản lý thu ngân sách đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của ngành

Thông qua công tác kiểm tra thuế nhằm đánh giá việc chấp hành các luật thuế của các đối tượng nộp thuế và người thu thuế nhằm phát huy nhân tố tích cực, đấu tranh ngăn ngừa và xử lý những mặt tiêu cực

Căn cứ vào những kiến nghị của kết quả kiểm tra, cơ quan thuế các cấp

có thể đề ra các giải pháp cụ thể để thực hiện, đưa Luật thuế vào cuộc sống thực tế, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện luật thuế, đồng thời cải cách được các quy trình quản lý thu thuế ngày càng hợp lý hơn

Thông qua công tác kiểm tra thuế nhằm hướng dẫn, giúp đỡ đối tượng nộp thuế nắm được nghĩa vụ và quyền lợi của đơn vị khi thực hiện luật thuế, đồng thời nâng cao trách nhiệm của công chức ngành thuế khi thi hành công vụ

Thông qua công tác kiểm tra nội bộ nhằm kịp thời ngăn chặn, phòng ngừa những hành vị tiêu cực, tham nhũng phát sinh, để xây dựng cơ quan thuế trong sạch vững mạnh với đội ngũ cán bộ thuế về phẩm chất đạo đức, giỏi về nghiệp vụ chuyên môn

Trang 15

1.1.4 Nguyên tắc kiểm tra thuế

Để công tác kiểm tra thuế đạt hiệu quả cao, cần đảm bảo những nguyên tắc sau:

- Kiểm tra thuế phải trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế

- Trong quá trình kiểm tra thuế phải tuân thủ theo pháp luật, đảm bảo tính đúng đắn khách quan, công khai, dân chủ, khi kết luận một vấn đề phải

có chứng lý, không được suy diễn

- Kiểm tra thuế phải thực hiện đúng quy trình do ngành đã quy định

- Việc tiến hành kiểm tra thuế phải thực hiện theo kế hoạch và nội dung

đề cương được duyệt

- Trong khi kiểm tra thuế phải tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của quần chúng, phát huy dân chủ động viên tham gia cung cấp tài liệu số liệu thông tin cho đoàn

- Nghiêm cấm cán bộ làm công tác kiểm tra thuế cố ý làm sai lệch nội dung vụ việc hoặc mở rộng nội dung, phạm vi thanh tra, kiểm tra, lợi dụng quyền hạn để sách nhiễu gây phiền hà cho đơn vị, bao che người vi phạm hoặc truy ép đơn vị trong việc giải trình, trả lời chất vấn

- Căn cứ vào mục đích của từng cuộc kiểm tra thuế đòi hỏi người ra quyết định thành lập đoàn kiểm tra thanh tra phải cử những người có trình độ

Trang 16

hình chấp hành pháp luật thuế trên địa bàn và mục tiêu quản lý thuế, cơ quan thuế xây dựng kế hoạch kiểm tra và trình cấp thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra thuế được phê duyệt

- Kiểm tra thuế đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức

cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao

1.1.5.2 Theo nội dụng và phạm vi kiểm tra thuế

Theo tiêu chí này kiểm tra thuế được chia thành hai loại là kiểm tra toàn diện và kiểm tra hạn chế

- Kiểm tra toàn diện

Với chức năng này, cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra toàn diện sẽ thực hiện các cuộc kiểm tra toàn diện hoặc kiểm tra tổng hợp về mọi sắc thuế thu nhập, GTGT, TTĐB và các sắc thuế khác trên cơ sở tờ khai thuế hàng năm Đây là loại hình kiểm tra sâu và phạm vi rộng cho phép kết luận về những vấn đề mà ĐTNT chưa tuân thủ pháp luật thuế Kiểm tra toàn diện liên quan đến:

+ Nhiều sắc thuế - nghĩa là kiểm tra tổng hợp các sắc thuế thu nhập, GTGT, TTĐB và các sắc thuế khác theo pháp luật thuế

+ Nhiều kỳ tính thuế - đối với những sắc thuế nộp tờ khai năm thì thời

kỳ kiểm tra là những kỳ tính thuế gần nhất và chỉ khi có các phát hiện trong quá trình kiểm tra thấy cần thiết mới mở rộng phạm vi kiểm tra Đối với những sắc thuế nộp tờ khai tháng thì thời kỳ kiểm tra thường là kỳ tính thuế gần nhất cộng với 2 kỳ tính thuế nữa, tuy nhiên kiểm tra dạng này thường là ngoại lệ

+ Phạm vi kiểm tra không hạn chế hoặc rộng - các cuộc kiểm tra dạng này sử dụng các kỹ thuật chọn mẫu thích hợp và sẽ quyết định mở rộng phạm vi kiểm tra (trên cơ sở rủi ro) và thời kỳ kiểm tra khi các kết quả của công tác đánh giá rủi ro hoặc các phát hiện trong quá trình kiểm tra chứng minh sự cần thiết

Trang 17

+ Nhóm ĐTNT trọng điểm - phần lớn đối tượng của kiểm tra toàn diện

là các ĐTNT lớn

+ Địa điểm tiến hành - thường ở trụ sở của ĐTNT chứ không ở cơ quan thuế

- Kiểm tra hạn chế (Kiểm tra hoàn thuế, một sắc thuế, dự án, phạm vi

hạn chế…)

+ Kiểm tra hạn chế là loại kiểm tra bị hạn chế về phạm vi, có thể là kiểm tra hoàn thuế GTGT, kiểm tra dự án về hạng mục chi phí hoặc một chỉ tiêu nào đó trên bảng cân đối kế toán hoặc báo cáo lỗ lãi

+ Một cách khác để xác định kiểm tra hạn chế là công việc kiểm tra chỉ hạn chế đối với một số chỉ tiêu nhất định và không bao gồm các phép thử hay các bước tuần tự kiểm tra cần thiết cho phép cán bộ kiểm tra đánh giá được tổng thể mức độ tuân thủ hay không tuân thủ pháp luật thuế của ĐTNT bị kiểm tra Thông thường kiểm tra bao gồm việc rà lại các chứng từ liên quan trực tiếp đến (các) vấn đề được kiểm tra Loại hình kiểm tra này thường được bắt đầu từ một trong những nguồn sau:

 Đề xuất của bộ phận rà soát các tờ khai

 Hướng dẫn của cán bộ kiểm tra cấp cao hơn

 Kiểm tra 1 ĐTNT khác về 1 vấn đề cụ thể

Kiểm tra hoàn thuế cần tập trung vào các hồ sơ hoàn thuế rủi ro cao, và chỉ kiểm tra thời kỳ yêu cầu hoàn thuế Tính tin cậy và chính xác của hồ sơ hoàn thuế cần được kiểm tra thử trên cơ sở chọn mẫu Đối với kiểm tra hoàn thuế, chỉ khi kết quả chọn mẫu cho thấy cần mở rộng kiểm tra thêm thì mới cần tiến hành xác minh thêm

1.1.5.3 Theo địa điểm tiến hành kiểm tra

- Kiểm tra tại bàn

Việc kiểm tra tại bàn có thể áp dụng đối với bất kỳ tờ khai thuế nào, bao gồm kiểm tra các chỉ tiêu thu nhập, chi phí hoặc hoàn thuế

Trang 18

Kiểm tra tại bàn không cần đến tận cơ sở ĐTNT Phạm vi kiểm tra thường hạn chế chỉ để xác minh một số vấn đề cụ thể đã được cán bộ rà soát

tờ khai lưu ý hoặc được lưu chuyển qua các khâu (xử lý trước đó)

Kiểm tra tại bàn thực hiện đối chiếu chéo những thông tin kê khai trong

tờ khai cụ thể, xác minh các phép tính về trừ chi phí sử dụng vốn và kiểm tra chéo dữ liệu thông qua việc yêu cầu ĐTNT mang đến và xuất trình sổ sách, chứng từ mua vào, bán ra tại cơ quan thuế

Kiểm tra tại bàn bao gồm:

+ Một sắc thuế hoặc một chỉ tiêu – chỉ kiểm tra hoặc xác minh một sắc thuế như thuế thu nhập, tờ khai có nghi vấn, thuế khấu trừ tại nguồn Kiểm tra tại bàn cũng được áp dụng để kiểm tra một hạng mục chi phí hoặc chỉ tiêu nào

đó trên tờ khai

+ Một kỳ tính thuế

+ Phạm vi hạn chế hoặc hẹp – đối chiếu chéo những thông tin kê khai trong tờ khai cụ thể, xác minh các phép tính về trừ chi phí sử dụng vốn và kiểm tra chéo dữ liệu thông qua việc yêu cầu ĐTNT mang đến, xuất trình sổ sách, chứng từ mua vào, bán ra tại cơ quan thuế

+ Nhóm ĐTNT trọng điểm

+ Địa điểm tiến hành – cơ quan thuế

- Kiểm tra tại cơ sở của đối tượng kiểm tra

Kiểm tra thuế tại cơ sở là một công cụ chủ yếu trong chương trình kiểm tra của Cơ quan thuế Thời gian cần thiết để thực hiện công việc này

là từ 05 ngày trên một cuộc kiểm tra Kiểm tra tại cơ sở thường là việc kiểm tra chi tiết nhưng cũng có lúc chỉ là việc kiểm tra một phần sổ sách

kế toán thông thường của ĐTNT ngay tại trụ sở làm việc của ĐTNT Kiểm tra tại cơ sở được tiến hành bởi một đoàn kiểm tra Đoàn kiểm tra

sử dụng từ hai cán bộ kiểm tra trở lên và có thể bao gồm những thành viên có những kỹ năng khác nhau

Trang 19

Đặc điểm của kiểm tra tại cơ sở của ĐTNT:

+ Kiểm tra và sử dụng các kỹ thuật kiểm tra đối với những chứng từ kế toán được ĐTNT lưu giữ

+ Trao đổi với đối tượng nộp thuế

+ Quan sát đánh giá

+ Có thể yêu cầu bất cứ ai thuộc ĐTNT đang kiểm tra cung cấp thông tin + Có thể yêu cầu thông tin từ bên thứ ba

1.1.6 Nội dung công tác kiểm tra đối tượng nộp thuế

Căn cứ vào kế hoạch kiểm tra thuế, nhóm phân tích phải thực hiện quá trình tập hợp và phân tích rủi ro các thông tin chuyên sâu tại cơ quan thuế, nhằm kiểm tra tính xác thực đối với các hồ sơ khai thuế, báo cáo tài chính thông tin, các nghi vấn cần doanh nghiệp cung cấp thêm thông tin hoặc những nội dung nghi ngờ cần tiếp xúc với doanh nghiệp để làm rõ (thông tin chung

về doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức hạch toán, liên doanh liên kết, đối tác kinh doanh, hợp đồng mua bán hàng, tăng giảm tài sản, biên bản xác nhận công nợ nội bộ, công nợ người bán, người mua )

Việc kiểm tra, đối chiếu số liệu tổng hợp tại trụ sở của NNT được thực hiện tuỳ theo phạm vi, quy mô, nội dung cuộc thanh tra, kiểm tra Các nội dung kiểm tra đối chiếu số liệu tổng hợp gồm:

- Kiểm tra hồ sơ đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, mã số thuế, tình hình đăng ký sử dụng hoá đơn

- Kiểm tra đối chiếu tài liệu, hồ sơ gửi cơ quan thuế với thực tế xuất trình của doanh nghiệp: báo cáo quyết toán tài chính quý, năm; tờ khai thuế Giá trị gia tăng, bản xác định số thuế Thu nhập doanh nghiệp tạm nộp theo quý, tờ khai thuế Thu nhập doanh nghiệp tự quyết toán năm và các tờ khai quyết toán thuế khác liên quan đến nội dung ghi tại quyết định thanh tra, kiểm tra

Trang 20

- Kiểm tra việc mở sổ sách và tính hợp pháp: sổ cái, các sổ theo dõi chi tiết theo các chuẩn mực kế toán nhà nước quy định, đối chiếu số liệu tổng hợp giữa sổ chi tiết với bảng cân đối số phát sinh và bảng tổng kết tài sản

- Ngoài ra, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể cần kiểm tra xem xét các tài liệu, hồ sơ liên quan khác, số thuế đầu kỳ trước chuyển sang, xác nhận của cơ quan thuế, cơ quan kho bạc nhà nước về số nộp ngân sách trong kỳ, các tài liệu liên quan đến hoàn thuế, miễn giảm thuế

Kiểm tra chi tiết, lập hồ sơ tại trụ sở NNT gồm các nội dung sau:

- Kiểm tra sổ sách, chứng từ và các hồ sơ liên quan đến nội dung kiểm tra thuế

- Kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh: đối chiếu số liệu hạch toán, số liệu tính, kê khai, thu nộp thuế và hạch toán thực tế của doanh nghiệp với các chuẩn mực nhà nước quy định (quy định luật, pháp lệnh thuế

và các văn bản hướng dẫn thi hành; các cơ chế tài chính và chuẩn mực kế toán Nhà nước ban hành )

- Trường hợp cần thiết phải giám định tài liệu, cần lập biên bản thu giữ tài liệu ghi rõ tình trạng của tài liệu đó (kể cả hiện vật nếu có) để yêu cầu cơ quan có trách nhiệm giám định

1.1.7 Quy trình và phương pháp kiểm tra thuế

Quy trình kiểm tra thuế là các trình tự và các bước công việc cụ thể bắt buộc phải tuân thủ khi thực hiện một quyết định kiểm tra thuế, một chương trình kiểm tra hay một kế hoạch kiểm tra cụ thể Ngoài công tác lập kế hoạch kiểm tra hàng năm và công tác báo cáo thực hiện kết quả kiểm tra thì kiểm tra bao gồm một loạt các bước lôgic với nhau từ lúc cán bộ kiểm tra nhận hồ sơ cho đến khi hoàn thành, được thể hiện dưới dạng sơ đố như sau:

Trang 21

Công tác xây dựng kế hoạch kiểm tra hàng năm

Theo kết quả điều tra phỏng vấn cho thấy năng lực phân tích hồ sơ của cán bộ kiểm tra còn yếu, hệ thống các phần mềm đánh giá doanh nghiệp chưa được áp dụng Hiện tại hoạt động kiểm tra thuế thực hiện theo quy trình 528/QĐ-CT ngày 29/5/2008 và hoạt động thanh tra thuế thực hiện theo quy trình 460/QĐ-CT ngày 05/5/2009 của Tổng cục thuế Tuy nhiên việc lựa chọn ĐTNT để kiểm tra, thanh tra thuế chỉ căn cứ vào các tiêu chí đánh giá rủi ro, chưa có thang điểm để chấm điểm theo từng tiêu chí rủi ro để phân loại theo thứ tự từ mức rủi ro cao nhất đến mức thấp nhấp Để công tác xây dựng kế

Giao hồ sơ cho cán bộ kiểm tra

Rà soát hồ sơ tại bàn

Liên hệ với

Đối tượng nộp thuế

Kế toán viên Người đại diện

Công việc kiểm tra:

Áp dụng những kỹ thuật Quy mô kiểm tra

Kiến nghị/Lập biên bản:

Phỏng vấn kết thúc Công văn thông báo biên bản

Báo cáo kiểm tra và các báo cáo khác

Đóng hồ sơ Hình 1.1 Quy trình và phương pháp kiểm tra thuế

Trang 22

hoạch kiểm tra, thanh tra thuế hiệu quả, xác định đúng đối tượng cần kiểm tra, thanh tra thuế, tác giả kiến nghị cần Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá, lựa chọn, xếp loại doanh nghiệp theo mức độ tín nhiệm tương ứng (đánh giá rủi ro) để lựa chọn đối tượng đưa vào kế hoạch kiểm tra:

Tín nhiệm là những doanh nghiệp làm ăn chân chính, tài chính lành mạnh và tuân thủ tốt pháp luật thuế

Tín nhiệm thấp là những doanh nghiệp có vi phạm về chế độ tài chính,

về pháp luật thuế, tuân thủ pháp luật thuế ở mức độ trung bình

Tín nhiệm rất thấp là những doanh nghiệp không tuân thủ pháp luật thuế,

vi phạm nghiêm trọng về chế độ tài chính và các chính sách, pháp luật khác

Hệ thống tiêu chí này được xây dựng trên cơ sở: tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (có các tiêu chí về doanh thu, chi phí, tỷ suất lợi nhuận), tình hình tài chính của doanh nghiệp (có các tiêu chí về tỷ suất thử nhanh, về vốn lưu động, vốn chủ sở hữu, vốn vay), tình hình tuân thủ nghĩa vụ thuế (có các tiêu chí về thuế phát sinh, thuế còn nợ, những ưu điểm và vi phạm qua các cuộc thanh tra thuế) và qua việc thu thập, xử lý các thông tin bên ngoài

từ Ngân hàng, Hải quan, Báo chí, các cơ quan bảo vệ pháp luật (có các tiêu chí

về nợ xấu, khả năng trả nợ, nợ thuế hoặc trốn thuế xuất, nhập khẩu, làm ăn phi pháp, vi phạm pháp luật )

Theo đó chỉ tập trung vào việc thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp đã được đánh giá, phân loại có mức độ tín nhiệm thấp và rất thấp Khuyến khích

và tôn trọng các doanh nghiệp có sự tín nhiệm của cơ quan thuế và nâng cao mức độ tín nhiệm đối với cơ quan thuế và các cơ quan hữu quan

Phân loại người nộp thuế theo nhóm ngành kinh tế, người nộp thuế sẽ được phân vào các nhóm ngành kinh tế tương ứng theo mã ngành kinh tế quốc dân theo ngành nghề kinh doanh chính của người nộp thuế

Trang 23

Thông qua phân ngành kinh tế để hiểu được người nộp thuế thuộc nhóm ngành nào, lĩnh vực hoạt động, các đặc thù chính và rủi ro chính thường gặp

Phân loại người nộp thuế theo quy mô: người nộp thuế sẽ được phân loại quy mô theo nhiều tiêu thức khác nhau để phục vụ cho mục đích quản lý (phân theo nguồn vốn, theo doanh thu, theo số thuế nộp, theo Tài sản cố định )

Mục đích của việc phân loại đối tượng nộp thuế để hiểu được cơ cấu, độ phức tạp, phân loại, qui mô sẽ giúp cho việc phân tích và sàng lọc các đối tượng nộp thuế để thanh tra, kiểm tra

Chương trình thanh tra, kiểm tra trên toàn quốc phải sử dụng các tiêu thức khách quan trên cơ sở tính toán tự động các tỷ suất tài chính để xác định lựa chọn các trường hợp thanh tra, kiểm tra Việc phân tích tài chính thuế bao gồm tập hợp, lọc và hiểu các thông tin tài chính về tình hình thuế của người nộp thuế Công việc này đòi hỏi phải sử dụng các báo cáo tài chính và tờ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế Những hiểu biết về người nộp thuế, ngành, các giao dịch trước đây của người nộp thuế với cơ quan thuế đều hỗ trợ cho việc phân tích nguồn tài chính Mục tiêu của việc phân tích tài chính thuế là hiểu được tại sao có việc kê khai nộp thiếu tiền thuế, tức là hiểu được “số thuế thất thu”

Khái niệm “số thuế thất thu” là phần chênh lệch giữa số thuế mà cơ quan thuế sau kiểm tra phát hiện được so với DTNT khai trên báo cáo tài chính

Việc phân tích tài chính để xác định số thuế thất thu tiềm tàng đòi hỏi phải hiểu biết cặn kẽ và phán xét đúng Nhìn chung, không thể đưa ra những quyết định tuyệt đối về việc tồn tại số thất thu thuế trên cơ sở một số ít các chỉ tiêu, đặc biệt là đối với các người nộp thuế lớn và phức tạp

Việc lựa chọn đạt hiệu quả và chính xác khi kiểm tra, đánh giá xu hướng qua các kỳ và các thông tin gần nhất Để thực hiện so sánh, điều quan trọng là xây dựng được các định mức chuẩn phù hợp với điều kiện thực tế của người

Trang 24

nộp thuế ví dụ các tỷ suất tài chính theo ngành trong từng khu vực có thể được coi là định mức chuẩn để so sánh

1.2 Đặc điểm quản lý thuế đối với doanh nghiệp NQD

1.2.1.Vai trò của DN NQD đối với việc tăng thu cho NSNN

DN NQD ra đời và tồn tại trong nền kinh tế quốc dân đã đem lại rất nhiều lợi ích kinh tế xã hội trong mỗi quốc gia:

- Góp phần khai thác những tiềm năng to lớn của nền kinh tế

- Thu hút được vốn đầu tư từ các đối tượng khác nhau

- Tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động ở nước ta

- Tạo nguồn thu cho NSNN

1.2.2 Đặc điểm doanh nghiệp NQD tác động đến công tác kiểm tra thuế

Các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh ( DN NQD) thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (gồm DN NQD và hộ kinh doanh cá thể) Các DN NQD bao gồm DNTN, công ty TNHH, công ty cổ phần và các đơn vị theo hình thức HTX (như cơ quan đoàn thể, tổ sản xuất ) hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005 và Luật Hợp tác xã

Hiện nay Cục thuế Thái Bình quản lý 1750 DN NQD, nhìn chungcacs

DN đều có những đặc điểm chung và làm ảnh hưởng đến công tác quản lý thu thuế của Cục thuế tỉnh Thái bình

- Tính chất sở hữu tư nhân về tư liệu lao động Chính đặc điểm này sẽ

làm cho mỗi thành viên trong DN của mình sẽ gắn liền quyền lợi, đều có ý thức trách nhiệm rất cao trong việc tập trung nguồn lực và sức lực vào công việc của mình Điều này có nghĩa là hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN sẽ gắn liền với quyền lợi cá nhân của người sản xuất Vì vậy mỗi thành viên đều

có ý thức trách nhiệm rất cao trong việc tập trung tối đa sức lực, thời gian và trí tuệ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình Do vậy bất

cứ có một thay đổi nào ảnh hưởng đến lợi nhuận của DN đều ảnh hưởng đến

Trang 25

mỗi thành viên trong doanh nghiệp đó Vì vậy các DN rất nhanh nhạy trong tìm hiểu đầu tư có thể sẵn sàng bằng bất cứ giá nào để kiếm được thật nhiều lợi nhuận với những phương án kinh doanh rất táo bạo và mạo hiểm Đôi khi

để đạt được mục đích họ có thể xem thường pháp luật kể cả trốn thuế gây hậu quả cho xã hội Như vậy việc quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp sẽ trở nên khó khăn hơn

- Hoạt động của các DN NQD mang tính phân tán: phạm vi hoạt động

của các DN NQD mang tính phân tán, rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, tập trung vào các ngành tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ ăn uống Do tính chất kinh doanh và loại hình đa dạng, DN NQD hoạt động trên phạm vi rộng, quy mô không đồng đều, tính tập trung không cao Do vậy nó

sẽ gây khó khăn cho cơ quan quản lý trong việc giám sát, quản lý DN NQD

- Tính chất quy mô vốn của các DN NQD thường là nhỏ, vốn ít, cơ cấu

đơn giản, gọn nhẹ linh hoạt, số lượng công nhân ít và họ thường phải đảm nhận công việc theo kiểu đa năng, giúp cho chi phí nhân công thấp, tạo lợi thế cạnh tranh về giá và sản phẩm cuối cùng Các doanh nghiệp này thường hoạt động ở các ngành thường có tính năng động cao nên dễ dàng chuyển hướng kinh doanh, dễ thích nghi với hoàn cảnh và yêu cầu của nền kinh tế Điều này

sẽ dẫn đến cơ quan thuế rất khó kiểm soát

-Trình độ văn hóa chưa cao: DN NQD có số đông người lao động trình

độ văn hóa chưa cao dẫn đến trình độ quản lý, trình độ công nghệ thấp trong

số những người lao động ở khu vực này có cả người già, cán bộ nhân viên nghỉ hưu, nghỉ mất sức hoặc không có công ăn việc làm phải kinh doanh để kiếm sống Do đó, việc tuyên truyền giải thích chính sách gặp nhiều vấn đề khó khăn, công tác quản lý có nhiều trở ngại do hạn chế về khả năng ngoại ngữ, thiếu thông tin về thị trường vì vậy khó ứng phó được với tác động thị trường bên ngoài

Trang 26

- Sự tồn tại và phát triển mang tính tự phát tức là sự tồn tại và phát triển

của DN NQD còn phụ thuộc vào cung cầu thị trường hàng hoá, vào những chính sách của Nhà nước trong việc khuyến khích hay hạn chế phát triển

- Về việc chấp hành chế độ hạch toán kế toán và những quy định của

Nhà nước còn nhiều hạn chế vì những người quản lý doanh nghiệp cũng là những người chủ sở hữu doanh nghiệp nên họ được toàn quyền ra quyết định Cho nên đôi khi vì mục tiêu lợi nhuận mà họ xem thường pháp luật, thể hiện chế độ hoá đơn chứng từ mua bán hàng hoá chưa đầy đủ, không theo đúng quy định của Nhà nước, nếu có chỉ mang tính chất hình thức

Việc giao dịch mua bán hàng hoá, dịch vụ chủ yếu bằng hình thức thương mại, rất ít trường hợp thanh toán qua ngân hàng do đó công tác kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn Các công ty dùng rất nhiều thủ đoạn để trốn thuế và gian lận thương mại gây hâu quả xấu cho xã hội

Trên đây là một số đặc điểm cơ bản của DN NQD Từ đó, ta có thể thấy được những ưu, nhược điểm để tìm cách quản lý thuế tốt phát huy thế mạnh cho DN NQD vào quá trình hội nhập và phát triển kinh tế đất nước

Như vậy công tác kiểm tra thuế đối với DN NQD thực chất là quản lý chặt chẽ các mặt sau:

 Kiểm tra đăng ký thuế, kê khai, ấn định thuế

 Kiểm tra thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế

 Kiểm tra việc xoá nợ tiền thuế, tiền phạt

 Kiểm tra thông tin về người nộp thuế

 Kiểm tra việc cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế

 Kiểm tra việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế

 Kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế

Trang 27

1.3 Cơ sở thực tiễn

1.3.1 Kinh nghiệm của Cục thuế Hà Nội

Theo báo cáo tổng kết năm 2012 của Cục Thuế Hà Nội là đổi mới thêm một bước công tác thanh, kiểm tra thuế từ công tác chỉ đạo điều hành đến triển khai thực hiện đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, góp phần vào thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành, kiến nghị bổ sung và hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật thuế, xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm, khuyến khích nâng cao tính tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế trên địa bàn Thủ đô góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý thuế Năm 2012, công tác thanh, kiểm tra tại Cục Thuế đạt được kết quả nổi bật: kiểm tra tại bàn đối với 185.568 lượt hồ sơ, tăng 47% so với năm 2011; trong

đó điều chỉnh 1.385 lượt hồ sơ tăng 46%, tăng thu 748 tỷ đồng Kiểm tra tại trụ sở NNT 5.311 cuộc truy thu, truy hoàn, phạt sau kiểm tra 669 tỷ đồng, tăng 29% Thanh tra tại trụ sở NNT 816 cuộc, tăng 13%; tổng số thuế truy thu, truy hoàn, phạt là 1.177 tỷ đồng (tăng 441 tỷ đồng) vượt 60%, giảm thuế GTGT được khấu trừ 100 tỷ đồng, giảm lỗ 1.066 tỷ đồng

Trong năm 2012, bên cạnh những kết quả đạt được trong công tác thanh, kiểm tra thuế nhờ những chuyển biến rõ nét trong nhận thức của ngành Thuế Thủ đô, vẫn còn một số tồn tại trong công tác thanh, kiểm tra thuế như: thời gian công tác thanh, kiểm tra vẫn còn kéo dài, hiệu quả chưa thực sự cao, phân tích, đánh giá hồ sơ khai thuế chưa sâu, Công tác thanh, kiểm tra tại trụ

sở NNT chưa đáp ứng được kế hoạch đề ra về mặt số lượng, phân tích hồ sơ trước khi ban hành quyết định thanh tra chưa được kịp thời, chưa thực sự rút

ra các vấn đề trọng tâm để đề xuất thanh, kiểm tra, Trình độ cán bộ thanh, kiểm tra còn hạn chế… Trước thực trạng này, Cục Thuế đã nghiêm túc đánh giá các vấn đề tồn tại với các nguyên nhân khách quan và chủ quan chính tác động tới công tác thanh, kiểm tra Cục Thuế tổng hợp các hành vi vi phạm đối với 4 sắc thuế, với 18 nhóm theo lĩnh vực, ngành nghề bổ sung vào sổ tay kỹ

Trang 28

năng phục vụ cho việc triển khai thanh, kiểm tra hiệu quả và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Cục Thuế đã rút ra 8 bài học kinh nghiệm và đề ra 5 nhóm giải pháp chính đối với triển khai nhiệm vụ trong năm 2013

Với mục tiêu của công tác năm 2013 là năm “trách nhiệm - kỷ cương” của Ngành thuế Thủ đô, việc làm trước tiên là toàn thể CBCC của Ngành thuế Thủ đô phải tuân thủ các qui định về giờ giấc làm việc, tác phong kỷ luật, văn minh nơi công sở Tăng cường thời gian làm việc tại Cơ quan thuế, thanh, kiểm tra theo rủi ro Xây dựng và ban hành quy chế giám sát đoàn thanh, kiểm tra với mục tiêu là giám sát nhằm chuẩn hóa các nội dung công việc đảm bảo tính minh bạch, tăng cường tính giám sát của cấp trên đối với cấp dưới, của trưởng đoàn với thành viên, tăng tính tuân thủ của cán bộ thanh, kiểm tra thuế, đồng thời, qui chế giám sát sẽ liên tục bổ sung, thay đổi cho phù hợp với thực tiễn Ban hành và truyền tải nội dung của “thông điệp Thư ngỏ” gửi tới NNT được thanh, kiểm tra và hoàn thuế với mong muốn để NNT hiểu được quyền và trách nhiệm của mình, đồng thời có sự phối hợp, trao đổi, phản hồi kịp thời, chính xác với Cơ quan thuế trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của CBCC thuế Cơ quan thuế sẽ xử lý nghiêm minh với những CBCC có hành vi chưa đúng mực, thiếu văn minh trong giao tiếp ứng xử, gây phiền hà cho NNT, vi phạm pháp luật

Hà Nội định kỳ hàng năm tại hội nghị tổng kết công tác thuế ngoài việc báo cáo thống kê các số liệu, thì một trong những hoạt động rất sôi nổi tại hội nghị là đã tạo ra được một diễn đàn theo các chuyên đề để các đơn vị trực thuộc, các nhà khoa học, các doanh nghiệp cùng nhau tao đổi, đóng góp ý kiến để hoàn thiện công tác quản lý thuế nói chung và công tác kiểm tra thuế nói riêng Tại hội nghị năm 2013, trong hội thảo chuyên đề về công tác kiểm tra thuế đã có 7 tham luận của các đơn vị trực thuộc cục thuế Hà Nội Chi cục thuế Quận Hai Bà Trưng, Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra tại trụ sở Cơ quan thuế; Chi cục thuế Đống Đa, Các giải pháp nâng cao hiệu

Trang 29

quả công tác kiểm tra thuế tại trụ sở NNT; Phòng kiểm tra thuế, Các nội dung vướng mắc trong công tác hoàn thuế và giải pháp tăng cường giám sát đối công tác hoàn thuế; Trung tâm tin học, Những vấn đề cần quan tâm đối với xây dựng cơ sở dữ liệu NNT và lập kế hoạch kiểm tra đối với các Phòng Kiểm tra và các Chi cục Thuế trong quản lý rủi ro; Phòng tổ chức cán bộ, Công tác đào tạo, tự đào tạo cho cán bộ thanh, kiểm tra thuế và các vấn đề cần quan tâm; Chi cục thuế Hoàng Mai, Các giải pháp tăng cường công tác thanh, kiểm tra các doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá và kinh nghiệm thanh, kiểm tra các doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá

1.3.2 Kinh nghiệm kiểm tra thuế của Malaysia

Công tác kiểm tra thuế có hiệu quả, tại Malaysia tổ chức trung tâm thanh tra - điều tra thuế được phân bổ theo vùng Các trung tâm không chỉ dừng lại theo chức năng kiểm tra thuế thông thường mà chủ yếu tập trung vào công tác điều tra phát hiện và xử lý các trường hợp trốn lậu thuế có tính chất nghiêm trọng, truy thu thuế vào ngân sách nhà nước Trung tâm điều tra thanh tra có nhiệm vụ tổ chức, thu thập các thông tin từ nội bộ ngành thuế, người tố giác, người khai báo, báo chí…để phát hiện các trường hợp, các khả năng trốn thuế Tổ chức công tác điều tra nghiệp vụ trên có sự phối hợp trên toàn quốc hoặc quy mô quốc tế Tổ chức lưu giữ tài liệu, bằng chứng liên quan đến hành

vi trốn thuế Tổ chức việc kiểm tra, đối chứng để quy phạm hành vi trốn thuế Khởi tố, truy tố, phạt hành chính, kiến nghị phạt hình sự đối với các hành vi trốn thuế Bắt giữ tài sản, phong toả tài sản, truy thu cho ngân sách

1.3.3 Kinh nghiệm kiểm tra thuế của Indônêxia

Thanh tra, điều tra thuế là một chức năng cơ bản của cơ quan thuế Indonêxia, nó giữ vai trò quan trọng để đảm bảo quá trình áp dụng thành công

cơ chế tự tính, tự khai nộp thuế Công tác thanh tra, chính sách thanh tra được quy định bởi Cục thanh tra và điều tra thuộc Tổng cục thuế, chỉ được thực hiện sau khi đã thu thập các thông tin và xử lý các dự liệu về đối tượng nộp

Trang 30

thuế để đánh giá mức độ tuân thủ nghĩa vụ thi hành về thuế và sự thi hành của các quy định về thuế

Công tác thanh tra thuế được thực hiện trên nguyên tắc: Đối tượng nộp thuế không bao giờ bị thanh tra lại trong cùng 01 năm Nhằm tránh việc thanh tra nhiều lần đối với đối tượng nộp thuế trong cùng năm thì cần phải tiến hành thanh tra đối với mọi loại thuế cùng một lúc Trường hợp trong năm phải tiến hành thanh tra quá một lần chỉ khi có các lý do như: Đối tượng nộp thuế có hành

vi phạm tội hình sự, có chứng cứ mới hoặc chứng cứ chưa bộc lộ có thể làm tăng

số thuế phải nộp hoặc có lý do theo chỉ thị của Tổng cục trưởng cục thuế

Hoạt động thanh tra được tiến hành bởi đội thanh tra trong đó luôn có

01 giám sát viên, 01 đội trưởng và 01 hoặc một số thành viên tuỳ theo nhiệm

vụ công tác

Thời gian thanh tra tại cơ sở kinh doanh là 02 tháng và có thể kéo dài

08 tháng nếu được Tổng cục trưởng cục thuế cho phép, thanh tra tại trụ sở cơ quan thuế thì thời gian là: 01 tháng, có thể kéo dài 02 tháng

1.3.4 Kinh nghiệm kiểm tra thuế của Hàn Quốc

Tại Hàn Quốc công tác quản lý thuế được giao cho Cơ quan dịch vụ thuế quốc gia (Tổng cục thuế) Hàn Quốc trực thuộc Bộ tài chính với cơ cấu quản lý thuế của Hàn Quốc bao gồm 3 cấp: cấp 1: Các vụ và các phòng chịu

sự quản lý trực tiếp của cơ quan thuế vụ quốc gia, cấp 2: Cơ quan thuế vùng dưới sự giám sát của cơ quan dịch vụ thuế quốc gia có trách nhiệm trực tiếp

xử lý tính thuế đối với một số đối tượng nộp thuế trong những trường hợp đặc biệt, hướng dẫn và quản lý toàn bộ các hoạt động của cơ quan thuế quận huyện, cấp 3: Cơ quan thuế quận huyện

Công tác thanh tra thuế được xây dựng xuyên suốt từ Tổng cục thuế đến các cơ quan thuế quận huyện Tại cơ quan thuế vùng đã xây dựng các phòng kiểm tra với chức năng chuyên biệt như sau: Phòng thanh tra và quản

lý chịu trách nhiệm về kế hoạch thanh tra, thu thập, xử lý các phận tích những

Trang 31

thông tin liên quan đến việc trốn thuế Phòng các cán bộ thanh tra chịu trách nhiệm tiến hành thanh tra và xác định thuế Phòng các cán bộ thanh tra đặc biệt chịu trách triệm về phân tích những thông tin liên quan đến việc trốn thuế

và điều tra tội phạm ở Hàn Quốc hệ thống tự tính tự nộp thuế đã áp dụng đối với hầu hết các loại thuế Mỗi đối tượng nộp thuế phải tự nộp tờ khai thuế và trả đủ số thuế đó một cách tự nguyện thì được coi là trung thực nên chính sách cơ bản của Công tác thanh tra ở Hàn Quốc là thanh tra những đối tượng thuế không trung thực thực hiện trên nguyên tắc không thanh tra hai lần đối với đối tượng nộp thuế về cùng một loại thuế của cùng năm tính thuế Nếu kiểm tra lại đối với cùng đối tượng nộp thuế bằng cách thay đổi loại thuế trong phạm vi của năm mà ngày kết thúc cuộc thanh tra trước cũng thuộc năm

đó cũng bị coi là vi phạm

1.3.5 Kinh nghiệm kiểm tra thuế của Mỹ

Hệ thống thuế Mỹ chia thành hai cấp độ là thuế liên bang (thuế trung ương) và thuế bang (thuế địa phương) Chính sách thuế cũng như quản lý thuế liên bang và thuế bang hoàn toàn độc lập, tách biệt Chính sách thuế liên bang

do Quốc hội ban hành Cục thu nội địa Mỹ chịu trách nhiệm thực thi trong toàn nước Mỹ Là một cơ quan độc lập trực thuộc Bộ Ngân Khố Mỹ chịu trách nhiệm quản lý các sắc thuế liên bang Trong công tác quản lý thuế, Cục thu nội địa Mỹ có mục tiêu "Lấy đối tượng nộp thuế là trung tâm"

Công tác thanh tra kiểm tra của Cục thu nội địa được chia làm nhiều cấp độ, trong đó chú trọng tới việc nghiên cứu mô hình, nghiên cứu xu hướng phát triển các ngành công nghiệp cũng như xu hướng gia tăng của đối tượng nộp thuế để lựa chọn công tác thanh tra kiểm tra

Để tiến hành công tác thanh tra kiểm tra có kết quả hàng năm Cục nội địa thực hiện công tác đánh giá rủi ro để lựa chọn đối tượng được thanh tra,

Trang 32

kiểm tra Đây là bước tất yếu cần phải thực hiện để tiến hành công tác kiểm tra và dựa trên các tiêu chí :

Tiêu chí 1: Đảm bảo tính công bằng

Tiêu chí 2: Tính điểm DIF là hệ thống tính điểm dựa trên phương pháp

phân tích thống kê sử dụng nhiều biến số có liên quan đến nhau (Ví dụ: thu nhập, quy mô tài sản, và một số đặc tính của tờ khai) để ra các kết quả logic là

số thuế phải nộp sẽ dao động trong khoảng bao nhiêu

Tiêu chí 3: Chương trình ưu tiên thanh tra để chú trọng vào thanh tra

đối với những đối tượng có nhiều nghi ngờ

Tiêu chí 4: Kết quả chương trình nghiên cứu quốc gia sau đó đối chiếu

với các thông tin lưu trữ về đối tượng nộp thuế để từ đó phân tích và phân loại các nghi vấn để ra các quyết định kiểm tra theo nguồn lực cán bộ hiện có

Chương trình thanh tra kiểm tra: Là chương trình phổ biến nhất và huy động nhiều cán bộ nhất Công tác thanh tra kiểm tra được thực hiện dưới hai hình thức: Thư từ trao đổi : Trong trường hợp vấn đề nghi vấn, cần kiểm tra đơn giản và phạm vi hẹp , có thể đưa ra kết luận trong vài giờ, không cần xem

kỹ số sách chứng từ Kiểm tra trực tiếp: Trong trường hợp vấn đề phức tạp, phạm vi kiểm tra rộng, có thể mất vài tuần Nhằm sử dụng nguồn lực cán bộ

có hiệu quả hơn, các cán bộ được huy động kiểm tra trực tiếp phải ở trình độ cao hơn các cán bộ thực hiện kiểm tra qua thư từ trao đổi

Để hỗ trợ cho công tác thanh tra thuế, tại cục thu nội địa Mỹ còn hình thành ban điều tra hình sự chịu trách nhiệm điều tra các vi phạm về thuế mang tính hình sự, cưỡng chế thuế và điều tra các vụ việc liên quan đến rửa tiền và làm tiền giả, Ban cưỡng chế thu nợ về thuế của các đối tượng nộp thuế

1.3.6 Kinh nghiệm kiểm tra thuế của Anh

Khi chuyển sang cơ chế TKTN, Luật quy định trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn cơ quan thuế được quyền kiểm tra bất kỳ một đối tượng nộp thuế

Trang 33

nào mà không cần phải nêu lý do Cơ quan thuế phải tiến hành bắt đầu việc thanh tra trong vòng 12 tháng kể từ ngày hết hạn nộp tờ khai Sau 12 tháng,

cơ quan thuế chỉ thanh tra khi có thông tin từ cá nguồn khác về việc cần phải tiến hành thanh tra

Khi nhận được thông báo thanh tra doanh nghiệp không có quyền từ chối thanh tra và phải cung cấp sổ sách tài liệu và trả lời các câu hỏi có liên quan Cơ quan thuế không được xuống doanh nghiệp yêu cầu doanh nghiệp cung cấp sổ sách tài liệu kế toán mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm gửi sổ sách tài liệu lên cơ quan thuế và đến cơ quan thuế giải trình khi có thông báo của cơ quan thuế đến làm việc liên quan tới nội dung thanh tra Khi doanh nghiệp thấy việc thanh tra kéo dài hoặc gây phiền hà cho doanh nghiệp thì có quyền đề nghị Uỷ ban giải quyết khiếu nại xem xét dừng cuộc thanh tra Khi xem xét nếu thấy đề nghị của doanh nghiệp là hợp lý Uỷ ban giải quyết khiếu nại quyết định trong vòng 30 ngày sau cơ quan thuế phải kết thúc thanh tra

1.3.7 Bài học kinh nghiệm rút ra từ các nước trên thế giới về công tác kiểm tra tra thuế

1.3.7.1 Về mô hình tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm tra thuế

Hầu hết các nước đều có hệ thống kiểm tra thuế được tổ chức theo hệ thống dọc gắn với mô hình tổ chức cơ quan thuế (Malaysia, Indonesia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Anh ) Hoạt động kiểm tra thuế được phân cấp theo mô hình tổ chức, chủ yếu được thực hiện ở cấp trung gian (Cục thuế vùng, tỉnh) Tại các quốc gia có tổ chức bộ phận thanh tra cấp trung ương thì chủ yếu là thực hiện công tác chỉ đạo, hỗ trợ thanh tra

Hoạt động kiểm tra nội bộ tại một số quốc gia được tách ra khỏi hoạt động kiểm tra và được thành lập tại cấp trung ương như Mỹ, Hàn Quốc, Anh, Singapore

Trang 34

Hoạt động thanh tra ĐTNT được chuyên môn hoá cao Các phòng thanh tra tại cơ quan thuế được tổ chức với chức năng chuyên biệt, chỉ thực hiện một giai đoạn của hoạt động thanh tra như: Phòng thanh tra chịu trách nhiệm thu thập, xử lý phân tích rủi ro, lập kế hoạch thanh tra; Phòng Thanh tra thực hiện thanh tra và xác định thuế Phòng thanh tra đặc biệt chịu trách nhiệm về phân tích ở những thông tin liên quan đến việc trốn thuế và điều tra tội phạm (Hàn Quốc, Anh) Hầu hết các cơ quan thuế các nước đều có thẩm quyền điều tra trốn thuế và bộ phận điều tra trốn thuế thường được tập trung tại cấp trung ương

1.3.7.2 Công tác tuyển chọn và đào tạo cán bộ kiểm tra, thanh tra

Các nước đều có yêu cầu cao đối với việc tuyển chọn thanh tra viên Người được tuyển chọn thường phải đào tạo qua Đại học Riêng Anh yêu cầu phải có 2 bằng đại học (1 bằng đại học Kinh tế hoặc đại học Thuế và 1 bằng đại học Luật)

Những tiêu chuẩn cơ bản thanh tra viên cần phải có gồm:

- Có kiến thức chuyên sâu về thuế

- Có kiến thức về kế toán theo chuẩn mực trong nước và quốc tế và mối liên kết giữa các yêu cầu về kế toán tài chính và kế toán cho mục đích thuế

- Có kỹ năng thanh tra, phân tích kinh tế

- Có tính nhạy bén, làm việc độc lập và chịu được áp lực công việc

- Có kiến thức thành thạo về sử dụng máy tính (bao gồm kiến thức cơ bản về hệ điều hành, mô hình lưu trữ dữ liệu, các ứng dụng cơ sở và ứng dụng chuyên ngành sử dụng cho thanh tra)

- Có khả năng giao tiếp ngoại ngữ

Ngoài việc tuyển chọn các nước còn chú trọng công tác đào tạo và bồi dưỡng viên chức thuế Nhiều trung tâm được đầu tư hiện đại xếp hạng quốc tế hoặc khu vực như Trung tâm đào tạo của Nhật Bản, Malaysia, Pháp thanh

Trang 35

tra viên khi mới được tuyển dụng đều được dự các khoá bồi dưỡng nghiệp vụ

và đào tạo cơ bản

1.3.7.3 Về công tác xây dựng kế hoạch kiểm tra hàng năm

Công tác xây dựng kế hoạch kiểm tra hàng năm được tập trung thống nhất theo chỉ đạo cấp trung ương căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ hướng dẫn việc xây dựng kế hoạch kiểm tra tập trung vào đối tượng, ngành, nghề nhất định, phê duyệt điều chỉnh tỷ lệ đối tượng thanh tra giữa ngành nghề Theo kinh nghiệm của cơ quan thuế Anh thông thường kế hoạch kiểm tra thuế được xây dựng theo cơ cấu:

+ 40% do cơ quan thuế trung ương xây dựng

+ 10% lựa chọn ngẫu nhiên

+ 50% do Cục thuế và Chi cục thuế xây dựng

Về kiểm soát chất lượng thanh tra

Các nước đều xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm tra để kiểm soát chất lượng kiểm tra Hệ thống chuẩn mực từng nước có sự khác biệt nhất định nhưng đều bao gồm các nhóm chuẩn mực sau:

- Chuẩn mực 1: Kế hoạch kiểm tra

- Chuẩn mực 2: Bằng chứng kiểm tra và thu thập bằng chứng kiểm tra

- Chuẩn mực 3: Kết luận, kiến nghị kiểm tra

- Chuẩn mực 4: Tài liệu làm việc và Báo cáo kiểm tra

Theo qui mô và tích chất của từng vụ kiểm tra, cơ quan thuế có thể thành lập các bộ phận riêng chịu trách nhiệm rà soát kết quả kiểm tra theo các chuẩn mực trên trước khi ban hành quyết định cuối cùng hoặc có thể đưa vào quy trình thanh tra nội bộ Ví dụ, tại úc, Malaysia và Trung Quốc, các thanh tra cao cấp hoặc trưởng phòng thanh tra có nhiệm vụ rà soát lại toàn bộ các kết quả kiểm tra tại cơ sở có liên quan đến giao dịch quốc tế hoặc các vụ việc lớn trước khi gửi kết quả chính thức cho ĐTNT

Trang 36

1.3.7.4 Về chiến lược xử lý rủi ro

Các nước đều xây dựng chiến lược xử lý rủi ro theo hướng ưu tiên giải quyết các rủi ro ở mức cao (là những rủi ro không thể chấp nhận được) và giải quyết các rủi ro ở mức thấp tuỳ theo nguồn lực cho phép (ví dụ: có thể lựa chọn rủi ro ở mức thấp bằng phương pháp ngẫu nhiên để đánh giá khả năng kiểm soát hoặc “tích luỹ” các rủi ro này để giải quyết trong tương lai) Phạm

vi xem xét, phân tích khi nhận dạng rủi ro bao gồm cả những thông tin được thể hiện ở cấp “vĩ mô” như xu hướng phát triển kinh tế, đặc tính ngành nghề

và các tác động của chính sách kinh tế, thương mại và đầu tư

1.3.7.5 Ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra thuế

Nhóm các nước phát triển có trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong thanh tra thuế cao và tại cấp trung ương thường thành lập bộ phận

“Thanh tra máy tính” (Thanh tra tin học, thanh tra thuế bằng máy tính) Thanh tra máy tính được thực hiện thông qua hệ thống ứng dụng tin học hỗ trợ công tác thanh tra và quyền truy cập, khai thác, sử dụng hệ thống dữ liệu của ĐTNT để xác định rõ số liệu thực về sổ sách kế toán và các giao dịch điện tử

1.3.7.6 Khả năng vận dụng vào hoạt động kiểm tra thuế tại Thái Bình

Công tác kiểm tra là một chức năng cơ bản và quan trọng trong công tác quản lý thuế Kinh nghiệm công tác kiểm tra của các nước nêu trên cho thấy: Dù mô hình tổ chức và cách thức hoạt động có khác nhau nhưng có những điểm chung:

- Mỗi quốc gia đều hết sức chú trọng tới công tác kiểm tra, đều thận trọng trong việc xem xét xác định mục tiêu, đối tượng kiểm tra

- Các tiêu chí quan trọng của công tác kiểm tra là gìn giữ luật pháp, hướng tới việc xác định đúng nguyên nhân sai phạm tăng thu cho ngân sách Nhà nước

- Hoạt động kiểm tra được phân loại và phân cấp rõ ràng, đảm bảo khép kín và phát huy được tác dụng của tổ chức thanh tra các cấp

Trang 37

- Công cụ đắc lực phục vụ công tác kiểm tra là : Khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại, đặc biệt chú trọng tới chiến lược phát huy nhân tố con người trong việc tham gia hoạt động thanh tra, kiểm tra

- Kết luận kiểm tra được thực thi nghiêm túc bởi hệ thống các cơ quan Nhà nước cùng vào cuộc

Qua nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức và cải cách công tác thanh tra thuế tại một số nước trên thế giới, những nội dung có thể vận dụng để thực hiện thành công chương trình cải cách và hiện đại hoá công tác kiểm tra thuế ở Việt Nam nói chung và ở Cục thuế Thái Bình nói riêng trong thời gian tới Đó là:

- Xây dựng mô hình tổ chức thanh, kiểm tra thuế theo hướng chuyên môn hoá cao Các tổ chức thanh tra ĐTNT mới được cơ cấu theo hướng chuyên môn sâu, hình thành các bộ phận nhỏ chịu trách nhiệm một hoặc một vài khâu trong quy trình thanh, kiểm tra

- Trao chức năng điều tra tội phạm về thuế cho cơ quan thuế

- Chuẩn hoá lực lượng thanh tra cả về số lượng và chất lượng

- Xây dựng hệ thống các chỉ tiêu phân tích rủi ro một cách khoa học

- Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ kiểm tra

- Áp dụng các chuẩn mực kiểm tra để nâng cao hiệu quả, hiệu lực kiểm thuế

1.4 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Ngoài các văn bản pháp quy của nhà nước như Luật Thuế, Các thông

tư, nghị định, chỉ thị của các cơ quan nhà nước Từ khi thực hiện cải cách thuế đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về công tác quản lý thuế như:

- Bài báo khoa học: “ Tăng cường công tác thanh tra thuế ở Việt Nam”

(2013) của TS Nguyễn Thị Thanh Hoài, đăng trên Tạp chí Tài chính số 5 –

2013 Bài báo đã đưa ra kế hoạch, nhiệm vụ trên, trong thời gian tới công tác thanh tra thuế cần được tăng cường, hoàn thiện theo các hướng sau đây:

+ Trước hết, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chế độ chính sách thuế cho phù hợp Pháp luật thuế là cơ sở pháp lý cho hoạt động thanh tra thuế

+ Tập trung xây dựng các tài liệu thanh tra, kiểm tra mang tính chuyên sâu, chuyên ngành

Trang 38

+ Triển khai áp dụng rộng rãi các ứng dụng tin học vào công tác thanh tra, kiểm tra thuế và quan tâm chỉ đạo sát sao nhập dữ liệu vào các ứng dụng tin học (ứng dụng TPR và BCTC); cập nhật đầy đủ cơ sở dữ liệu thông tin về NNT, áp dụng phổ biến việc sử dụng tiêu chí đánh giá rủi ro để phân tích lựa chọn lập kế hoạch, kiểm tra hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế đạt hiệu quả cao

+ Tăng cường số lượng đội ngũ cán bộ thanh tra thuế, đồng thời phải nâng cao chất lượng cán bộ Hiện nay, cán bộ thanh tra tuy đã được bổ sung

về số lượng và đã có nhiều cố gắng nâng cao trình độ chất lượng nhưng do khối lượng công việc nhiều, đối tượng quản lý đa dạng và phức tạp nên cơ quan thuế cần có sự phân công bố trí sắp xếp cán bộ theo hướng tăng số lượng đội ngũ cán bộ thuế làm công tác thanh tra thuế và chú trọng nâng cao chất lượng cán bộ

+ Cần có sự phối hợp với các cơ quan khác như cơ quan kiểm toán, thanh tra tài chính, phải phân định rõ chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan thanh tra, kiểm tra để tránh thanh tra chồng chéo đối với các cơ sở kinh doanh, gây phiền hà và ảnh hưởng không tốt đến hoạt động sản xuất kinh doanh của NNT

+ Đối với các cuộc thanh tra thuế cần nắm chắc NNT về đặc điểm ngành nghề sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ, năng lực sản xuất, hình thức đăng ký nộp thuế để áp dụng phương pháp thanh tra phù hợp nhằm không kéo dài gây phiền hà cho đối tượng được thanh tra

+ Phải động viên được quần chúng tham gia khi tiến hành thanh tra Phải biết dựa vào quần chúng đáng tin cậy, có hiểu biết sự việc để thu thập các thông tin tư liệu cần thiết về đối tượng đang thanh tra, để phục vụ cho công tác thanh tra

- Đề tài “Quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế

quốc tế” (2011), luận ăn Tiến sĩ của NCS Nguyễn Thị Thùy Dương, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

+ Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận

Trang 39

Từ lý luận chung về quản lý thuế, luận án đã chỉ rõ, trong điều kiện hội nhập, các tiêu chí để đánh giá một hệ thống thuế tốt phải xét đến mối quan hệ giữa cơ quan thuế với người nộp thuế, quan hệ với các nhân viên quản lý thuế, những tiêu chí về lập pháp, những đặc điểm về quản lý, đảm bảo tính linh hoạt trong điều hành

Luận án cũng chỉ ra những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến quản lý thuế, bao gồm gia tăng hợp tác thuế giữa các nước, thúc đẩy cạnh tranh thuế, thay đổi chính sách thuế và quản lý thuế, đặc biệt tăng cường đối phó với hiện tượng trốn và tránh thuế quốc tế

+ Những kết luận và đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu

Sử dụng công cụ phân tích định lượng bằng mô hình GTAP và qua điều tra khảo sát đối với thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập, luận án đã chứng minh rằng việc thực hiện các cam kết về thuế khi gia nhập WTO có ảnh hưởng khác nhau tới nguồn thu từ thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế nhập khẩu Số thu thuế nhập khẩu ở phần lớn các sản phẩm đều giảm Số thu thuế GTGT đúng bằng với thay đổi giá trị gia tăng của từng ngành

Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác quản trị chiến lược trong quản lý thuế chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, pháp luật thuế đôi khi chưa được tuân thủ nghiêm minh, việc quản lý thuế còn nhiều bất cập trong quy trình và thời gian xử lý khiếu kiện của doanh nghiệp, thiếu sự quan tâm, tiếp thu góp ý từ người nộp thuế trong việc thay đổi trong chính sách và thủ tục quản lý thuế

+ Luận án đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hướng đến các nội dung:

Giải quyết tốt mối quan hệ với người nộp thuế như giảm thấp chi phí tuân thủ cho người nộp thuế, tăng cường giao tiếp thông tin với người nộp thuế;

Xây dựng mô hình phân tích để dự báo và ứng dụng vào công tác quản trị thuế; tăng cường công tác lập thống kê, báo cáo, tổng hợp trong quản trị thuế;

Trang 40

Thành lập bộ phận chức năng tại Tổng cục Thuế chuyên trách quản lý

sự thay đổi của môi trường bên trong và bên ngoài có tác động đến hoạt động quản lý thuế, đồng thời thành lập bộ phận chuyên quản lý, theo dõi, giám sát hoạt động của các Đại lý thuế;

Bổ sung thêm các quy định về giao dịch điện tử trong Luật Quản lý thuế

- Đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng công cụ thuế

trên địa bàn Quảng Nam –Đà Nẵng”(1993), luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thế Tràm; Luận văn này trình bày một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng công cụ thuế đối với cơ quan thuế của tỉnh Quảng nam - Đà Nẵng Đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm chỉnh sửa, cải cách công tác quản lý thuế, các phương pháp tính thuế, nghĩa vụ và trách nhiệm của các đối tượng nộp thuế

- Đề tài “Công tác quản lý thu thuế dân doanh trên địa bàn thành phố

Hà Nội”(1996), luận văn thạc sĩ của Vũ Thị Toản; Luận văn này trình bày một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế dân doanh trên địa bàn thành phố Hà nội

-Đề tài: “Hoàn thiện thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế tự khai tự nộp

thuế ở Phú Yên” (2007), luận văn thạc sĩ khoa học của Phạm Thị Nhàn, luận văn đã đề xuất giải pháp đẩy nhanh vững chắc thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế trên địa bàn tỉnh Phú Yên

- Đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý thuế các doanh nghiệp ngoài

quốc doanh tại chi cục thuế quận Hai Bà Trưng” (2010), luận văn thạc sĩ của tác giã Vũ Hồng Vân, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

Ngày đăng: 05/09/2017, 09:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Cơ cấu tổ chức Cục thuế Thái Bình - Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh thái bình
Hình 3.1. Cơ cấu tổ chức Cục thuế Thái Bình (Trang 50)
Hình 3.2. Biểu đồ Trình độ cán bộ công chức Cục thuế Thái Bình - Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh thái bình
Hình 3.2. Biểu đồ Trình độ cán bộ công chức Cục thuế Thái Bình (Trang 51)
Bảng 3.1. Cơ cấu lực lượng kiểm tra  thuế - Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng 3.1. Cơ cấu lực lượng kiểm tra thuế (Trang 52)
Bảng 3.2 . Kết quả truy thuế hàng năm qua hoạt động kiểm tra thuế - Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng 3.2 Kết quả truy thuế hàng năm qua hoạt động kiểm tra thuế (Trang 62)
Bảng 3.5. Tổng hợp sô thuế truy thu và phạt qua công tác kiểm tra và thu - Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng 3.5. Tổng hợp sô thuế truy thu và phạt qua công tác kiểm tra và thu (Trang 63)
Bảng 3.4. Kết quả kiểm tra các doanh nghiệp ngoài quốc doanh - Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng 3.4. Kết quả kiểm tra các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Trang 63)
Bảng 3.6. Tình hình kiểm tra hồ sơ tại cơ quan thuế của các doanh - Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng 3.6. Tình hình kiểm tra hồ sơ tại cơ quan thuế của các doanh (Trang 64)
Bảng 3.7. Tình hình kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sợ NTT qua 4 năm - Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng 3.7. Tình hình kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sợ NTT qua 4 năm (Trang 64)
Hình 3.3. Biểu đồ kết quả kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế - Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh thái bình
Hình 3.3. Biểu đồ kết quả kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế (Trang 65)
Bảng 3.9. Tình hình kiểm tra hồ sơ hoàn thuế GTGT qua 4 năm 2010 – - Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng 3.9. Tình hình kiểm tra hồ sơ hoàn thuế GTGT qua 4 năm 2010 – (Trang 68)
Bảng 3.10. Tình hình miễn giảm thuế 4 năm gần đầy  Năm  Số doanh nghiệp NQD  Số thuế (Tỷ đồng) - Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng 3.10. Tình hình miễn giảm thuế 4 năm gần đầy Năm Số doanh nghiệp NQD Số thuế (Tỷ đồng) (Trang 68)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm