Trong những năm gần đây, nghề nuôi cá lồng bè được quan tâm khuyến khích phát triển, tranh thủ các nguồn vốn khuyến nông, khuyến ngư của trên để thực hiện các mô hình t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
ĐOÀN HỒNG DUY
TÁC ĐỘNG CỦA TẬP HUẤN ĐẾN THU NHẬP HỘ DÂN NUÔI CÁ LỒNG BÈ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIÊN HẢI,
TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh, Năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
ĐOÀN HỒNG DUY
TÁC ĐỘNG CỦA TẬP HUẤN ĐẾN THU NHẬP HỘ DÂN NUÔI CÁ LỒNG BÈ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIÊN HẢI,
TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐINH PHI HỔ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 3Tôi cam đoan rằng luận văn “Tác động của tập huấn đến thu nhập hộ dân nuôi cá lồng bè trên địa bàn huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang” là bài nghiên cứu của chính tôi
Ngoài những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, Tôi cam đoan đây
là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong luận án là trung thực, và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại
học hoặc cơ sở đào tạo khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Đoàn Hồng Duy
Trang 4TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH SÁCH HÌNH
DANH SÁCH BẢNG
TÓM TẮT
Chương 1
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề: ……… 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp phân tích dữ liệu 4
1.6 Giới hạn của đề tài 5
1.7 Ý nghĩa của nghiên cứu 6
Chương 2
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 7
2.1 Tổng quan lý thuyết 7
2.1.1-Đánh giá tác động 7
2.1.2 Kỹ thuật, công nghệ mới trong nông nghiệp 10
2.1.3 Lý thuyết về khuyến nông 11
2.1.4 Một số khái niệm liên quan 14
2.2 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan 16
2.3 Kỹ thuật nuôi cá Bóp trong lồng bè trên biển: 18
2.4 Thực trạng về nuôi cá lồng bè trên địa bàn huyện 20
2.5 Khung phân tích của đề tài 24
Chương 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
Trang 53.2 Các giả thuyết 26
3.3 Địa bàn, đối tượng và mẫu điều tra 28
3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 29
Chương 4
KÊT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
4.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 31
4.1.1 Độ tuổi và giới tính 31
4.1.2 Nhân khẩu và lao động 32
4.1.3 Học vấn và kinh nghiệm 33
4.1.4 Số lồng và thể tích lồng nuôi 34
4.2 Thực hành sản xuất và hiệu quả kỹ thuật 35
4.2.1 Dòng chảy 35
4.2.2 Nguồn nước 37
4.2.3 Phân đàng theo trọng lượng 40
4.2.4 Chế độ thức ăn 41
4.2.5 Độ sâu lồng lưới 42
4.2.6 Vệ sinh thay lưới 44
4.2.7 Số lần phòng bệnh 44
4.2.8 Lượng thuốc phòng bệnh 45
4.2.9 Số lần trị bệnh 45
4.2.10 Lượng thuốc trị bệnh 46
4.2.11 Lượng thức ăn 46
4.2.12 Sản lượng bình quân 47
4.3 Hiệu quả kinh tế 47
4.3.1 Doanh thu 47
4.3.2 Giá thành 49
4.3.3 Lợi nhuận 50
4.3.4 Tỷ suất lợi nhuận 50
4.3.5 Tỷ lệ hao hụt: 51
Chương 5
KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý GIẢI PHÁP 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Các hàm ý về giải pháp 54
Trang 65.2.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nông dân
trong việc ứng dụng quy trình, kỹ thuật nuôi cá lồng bè 555.2.3 Về quy mô và hình thức tổ chức sản xuất 555.3 Hạn chế và đề nghị hướng nghiên cứu tiếp theo: 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
Tiếng Anh
PHỤ LỤC
Trang 7
Bảng 4.12 Thống kê số lần kiểm tra nguồn nước 39 Bảng 4.13 Lý do không không kiểm tra nguồn nước 39 Bảng 4.14 Phân đàng theo trọng lượng cá thả nuôi 40
Trang 8Bảng 4.17 Kiểm định khác biệt giữa hai nhóm hộ nông dân có tập
Trang 9
Trang
Trang 10Luận văn đánh giá “Tác động của tập huấn đến thu nhập hộ dân nuôi cá lồng bè trên địa bàn huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang” Nhằm xác định ảnh hưởng
của công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật đối với thu nhập của nông dân nuôi cá lồng bè trên biển Trên cơ sở đó, gợi ý giải pháp tăng cường công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật nhằm thúc đẩy phát triển nghề nuôi cá lồng bè một cách có hiệu quả, bền vững; nâng cao đời sống của nông dân nuôi cá lồng bè trên địa bàn huyện Kiên Hải
Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các nông
hộ sản xuất lúa trong và ngoài cánh đồng lớn trên địa bàn nghiên cứu bằng phương pháp chọn mẫu ngẩu nhiên với kích thước mẫu là120, dữ liệu thu thập được tiến hành phân tích thống kê mô tả và phân tích các kiểm định thống kê để chứng minh sự khác biệt về hiệu quả giữa hai nhóm hộ nông dân với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS Kết quả nghiên cứu cho thấy, hộ nông dân có tập huấn áp dụng quy trình kỹ thuật nuôi cá đạt hiệu quả cao hơn hộ nông dân không tham gia tập huấn, trên cả 2 khía cạnh: kỹ thuật và kinh tế
Hiệu quả về mặt kỹ thuật: hộ nông dân có tập huấn áp dụng quy trình kỹ thuật nuôi cá góp phần tác động đến các yếu tố như giảm lượng thức ăn, giảm lượng thuốc trị bệnh, giảm tỷ lệ hao hụt và tăng sản lượng cá thương phẩm so với
hộ nông dân không tham gia tập huấn Về hiệu quả kinh tế, hộ nông dân có tập huấn áp dụng quy trình kỹ thuật nuôi cá tiết kiệm được chi phí nhưng lợi nhuận đạt được lại cao hơn hộ nông dân không tham gia tập huấn
Dựa vào kết quả nghiên cứu, luận văn đã đưa ra một số kiến nghị cho các ngành chức năng ở địa phương và các hộ nông dân nuôi cá lồng bè tham khảo để
có những giải pháp cụ thể và khả thi nhằm nâng cao hiệu quả sản nghề nuôi cá lồng bè trên địa bàn huyện Kiên Hải, tỉnh kiên giang Góp phần xây dựng và phát triển kinh tế bền vững, tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống cho nông dân
Trang 11Trong những năm qua, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển đã có nhiều chuyển biến tích cực, kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư như hệ thống trường lớp cho sự nghiệp giáo dục, trạm xá, bệnh viện đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe cho Nhân dân, hồ chứa nước phục vụ sinh hoạt và đặc biệt nhất là hệ thống lộ giao thông quanh các đảo từ nguồn vốn biển đông hải đảo cũng như kéo điện lưới quốc gia ra các đảo Đồng thời hệ thống giao thông vận tải biển chất lượng cao được quan tâm đầu tư, đã góp phần làm thay đổi rất lớn diện mạo bộ mặt của một huyện đảo, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên đáng kể
Thực hiện quy hoạch nuôi trồng thủy - hải sản của tỉnh Kiên Giang, với lợi thế tự nhiên có nhiều đảo, tạo thành eo, vịnh kín sóng, kín gió Các yếu tố môi trường phù hợp cho nhiều loài hải sản phát triển, nguồn nước chưa bị ảnh hưởng bởi các yếu tố gây ô nhiễm, nguồn thức ăn sẵn có từ các tàu khai thác hải sản Trong những năm gần đây, nghề nuôi cá lồng bè được quan tâm khuyến khích phát triển, tranh thủ các nguồn vốn khuyến nông, khuyến ngư của trên để thực hiện các mô hình trình diễn, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân, đồng thời tổ chức nhiều lớp tập huấn về kiến thức nuôi cá lồng bè Theo đó nghề nuôi cá lồng bè trên biển phát triển khá nhanh về năng suất và sản lượng, chủ yếu là cá mú và cá bóp Đến nay toàn huyện có trên 400 hộ nuôi ở 4/4 xã thuộc huyện, nhưng tập trung nhiều nhất là ở xã Nam Du Sản lượng hàng năm đạt trên 600 tấn
Trang 12Nghề nuôi cá lồng bè đã góp phần tăng thu nhập cho hộ gia đình, tạo công ăn việc làm cho người dân ổn định cuộc sống, đóng góp vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội chung của huyện
Mặc dù nghề nuôi cá lồng bè ở Huyện đảo tuy có bước phát triển, nhưng cũng còn một số hạn chế, nguyên nhân chủ yếu là hệ thống quy hoạch nuôi trồng hải sản chưa hoàn chỉnh, kiến thức, kỹ thuật nuôi của người dân còn nhiều hạn chế, chỉ dựa vào kinh nghiệm; việc đầu tư trang thiết bị lồng nuôi còn hạn chế; công tác tập huấn hướng dẫn quy trình, kỹ thuật cho nông dân chưa được thường xuyên, việc tổng kết các mô hình nuôi trình diễn và nhân rộng chưa được kịp thời; Việc áp dụng quy trình kỹ thuật nuôi theo hướng dẫn, tập huấn trong thời gian qua chưa nhiều Các yếu tố trên tác động không nhỏ đến năng suất, hiệu quả của nghề nuôi cá lồng bè trên địa bàn huyện
Công tác tập huấn hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá lồng bè cho nông dân là loại hình dịch vụ công Dịch vụ có chất lượng tốt sẽ giúp nâng cao năng lực của nông dân để sản xuất hiệu quả, tăng thu nhập, cải thiện đời sống Tuy nhiên, đến nay chưa có nghiên cứu cập nhật và đầy đủ về ảnh hưởng của công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá lồng bè trên biển trên địa bàn tỉnh Kiên Giang nói chung cũng như trên địa bàn huyện Kiên Hải nói riêng Do đó, nghiên cứu công tác tập huấn (khuyến nông) tác động đến thu nhập hộ nông dân nuôi cá lồng bè trên biển là rất cần thiết, nhằm xác định khác biệt về hiệu quả kinh tế giữa nông dân ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất và nông dân sản xuất theo kinh nghiệm Thông qua kết nghiên cứu làm cơ sở khuyến cáo cho nông dân ứng dụng quy trình, kỹ thuật vào nuôi cá lồng bè đạt hiệu quả kinh tế cao. Đó là lý do để
tôi chọn và thực hiện đề tài “Tác động của tập huấn đến thu nhập hộ dân nuôi
cá lồng bè trên địa bàn huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
1.2.1 Mục tiêu chung:
Nhằm xác định ảnh hưởng của công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật đối với thu nhập của nông dân nuôi cá lồng bè trên biển Trên cơ sở đó, gợi ý giải pháp tăng cường công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật nhằm thúc đẩy phát triển
Trang 13nghề nuôi cá lồng bè một cách có hiệu quả, bền vững; nâng cao đời sống của nông dân nuôi cá lồng bè trên địa bàn huyện Kiên Hải
(2) Xác định công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật tác động đến thu nhập các hộ dân nuôi cá lồng bè trên địa bàn huyện Kiên Hải tỉnh Kiên Giang
(3) Đánh giá kết quả để đề xuất, kiến nghị biện pháp nhằm tăng thu nhập các hộ dân nuôi cá lồng bè trên địa bàn huyện Kiên Hải tỉnh Kiên Giang
1.3 Câu hỏi nghiên cứu:
(1) Ảnh hưởng của công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật đến thực hành thả nuôi và hiệu quả kỹ thuật của các hộ dân nuôi cá lồng bè trên địa bàn huyện Kiên Hải tỉnh Kiên Giang như thế nào?
(2) Ảnh hưởng công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật đến thu nhập các hộ dân nuôi cá lồng bè trên địa bàn huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang ra sao?
(3) Cần phải có những giải pháp gì nhằm tăng thu nhập bền vững các hộ dân nuôi cá lồng bè trên địa bàn huyện Kiên Hải trong thời gian tới?
1.4 Phạm vi nghiên cứu:
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những hộ nông dân nuôi cá lồng bè trên địa bàn huyện Kiên Hải tỉnh Kiên Giang, gồm các hộ nuôi cá có tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và các hộ nuôi cá không tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật Những người được khảo sát là chủ hộ hoặc người trực tiếp nuôi cá
Về không gian: Đề tài nghiên cứu 4/4 xã thuộc huyện Kiên Hải gồm (Hòn Tre; Lại Sơn; An sơn và Nam Du) Vì các xã thuộc huyện Kiên Hải đều có hộ
Trang 14nông dân tham gia nuôi cá lồng bè, đồng thời do điều kiện tự nhiên, môi trường nên các xã đều có khả năng phát triển nghề nuôi cá lồng bè
Về thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn từ (2010 -
2015) Tham khảo nguồn số liệu thống kê của ngành thống kê, các báo cáo của
phòng Nông nghiệp PTNT và các tài liệu tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, báo cáo tổng kết các mô hình nuôi cá trình diễn của Trung tâm Khuyến nông huyện Kiên Hải Số liệu sơ cấp được thu thập qua khảo sát hộ nông dân thả nuôi trong năm
2016
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu này được thực hiện trên địa bàn huyện Kiên Hải-Kiên Giang
1.5 Phương pháp phân tích dữ liệu:
Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và thực hiện theo quy trình suy diễn, dựa trên lý thuyết nền, xây dựng các giả thuyết Sử dụng dữ liệu thu thập kiểm định các giả thuyết này để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu Với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có phân tầng, cách tính toán là tính giá trị trung bình các chỉ tiêu và kiểm định thống kê sự khác biệt giữa hai nhóm Nếu khác biệt có ý nghĩa thống kê, chương trình có tác động (Leeuw và Vaessen, 2009) Dùng Independent Sample T-test của chương trình SPSS để kiểm định:
Về nghiên cứu ảnh hưởng của công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật đến thu nhập của nông dân, đề tài xây dựng giả thuyết về sự khác biệt đối với thực hành, hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả kinh tế giữa nhóm nông dân tham gia và không tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật; thu thập dữ liệu và kiểm định giả thuyết bằng T- Test
Dùng kiểm định chi bình phương để xác sự khác biệt giữa nhóm nông dân tham gia và không tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật trong việc ứng dụng quy trình kỹ thuật vào quá trình nuôi cá như: Kiểm tra dòng nước chảy; độ sâu mực nước; nguồn nước (độ mặn; độ P/H, lượng ôxy); phân đàng theo trọng lượng
và tỷ lệ thức ăn theo trọng lượng
Trang 15Trên cơ sở kết quả kiểm định các giả thuyết, gợi ý các giải pháp nhằm tăng thu nhập bền vững các hộ dân nuôi cá lồng bè trên địa bàn huyện Kiên Hải trong thời gian tới
1.6 Giới hạn của đề tài:
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật tác động đến thu nhập của các hộ dân nuôi cá lồng bè trên địa bàn huyện đảo, không nghiên cứu hết các yếu tố khác như giá đầu vào; đầu ra; chất lượng giống và nguồn con giống; biến đổi khí hậu Đề tài chỉ khảo sát ngẫu nhiên 120 hộ của 4
Vấn đề nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Đặt giả thuyết
Bảng câu hỏi Thực hành SX
Phỏng vấn thử (10 nông dân)
Điều chỉnh bảng câu hỏi
Phỏng vấn Chính thức
Kiểm định giả thuyết
Kết luận Gợi ý chính sách Hình 1.1 Qui trình nghiên cứu
Trang 16xã (An Sơn, Nam Du, Lại Sơn, Hòn Tre) thuộc huyện Kiên Hải, trong đó có nhóm tham gia và nhóm không tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, không điều tra hết tất cả các hộ dân nuôi cá lồng bè trên toàn huyện
Mặc dù đã cố gắng nghiên cứu tìm đọc tài liệu có liên quan đến công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật thông qua chương trình khuyến nông, nhưng do còn nhiều hạn chế về tư liệu và khả năng phân tích tổng hợp, số liệu điều tra phỏng vấn nên đề tài không trách khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy, cô để luận văn được hoàn chỉnh
1.7 Ý nghĩa của nghiên cứu:
Trên cơ sở thu thập dữ liệu, phân tích đánh giá khoa học, luận văn hy vọng xác định được tác động của tập huấn đến thu nhập hộ dân nuôi cá lồng bè trên địa bàn huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang Kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo đối với các ngành chức năng ở địa phương, trong việc phát triển nghề nuôi cá lồng bè trên địa bàn huyện Kiên Hải
Trang 17CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 2.1 Tổng quan lý thuyết:
2.1.1 Đánh giá tác động:
Theo Ủy ban hỗ trợ phát triển của Tổ chức Phát triển và Hợp tác Kinh tế (OECD-DAC, 2010) tác động là hiệu ứng dương và âm, dài hạn sơ cấp và thứ cấp tạo ra bởi một can thiệp phát triển, trực tiếp hoặc gián tiếp, có chủ ý hoặc không chủ ý
Theo White (2006), đánh giá tác động là đánh giá tác động của một biện pháp can thiệp trên kết quả phúc lợi sau cùng Can thiệp có thể liên quan đến dự án, chương trình hoặc chính sách Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng thông dụng là:
- Đánh giá vào tác động của biện pháp can thiệp trên kết quả phúc lợi cuối cùng hơn là chỉ vào kết quả thực hiện dự án hoặc là đánh giá tiến trình tập trung vào việc triển khai
- Đánh giá liên quan đến thiết lập đối chứng (counterfactual), tức là khác nhau do dự án làm ra (các chỉ số thể hiện thế nào khi có dự án so với không có dự án)
- Sự đánh giá được tiến hành vào những thời gian (5 năm hoặc 10 năm) sau khi can thiệp hoàn tất để có thời gian cho tác động xảy ra
- Đánh giá xem xét tất cả tác động trong một lãnh vực hoặc vùng địa lý cho trước
Bốn định nghĩa trên đây không loại trừ nhau Cách tiếp cận của nhóm đánh giá độc lập của Ngân hàng thế giới (IEG-WB) hiện nay là kết hợp hai định nghĩa đầu tiên, tức là phân tích có đối chứng và quan tâm đến phúc lợi cuối cùng Với phân tích có đối chứng, ta không quan sát được tác động của can thiệp trên nhóm đối chứng vì can thiệp không xảy ra Một giải pháp khắc phục là thực hiện cách tiếp cận trước sau (before versus after), trong đó kết quả trung bình của nhóm
Trang 18được xử lý được so sánh (trước-sau) sau khi can thiệp và các thay đổi được gán cho biện pháp can thiệp Tuy nhiên, không thể gán cho tất cả thay đổi cho sự can thiệp vì những yếu tố bên ngoài có thể có trách nhiệm một phần hay toàn phần cho sự thay đổi, hoặc thậm chí tác động ngược bù lại tác động tích cực của can thiệp Như thế, cách tiếp cận trước sau hoặc là đánh giá quá cao hoặc quá thấp tác động nhưng ta không biết là cái nào Giải pháp tốt nhất để khắc phục vấn đề của nhóm đối chứng là nhóm đối chứng được chọn để so sánh phải cùng một tập hợp các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp có tất cả các đặc tính giống với nhóm có xử lý
Tuy nhiên, có 2 vấn đề đặt ra là: sự lan truyền (contamination) và chệch do chọn mẫu (sample selection bias) Sự lan truyền do 2 nguồn Nguồn thứ nhất là từ chính can thiệp của dự án ở nhóm xử lý tạo hiệu ứng lan truyền sang nhóm đối chứng Cách khắc phục là chọn nhóm đối chứng có khoảng cách với nhóm xử lý
để hạn chế tác động của can thiệp Nguồn thứ hai là tác động của các dự án khác Cách khắc phục là bước thứ nhất phải thiết kế điều tra thu thập được dữ liệu về những can thiệp vào nhóm đối chứng, và bước thứ hai là vận dụng cách tiếp cận dựa trên cơ sở lý thuyết (theory-based approach), thay vì cách so sánh đơn giản có hay không có can thiệp, thường bao gồm nhiều dạng và mức độ can thiệp khác nhau Chệch do chọn mẫu thường xảy ra trong trường hợp người hưởng lợi từ dự án được chọn theo một số cách, bao gồm tự chọn Quá trình chọn như vậy nghĩa là đối tượng hưởng lợi không ngẫu nhiên, vậy thì nhóm so sánh cũng không nên ngẫu nhiên mà nên lấy từ trong quần thể có cùng đặc tính với những đối tượng được chọn để can thiệp
Cách tiếp cận thông dụng nhất để đo lường tác động là xem xét giá trị trung bình của các chỉ số theo dõi ở vùng dự án và đối chứng, gán sự khác biệt do dự án tạo ra Cách tiếp cận hồi quy có thể cho ước lượng tương đương với cách tiếp cận khác biệt đơn và khác biệt kép bởi việc dùng biến giả, tức là biến có giá trị 1 cho vùng dự án, 0 cho đối chứng Khi nhóm đối chứng và nhóm xử lý có cùng kết quả đầu ra khi chưa có biện pháp can thiệp thì tác động của dự án được đánh giá bằng sự khác biệt đơn (single difference), tức là khác biệt giữa trung bình kết quả đầu
ra giữa hai nhóm
Trang 19Gọi: y1 là trung bình kết quả đầu ra của nhóm xử lý
y là trung bình kết quả đầu ra của nhóm đối chứng 0
βd là hiệu ứng khác biệt đơn giữa nhóm xử lý và đối chứng
thì βd = y - 1 y0 (1)
Cách tiếp cận hồi quy của khác biệt đơn như sau:
yip = α + βd P + η (2)
yip làkết quả đầu ra của cá nhân i
P là biến giả: P = 1 khi cá nhân i thuộc nhóm xử lý (p = 1)
P = 0 khi cá nhân i ở nhóm đối chứng (p = 0)
Khi P = 0 , E (yi|P = 0) = α = y0 (3)
Khi P = 1 E (yi|P = 1) = α + βd = y1 (4)
Thay α = y0 từ (3) vào (4) ta được phương trình (1): βd = y - 1 y0
Như vậy, có sự tương đương giữa cách tiếp cận hồi qui với cách tính toán khác biệt đơn giữa hai nhóm
Ưu điểm của cách tiếp cận hồi qui là mô hình có thể mở rộng để bao gồm các biến khác có thể ảnh hưởng đến kết quả đầu ra một cách độc lập với can thiệp của dự án Thí dụ: Khi đưa vào mô hình biến X, thì phương trình hồi qui là:
yip = α + β dp + α1X + α2 Xdp + η
Trong trường hợp thực hiện được việc chọn mẫu ngẫu nhiên, so sánh đơn giữa trung bình kết quả đầu ra giữa hai nhóm là đủ để đánh giá tác động, khác biệt giữa hai nhóm chính là tác động của can thiệp Để xác định can thiệp có tác động
có ý nghĩa thống kê hay không, chỉ cần kiểm định sự bằng nhau của trung bình kết quả đầu ra giữa nhóm xử lý và nhóm đối chứng Phân tích thống kê sẽ cho biết tác động có ý nghĩa thống kê hay không và mức độ ý nghĩa cỡ nào (Leeuw và Vaessene, 2009)
Trang 202.1.2 Kỹ thuật, công nghệ mới trong nông nghiệp:
Định nghĩa công nghệ cũng rất khác nhau, tùy thuộc vào ý định bao gồm tất cả hoạt động của con người trong các xã hội trong suốt các thời kỳ, hay là đánh dấu các biến đổi lịch sử
Theo Wilson và Heeks, 2000: Công nghệ là hoạt động thực hành có mục đích, bao gồm tác động qua lại giữa con người với kiến thức của họ và công cụ, máy móc - gọi là phần cứng Công nghệ là thiết kế cho hoạt động có sử dụng công
cụ sản xuất làm giảm tính không chắc chắn của quan hệ nhân quả để đạt kết quả mong muốn Công nghệ gồm hai thành phần: Phần cứng gồm công cụ trong công nghệ đó như là vật liệu dụng cụ sản xuất, còn phần mềm là cơ sở thông tin về công cụ đó
Theo Vũ Đình Thắng (2001), “Công nghệ cũng là tập hợp những kiến thức của con người, nhưng đã được chuyển hóa thành phương thức và phương pháp sản xuất, những hiểu biết đã được vật chất hóa trong công cụ lao động, đối tượng lao động, trong quy trình công nghệ hoặc kết tinh lại thành kỹ năng, kỹ xảo hay cách kết hợp các yếu tố đầu vào sao cho có hiệu quả nhất của người lao động trong sản xuất nông nghiệp” Công nghệ được phân biệt thành “Phần cứng” và
“Phần mềm” Phần cứng gồm máy móc, thiết bị, công cụ, nguyên liệu, vật liệu…; phần mềm bao gồm yếu tố con người, các tài liệu công nghệ và yếu tố thể chế Các tiến bộ khoa học công nghệ nông nghiệp có thể phân nhóm như sau: tiến bộ kỹ thuật trong việc sử dụng các phương tiện cơ khí; tiến bộ kỹ thuật trong việc sử dụng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; tiến bộ kỹ thuật trong việc sử dụng, cải tạo đất; sử dụng nguồn nước trong nông nghiệp và vấn đề bảo vệ môi trường; những tiến bộ liên quan đến người lao động gồm: trình độ văn hóa, trình độ lành nghề, kỹ năng, kỹ xảo, trình độ quản lý…
Đinh Phi Hổ (2008) khái quát công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ và phương tiện để biến đổi các nguồn lực thành các sản phẩm hay dịch vụ phục vụ cho sản xuất và đời sống Công nghệ được coi là sự kết hợp giữa phần cứng và phần mềm Phần cứng là máy móc, nhà xưởng, thiết bị Phần mềm bao gồm 3 thành phần: con người (kiến thức, kỹ năng,
Trang 21tay nghề, kinh nghiệm), thông tin (bí quyết, quy trình, phương pháp) và tổ chức (sắp xếp, điều phối, quản lý)
Công nghệ trong nông nghiệp cho phép sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn trên một đơn vị diện tích hoặc làm cho chi phí sản xuất ra một đơn vị sản phẩm thấp hơn Tuy nhiên có công nghệ mới chưa hẳn làm gia tăng năng suất nếu không biết cách vận dụng nó, do đó vai trò của công tác khuyến nông là kết nối các công nghệ mới với người nông dân nhằm mục đích giúp nông dân biết cách vận dụng tất cả các tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp vào quá trình sản xuất, kiến thức nông nghiệp có tác dụng thúc đẩy công nghiệp phát triển (Nguyễn Duy Hoan và ctg, 2007)
Theo các khái niệm trên, tiến bộ kỹ thuật “Nuôi cá lồng bè trên biển có thể được coi là công nghệ trong nông nghiệp vì gồm cả phần cứng như lồng bè, các công cụ, thiết bị đo lường, kiểm tra môi trường, thuốc phòng trị bệnh, và phần mềm là qui trình kỹ thuật được áp dụng, có tác dụng sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm nguồn nhập lượng đầu vào như thuốc, hoạt chất và lượng thức ăn, giảm lượng thất thoát hao hụt, đồng thời tăng năng suất, sản lượng mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn
2.1.3 Lý thuyết về khuyến nông:
Kiến thức nông nghiệp là tổng thể các kiến thức về kỹ thuật, kinh tế và cộng đồng mà người nông dân có được và ứng dụng vào hoạt động sản xuất của mình (Đinh Phi Hổ, 2003) Kiến thức nông nghiệp bao gồm kiến thức chung về nông nghiệp và kiến thức kỹ thuật nông nghiệp; nguồn gốc kiến thức kỹ thuật nông nghiệp mà nông dân có được hiện nay chủ yếu do tác động của hệ thống khuyến nông Khuyến nông là từ tổng quát để chỉ tất cả các công việc có liên quan đến sự phát triển nông thôn, đó là hệ thống giáo dục ngoài nhà trường; trong đó cả người già, trẻ nhỏ học bằng cách thực hành (Nguyễn Duy Hoan và ctg, 2007)
Khuyến nông theo nghĩa rộng là tất cả những hoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn Theo nghĩa hẹp hơn, khuyến nông là một tiến trình giáo dục không chính thức mà đối tượng của nó là nông dân, tiến trình này đem đến cho nông dân những thông tin và lời khuyên nhằm giáo dục họ giải quyết
Trang 22những vấn đề hoặc những khó khăn trong cuộc sống Khuyến nông sử dụng các
cơ quan nông - lâm nghiệp để phổ biến, mở rộng các kết quả nghiên cứu tới nông dân bằng phương pháp thích hợp để họ có thể áp dụng nhằm thu được nhiều sản phẩm và lợi nhuận hơn
Mục tiêu của khuyến nông là: (1) Chuyển giao kỹ thuật; (2) Phát triển vốn con người, đặc biệt là kỹ năng kỹ thuật, quản lý và kiến thức mà hộ nông dân ít học cần để tăng thu nhập từ nông trại; (3) Xây dựng vốn xã hội, hay là đưa nông dân vào tổ nhóm sản xuất hoặc các dạng tổ chức khác của các nông trại để triển khai các hoạt động chuyên biệt; (4) Giáo dục nông dân thực hành quản lý tài nguyên bền vững (Swanson, 2008)
Nguồn gốc kiến thức có được từ khuyến nông được tiếp nhận qua 2 dạng chính: (1) Trực tiếp bởi cán bộ khuyến nông cơ sở, các dạng trình diễn kỹ thuật mới và tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân; (2) Gián tiếp thông qua các tài liệu, hộ nông dân là cộng tác viên khuyến nông, báo chí, truyền hình, truyền thanh Về mức độ tin cậy đối với hoạt động khuyến nông theo Đinh Phi Hổ (2006), có từ 3 đến 8% số hộ nông dân không ứng dụng công nghệ do khuyến nông chuyển giao; 83% nông dân trả lời họ nhận được lợi ích đem lại trong việc ứng dụng công nghệ do khuyến nông chuyển giao Theo Đinh Phi Hổ và Lê Thị Thanh Tùng (2001), kiến thức nông nghiệp của nông dân có ảnh hưởng đến thu nhập gộp
Phương pháp khuyến nông PTD (Participatory Technical Development: phát triển kỹ thuật có sự tham gia) được phát triển trên thế giới trong hơn hai thập kỷ và được thực hiện ở Đồng bằng Sông Cửu Long lần đầu tiên vào năm 2004 (Nguyễn Duy Cần và Nico Vromant, 2009) Theo Dhollander (2007) PTD là một phương pháp tạo sự tham gia, nông dân dẫn dắt khuyến nông viên, và làm cho hoạt động và học tập qua thực hành được thực hiện trên đồng ruộng của nông dân Nguyên tắc chính là người nông dân học tốt nhất bằng kinh nghiệm của họ, thay
vì trong lớp học PTD năng cao tương tác giữa nông dân, khuyến nông viên và nhà khoa học, nhắm vào việc cải thiện tiến trình học tập liên kết Mục tiêu của phương pháp này là giúp cho nông dân đem các kinh nghiệm của họ vào thử
Trang 23nghiệm các kỹ thuật mới và giúp cho các cơ quan khuyến nông và cơ sở nghiên cứu giới thiệu các công nghệ mới thích hợp và bền vững Mục tiêu cụ thể là:
Làm cho nông dân tự quyết định những vấn đề trong tình huống cụ thể của
họ
Hỗ trợ nông dân xây dựng kiến thức mới liên tục, từ lập kế hoạch, theo dõi
và đánh giá các thí nghiệm ngoài đồng của họ
Giúp cho khuyến nông viên hỗ trợ nông dân trong các hoạt động khuyến nông phù hợp với nhu cầu nông dân
Xây dựng năng lực cho cơ quan khuyến nông trong quản lý và theo dõi hoạt động khuyến nông
Phương pháp PTD gồm các bước chính: (1) Xác định và phân tích trở ngại, nhu cầu; (2) Tìm kiếm giải pháp, ý tưởng mới; (3) Thử nghiệm các lựa chọn,
ý tưởng mới; (4) Đánh giá và phổ biến kết quả thử nghiệm; và (5) Nhân rộng và thể chế hóa PTD (Nguyễn Duy Cần và Nico Vromant, 2009)
Alfred M rsh ll (1980) trích từ Đinh Phi Hổ (2008), kiến thức là động lực mạnh mẽ nhất của sản xuất, kiến thức nông nghiệp của nông dân phụ thuộc vào mức độ mà họ tiếp cận với các hoạt động cộng đồng ở nông thôn Kiến thức nông nghiệp cũng là một yếu tố đầu vào của sản xuất, với tất cả các nguồn lực đầu vào giống nhau nông dân khác nhau về trình độ kỹ thuật nông nghiệp sẽ có kết quả sản xuất khác nhau hay nói cách khác kiến thức nông nghiệp là biểu hiện của chất lượng lao động Để sản xuất người nông dân phải có đất với chất lượng tốt và quy
mô lớn; có tiền mua các yếu tố đầu vào như giống, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh
và sức kéo và có lao động để tiến hành sản xuất Tuy nhiên, nông dân phải có đủ điều kiện mới có thể phối hợp các nguồn lực đó đạt hiệu quả
Tóm lại, khuyến nông là dịch vụ hỗ trợ nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cho nông dân, giúp họ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới, giải quyết các vấn đề trong sản xuất nông nghiệp để nâng cao hiệu quả sản xuất; với phương pháp không ngừng đổi mới theo hướng gắn nhu cầu thực tế tại địa phương và phát huy tính chủ động, tham gia của nông dân
Trang 242.1.4 Một số khái niệm liên quan:
Hiệu quả là khả năng đạt được mục tiêu đề ra Hiệu quả kinh tế liên quan chi phí để đạt mục tiêu đưa ra, hoặc là kết quả đạt được với chi phí cho trước Hiệu quả môi trường liên quan môi trường và sức khoẻ cộng đồng (Adger và cs., 2003)
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Quan điểm chính yếu của hiệu quả kinh tế là nên có sự cân bằng giữa lợi ích biên và chi phí biên của quá trình sản xuất Hiệu quả xã hội đòi hỏi tất cả giá trị thị trường và phi thị trường hợp nhất trong lợi ích biên và chi phí biên của sản xuất Hiệu quả xã hội nghĩa là tất cả thị trường hoạt động mà không có bất kỳ sự biến dạng nào, kể cả biến dạng gây ô nhiễm Để tính toán hiệu quả xã hội, phải tính chi phí xã hội gồm chi phí tư nhân
và chi phí ngoại tác (môi trường) (Field và Olewiler, 2002)
Hiệu quả môi trường (environmental effectiveness) Hiệu quả môi trường như là khái niệm làm ưu tiên cho việc xóa bỏ hay ngăn ngừa sự xuống cấp môi trường (Kutting, 2000) Hiệu quả môi trường có được khi giảm các ngoại tác trong sử dụng năng lượng (Galarraga và cs, 2013)
Lợi nhuận và thu nhập:
Mục tiêu quan trọng của họat động sản xuất theo lý thuyết là tối đa lợi nhuận và giả thuyết này rất vững chắc Nó tạo nên cơ sở của nhiều lý thuyết của kinh tế vĩ mô Mở rộng ra đối với hộ nuôi cá lồng bè trên địa bàn huyện Kiên Hải cũng luôn cụ thể hóa mục tiêu lợi nhuận và mong muốn tối đa hóa Về lịch sử mà nói những nhà kinh tế đều lấy lợi nhuận làm mục đích cuối cùng nhưng không vì thế mà họ thống nhất với nhau quan điểm về lợi nhuận:
Lợi nhuận: Lợi nhuận là hiệu số của doanh thu và chi phí Có hai khái
niệm về chi phí Chi phí kế toán chỉ tính các khoản chi thực sự phải trả, còn chi phí kinh tế là tất cả chi phí của doanh nghiệp, bao gồm chi phí phải trả (chi phí kế toán) và các chi phí phát sinh dưới dạng chi phí cơ hội mất đi Các nhà kinh tế thường tập trung vào chi phí phát sinh thay vì chi phí phải trả (Guell, 2008)
Trang 25Thu nhập và quan hệ với lợi nhuận Đối với nông hộ, cân bằng về sản xuất
và tiêu dùng được tóm tắt ở phương trình sau:
PmQm + PaQa + wQr = wT + П
Trong đó:
Pm là giá hàng hóa mua ở thị trường
Qm là lượng hàng hóa mua sắm trên thị trường
Pa là giá nông sản nông hộ sản xuất
Qa là lượng nông sản tự tiêu thụ
Chỉ tính sản xuất của nông hộ thì:
Lợi nhuận = giá trị tổng sản phẩm - tổng chi phí sản xuất
(trong đó, chi phí lao động gồm cả chi phí lao động gia đình và lao động thuê ngoài)
Thu nhập gia đình = lợi nhuận + giá trị lao động gia đình của nông hộ (Đinh Phi Hổ, 2008)
Để đánh giá chính xác tác động của công tác khuyến nông đến thu nhập của người dân thì thu nhập của hộ gia đình trong đề tài chỉ giới hạn đó là thu nhập thuần túy từ hoạt động nuôi cá lồng bè cộng với chi phí lao động gia đình của nông hộ
Trang 262.2 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan:
Nguyễn Quốc Nghi và ctg (2010) nghiên cứu phỏng vấn trực tiếp 149 hộ nuôi tôm sú trên địa bàn 10 xã thuộc tỉnh Trà Vinh, với phương pháp phân tích hồi quy đơn biến kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) chi phí lao động, (2) chi phí
thức ăn, (3) chi phí thuốc-hóa chất, (4) tập huấn kỹ thuật ảnh hưởng cùng chiều
với năng suất; các yếu tố: (1) giá bán; (2) năng suất, có tương quan thuận với lợi nhuận Trong khi đó các yếu tố: (1) chi phí xây dựng cơ bản; (2) chi phí thức ăn; (3) chi phí thuốc - hóa chất; (4) chi phí lao động; (5) chi phí lãi vay tỷ
lệ nghịch với lợi nhuận của hộ nuôi tôm Ngoài ra các yếu tố: (1) chi phí giống; (2) chi phí xăng dầu; (3) chi phí khác chưa tìm được mối tương quan với lợi nhuận
Lê Thanh Liêm (2011) nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy đơn biến để nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất nuôi tôm thẻ chân trắng với nhiều biến giải thích Kết quả cho thấy các yếu tố (1) tham gia tập huấn, (2) điện tích ao nuôi, (3) hệ thống ao lắng, thoát nước, (4) kiểm dịch con giống, (5) mật độ nuôi, (6) tổng lượng thức ăn, (7) số lần thay nước có có ảnh hưởng đến năng suất hộ nuôi tôm tại huyện Cần Giờ
Dương Vĩnh Hảo (2009) nghiên cứu đối tượng các hội nuôi tôm sú trên địa bàn 4 huyện thuộc tỉnh Sóc Trăng là: Mỹ Xuyên, Vĩnh Châu, Long Phú,
Cù Lao Dung, với 66 mẫu điều tra và kết luận rằng: Năng suất và lợi nhuận chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố (1) Kinh nghiệm, (2) kích cở thu hoạch, (3)
diện tích ao nuôi
Đặng Hoàng Xuân Huy và Võ Đình Quyết (2009) khảo sát 62 hộ nuôi tôm sú ở tỉnh Phú Yên, dùng phương pháp phân tích bao phủ dữ liệu DEA và kết luận: (1) giá con giống; (2) giá thức ăn; (3) sản lượng; (4) giá bán; (5) diện tích nuôi; (6) giá lao động là những nhân tố có ảnh hưởng đến lợi nhuận của hộ nuôi tôm Các yếu tố: (1) mật độ nuôi; (2) số lượng thức ăn; (3) diện tích nuôi; (4) số ngày công lao động là những nhân tố có ảnh huởng đến năng suất của hộ nuôi tôm
Trang 27Ngô Văn Thạo (2006), nghiên cứu thực hiện trên địa bàn 3 huyện của tỉnh Bến Tre là Bình Đại, Thạnh Phú, Ba Tri với 66 quan sát Tác giả kết luận một số nhân tố tác động đến lợi nhuận hộ nuôi tôm sú bao gồm (1) trình độ học vấn; (2) chi phí đầu vào; (3) chi phí khấu hao; (4) giá bán; (5) năng suất
Kết quả nghiên cứu của Lê Xuân Sinh (2006), cũng cho thấy: (1) giống, (2) thức ăn và (3) thuốc thủy sản là ba khoản chi phí lớn nhất và ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận hộ nuôi tôm cũng như chất lượng tôm nguyên liệu Năng suất và lợi nhuận chịu tác động của các yếu tố như kinh nghiệm nuôi, kích cỡ tôm thu hoạch (con/kg)
Thái Thanh Hà (2005), nghiên cứu sử dụng phân tích hồi quy logistics đối với các biến đầu vào kết luận: (1) thời gian lành nghề, (2) tập huấn kỹ thuật, (3) số lao động thường xuyên, (4) chi phí phòng bệnh, (5) chi phí dầu chạy máy, (6) chi phí lãi vay đều có ảnh hưởng tích cực đến kết quả sản xuất của hộ nuôi tôm
Phùng Cẩm Hà (2007) sử dụng hàm Cobb - Douglas để đo lường năng suất nuôi tôm trong vùng ngập mặn tại tỉnh Đồng Nai mà chủ yếu là 2 huyện Nhơn Trạch và Long Thành Kết quả, năng suất tôm thẻ chân trắng chịu ảnh hưởng các nhân tố chi phí thức ăn, chi phí thuốc hóa chất, khuyến nông (khuyến ngư), mật độ nuôi
Đinh Phi Hổ (2011) đã nghiên cứu "Sản xuất lúa gạo theo công nghệ mới,
hiệu quả kinh tế và gợi ý chính sách" Kết quả nghiên cứu cho thấy nông dân có
tham gia tập huấn theo chương trình 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm thì hiệu quả ứng dụng công nghệ mới cao hơn nông dân không tham gia tập huấn Nông dân tuân thủ theo nguyên tắc của chương trình tập huấn đem lại hiệu quả kinh tế cao như: tiết kiệm chi phí, tăng năng suất và chất lượng hạt lúa đồng thời còn tăng hiệu quả môi trường như giảm ô nhiễm đất, nước
Nguyễn Thanh Phương và ctg (2008) cho rằng chi phí thức ăn chiếm tỷ trọng cao nhất 57,2%, chi phí hóa chất chiếm 13% tổng chi phí Nguyên nhân
mà người nuôi tôm gặp khó khăn gồm: bệnh tôm (20,4%), thiếu vốn (14,3%), chất lượng con giống kém (14,2%) Mật độ nuôi càng cao thì năng suất càng
Trang 28cao Nghiên cứu kết luận: (1) mật độ nuôi, (2) thời gian nuôi, (3) lượng thức
ăn, (4) chi phí thuốc - hóa chất có mối quan hệ thuận chiều với năng suất nuôi
Lê Văn Thu (2015) khi nghiên cứu chuỗi cung sản phẩm tôm nuôi ở tỉnh Quảng Nam đã cho rằng năng suất tôm thẻ chân trắng có mối tương quan thuận chiều với mật độ nuôi, thức ăn, công lao động, kiểm dịch giống, sử dụng kênh ao lắng, tập huấn khuyến nông Các yếu tố ô nhiễm môi trường, dịch bệnh có mối tương quan nghịch chiều với năng suất Để nâng cao hiệu quả kinh tế cần tăng thêm số lượng thức ăn, mật độ giống, ngày công lao động, phòng ngừa dịch bệnh, hạn chế những biến động giá cả các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản phẩm
2.3 Kỹ thuật nuôi cá Bóp trong lồng bè trên biển:
Đặc điểm sinh trưởng: Cá Bóp hay còn gọi là cá Giò có tên khoa học
(Rachycentron canadum) tên tiếng anh (Cobia/Black King fish) phân bố ở vùng
biển nhiệt đới, cận nhiệt đới và vùng nước ấm của biển ôn đới Trong tự nhiên, cá Bóp sống ở vùng nước mặn hoặc nước lợ ven biển, rạn san hô cho đến vùng biển khơi Cá Bóp thuộc loại cá dữ, ăn thịt động vật, thức ăn tự nhiên gồm cua, tôm, ốc
và các loại cá con Tốc độ sinh trưởng của cá nhanh, có thể đạt cỡ 7 - 9 kg sau một năm nuôi Cá Bóp thành thục lần đầu tiên sau 2 năm tuổi, mùa sinh sản của cá Bóp từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm
Do cá Bóp có tốc độ sinh trưởng nhanh, giá thị trường tương đối cao nên được nuôi khá phổ biến ở nhiều tỉnh ven biển như Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ
An, Hà Tĩnh, Huế, Phú Yên, Khánh Hoà, Vũng Tàu, Kiên Giang và Cà Mau Hình thức nuôi chủ yếu là nuôi lồng trên biển Do đặc điểm sinh trưởng của cá bóp nên nông dân ở huện Kiên hải thường thả nuôi từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm, chủ yếu là nguồn cá giống từ khai thác tự nhiên Thời gian thu hoạch sau 10 đến 12 tháng thả nuôi
Theo tài liệu tập huấn hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá bóp trong lồng bè trên biển của Trung tâm khuyến nông tỉnh Kiên Giang (năm 2015) được triển khai thực hiện trên địa bàn huyện Kiên Hải trong thời gian qua với các nội dung chủ yếu sau:
Trang 29Chọn vị trí đặt lồng: Trong nuôi lồng, do chất lượng nước không thể
kiểm soát được như trong các thuỷ vực, ao đầm mà tuỳ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên Vì thế chọn lựa vị trí thích hợp sẽ là một yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành công của nghề nuôi Thông thường, tiêu chuẩn lựa chọn vị trí nuôi ở vùng eo, vịnh hay mặt sau của đảo Độ sâu phải bảo đảm đáy lồng cách đáy biển ít nhất >1m Tránh nơi sóng to, gió lớn như sóng cao trên 2m và tốc độ dòng chảy 1m/giây vì có thể làm hư hỏng lồng, trôi thức ăn, làm cho cá hoạt động yếu gây chậm lớn và sinh bệnh Tốc độ chảy thích hợp từ 0,2-0,6m/giây Đảm bảo hàm lượng oxy từ 4-6mg/lít, nhiệt độ 25-30 0C, độ mặn từ 27-33 ‰
Lồng nuôi: Có 2 kiểu lồng nuôi phổ biến là : lồng gỗ có kích thước từ 27
Cỡ mắt lưới lồng dùng cho lồng nuôi cá thương phẩm tăng dần theo tăng trưởng của cá, từ 2a = 3 – 7 cm
Cách chọn giống và thả giống: Cỡ giống thả nên đạt khối lượng trung
bình 100g trở lên, chiều dài 18 – 20 cm (70 – 75 ngày tuổi) Giống phải đồng đều, khoẻ mạnh, không bị xây xát và không mang mầm bệnh Trước khi thả giống phải thuần để cá giống không bị sốc môi trường như nhiệt độ, độ mặn, pH,… khi cá thích nghi với môi trường nuôi thì mới thả Xử lý cá qua nước ngọt 5 – 10 phút
để loại mầm bệnh ký sinh trên cá, nên thả cá vào lúc sáng sớm hay chiều mát Cá Bóp có tốc độ sinh trưởng nhanh, khi thu hoạch cá thịt đạt trung bình 5-8 kg/con nên mật độ thả nuôi ban đầu cần dừng ở mức 3 – 6 con/m3 Trong giai đoạn khi cá đạt từ 1 – 3 kg cần phân cỡ cá một số lần để đảm bảo cá lớn đồng đều Khi cần có thể giảm bớt mật độ cá trong lồng
Quản lý thức ăn: nguồn thức ăn sử dụng cá tạp để cho cá Bóp ăn cần phải
dùng cá tươi, rửa sạch, cắt nhỏ vừa cỡ miệng của cá Ngày cho ăn một lần vào buổi sáng Mỗi lần cho ăn đến no, lượng thức ăn từ 4 – 6 % tổng khối lượng đàn cá nuôi Hệ số thức ăn sử dụng cá tạp dao động từ 7 – 9 kg cá tạp/1 kg cá thịt
Bảng 2.1: Chế độ thức ăn
Trọng lượng cá
(kg)
Số lần cho
ăn (lần)
Lượng thức ăn (% trọng lượng thân)
Thời gian cho ăn (giờ)
Trang 30Quản lý lồng nuôi: Trong quá trình nuôi cần theo dõi tình trạng sức khoẻ
và bệnh tật của cá để kịp thời xử lý Cần định kỳ vệ sinh và thay lưới lồng mỗi tháng 1 lần hoặc khi kiểm tra lưới bị bẩn để đảm bảo thông thoáng cho lồng nuôi Định kỳ kiểm tra các bộ phận lồng nuôi (phao, khung, dây neo, lưới…) và kịp thời bảo dưỡng hoặc thay thế để giảm thiểu rủi ro do hư hỏng lồng Hàng tháng đo mẫu để xác định tăng trưởng của cá (chiều dài và khối lượng cá), để xác định được khối lượng đàn cá trong lồng nhằm điều chỉnh lượng thức ăn cho hợp lý
Trở ngại trong nuôi cá Bóp lồng, bè trên biển: Trong nuôi Bóp lồng bè
trên biển, dù có nhiều ưu điểm, song vẫn còn trở ngại như chất lượng nước thay đổi do bị ảnh hưởng mạnh bởi sự thay đổi dòng chảy sóng gió, và các yếu tố khác như độ mặn, pH, lượng ôxy độc tố do nhiễm bẩn, tảo nở hoa Vì thế, trước khi nuôi, cần xem xét và chọn vị trí thích hợp
Một số bệnh thường gặp ở cá Bóp: Cá bóp thả nuôi thường gặp phải một
số bệnh do ký sinh trùng gây ra như: Bệnh sán lá da, bệnh rận cá Bệnh do vi khuẩn như: Bệnh lở loét, bệnh xuất huyết đường ruột và bệnh hoại tử thần kinh
Phòng bệnh cho cá bằng cách chọn cá giống khoẻ mạnh, tiệt trùng bằng tắm nước ngọt pha thuốc, hoạt chất loại trừ mầm bệnh Tránh làm sốc cá khi vận chuyển
và thả giống Thực hiện việc nuôi cá tốt như cung cấp đầy đủ chất dinh cho cá, định
kỳ bổ sung chất đề khác bằng cách trộn thuốc, hoạt chất vào thức ăn Thường xuyên theo dõi đàng cá nhằm kịp thời xử lý khi có dịch bệnh
Thu hoạch cá sau thời gian nuôi 12 tháng cá đạt trọng lượng 7– 10 kg thì tiến hành thu hoạch, có thể thu tỉa để bán dần và nên thu hoạch bán hết khi có đầu
ra để quay vòng chu kỳ nuôi mới
2.4 Thực trạng về nuôi cá lồng bè trên địa bàn huyện:
Với đặc thù là một huyện đảo nên nền kinh tế – xã hội của huyện Kiên Hải chủ yếu dựa vào khai thác và chế biến thủy sản Nhưng trong vài năm trở lại đây, tình hình khai thác thủy sản ngày càng trở nên khó khăn do nguồn lợi tự nhiên đang dần cạn kiệt, khan hiếm; ngư trường đánh bắt bị thu hẹp Vì vậy việc chuyển đổi cơ cấu giống vật nuôi trong sản xuất là điều cần thiết và thiết thực
Trang 31Thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Kiên Giang, từ sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả sang kết hợp nuôi trồng thuỷ sản Huyện ủy, UBND huyện Kiên Hải đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy sản, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào trong sản xuất giống thủy sản để nâng cao chất lượng nguồn giống, bảo vệ nguồn lợi tự nhiên, tăng hiệu quả kinh tế cho người dân và phát triển bền vững nghề nuôi thủy sản của huyện Kiên Hải
Thực tế trong 5 năm qua huyện Kiên Hải đã xây dựng, quy hoạch trong vấn đề thủy sản nhằm phát triển kinh tế – xã hội đặc biệt chú trọng đến việc khai thác tiềm năng sử dụng diện tích mặt nước biển của các xã đảo để nuôi các đối tượng thủy sản nước mặn có giá trị kinh tế cao như: cá Mú, cá Bóp, Ốc hương và một số loài hải sản khác, đồng thời từng bước khai thác lợi thế của vùng ven biển theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước Qua đó đã tạo động lực phát triển khá toàn diện, khơi dậy tiềm năng của nông hộ, định hướng phát triển sản xuất những mô hình có chiến lược lâu dài và mang tính bền vững
Kết quả của chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn huyện trong những năm qua đã mang lại hiệu quả rõ rệt, sản lượng hàng năm liên tục tăng, từng bước nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân Đặc biệt là các xã đảo trên địa bàn huyện, tình hình nuôi trồng thủy sản bằng lồng bè đang phát triển khá nhanh vì điều kiện môi trường nước khá tốt, có nhiều đảo che chắn sóng gió nên rất thuận lợi để phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn
Tuy nhiên trong thời gian qua người dân còn thiếu nguồn vốn, chuyên môn kỹ thuật, con giống và chưa có nhiều mô hình kiểu mẫu nên nhân dân chưa mạnh dạn đầu tư để nuôi các đối tượng thuỷ sản có giá trị cao
Từ những yếu tố thuận lợi và khó khăn trên cho thấy Kiên Hải là huyện có thế mạnh về phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản Tuy nhiên việc lựa chọn đối tượng thích hợp, có hướng phát triển bền vững và khả thi để nhân rộng các mô hình nuôi trồng thủy sản là một vấn đề đặt ra hiện nay cho huyện Kiên Hải Bên cạnh đó, trong điều kiện kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hóa dẫn đến
Trang 32việc cần ứng dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản là hết sức cần thiết
Nghề nuôi cá lồng trên biển của địa phương có những bước phát triển khá nhanh, nông dân đầu tư mạnh ở những địa bàn có điều kiện thuận lợi và mang lại hiệu quả kinh tế cao Năm 2015 toàn huyện có 440 hộ nuôi, tăng 27,91%, 808 lồng tăng 37,65%, với 40.896 m3 tăng 45,04% so với năm 2011 Sản lượng nuôi hàng năm tăng mạnh, năm 2015 đạt 601 tấn cá nuôi, tăng 83,63% so với năm
2011 Giá trị sản xuất ước đạt 174,604 tỷ đồng bằng 2,9 lần so với năm 2011
Nghề nuôi cá lồng trên biển của huyện đã dần dần phát huy được tiềm năng lợi thế của huyện, sản phẩm làm ra có giá trị kinh tế cao, giải quyết việc làm cho nhiều lao động tại địa phương, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tỷ trọng nghề nuôi được tăng lên trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành thuỷ sản, năm 2011 giá trị sản xuất nghề nuôi trồng chiếm 2,75% (theo giá thực tế) trong cơ cấu, đến năm 2015 tăng lên 5,13% trong cơ cấu ngành thuỷ sản Trước đây, nghề nuôi cá lồng trên biển chủ yếu phát triển ở xã Nam Du, nhưng từ năm 2011 đến nay đã phát triển rộng khắp trên 4/4 xã của huyện và được người dân quan tâm đầu tư để phát triển sản xuất, tăng thu nhập
Bảng 2.2: Kết quả nuôi cá lồng bè giai đoạn 2011-2015
Chỉ tiêu 2011 2012 2013 2014 2015
(%) 2015/2011
Thể tích 28,196 32,960 35,240 36,460 40,896 145.04% Sản lượng 328 444 513 420 601 183.23% Giá trị SX 60181 94633 112550 135429 174604 290.13%
Nguồn: Chi cục thống kê huyện Kiên Hải - KG
Cùng với phát triển nghề nuôi cá lồng bè trên biển, trong giai đoạn
2011-2015, công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật hỗ trợ cho nông dân được quan tâm
Trang 33thực hiện, đã tổ chức triển khai được 11 lớp kiến thức nuôi cá lồng bè (cá mú và
cá bóp) với 341 học viên tham gia, thời gian tập huấn mỗi lớp 2 ngày trong đó dành một buổi thực hành chọn vị trí đặt lồng xử lý con giống trước khi thả nuôi Song song với công tác tập huấn, Trung tâm khuyến nông huyện phối hợp với các xã tổ chức hội thảo nhằm bổ sung, cập nhật kiến thức cho nông dân, đồng thời đánh giá hiệu quả ứng dụng quy trình kỹ thuật tập huấn vào sản xuất Qua 5 năm đã thực hiện được 6 cuộc hội thảo trên địa bàn huyện Thực hiện chính sách hỗ trợ nông dân, qua 5 năm đã hỗ trợ 534.245.000 đồng Hình thức hỗ trợ thông qua các
mô hình nuôi trình diễn đã góp phần thúc đẩy phát triển nghề nuôi cá lồng bè trong toàn huyện
Bảng 2.3: Công tác tập huấn và hỗ trợ nông dân:
Nội Dung 2011 2012 2013 2014 2015 Cộng
Kinh phí H.Trợ 106.650 76.800 144.535 118.760 87.500 534.245
Nguồn: Trung tâm khuyến nông huyện Kiên Hải – KG
Công tác khuyến nông từng bước nâng cao chất lượng, song song với hỗ trợ mô hình nuôi trình diễn trên địa bàn các xã trên địa bàn huyện, công tác tổng kết mô hình và hội thảo được quan tâm Năm 2015 trung tâm khuyến nông thực hiện khảo sát 4 mô hình trình diễn cho 4 hộ nông dân với 600 con cá giống (nhóm nông dân có tập huấn, ứng dụng quy trình kỹ thuật nuôi cá) đồng thời cũng khảo sát nhóm nông dân cùng địa bàn không tham gia tập huấn và không áp dụng quy trình kỹ thuật nuôi cá, có cùng lượng cá thả nuôi Kết quả cho thấy hiệu quả về mặt chi phí giữa nông dân có hỗ trợ thấp hơn 13.900.000 đồng, trong đó chi phí thức ăn 12.000.000 đồng, chi phí thuốc trị bệnh 3.600.000 đồng Các khoản chi phí thuốc phòng bệnh, chi phí khác nhóm nông dân được hỗ trợ cao hơn nhưng không nhiều Hiệu quả về mặt kinh tế hai nhóm nông dân, đối với nông dân được
Trang 34hỗ trợ các chỉ số về mặt kinh tế tốt hơn so với nông dân không được hỗ trợ như sản lượng cao hơn 579 kg, giá thành thấp hơn 10.943 đồng/kg, doanh thu cao hơn 63.690.000 đồng và lợi nhận cao hơn 77.590.000 đồng Ngoài ra tỷ lệ hao hụt cá giống của nhón nông dân được hổ trợ thấp hơn nhóm nông dân không được hổ trợ 3,8% Đây là một trong những yếu tố tác động tích cực đến sản lượng cá thương phẩm (Bảng 2.5)
Bảng 2.4: Hiệu quả kinh tế giữa nông dân áp dụng kỹ thuật và nông dân không áp dụng kỹ thuật
Chỉ Tiêu Đơn vị Nông Dân có N Dân không Chênh lệch
Tính Hỗ trợ (A) Hỗ trợ (B) (A-B) Chi phí cá giống đồng 45.000.000 45.000.000 0 C.P thuốc phòng bệnh đồng 8.700.000 7.500.000 1.200.000 Chi phí thuốc trị bệnh đồng 5.150.000 8.750.000 -3.600.000 Chi phí thức ăn đồng 192.500.000 204.500.000 -12.000.000 Chi phí khác đồng 8.500.000 8.000.000 500.000 Tổng chi phí đồng 259.850.000 273.750.000 -13.900.000
Nguồn: Trung tâm khuyến nông huyện Kiên Hải – KG (2015)
2.5 Khung phân tích của đề tài:
Qua tổng quan lý thuyết trên đây và thực tiễn áp dụng ở nhiều nơi, tập huấn hướng dẫn kỹ thuật trong nông nghiệp đã tạo bước phát triển đột phá trong sản xuất nông nghiệp, làm tăng hiệu quả kỹ thuật qua việc sử dụng nhập lượng hiệu quả hơn; từ đó làm tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất, giúp nông dân cải thiện thu nhập Công nghệ, quy trình và phương pháp mới trong nông nghiệp đến nông dân được thông qua hoạt động khuyến nông, đó là dịch vụ trong nông nghiệp gồm
Trang 35các hoạt động chủ yếu: tập huấn, xây dựng mô hình trình diễn, truyền thông và tư vấn Phương pháp khuyến nông cũng không ngừng đổi mới, đi từ nhu cầu thực tế sản xuất, theo hướng có sự tham gia của nông dân, thông qua các mô hình trình diễn mà chính nông dân là người thực hiện
Như vậy, Chương trình tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, đề tài có đặc điểm nghiên cứu là ứng dụng quy trình, kỹ thuật vào thực hành nuôi cá lồng bè trên biển và tác động của nó đến thu nhập của nông dân Do đó, đề tài sẽ tập trung phân tích các vấn đề chủ yếu sau đây:
(1) Tác động của chương trình tập huấn hướng dẫn kỹ thuật đối với thực hành và hiệu quả kỹ thuật nuôi cá lồng bè trên biển của nông dân
(2) Tác động của chương trình tập huấn hướng dẫn kỹ thuật đối với hiệu quả kinh tế của nông dân nuôi cá lồng bè trên biển
Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, ứng dụng kỹ thuật nuôi theo tập huấn để làm tăng thu nhập của nông dân nuôi cá lồng bè
Khung phân tích được thể hiện trong sơ đồ dưới đây
THỰC HÀNH THẢ NUÔI
VÀ HIỆU QUẢ KỸ THUẬT
-Giảm lượng thức ăn
- Giảm thuốc phòng trị bệnh
- Tăng sản lượng
HIỆU QUẢ KINH TẾ -THU NHẬP
Hình 2.1 Khung phân tích của đề tài
Nông dân không tập huấn
So sánh
Trang 36CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Các giới hạn nghiên cứu:
Chương trình khuyến nông được giới hạn để nghiên cứu là công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá bóp lồng bè trên địa bàn huện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang
Thu nhập trong đề tài nghiên cứu được giới hạn là lợi nhuận nuôi cá, mà không cộng lao động gia đình vào vì lao động gia đình tùy thuộc vào hoàn cảnh từng hộ chứ không tùy thuộc quy trình, kỹ thuật, nếu cộng vào lợi nhuận để tính
ra thu nhập của hộ nông dân thì không thích hợp với mục tiêu nghiên cứu Giá bán
là giá ngay thời điểm nông dân xuất bán Giá mua con giống, thức ăn thuốc phòng trị bệnh và các chi phí khác, chi phí thuê mướn được tính tại thời điểm nông dân mua hoặc thuê mướn lao động thực tế
3.2 Các giả thuyết:
Trên cơ sở khung phân tích, đề tài đưa ra xem xét các giả thuyết như sau
Có sự khác biệt về kiểm tra dòng chảy giữa nông dân có
tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và nông dân không
tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật
Kiểm định Chi-Square +
H2
Có sự khác biệt về kiểm tra nguồn nước giữa nông dân có
tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và nông dân không
tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật
Kiểm định Chi-Square +
H3
Có sự khác biệt về phân đàng theo trọng lượng cho cá
đồng đều giữa nông dân có tham gia tập huấn, hướng dẫn
kỹ thuật và nông dân không tham gia tập huấn, hướng dẫn
kỹ thuật
Kiểm định Chi-Square +
H4
Có sự khác biệt về chế độ thức ăn theo tỷ lệ, trọng lượng
cá thả nuôi giữa nông dân có tham gia tập huấn, hướng
Kiểm định Chi-Square
Trang 37dẫn kỹ thuật và nông dân không tham gia tập huấn, hướng
dẫn kỹ thuật
+
H5
Có sự khác biệt về độ sâu lồng lưới giữa nông dân có
tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và nông dân không
tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật
Kiểm định T-Test +
H6
Có sự khác biệt về số lần vệ sinh, thay lưới giữa nông dân
có tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và nông dân
không tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật
Kiểm định T-Test +
H7
Có sự khác biệt về số lần sử dụng thuốc phòng bệnh cho
cá giữa nông dân có tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ
thuật và nông dân không tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ
thuật
Kiểm định T-Test +
H8
Có sự khác biệt về lượng thuốc phòng bệnh cho cá giữa
nông dân có tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và
nông dân không tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật
Kiểm định T-Test
-
H9
Có sự khác biệt về số lần sử dụng thuốc trị bệnh cho cá
giữa nông dân có tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật
và nông dân không tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật
Kiểm định T-Test
-
H10
Có sự khác biệt về lượng thuốc trị bệnh cho cá giữa nông
dân có tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và nông dân
không tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật
Kiểm định T-Test
-
H11
Có sự khác biệt về lượng thức ăn giữa nông dân có tham
gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và nông dân không tham
gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật
Kiểm định T-Test
-
H12
Có sự khác biệt về sản lượng giữa nông dân có tham gia
tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và nông dân không tham gia
tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật
Kiểm định T-Test +
H13
Có sự khác biệt về doanh thu giữa nông dân có tham gia
tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và nông dân không tham gia
tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật
Kiểm định T-Test +
H14 Có sự khác biệt về giá thành sản xuất giữa nông dân có Kiểm định
Trang 38tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và nông dân không
tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật
T-Test
-
H15
Có sự khác biệt về lợi nhuận giữa nông dân có tham gia
tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và nông dân không tham gia
tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật
Kiểm định T-Test +
H16
Có sự khác biệt về tỷ suất lợi nhuận giữa nông dân có
tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và nông dân không
tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật
Kiểm định T-Test +
H17
Có sự khác biệt về tỷ lệ cá hao hụt giữa nông dân có tham
gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và nông dân không tham
gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật
Kiểm định T-Test
-
3.3 Địa bàn, đối tượng và mẫu điều tra:
Địa bàn điều tra: Đề tài chọn 4 xã (Hòn Tre, Lại Sơn, An Sơn và Nam
Du) thuộc huyện Kiên Hải để nghiên cứu ảnh hưởng của công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật đến thu nhập của nông dân
Khu vực nghiên cứu
Hình 3.1: Bản đồ địa bàn nghiên cứu Nguồn: Quy hoạch tổng thể kinh tế-xã hội huyện Kiên Hải đến năm 2020
Trang 39Đối tượng điều tra: là những hộ dân tham gia nuôi cá bóp lồng bè trên
biển, phỏng vấn trực tiếp chủ hộ hoặc người trong gia đình trực tiếp nuôi cá Qua số liệu thống kê năm 2015, huyện Kiên Hải có 440 hộ nuôi cá, (bảng 3.1)
Phương pháp xác định mẫu nghiên cứu: theo Yamane Taro (1991, trích
theo Đinh Phi Hổ, 2012) giới thiệu một công thức xác định mẫu điều tra tối thiểu khi biết tổng thể bằng công thức sau: n ≥ N / 1 + N.e2 Trong đó, n là kích thước mẫu tối thiểu cần thiết, N là tổng thể và e là sai số cho phép, e có thể bằng 1%; 5% hoặc 10%
Với cỡ mẫu điều tra là 120 quan sát theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, trong đó có 64 hộ nông dân tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và 56 hộ nông dân không tham gia tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật Việc thu thập số liệu thực hiện bằng cách lập bảng câu hỏi phỏng vấn, phát phiếu điều tra khảo sát đối với từng hộ dân nuôi cá lồng bè trên địa bàn huyện
Trong nghiên cứu này chọn sai số cho phép bằng 10%, do đó kích thước mẫu tối thiểu của nghiên cứu là: n ≥ 440/(1 + 440*0,12) = 81 Số mẫu trong nghiên cứu này là 120 lớn hơn 81 cho nên thoả yêu cầu về kích thước mẫu
Bảng 3.2 Phân bố mẫu điều tra:
Nguồn: dữ liệu của Chi cục thống kê huyện Kiên Hải 2015
3.4 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu:
Trên cơ sở bảng câu hỏi phỏng vấn Kiến thức thực hành và hiệu quả sản xuất Các câu hỏi được khai báo để xử lý trên chương trình SPSS Câu hỏi có nhiều câu trả lời cho trường hợp nông dân có nhiều chọn lựa như cơ sở chọn phân
Trang 40bón, nguồn thông tin để chọn thuốc phòng và trị bệnh cho cá… được tổng hợp thành một biến ghép để tính toán thống kê các chọn lựa
- Do đặc tính của nông dân ở địa phương trong huyện tương tự nhau; mặt khác, nghiên cứu bắt đầu khi công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật đã triển khai nên giả định là nông dân thuộc hai nhóm có tham gia và không tham gia có trình
độ sản xuất giống nhau trước khi chương trình tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật được triển khai Do đó, nghiên cứu ứng dụng phương pháp đánh giá tác động có hay không có can thiệp, và phương pháp khác biệt đơn (single difference) để đánh giá tác động của Chương trình Nhóm tham gia công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật
là nhóm xử lý, nhóm không tham gia là nhóm đối chứng, can thiệp là công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật Với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, cách tính toán
là tính giá trị trung bình các chỉ tiêu và kiểm định thống kê sự khác biệt giữa hai nhóm Nếu khác biệt có ý nghĩa thống kê, chương trình có tác động (Leeuw và Vaessen, 2009) Dùng Independent Sample T-test của SPSS để kiểm định :
+ Khác biệt về thực hành sản xuất và hiệu quả kỹ thuật giữa hai nhóm nông dân có thực hành theo tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật đối với nông dân không thực hành theo tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật: mật độ thả nuôi, thức ăn, thuốc phòng và trị bệnh
+ Sự khác biệt về hiệu quả sản xuất giữa hai nhóm nông dân đối với các chỉ tiêu giá thành, chi phí và lợi nhuận
Trên cơ sở kết quả kiểm định các giả thuyết, luận án đưa ra các gợi ý chính sách thúc đẩy công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, giúp nông dân có thêm kiến thức ứng dụng quy trình kỹ thuật từ tập huấn vào thực hành sản xuất, góp phần nâng cao năng xuất, hiệu quả và thu nhập cho nông dân