Trong đó hầu hết sử dụng phương pháp phân tích thứ bậc AHP/Saaty, 1980 trong môi trường ra quyết định riêng rẽ AHP – IDM để xác định trọng số các tiêu chí, do vậy kết quả còn mang tính c
Trang 1MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu 2
2.2 Nhiệm vụ 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa của luận văn 4
6 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1 5
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TÍNH PHÁP LÝ CỦA ĐÁNH GIÁ ĐẤT ĐAI 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Đánh giá đất đai 5
1.1.2 Hệ thống thông tin địa lý - GIS 8
1.1.3 Phương pháp phân tích đa tiêu chí - MCA 12
1.2 Cơ sở pháp lý: 16
CHƯƠNG 2 18
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT CHO MỤC ĐÍCH LÀM BÃI TẬP KẾT RÁC THẢI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 2 18
2.1 Điều kiện nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sử dụng đất làm bãi tập kết rác thải 18
2.1.1 Tình hình tự nhiên 18
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 19
2.1.3 Đánh giá chung 20
2.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất làm bãi tập kết rác thải 20
2.2.1 Tình hình quản lý: 20
2.2.2 Hiện trạng và biến động sử dụng đất 22
2.2.3 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất làm bãi tập kết rác thải 30
CHƯƠNG 3 31
ỨNG DỤNG GIS VÀ MCA ĐỂ LỰA CHỌN VỊ TRÍ BÃI TẬP KẾT RÁC THẢI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 2 31
Trang 23.1 Xây dựng mô hình ứng dụng GIS và MCA để lựa chọn vị trí bãi tập kết
rác thải 31
3.1.1.Mô hình phục vụ việc lựa chọn vị trí bãi tập kết rác thải bằng phương pháp AHP 31
3.1.2 Các bước thực hiện lựa chọn vị trí bãi tập kết chất thải rắn bằng phương pháp phân tích thứ bậc AHP 32
3.2 Kết quả ứng dụng GIS và MCA để lựa chọn vị trí bãi tập kết rác thải trên địa bàn quận 2, TP Hồ Chí Minh 33
3.2.1 Lựa chọn tiêu chí đánh giá 33
3.2.2 Trọng số các tiêu chí 34
3.2.3 Xây dựng bản đồ chuyên đề và tổng hợp bản đồ chuyên đề: 42
3.2.4 Lựa chọn sơ bộ: 50
3.2.5 Đánh giá chung cuộc: 64
Tiểu kết chương 3 67
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá và có giới hạn về số lượng,
có vị trí cố định trong không gian, không thể di chuyển theo ý muốn chủ quan của con người Để khai thác tiềm năng thế mạnh của đất đai phục vụ xây dựng
và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đòi hỏi Nhà nước phải quản lý chặt chẽ đất đai, hướng cho đất đai được sử dụng đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả
Quận 2 là một quận nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh Quận 2 là quận mới đô thị hóa, nơi có Khu đô thị mới Thủ Thiêm trong tương lai gần là trung tâm tài chính thương mại mới của Thành phố Hồ Chí Minh Quận 2 được chia thành 11 phường: An Khánh, An Lợi Đông, An Phú, Bình An, Bình Khánh, Bình Trưng Đông, Bình Trưng Tây, Cát Lái, Thạnh Mỹ Lợi, Thảo Điền, Thủ Thiêm Trong đó, phường Thạnh Mỹ Lợi được xem là trung tâm của quận
Môi trường được xem là vấn đề hàng đầu đặt ra cho sự phát triển, tạo ra được một môi trường xanh sạch và bền vững cho đời sống và sự phát triển kinh
tế - xã hội trên địa bàn quận 2 là một việc làm mang tính chiến lược Tình trạng
xả thải bừa bãi ra ngoài môi trường sống đã và đang là một trong những vấn đề không chỉ ở vùng nông thôn mà còn xuất hiện ở các khu vực trọng điểm trên địa
đường Trần Não quận 2 Gây nhiều bức xúc và giảm môi trường sống của người dân xung quanh Từ đó, việc đề xuất giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiểu biết và khả năng nhận thức, ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường nhằm tạo ra một bức tranh màu xanh, không rác là việc làm cần thiết trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2020 Thông qua nghiên cứu thực trạng về tình hình môi trường tại quận 2 và đề xuất các vị trí tập kết rác thải sẽ góp phần cải thiện
và làm sạch môi trường Hiện nay tỷ lệ đăng ký đổ rác đạt trên 90% tổng số khối lượng rác phát sinh (trung bình khoảng 120 tấn/ngày) Tỷ lệ ký hợp đồng thu gom rác của chủ nguồn thải đạt 94%, các phường đang tiếp tục thực hiện
Về phương tiện thu gom rác hiện có 32 xe tải (từ 500kg đến 2 tấn) và 30 chiếc loại xe thô sơ, ba bánh, tự chế; đến nay đã chuyển đổi được 27 xe thô sơ Phòng Tài nguyên và Môi trường tiếp tục phối hợp Cảnh sát giao thông, Ủy ban nhân dân các phường xử lý các phương tiện thu gom rác chưa chấp hành Đã khởi công xây dựng trạm ép rác kín tại phường Thạnh Mỹ Lợi, dự kiến bàn giao công trình trong quý 2/2017
Trong đánh giá đất đai, nhiều nguồn thông tin có thể được sử dụng, bao gồm ảnh vệ tinh, bản đồ sử dụng đất, thông tin địa giới hành chính, phân bố thực vật và thông tin thống kê kinh tế, xã hội, môi trường Thêm vào đó, bởi vì tính thích nghi của bất kỳ đơn vị đánh giá nào cũng phụ thuộc vào từng loại hình sử dụng đất, nên mục tiêu, quá trình đánh giá thích nghi đất đai có thể đạt được thông qua phỏng vấn các bên liên quan và phân tích chính sách Do đó, đánh giá thích nghi đất đai là vấn đề ra quyết định đa tiêu chí và phương pháp phân tích
Trang 4đa tiêu chí (Multi-Criteria Analysis-MCA) được sử dụng để phân loại và tính
trọng số các tiêu chí (Yong Liu et al, 2007) Các bước MCA trong đánh giá đất đai bao gồm xác định mục tiêu, các tiêu chí tương ứng; phân tích tiêu chí; định lượng và phân tích tiêu chí cho đơn vị đánh giá và kết hợp các phán đoán (Malczewski, Jone, 2004) Cho đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu ứng dụng GIS và MCA trong đánh giá thích nghi đất đai Có nhiều phương pháp MCA được sử dụng, nhưng trong đó phương pháp kết hợp trọng số bằng quá trình phân tích thứ bậc (Analytic Hierachy Process-AHP) thường được sử dụng nhất bởi vì tính dễ hiểu và đơn giản của chúng Bên cạnh đó, phương pháp AHP với ưu điểm là chia nhỏ vấn đề thành cấu trúc thứ bậc, cho phép có sự tham gia của chuyên gia và các bên liên quan trong đánh giá nên cũng thường được sử dụng
Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài: “Ứng dụng GIS và
MCA để lựa chọn vị trí bãi tập kết rác thải trên địa bàn Quận 2, TP Hồ Chí Minh” là thực sự cần thiết
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Xác định được các vị trí thích hợp để tập kết rác thải trên địa bàn Quận 2,
Tp Hồ Chí Minh
2.2 Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý của đánh giá đất đai
- Xác định đặc điểm đất đai và yêu cầu của bãi tập kết rác thải
- Xây dựng mô hình và ứng dụng mô hình lựa chọn vị trí tập kết rác thải
sử dụng GIS và MCA trên địa bàn
- So sánh kết quả lựa chọn với thực tế trên địa bàn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Điều kiện, đặc điểm đất đai Quận 2, Tp Hồ Chí Minh
- Yêu cầu của bãi tập kết rác thải
- Vị trí thích hợp để làm bãi tập kết rác thải trên địa bàn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn Quận 2,
Tp Hồ Chí Minh
- Phạm vi thời gian: số liệu thu thập và phân tích từ năm 2015 đến năm
2017 Nguồn dữ liệu bản đồ hiện trạng sử dụng đất sử dụng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2015 thuộc phần mềm micro station sau đó tiến hành chỉnh lý bản
đồ theo hiện trạng sử dụng đất năm 2016
Trang 5- Phạm vi nội dung: nghiên cứu lựa chọn vị trí thích hợp của bãi tập kết rác thải sinh hoạt trên địa bàn Quận 2
4 Phương pháp nghiên cứu
- Điều tra, thu thập thông tin số liệu về tình hình sử dụng đất
Đây là phương pháp được dùng để thu thập các tài liệu, liệt kê các số liệu, bản đồ, thông tin về toàn bộ các nội dung của dự án làm cơ sở để điều tra, thu thập bổ sung dữ liệu, đối soát số liệu đã có về: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường, biến đổi khí hậu, hiện trạng sử dụng đất, kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Thu hồi chuyển mục đích sử dụng đất, giao đất cho thuê đất, bồi thường, giải tỏa, tái định cư,… theo phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của thành phố
- Điều tra thực địa các loại hình sử dụng đất
Điều tra các hộ gia đình sống gần nơi tập kết rác (cũ và dự kiến), phỏng vấn các chủ hộ bằng bảng câu hỏi có sẵn để thu thập có chọn lọc các thông tin kinh tế, xã hội, môi trường đối từng khu vực nghiên cứu
- Thu thập và các xử lý dữ liệu cũng như tài liệu hiện có
Bao gồm dữ liệu không gian (các loại bản đồ) và dữ liệu mô tả tính chất
về thổ nhưỡng, thành phần cơ giới, độ dày tầng đất, khả năng tưới, độ dốc, loại hình sử dụng đất…
- Phương pháp kế thừa tổng hợp
Kế thừa và tổng hợp các lý thuyết đánh giá đất đai của FAO (1976, 1993b, 2007), lý thuyết GIS, lý thuyết MCA, các tài liệu hướng dẫn của phần mềm ALES, làm cơ sở xây dựng mô hình tích hợp GIS và ALES trong đánh giá thích nghi đất đai tự nhiên, GIS và MCA trong đánh giá thích nghi đất đai bền vững
- Phương pháp phân tích đa tiêu chí MCA
Phương pháp phân tích đa tiêu chí (MCA), đôi khi gọi là đánh giá đa tiêu chí (MCE) cung cấp cho người ra quyết định các mức độ quan trọng khác nhau của các tiêu chí Trong đó hầu hết sử dụng phương pháp phân tích thứ bậc (AHP/Saaty, 1980) trong môi trường ra quyết định riêng rẽ (AHP – IDM) để xác định trọng số các tiêu chí, do vậy kết quả còn mang tính chủ quan của người đánh giá Để khắc phục hạn chế của phương pháp này và tranh thủ được tri thức của nhiều chuyên gia trong từng lĩnh vực, nhiều nghiên cứu đã ứng dụng phương pháp phân tích thứ bậc trong môi trường ra quyết định nhóm (AHP - GDM) trong xác định trọng số các yếu tố (J Lu et al., 2007) đất đai để đánh giá thích nghi đất đai phục vụ cho quản lý sử dụng bền vững (Lê Cảnh Định, 2011)
- Phương pháp chuyên gia
Tiến hành tham khảo ý kiến của những người có kinh nghiệm, am hiểu về tình hình thực tế của quận 2, nhất là lĩnh vực đất đai và môi trường để có cơ sở cho việc lựa chọn vị trí sử dụng đất có tính khả thi
Trang 6- Phương pháp sử dụng công cụ GIS
Hệ thống thông tin địa lý là hệ thống thông tin mà nó sử dụng dữ liệu đầu vào, các thao tác phân tích, cơ sở dữ liệu đầu vào liên quan về mặt địa lý không gian, nhằm trợ giúp việc thu nhận, lưu trữ, quản lý, xử lý, phân tích và hiển thị…các thông tin không gian từ thế giới thực để giải quyết vấn đề tổng hợp thông tin cho các mục đích của con người đặt ra (Nguyễn Kim Lợi và ctv, 2009)
5 Ý nghĩa của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Góp phần hoàn thiện phương pháp đánh giá đất đa tiêu chí nhằm mục tiêu sử dụng đất bền vững trong bối cảnh hiện nay
- Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch, quản lý cơ sở hạ tầng của địa phương
6 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 60 trang, ngoài phần mở đầu, kết luận nội dung chính gồm
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tính pháp lý của đánh giá đất đai trong việc
sử dụng phần mềm GIS và phương pháp phân tích đa tiêu chí MCA
Chương 2: Thực trạng sử dụng đất cho mục đích làm bãi tập kết rác thải trên địa bàn quận 2
Chương 3: Ứng dụng GIS và MCA để lựa chọn vị trí bãi tập kết rác thải trên địa bàn quận 2
Trang 7Đánh giá thích nghi đất đai hay còn gọi là đánh giá đất đai (Land
evaluation) có thể được định nghĩa: “Quá trình dự đoán tiềm năng đất đai khi
sử dụng cho các mục đích cụ thể” hay là dự đoán tác động của mỗi đơn vị đất
đai đối với mỗi loại hình sử dụng đất
Quá trình đánh giá có liên quan tới 3 lĩnh vực chính: Tài nguyên đất đai (Land resources), sử dụng đất (Land use) và kinh tế, xã hội (Socio - economic)
- Đất đai: Bao gồm tài nguyên đất (soil), nước, khí hậu và các điều kiện khác có liên quan đến sử dụng đất
- Sử dụng đất: Những thông tin về đặc điểm sinh thái và yêu cầu kỹ thuật của loại hình sử dụng đất
- Kinh tế - xã hội: Bao gồm những đặc điểm khái quát về kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến quá trình sử dụng đất (giá trị sản xuất, thu nhập, đầu tư, tập quán canh tác,…)
Có 2 loại thích nghi trong hệ thống đánh giá đất đai của FAO: thích nghi
tự nhiên và thích nghi kinh tế
- Đánh giá thích nghi tự nhiên:
Chỉ ra mức độ thích hợp của loại hình sử dụng đất đối với điều kiện tự nhiên không tính đến các điều kiện kinh tế Nếu không thích nghi về mặt tự nhiên thì không một phân tích kinh tế nào có thể biện chứng để đề xuất tiếp tục
sử dụng
- Đánh giá thích nghi kinh tế:
Các quyết định sử dụng đất đai thường cân nhắc về mặt kinh tế, dùng để
so sánh các loại hình sử dụng đất có cùng mức độ thích hợp hoặc hiệu quả của hai loại hình sử dụng đất Tính thích hợp về mặt kinh tế có thể đánh giá bởi các yếu tố: Tổng giá trị sản xuất; lãi thuần, B/C, chi phí, …
Sản phẩm của quá trình đánh giá đất đai là bản đồ thích nghi đất đai và bản đồ đề xuất sử dụng đất Những tài liệu này giúp cho nhà quy hoạch quản lý đất đai ra quyết định một cách hiệu quả và hợp lý
Trang 8* Các phương pháp đánh giá đất đai và kết quả đánh giá đất đai
+ Trên thế giới
Trên thế giới Hệ thống thông tin địa lý đã bắt đầu xuất hiện vào cuối năm
1960, đến nay đã phát triển với khả năng thu nhận, lưu trữ, truy cập, xử lí, phân tích và cung cấp thông tin cần thiết để hỗ trợ ra quyết định trong nhiều lĩnh vực khác nhau đặc biệt trong lĩnh vực đánh giá đất đai phục vụ cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp Ứng dụng GIS trong đánh giá đất đai được tiến hành từ nhiều năm trước đây trên thế giới nhất là các nước phát triển như Mỹ, Canada, các tổ chức FAO, WWF…Các phương pháp đánh giá thích nghi đã dần phát triển thành lĩnh vực nghiên cứu nhằm kết hợp các kiến thức về tài nguyên sử dụng đất
Ba phương pháp đánh giá thích nghi thường được sử dụng
- Đánh giá đất theo định tính chủ yếu dựa vào mô tả và xét đoán
- Đánh giá đất theo định lượng dựa vào kết quả tính toán thống kê
- Đánh giá đất theo định lượng dựa trên mô hình, mô phỏng định hướng Một số khuynh hướng, trường phái đánh giá thích nghi đất đai trên thế giới (Vũ Năng Dũng và ctv, 2008, Phân hạng đánh giá đất đai)
Ở Liên Xô cũ có 2 hướng đánh giá thích nghi, đánh giá chung và đánh giá riêng cho các loại cây trồng Cả 2 hướng đánh giá này đều sử dụng chung đơn vị đánh giá là 15 các loại đất ( đất trồng cây lâu năm, đất trồng cỏ,,,), chỉ tiêu đánh giá là năng suất, giá thành sản phẩm, mức hoàn vốn
- Ở các nước Châu Âu phổ biến theo 2 hướng nghiên cứu:
Nghiên cứu các yếu tố tự nhiên xác định tiềm năng đất đai
Nghiên cứu các yếu tố kinh tế xã hội áp dụng phương pháp so sánh bằng tính điểm hoặc phần trăm dể tính toán khu vực thích nghi
Tổ chức nông lương của liên hợp quốc (FAO) cũng tiến hành xây dựng
“Đề cương đánh giá đất đai” (1976), Tài liệu này được nhiều quốc gia lấy làm tiêu chí để áp dụng trong đánh giá đất đai và cũng được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước Từ sau 1983, đề cương này được chỉnh sửa, bổ sung với loạt tài liệu hướng dẫn đánh giá đất đai chi tiết cho các vùng sản xuất khác nhau :
Đánh giá đất cho nông nghiệp nhờ nước mưa (1983)
Đánh giá đất cho vùng đát rừng (1984)
Đánh giá đất đai cho nông nghiệp được tưới (1985)
Đánh giá đất cho đồng cỏ chăn thả (1989)
Đánh giá và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất (1992)
Hướng dẫn đánh giá đất đai phục vụ cho quản lí bền vững (1993)
Trang 9Tại Tanzania, Châu Phi, Boje (1998) đã ứng dụng GIS để đánh giá thích hợp đất đai cho 9 loại cây lương thực cho vùng đất trũng ở phía đông bắc Tanzania tìm ra những vùng đất thích hợp cho trồng cây lương thực và những vùng không thể trồng được do bị ảnh hưởng nặng về khí hậu
Ở Hà Lan, trong dự án đánh giá thích nghi cho cây khoai tây (Van Lanen, 1992) đã ứng dụng GIS cùng với phương pháp đánh giá thích nghi đất đai kết hợp giữa chất lượng và định lượng, kết quả 65% diện tích đất thích hợp cho trồng khoai tây
Ở Anh đã ứng dụng GIS và phương pháp đánh giá đất của FAO để đánh giá đất đai cho khoai tây ở khu vực Stour Catchment – kent (Harian F,Cook et,al, 2000), đã xây dựng bản đồ đơn vị đất đai trên cơ sở lớp thông tin chuyên đề: khí hậu, đất, độ dốc, PH và các thông tin về mùa vụ đối chiếu với yêu cầu sử dụng đất của khoai tây để lập bản đồ thích hợp
Tại Philippines với những nghiên cứu về ứng dụng GIS để đánh giá tiềm năng thích hợp đất đai cũng đã được thực hiện (Godilano, E, C, 1993) nhằm cung cấp thông tin đầy đủ và chính sách cho những nhà quy hoạch, nhà đầu tư… làm nền tảng đúng đắn cho việc đưa ra quyết định hợp lý do vậy đạt được hiệu quả kinh tế xã hội
Hiện nay hầu hết các nước trên thế giới đã ứng dụng GIS trong nghiên cứu đất đai và đã đem lại hiệu quả to lớn, cung cấp thông tin đầy đủ chính xác kịp thời giúp các nhà quản lí ra quyết định hợp lý phục vụ chiến lược phát triển
kinh tế xã hội bền
+ Tại Việt Nam
Việt Nam khái niệm đánh giá đất, phân hạng đất đã có từ rất lâu qua việc phân chia “Tứ hạng điền, lục hạng thổ” Công tác đánh giá được nhiều cơ quan khoa học nghiên cứu và thực hiện Từ những bước sơ khai, ngành khoa học đánh giá đất đai đã dần dần trưởng thành và hoàn thiện cơ sở lý luận cả về khoa học
và thực tiễn
Từ đầu những năm 1970, Bùi Quang Toản cùng nhiều nhà khoa học của Viện Nông Hoá Thổ Nhưỡng (Vũ Cao Thái, Nguyễn Văn Thân, Đinh Văn Tỉnh,,,) đã tiến hành công tác đánh giá phân hạng đất đai ở 23 huyện, 286 hợp tác xã và 9 vùng chuyên canh Phân loại khả năng thích hợp đất đai (Land Suitability Classification) của FAO đã được áp dụng đầu tiên trong nghiên cứu
“Đánh giá và quy hoạch sử dụng đất hoang Việt Nam” (Bùi Quang Toản và nnk, 1985)
Đánh giá phân hạng đất khái quát toàn quốc (Tôn Thất Chiểu và nnk, 1986) được thực hiện ở tỷ lệ 1/500.000 dựa trên Phân loại khả năng đất đai (Land capability classification) của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, chỉ tiêu sử dụng là đặc điểm thổ nhưỡng và địa hình
Trang 10Từ năm 1978, công tác đánh giá đất đai đã được biên chế thành một tổ thuộc Hội đồng Chuyên ngành Công nghệ về đất của Hội đồng Khoa học đất Quốc tế (Trần Công Tấu, Đỗ Ánh, Đỗ Đình Thuận, 1991)
Năm 1993 Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã chỉ đạo thực hiện công tác đánh giá đất đai trên 09 vùng sinh thái của cả nước với bản đồ tỷ lệ 1:250.000 Kết quả bước đầu đã xác định được tiềm năng đất đai của các vùng, khẳng định việc vận dụng nội dung và phương pháp của FAO là phù hợp trong điều kiện hoàn cảnh hiện nay
Một số tỉnh đã có bản đồ đánh giá đất đai theo phương pháp của FAO, tỷ
lệ 1/50.000 và 1/100.000 như: Hà Tây (Phạm Dương Ưng và ctg, 1994), Bình Định (Trần An Phong, Nguyễn Chiến Thắng, 1994); Gia Lai-Kontum (Nguyễn Ngọc Tuyển, 1994); tỉnh Bình Phước (Phạm Quang Khánh và ctg, 1999); Bà Rịa-Vũng Tàu (Phạm Quang Khánh, Phan Xuân Sơn, 2000); Bạc Liêu (Nguyễn Văn Nhân và ctg, 2000); Cà Mau (Phạm Quang Khánh và ctg, 2001)
Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã quy định việc đánh giá đất là bước bắt buộc trong công tác đánh giá đất của Viện, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành tiêu chí ngành 10TCN 343-98 về quy trình đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp Quy trình được xây dựng trên cơ sở nội dung
và phương pháp của FAO theo điều kiện và tiêu chí cụ thể của Việt Nam
Trong chương trình quy hoạch tổng thể Đồng Bằng Sông Cửu Long (Nguyễn Văn Nhân, năm 1996) đã áp dụng phương pháp phân hạng đánh giá đất của FAO nhằm xác định khả năng thích hợp đất đai đối với các loại hình sử dụng đất phổ biến Phương pháp này không những đánh giá toàn diện điều kiện
tự nhiên mà còn xét đất đai ở khía cạnh kinh tế xã hội
Cụ thể tại địa bàn nghiên cứu từng có một số đề tài nghiên cứu đánh giá đất đai như đề tài : “ Điều tra chỉnh lý bản đồ đất, xây dựng bản đồ đánh giá đất
đai 1/50.000, đề xuất định hướng sử dụng tài nguyên đất tỉnh Bình Dương”
1.1.2 Hệ thống thông tin địa lý - GIS
* Khái niệm
Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information Systems-GIS) là hệ thống thông tin mà nó sử dụng dữ liệu đầu vào, các thao tác phân tích, cơ sở dữ liệu đầu vào liên quan về mặt địa lý không gian, nhằm trợ giúp việc thu nhận, lưu trữ, quản lý, xử lý, phân tích và hiển thị…các thông tin không gian từ thế giới thực để giải quyết vấn đề tổng hợp thông tin cho các mục đích của con người đặt ra (Nguyễn Kim Lợi và ctv, 2009)
* Các thành phần của GIS
GIS có 5 thành phần: Con người, dữ liệu phần cứng, phần mềm, chính sách và quản lý
Trang 11+ Con người (chuyên viên)
Là thành phần quan trọng nhất Công nghệ GIS sẽ bị hạn chế nếu không
có con người tham gia quản lý hệ thống và phát triển những ứng dụng GIS trong thực tế Người sử dụng GIS có thể là những chuyên gia kỹ thuật, người thiết kế
và duy trì hệ thống, hoặc những người dùng GIS để giải quyết các vấn đề trong công việc
+ Dữ liệu
GIS phải bao gồm một cơ sở dữ liệu chứa các thông tin không gian và các thông tin thuộc tính lưu trữ dưới dạng bảng được liên kết chặt chẽ với nhau và được tổ chức theo một chuyên ngành nhất định Thời gian được mô tả như một kiểu thuộc tính quan hệ đặc biệt được biễu diễn thông qua thông tin không gian và/ hoặc thuộc tính Trong GIS có khả năng phối hợp nhiều nguồn dữ liệu khác nhau và có khả năng phối hợp với nhiều cấu trúc khác nhau
dữ liệu (DBMS); Công cụ hỗ trợ hỏi đáp, phân tích và hiển thị địa lý; Giao diện
đồ họa người – máy (GUI) để truy cập các công cụ dễ dàng
+ Chính sách và quản lý
Đây là hợp phần rất quan trọng để đảm bảo khả năng hoạt động của hệ thống, là yếu tố quyết định sự thành công của việc phát triển công nghệ GIS Hệ thống GIS cần được điều hành bởi bộ phận quản lý, bộ phận này được bổ nhiệm
để tổ chức hoạt động hệ thống GIS một cách có hiệu quả để phục vụ người sử dụng thông tin
* Vai trò của GIS
Kỹ thuật GIS là một công nghệ ứng dụng các tiến bộ của khoa học máy tính, (computer based technology) do đó việc sử dụng GIS trong các mục tiêu nghiên cứu so với các phương tiện cổ điển có thể mang lại những hiệu quả cao do:
- Là cách tiết kiệm chi phí và thời gian nhất trong việc lưu trữ số liệu
- Có thể thu thập số liệu với số lượng lớn
- Số liệu lưu trữ có thể được cập nhật hoá một cách dễ dàng
- Chất lượng số liệu được quản lý, xử lý và hiệu chỉnh tốt
Trang 12- Dễ dàng truy cập, phân tích số liệu từ nhiều nguổn và nhiều loại khác nhau
- Tổng hợp một lần được nhiều loại số liệu khác nhau để phân tích và tạo
ra nhanh chóng một lớp số liệu tổng hợp mới
GIS làm thay đổi đáng kể tốc độ mà thông tin địa lý được sản xuất, cập nhật và phân phối GIS cũng làm thay đổi phương pháp phân tích dữ liệu địa lý, GIS có một số điểm thuận lợi chính khi được so sánh với cách quản lý bản đồ giấy là:
- Dễ dàng cập nhật thông tin không gian
- Tổng hợp hiệu quả nhiều tập hợp dữ liệu thành một cơ sở dữ liệu kết hợp
- Chúng có thể cho ra những kết quả dưới những dạng khác nhau như các bản đổ, biểu bản, và các biểu đổ thống kê,
- Dữ liệu không gian địa lý được duy trì tốt hơn trong một định dạng tiêu chí
- Việc xem lại và cập nhật dễ dàng hơn
- Tìm kiếp, phân tích và miêu tả thuận lợi hơn
- Dữ liệu có thể chia sẻ và trao đổi
- Tiết kiệm thời gian và tiền bạc
- Đưa ra những quyết định tốt và đúng đắn hơn
GIS lưu giữ thông tin về thế giới thực dưới dạng tập hợp các lớp chuyên
đề có thể liên kết với nhau nhờ các đặc điểm địa lý Điều này đơn giản nhưng vô cùng quan trọng và là một công cụ đa năng đã được chứng minh là rất có giá trị trong việc giải quyết nhiều vấn đề thực tế, từ thiết lập tuyến đường phân phối của các chuyến xe, đến lập báo cáo chi tiết cho các ứng dụng quy hoạch, hay mô phỏng sự lưu thông khí quyển toàn cầu
Với những tính năng ưu việt, kỹ thuật GIS ngày nay đang được ứng dụng trong nhiều lãnh vực nghiên cứu và quản lý, đặc biệt trong quản lý và quy hoạch
sử dụng-khai thác các nguồn tài nguyên một cách bền vững và hợp lý
* Ứng dụng GIS vào công tác đánh giá đất đai
Trong đánh giá đất đai, nhiều nguồn thông tin có thể được sử dụng, bao gồm ảnh vệ tinh, bản đồ sử dụng đất, thông tin địa giới hành chính, phân bố thực vật và thông tin thống kê kinh tế, xã hội, môi trường Thêm vào đó, bởi vì tính thích nghi của bất kỳ đơn vị đánh giá nào cũng phụ thuộc vào từng loại hình sử dụng đất, nên mục tiêu quá trình đánh giá thích nghi đất đai có thể đạt được thông qua phỏng vấn các bên liên quan và phân tích chính sách Do đó, đánh giá thích nghi đất đai là vấn đề ra quyết định đa tiêu chí, và phương pháp MCA được sử dụng để phân loại và tính trọng số các tiêu chí (Yong Liu et al, 2007) Các bước MCA trong đánh giá đất đai bao gồm xác định mục tiêu, các tiêu chí
Trang 13tương ứng; phân tích tiêu chí; định lượng và phân tích tiêu chí cho đơn vị đánh giá và kết hợp các phán đoán (Malczewski, Jone, 2004)
Cho đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu ứng dụng GIS và MCA trong đánh giá thích nghi đất đai Có nhiều phương pháp MCA được sử dụng, nhưng trong đó phương pháp kết hợp trọng số tuyến tính và chồng lớp luận lý (AND, OR) thường được sử dụng nhất bởi vì tính dễ hiểu và đơn giản của chúng Bên cạnh đó, phương pháp AHP với ưu điểm là chia nhỏ vấn đề thành cấu trúc thứ bậc, cho phép có sự tham gia của chuyên gia và các bên liên quan trong đánh giá nên cũng thường được sử dụng Một số nghiên cứu:
Alejandro Ceballoss – Silva and Jorge Lopez – Blanco (2003) ứng dụng MCA xác định khu vực thích nghi cho sản xuất ngô và khoai tây ở miền trung Mexico Khí hậu, địa hình và đất được chọn để tạo các lớp đa tiêu chí trong GIS Trọng số các tiêu chí được tính toán theo AHP Kết quả đánh giá thích nghi sau
đó được chồng lớp với bản đồ giải đoán từ ảnh Landsat TM để xác định sự khác nhau và giống nhau giữa loại hình sử dụng đất hiện tại và vùng thích nghi với ngô và khoai tây
Henok Mulugeta (2010) đánh giá thích nghi đất đai cho 2 loại cây lúa mì
và ngô dựa trên 5 nhân tố bao gồm độ dốc, độ ẩm đất, kết cấu đất, tầng dày đất, loại đất và loại hình sử dụng đất hiện tại Phương pháp được dùng để tính trọng
số và chuẩn hóa các nhân tố và so sánh cặp của AHP kết hợp trọng số tuyến tính Bản đồ thích nghi trong GIS được phân theo 5 lớp thích nghi của FAO Kết quả của nghiên cứu thể hiện tiềm năng phát triển của cây trồng nông nghiệp tại Legambo Woreda, Ethiopia
Việt Nam, công nghệ GIS mới được biết đến vào đầu thập niên 90 cuối thế kỷ XX (Nguyễn Kim Lợi và ctv, 2009) Từ đó đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, dự án về GIS với nhiều quy mô trong nhiều lĩnh vực khác nhau Riêng trong lĩnh vực đánh giá thích nghi hầu hết các nghiên cứu đều ứng dụng GIS, chủ yếu tập trung nghiên cứu các tiện ích sẵn có của GIS
Phương pháp đánh giá đất đai được sử dụng chủ yếu trong các nghiên cứu vẫn là phương pháp hạn chế lớn nhất của FAO Trong khi đó, việc sử dụng GIS
và MCA trong đánh giá đất đai còn hạn chế ở Việt Nam Một số nghiên cứu điển hình:
Lê Cảnh Định năm 2004 trong đề tài thạc sĩ ngành địa tin học (Geomatics) đã xây dựng “Tích hợp phần mềm ALES và GIS trong đánh giá thích nghi đất đai” Nghiên cứu đã ứng dụng GIS xây dựng bản đồ các yếu tố thích nghi: đất, tầng dày, khả năng tưới, độ dốc, đá lộ đầu và phân vùng thích nghi cho các loại hình sử dụng đất Phương pháp phân tích đa tiêu chí MCA với
kỹ thuật AHP - IDM xác định trọng số các tiêu chí tương ứng với các loại hình
sử dụng đất
Nguyễn Kim Lợi, Lê Tiến Dũng (2009) “Ứng dụng GIS phục vụ quy hoạch sử dụng đất tại huyện Xuân Lộc – Tỉnh Đồng Nai” Nghiên cứu cũng đã ứng dụng GIS xây dựng bản đồ các yếu tố thích nghi: đất, tầng dày, khả năng
Trang 14tưới, độ dốc và phân vùng thích nghi cho các loại hình sử dụng đất, và phương pháp phân tích đa tiêu chí MCA trong kỹ thuật AHP - IDM được sử dụng để tính toán trọng số của các tiêu chí tương ứng với các loại hình sử dụng đất
1.1.3 Phương pháp phân tích đa tiêu chí - MCA
* Lịch sử hình thành
Phương pháp phân tích đa tiêu chí là một kỹ thuật phân tích tổ hợp các tiêu chí khác nhau nhằm đưa ra kết quả cuối cùng Phân tích đa tiêu chí (Multi - Criteria Analysis –MCA) cung cấp cho người ra quyết định các mức độ quan trọng khác nhau của các tiêu chí khác nhau hay là trọng số của các tiêu chí liên quan Để xác định trọng số của các tiêu chí, người ta thường dùng phương pháp tham khảo tri thức chuyên gia, kinh nghiệm của cá nhân Trong đánh giá thích nghi đất đai bền vững, thường sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau để phân tích khả năng thích nghi, kỹ thuật tổ hợp các tiêu chí khác nhau để cho ra kết quả cuối cùng được sử dụng như là công cụ hỗ trợ ra quyết định Trong vấn đề ra quyết định đa tiêu chí, bước đầu tiên quan trọng nhất là xác định tập hợp các phương
án cần để đánh giá Tiếp theo, lượng hóa các tiêu chí, xác định tầm quan trọng tương đối của những phương án tương ứng với mỗi tiêu chí
Một cách tiếp cận để xác định tầm quan trọng tương đối của các phương
án dựa vào sự so sánh cặp được đề xuất bởi Saaty (1977, 1980, 1994) là phương pháp phân tích thứ bậc riêng rẽ (AHP - IDM) trong ra quyết định đa tiêu chí, kết quả thường mang tính chủ quan, để khắc phục được điều ấy, nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích thứ bậc trong ra quyết định nhóm (AHP – GDM) để xác định trọng số các tiêu chí Những năm đầu thập niên 1970, Thomas L.Saaty phát triển phương pháp ra quyết định như là quy trình phân tích thứ bậc (Analytic Hierarchy Process – AHP) nhằm xử lý các vấn đề ra quyết định đa tiêu chí phức tạp
- Cho phép tập hợp các kiến thức chuyên gia về vấn đề của họ, kết hợp các dữ liệu chủ quan và khách quan trong một khuôn khổ thứ bậc logic
- Cung cấp cho người ra quyết định một cách tiếp cận trực giác theo phán đoán thông thường để đánh giá sự quan trọng của mỗi thành phần thông qua quá trình so sánh cặp
- AHP kết hợp cả hai mặt tư duy của con người: Cả về định tính và định lượng Định tính qua sự sắp xếp thứ bậc và định lượng qua sự mô tả các đánh giá và sự ưa thích qua các con số có thể dùng để mô tả nhận định của con người
cả vấn đề vô hình lẫn vật lý hữu hình, nó có thể mô tả cảm giác, trực giác đánh giá của con người Ngày nay AHP được sử dụng khá phổ biến trong các lĩnh vực quản lý tài nguyên đất đai, thương mại…
* Vai trò của phân tích đa tiêu chí (MCA)
Đánh giá đất đai cung cấp những thông tin quan trọng làm cơ sở để ra quyết định trong quản lý sử dụng đất, đặc biệt là trong quy hoạch nông nghiệp
và phát triển nông thôn FAO (1976) đã đưa ra phương pháp đánh giá đất đai tự
Trang 15nhiên có xem xét thêm về yếu tố kinh tế; FAO (1993b) đã đưa ra khung đánh giá đất đai cho quản lý sử dụng đất bền vững (FESLM), trong đó đánh giá đồng thời các lĩnh vực tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường; FAO (2007) đã nhấn mạnh phương pháp đánh giá đất đai bền vững trong lĩnh vực quản lý tài nguyên đất đai, có nghĩa là đánh giá đất đai là phải đánh giá đất đai bền vững Do vậy, đánh giá đất đai là bài toán phân tích đánh giá đa tiêu chí (MCA: Multi-Criteria Analysis) MCA cung cấp cho người ra quyết định các mức độ quan trọng khác nhau của các tiêu chí, trong đó hầu hết sử dụng phương pháp phân tích thứ bậc (AHP/Saaty, 1980) trong môi trường ra quyết định riêng rẽ (AHP-IDM) để xác
định trọng số các tiêu chí (Lu et al.,2007), do vậy kết quả đánh giá còn mang
tính chủ quan của người đánh giá Để khắc phục hạn chế này và tranh thủ tri thức của nhiều chuyên gia trong từng lĩnh vực, cần thiết phải nghiên cứu ứng dụng phương pháp phân tích thứ bậc trong môi trường ra quyết định nhóm (AHP- GDM) để xác định trọng số các yếu tố đất đai trong ESLM (Lê Cảnh Định, 2011) Bên cạnh đó, công nghệ GIS có khả năng phân tích không gian,
xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai Vì vậy nghiên cứu “Tích hợp GIS và phân tích
đa tiêu chí (MCA) trong đánh giá thích nghi đất đai” phục vụ cho quản lý, sử
dụng đất bền vững là yêu cầu cần thiết và cấp bách
Phương pháp phân tích đa tiêu chí (MCA) với kỹ thuật AHP trong ra quyết định nhóm (AHP-GDM) để xác định trọng số các yếu tố bền vững là giải pháp hợp lý, giảm được tính chủ quan, tranh thủ được tri thức của nhiều chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan đến sử dụng đất bền vững (kinh tế, xã hội, môi trường,…) Mô hình tích hợp GIS và MCA góp phần đặc biệt quan trọng trong giải quyết bài toán quyết định đa tiêu chí không gian như lựa chọn vùng thích nghi cho các loại cây trồng,…Trong đó, GIS đóng vai trò phân tích không gian, MCA với kỹ thuật AHP-GDM xác định trọng số của các tiêu chí, đánh giá mức
độ ưu tiên của các phương án quyết định Mô hình tích hợp được cơ sở tri thức các lĩnh vực, biểu diễn không gian thích nghi các LUT, do vậy hỗ trợ người ra quyết định giải quyết bài toán ra quyết định đa mục tiêu không gian trong bố trí
sử dụng đất một cách trực quan thông qua bản đồ số trong hệ GIS
* Trình tự phương pháp phân tích đa tiêu chí (MCA)
Kỹ thuật phân tích đa tiêu chí (MCA) cung cấp cho các nhà quyết định các mức độ quan trọng khác nhau của các tiêu chí, trong đó hầu hết sử dụng quá trình phân tích thứ bậc (AHP/Saaty, 1980) trong môi trường ra quyết định riêng
rẽ (AHP-IDM) để xác định trọng số các tiêu chí (Lu et al,, 2007), do vậy kết quả đánh giá còn mang tính chủ quan của người đánh giá Để khắc phục hạn chế này và tranh thủ tri thức của nhiều chuyên gia trong từng lĩnh vực, cần thiết phải nghiên cứu ứng dụng AHP trong môi trường ra quyết định nhóm (AHP-GDM)
để xác định trọng số các yếu tố (Lu et al,, 2007) Gồm 4 bước chính:
Bước 1: Thiết lập thứ bậc: Xác định các phương án có thể có và xác định các tiêu chí quan trọng trong việc quyết định Cốt lõi của quá trình phân tích thứ bậc là việc so sánh từng cặp Có 9 mức so sánh, điểm so sánh có giá trị từ 1/9 –
9
Trang 16Bảng 1.1 Bảng độ ưu tiên chuẩn
Ưu tiên bằng nhau cho đến vừa phải (Equally to moderately
preferred)
2
Ưu tiên vừa phải cho đến hơi ưu tiên (Moderately to strongly
preferred)
4
Hơi ưu tiên cho đến rất ưu tiên (Strongly to very strongly
preferred)
6
Rất ưu tiên cho đến vô cùng ưu tiên (Very strongly to extremely
chuyên gia k; tiêu chí j so với tiêu chí i: ajik = 1/aijk thuộc khoảng [1/9,1] giao [1,9]
aijk >0, ajik = 1/aijk , aii = 1, Tính tỷ số nhất quán (CR) của từng ma trận so sánh, những ma trận so sánh của chuyên gia có tỷ số nhất quán (CR) ≤ 10% thì đưa vào tính toán ma trận so sánh tổng hợp của nhóm Tổng hợp các ma trận so sánh cặp của các chuyên gia thỏa điều kiện trên, theo công thức (K,Goepel, 2010):
Ý kiến chuyên gia
Trang 17Bước 3: Tính trọng số: trên cơ sở ma trận so sánh tổng hợp [Aij], tính trọng số [w] của các yếu tố theo phương pháp vector riêng (eigen vector), hoặc phương pháp chuẩn hóa ma trận
Bước 4: Tính tỷ số nhất quán (CR):
Ta có [P1] x [Wk] = λmax (λmax: giá trị riêng của ma trận so sánh [P1]
+ Tính vector nhất quán (Consistemcy vector): [C] =
] [ ] [ ] 1 [
Wk Wk x P
+ Tính λmax = (c1 + c2 + …+ cn) / n; với vector [C]=[c1c2 … cn]T
so sánh hàng loạt các yếu tố mà chúng khó định lượng
Hệ hỗ trợ đa tiêu chí liên quan đến việc lựa chọn một trong số các phương
án tốt hơn dựa vào cấu trúc và tỷ trọng của các yếu tố trong hệ hỗ trợ quyết định Bản thân mỗi yếu tố đều có một tầm quan trọng nhất định trong việc ra quyết định AHP là quá trình thể hiện được cả mục tiêu và các yếu tố phụ tác động để lựa chọn một phương án tốt nhất Kể từ khi nó được giới thiệu vào giữa thập niên 70 của thế kỷ 20 bởi Thomas, L, Saaty, AHP được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là kết hợp với GIS
AHP có thể giúp xác định và đánh giá lượng hóa các tiêu chí, phân tích các dữ liệu thu thập được theo các tiêu chí đó và thúc đẩy việc ra quyết định nhanh hơn, chính xác hơn Nó giúp cân nhắc và đo lường các yếu tố cả về chủ quan và khách quan, tạo nên một cơ chế hữu dụng để đảm bảo tính nhất quán trong việc đánh giá, đo lường các giải pháp và các đề xuất được đưa ra trong nhóm làm việc AHP dựa trên 3 nguyên lý (Mollaghasemi, M, & Pet-Edwards, 1997; Malczewski, 1999 và Forman & Selly, 2001): sự phân tích, so sánh đánh giá và tổng hợp quyền ưu tiên Tóm lại:
Trang 18+ AHP là một quá trình định lượng, dùng để sắp xếp các phương án quyết định và chọn một phương án thỏa mãn các tiêu chí cho trước
+ AHP là một quá trình phát triển tỷ số sắp hạng cho mỗi phương án quyết định dựa theo các tiêu chí của nhà ra quyết định
+ AHP trả lời các câu hỏi như “Chúng ta nên chọn phương án nào?” hay
“Phương án nào tốt nhất?” bằng cách chọn một phương án tốt nhất thỏa mãn các tiêu chí của nhà ra quyết định
+ Ứng dụng AHP trong lựa chọn nhà cung ứng
AHP được ứng dụng rộng rãi trong quyết định lựa chọn nhà cung ứng 24 bài báo liên quan đến lĩnh vực này chia làm 4 nhóm được liệt kê trong bảng 2 Nhóm xác định tiêu chí lựa chọn nhà cung ứng tập trung vào phân tích các tiêu chí để chọn ra nhà cung ứng tốt nhất Ngoài các chỉ tiêu thông dụng như giá, chất lượng, thời gian giao hàng, độ linh hoạt, các bài báo còn phân tích các yếu
tố để chọn nhà cung ứng xem xét các yếu tố môi trường, rủi ro khi chọn nhà cung ứng quốc tế hay các yếu tố cần xem xét khi lựa chọn người cung cấp dịch
vụ logistics Nhóm phát triển mô hình đánh giá nhà cung ứng nghiên cứu việc kết hợp AHP với các phương pháp khác như thống kê, DEA, phân tích chi phí (TCO) Nhóm phân bổ đơn đặt hàng kết hợp AHP với các mô hình tuyến tính như quy hoạch mục tiêu (GP), quy hoạch tuyến tính nguyên (IP), quy hoạch tuyến tính đa mục tiêu (MOIP, MOLP) để giải quyết hai vấn đề chính là xác định nhà cung ứng và tối ưu hóa việc phân bổ đơn đặt hàng Bên cạnh đó, việc quản lý nhà cung ứng cũng được quan tâm
+ Ứng dụng AHP trong sản xuất
Trong chuỗi cung ứng, các áp dụng AHP cho nhà sản xuất được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất chiếm 53% tổng số bài báo tìm thấy được phân bố qua hầu hết các lĩnh vực quan trọng liên quan đến tất cả các cấp quản lý
+ Ứng dụng AHP trong phân phối
Ứng dụng AHP trong phân phối được phân thành 2 nhóm chính: xác định
vị trí một kho hàng và nhiều kho hàng Xác định vị trí một kho hàng liên quan đến việc tối thiểu các khoản chi phí bao gồm chi phí đầu tư ban đầu, nguyên vật liệu, lao động, tồn trữ trong khi tối đa hóa các lợi ích do vị trí mang lại Xác định
vị trí nhiều kho hàng quan tâm đến mạng lưới sản xuất – phân phối sao cho chi phí vận chuyển thấp nhất đồng thời đáp ứng được các yêu cầu đặc biệt của khách hàng
Trang 19Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn
Thông tư số: 36/2015/TT-BTNMT, ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại
Thông tư số 01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXD của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường : Hướng dẫn các quy định về bảo vệ môi trường đối với việc lựa chọn địa điểm, xây dựng và vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn
QCVN 25 :2009/BTNMT Quy chuẩn quốc gia về nước thải bãi chôn lấp chất thải rắn
QCVN 14:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt
Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 07-9:2016/BXD - Công trình quản
lý chất thải rắn và nhà vệ sinh công cộng
Tiểu kết chương 1
Trong đề tài này sử dụng công nghệ GIS cùng với phương pháp phân tích
đa tiêu chí (MCA) với kỹ thuật AHP – GDM để giải quyết bài toán lựa chọn vị trí bãi tập kết rác thải Phương pháp AHP có nhiều ưu điểm so với các phương pháp ra quyết định đa mục tiêu khác Nhiều phương pháp ra quyết định đa tiêu chí gặp trở ngại trong việc xác định mức độ quan trọng của từng tiêu chí trong khi AHP là một phương pháp nổi tiếng trong việc xác định các trọng số này Chính vì vậy, AHP có thể kết hợp với các phương pháp khác dễ dàng để tận dụng được lợi thế của mỗi phương pháp trong giải quyết vấn đề Thêm vào đó, AHP có thể kiểm tra tính nhất quán trong cách đánh giá của người ra quyết định Hơn nữa, quy trình phân tích theo thứ bậc dễ hiểu, xem xét nhiều tiêu chí nhỏ và phân tích cả yếu tố định tính lẫn định lượng
Trang 20CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT CHO MỤC ĐÍCH LÀM BÃI TẬP KẾT
RÁC THẢI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 2 2.1 Điều kiện nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sử dụng đất làm bãi tập kết rác thải
2.1.1 Tình hình tự nhiên
Quận 2 có vị trí nằm ở phía Đông Bắc của thành phố Hồ Chí Minh, quận
có tổng diện tích tự nhiên là 4.979,41ha, liền kề khu vực trung tâm Thành phố (quận 1) hướng qua sông Sài Gòn Ranh giới hành chính của quận được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp quận Thủ Đức;
- Phía Nam giáp quận 7;
- Phía Đông Bắc giáp quận 9, Đông Nam giáp tỉnh Đồng Nai;
- Phía Tây giáp quận 1;
- Phía Tây Nam giáp quận 4, Tây Bắc giáp quận Bình Thạnh
Hình 2.1 Bản đồ quận 2 trong thành phố Hồ Chí Minh
Quận 2 nằm trong vùng có địa hình thấp của thành phố Hồ Chí Minh, mạng lưới kênh rạch đa dạng, độ nghiêng mặt đất thấp dần từ Bắc xuống Nam
Quận 2 nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo (nóng,
Trang 21ẩm, nhiệt độ cao và mưa nhiều), tuy nhiên phần lớn lãnh thổ của quận được bao bọc và chia cắt bởi sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và hệ thống kênh rạch nên khí
hậu tương đối mát mẻ và dễ chịu do có độ ẩm, hơi nước cao
Chế độ thủy triều của các kênh rạch trên địa bàn quận chịu tác động bởihai dòng sông lớn là sông Đồng Nai và sông Sài Gòn với chế độ thủy văn bán nhật triều Ngoài ra, 02 dòng sông chính trên, trên phạm vi lãnh thổ còn có
hệ thống chằng chịt các kênh rạch khác như: rạch Bà Cua, rạch Chiếc…
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo đúng định hướng phát triển dịch
vụ - thương mại và công nghiệp: Tính đến 6 tháng đầu năm 2016:
- Doanh thu ngành dịch vụ - thương mại tăng đều bình quân hàng năm,
đạt 45,97% kế hoạch, tăng 36,08% so cùng kỳ (cùng kỳ 2015 tăng 29,40%, đạt 42,37% kế hoạch) Hoạt động dịch vụ ngày càng phát triển đa dạng và mở rộng
đúng định hướng, hình thành phát triển theo các trục đường chính, các cụm dân
cư, khu công nghiệp với nhiều ngành nghề kinh doanh
- Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vẫn duy trì gia tăng
đạt 52,62% kế hoạch, tăng 20,53% so với cùng kỳ (cùng kỳ 2015 tăng 4,80% và đạt 35,49% kế hoạch)
Theo Niên giám thống kê quận 2 năm 2015, dân số của quận 2 là 147.168
người (trong đó: 71.033 nam và 76.135 nữ) Mật độ dân số bình quân 2.596
chính phường; tập trung cao nhất ở phường An Phú với 27.843 người (chiếm 18,92% dân số toàn quận), thấp nhất là phường An Lợi Đông với 236 người
Số người trong độ tuổi lao động trong các năm gần đây tiếp tục tăng, từ 82.381 người năm 2011 lên 93.852 người năm 2015, chiếm 63,77% dân số toàn quận Đây là nguồn nhân lực lớn cho phát triển kinh tế, xã hội của quận
Định hướng phát triển khu đô thị mới Thủ Thiêm và khu Liên hợp thể dục thể thao Rạch Chiếc vẫn duy trì, cùng với dự kiến là trung tâm hành chính phía Đông của Thành phố theo đồ án Chính quyền Đô thị trong tương lai, cảnh quan sông nước tự nhiên, xu hướng giảm quy mô công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chuyển sang thương mại dịch vụ
Mô hình phát triển đô thị hiện đại trên thế giới đã cho thấy tính linh động
và tích hợp đa dạng chức năng sử dụng đất (hỗn hợp), nhờ sự phát triển của phương tiện giao thông công cộng khối lượng lớn (metro) đã kéo giãn người dân nội thành ra sinh sống khu vực quận ven, thiết kế công trình với nhiều tiện nghi gắn liền với không gian mở và giao tiếp cộng đồng.v.v sẽ được vận dụng vào việc phát triển đô thị quận 2 kết nối với các quận, huyện trong tương lai ngày càng tốt hơn
Hiện nay trên địa bàn đã xuất hiện nhiều dạng nhà ở biệt thự liền kề từ tầng thấp đến trung bình và tập trung chủ yếu ở các phường Thảo Điền, Bình
An, ngoài ra còn có dạng nhà vườn tập trung ở phường Bình Trưng Đông, Bình
Trang 22Trưng Tây, Cát Lái và Thạnh Mỹ Lợi Hiện tại có nhiều dự án khu dân cư đã và đang triển khai trên địa bàn, đây là cơ hội tốt nhất để chỉnh trang lại mặt bằng đô thị khang trang, hoàn chỉnh và hiện đại hơn
2.1.3 Đánh giá chung
* Thuận lợi
Vị trí địa lý nằm liền kề với quận 1, có hạ tầng trọng yếu kết nối với quận
1, quận Bình Thạnh, quận 4, quận 9 và quận Thủ Đức tạo ra mối giao lưu kinh
tế, văn hóa giữa quận với các địa bàn lân cận
Địa thế ven sông, cảnh quan thoáng mát thuận lợi phát triển các công trình văn hóa phức hợp thương mại, dịch vụ mua sắm, công viên, hồ nước cảnh quan
và phát triển các loại hình dịch vụ nghỉ ngơi, vui chơi cuối tuần
* Khó khăn
Địa hình thấp, trũng, tài nguyên đất đai chủ yếu là đất phèn và đất phù sa
có hữu cơ cao, dãn nở khi ngập nước và co ngót khi khô hạn, địa chất công trình
có khả năng chịu tải thấp dẫn đến tốn kém chi phí trong xây dựng
Thách thức giữa đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, phát triển bền vững Nhu cầu về vốn đầu tư cho phát triển (nhất là hạ tầng cơ sở) cần nhiều song khả năng thực tế còn hạn chế, đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ để thu hút nhiều đầu tư từ các nguồn vốn khác nhau
2.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất làm bãi tập kết rác thải
2.2.1 Tình hình quản lý
Ngày 6 tháng 1 năm 1997, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 03-CP về việc thành lập các quận, phường mới thuộc thành phố Hồ Chí Minh Quận 2 được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của các xã
An Phú, An Khánh, Thủ Thiêm, Bình Trưng, Thạnh Mỹ Lợi thuộc huyện Thủ Đức.Theo kết quả tổng kiểm kê năm 2014, Quận 2 có tổng diện tích tự nhiên là 5.020,13 ha, cụ thể diện tích của từng phường như sau:
Bảng 2.1 Các đơn vị hành chính quận 2 STT Đơn vị hành chính Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Trang 235 Phường Bình An 169,35 3,37
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường Quận 2)
Đến nay, công tác điều tra, khảo sát đo đạc, lập bản đồ và hồ sơ địa chính trên địa bàn quận đã được triển khai khá tốt, hoàn thành đo vẽ bản đồ địa chính của 11/11 phường trên địa bàn quận, thể hiện đầy đủ về hình dạng, diện tích, mục đích sử dụng đất, là công cụ để phục vụ cho công tác lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Quận 2 đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch
sử dụng đất 5 năm (2006-2010) và được Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt theo Quyết định số 732/QĐ-UBND ngày 12 tháng 05 năm 2006 Năm 2008, quận đã thực hiện điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và được Ủy ban nhân dân thành phố xét duyệt tại Quyết định số 3241/QĐ-UBND ngày 22 tháng 04 năm 2009
Quận đã tiếp nhận và tham mưu giải quyết các hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận: các trường hợp có đầy đủ giấy tờ theo quy định của pháp luật, đủ điều kiện sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các trường hợp thiếu giấy
tờ sẽ được hoãn cho đến khi bổ sung đầy đủ Việc cấp giấy chứng nhận được thực hiện trên toàn bộ địa bàn quận nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý đất đai của nhà nước cũng như đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người
- Công tác thống kê đất đai hàng năm được thực hiện, nhưng do công tác theo dõi biến động còn chưa được chặt chẽ nên số liệu còn nhiều hạn chế, chưa cập nhật đầy đủ
Triển khai công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về Phòng, chống tham
Trang 24nhũng theo kế hoạch năm Thực hiện tiếp công dân xử lý kịp thời, nhanh chóng các nội dung có liên quan đến lĩnh vực tài nguyên và môi trường; tham mưu UBND quận giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường
Trang 25STT Loại đất Mã Diện tích
(ha)
Tỷ lệ
(%)
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường Quận 2)
Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2016, tổng diện tích tự nhiên của huyện là 4.979,41ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 15,23% tổng diện tích tự nhiên, với 758,37 ha, còn lại là đất phi nông nghiệp với 4.213,04 ha chiếm 84,6% và nhóm đất bằng chưa sử dụng là 8 ha chiếm 0,17%
Trang 26Bảng 2.3 Diện tích hiện trạng các loại đất phi nông nghiệp
nghiệp
Trang 27(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường Quận 2)
Trong cơ cấu đất phi nông nghiệp của Quận 2 năm 2016, đất ở đô thị chiếm tỉ lệ lớn nhất, khoảng 32,5% với diện tích 1.370,34ha, đất phát triển hạ tầng chiếm 25,48% với diện tích 1.073,82 ha, đất sông, ngòi, kênh, rạch chiếm 21,76% với diện tích 916,74 ha, các loại đất còn lại chiếm tỷ lệ nhỏ khoảng 20,26% trong nhóm đất phi nông nghiệp
Bảng 2.4 Diện tích hiện trạng các loại đất nông nghiệp
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường Quận 2)
Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2016, tổng diện tích đất nông nghiệp của Quận 2 là 758,37 ha, trong đó:
Trang 28- Đất trồng lúa chiếm tỉ lệ lớn nhất 60,55% tổng diện tích đất nông nghiệp với diện tích 459,20 ha
- Đất trồng cây hằng năm khác có diện tích 80,91 ha, chiếm 10,67% diện tích đất nông nghiệp
- Đất trồng cây lâu năm có diện tích 75,52 ha chiếm 9,96 % diện tích đất nông nghiệp
- Đất nuôi trồng thủy sản có diện tích 142,26 ha chiếm 18,76% diện tích đấy nông nghiệp
- Đất nông nghiệp khác có diện tích 0,48 ha chiếm 0,06% diện tích đất nông nghiệp
Bảng 2.5 Diện tích hiện trạng các loại đất phát triển hạ tầng
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường Quận 2)
Trang 29Trong nhóm các loại đất phát triển hạ tầng, đất giao thông với diện tích 772,33 ha, chiếm gần 71,91% diện tích đất phát triển hạ tầng
- Diện tích đất thể dục – thể thao của Quận 2 với diện tích 100,02 ha, chiếm gần 9,31% tổng diện tích đất phát triển hạ tầng
- Đất cơ sở văn hóa có diện tích 92,71 ha chiếm 8,63% tổng diện tích đất phát triển hạ tầng
- Đất cơ sở giáo dục và đào tạo có diện tích 85,99 ha chiếm 8.01% diện tích đất phát triển hạ tầng
- Còn lại các loại đất khác chiếm tỉ lệ rất nhỏ, khoảng 2,13% tổng diện tích đất công trình công cộng với khoảng 22,27 ha
Hiện trạng sử dụng đất làm bãi tập kết rác thải
- Đất bãi thải, xử lý chất thải: Hiện trạng năm 2016 là 0,96 ha Theo kế hoạch năm 2017, diện tích đất bãi thải, xử lý chất thải dự kiến sẽ giảm 0,07 ha Kết quả thực hiện diện tích đất bãi thải, xử lý chất thải đã giảm 0,07 ha, đạt 100% so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra
- Trên địa bàn quận 2 có 8 ha diện tích đất bằng chưa sử dụng (BCS) chiếm 0,16 % tổng số diện tích đất trên địa bàn
Thực hiện Công văn số 3778/STNMT-CTR ngày 19/4/2017 của Sở Tài nguyên và Môi trường về xác nhận thống nhất vị trí các trạm trung chuyển chất thải rắn sinh hoạt Qua kiểm tra rà soát, Uỷ ban nhân dân quận 2 báo cáo Sở Tài nguyên và Môi trường về tình hình quản lý các điểm tập kết rác thải theo hiện trạng như sau:
Dựa trên địa hình tự nhiên Quận 2 được chia làm 3 cụm dân cư tương đối gồm:
- Cụm 1: phường Thảo Điền, Bình An, Bình Khánh, An Phú
- Cụm 2: phường Bình Trưng Đông, Bình Trưng Tây, Cát Lái
- Cụm 3: Khu đô thị mới Thủ Thiêm (các phường An Lợi Đông, Thủ Thiêm, An Khánh, một phần phường Bình Khánh)
Việc tập kết thu gom rác từ các cụm dân cư về lâu dài được bố trí tại 4 vị trí thuộc bản đồ quy hoạch chung xây dưng quận 2 đến năm 2020, tỷ lệ 1/5000 ( Quyết định số 6707/QĐ-UBND) Việc bố trí trạm trung chuyển theo vị trí như trên nhằm đáp ứng nhu cầu thu gom, vận chuyển rác thải trên địa bàn quận và tránh tồn đọng rác trong khu dân cư Ngoài ra, khoảng cách từ các trạm trung chuyển đến các cụm dân cư không quá xa tránh gây ô nhiễm môi trường và quá tải trong việc vận chuyển, tiếp nhận rác cũng như giảm thiểu ùn tắc giao thông trên địa bàn quận
Hiện nay, Uỷ ban nhân dân quận 2 đang triển khai đầu tư xây dựng trạm
ép rác kín tại vị trí nằm trong khu công nghiệm cụm 2 Cát Lái với diện tích 3186,2 m2, quy mô công suất khoảng 120 tấn / ngày (giai đoạn 1 hoàn thành và
Trang 30đưa vào sử dụng năm 2017) và nâng công suất tối đa lên 300 tấn / ngày (giai đoạn 2) khi được Uỷ ban nhân dân Thành phố bố trí vốn đầu tư khoảng 45 tỷ đồng
Hiện nay, lượng rác phát sinh trên địa bàn quận trung bình 150 tấn / ngày Toàn bộ lượng rác trên được thu gom về 2 điểm tiếp nhận rác hiện nay là trạm
ép rác kín phường Bình Trưng Tây và 1 bô rác hở tại phường Bình Khánh (hoạt động như điểm hẹn) Hiện trạng 2 điểm tiếp nhận rác trên đều trong tình trạng quá tải
- Trạm ép rác kín phường Bình Trưng Tây:
Hoạt động vào cuối năm 2004 tại đường số 10 phường Bình Trưng Tây
do Công Ty TNHH MTV Dịch vụ Công ích quận 2 là đơn vị quản lý
+ Công suất thu gom: 50 tấn rác / ngày
+ Số lượng xe ép rác được bố trí hoạt động tại đây là 2 xe ép loại 11 tấn (công suất thu gom của 2 xe là 72 tấn / ngày)
+ Thời gian hoạt động (tiếp nhận): từ 22 giờ 00 phút đến 14 giờ của ngày hôm sau
+ Trạm tiếp nhận rác từ các phường: Bình Trưng Tây, Bình Trưng Đông, Thạnh Mỹ Lợi, Cát Lái và 1 phần của phường An Phú (có 21 đường dây thu gom rác dân lập bỏ rác tại đây)
+ Tại trạm vẫn xảy ra tình trạng quá tải, xe rác tập kết phía trước gây phát sinh mùi hôi, ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến môi trường xung quanh Trạm
có trang bị camera giám sát quá trình hoạt động, niêm yết thời gian tiếp nhận và thời gian kết thúc trong ngày thu gom
+ Vị trí nằm xen cài trong khu dân cư, không đảm bảo vệ sinh môi trường
và sắp tới cũng phải di dời để triển khai xây dựng trường học theo quy hoạch
- Điểm tập kết rác Bình Khánh:
+ Hoạt động từ năm 2014 thay thế bô rác hở phường An Lợi Đông
+ Công suất trung bình khoảng 100 tấn / ngày
+ Tiếp nhận rác từ các phường: Bình An, Bình Khánh, Thảo Điền, An Phú
+ Bô rác hở tại phường Bình Khánh chỉ hoạt động mang tính tạm thời vì
sử dụng tạm khu đất của dự án Khu Đô thị mới Thủ Thiêm
Trang 31Hình 2.2 Điểm tập kết rác Bình Khánh 1
Hình 2.3 Điểm tập kết rác Bình Khánh 2
Hình 2.4 điểm tập kết rác Bình Khánh 3
Trang 322.2.3 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất làm bãi tập kết rác thải
- Tính đến năm 2020 với sự phân bố số lượng dân cư trên địa bàn quận 2 theo như quy hoạch là 700.000 đến 750.000 dân, khi trạm ép rác kín tại phường Thạnh Mỹ Lợi được đầu tư hoàn chỉnh sẽ tiếp nhân, xử lý được 300 tấn rác / ngày, lượng rác còn lại khoảng 500 đến 600 tấn / ngày
tập kết phía trước gây phát sinh mùi hôi, ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến môi trường xung quanh Trạm có trang bị camera giám sát quá trình hoạt động, niêm yết thời gian tiếp nhận và thời gian kết thúc trong ngày thu gom
-Vị trí nằm xen cài trong khu dân cư, không đảm bảo vệ sinh môi trường
và sắp tới cũng phải di dời để triển khai xây dựng trường học theo quy hoạch
- Nhu cầu bố trí trạm trung chuyển cần đầu tư thêm trên địa bàn quận 2 được phân bổ cho 3 vị trí trạm còn lại (mỗi trạm khoảng 200 tấn / ngày) Theo quy hoạch phân khu 1/2000, các vị trí khu đất đều thuộc quy hoạch đất công viên cây xanh
- Các trạm trung chuyển có khoảng cách an toàn về môi trường tuân thủ Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 07-9:2016/BXD-Công trình quản lý chất thải rắn và nhà vệ sinh công cộng
Tiểu kết chương 2
Tóm lại, quận 2 là một quận có tốc độ đô thị hoá nhanh và hứa hẹn sẽ trở thành trung tâm hành chính của thành phố Hồ Chí Minh Chính vì lẽ đó, trong những năm qua số lượng dân nhập cư vào quận 2 cũng như các khu vực phía Đông thành phố ngày một tăng Từ đó, gây khó khăn lớn cho vấn đề môi trường, đặc biệt là rác thải Nhu cầu cấp thiết trên địa bàn quận 2 nói riêng và trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói chung cần bố trí thêm các trạm trung chuyển rác thải nhằm phục vụ tốc độ đô thị hoá và giữ vững ổn định môi trường một cách bền vững
Trang 33CHƯƠNG 3 ỨNG DỤNG GIS VÀ MCA ĐỂ LỰA CHỌN VỊ TRÍ BÃI TẬP KẾT
RÁC THẢI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 2 3.1 Xây dựng mô hình ứng dụng GIS và MCA để lựa chọn vị trí bãi tập kết rác thải
3.1.1 Mô hình lựa chọn vị trí bãi tập kết rác thải bằng GIS và MCA
Việc lựa chọn vị trí bãi tập kết rác thải bằng GIS và MCA được thể hiện ở hình 3.1
Hình 3.1 Mô hình ứng dụng GIS và MCA để lựa chọn vị trí bãi tập kết rác
thải trên địa bàn quận 2
Trang 343.1.2 Các bước thực hiện mô hình
Các bước thực hiện lựa chọn vị trí bãi tập kết chất thải rắn bằng GIS và MCA được thực hiện như sau:
- Lựa chọn các tiêu chí đánh giá
Lựa chọn các tiêu chí để tiến hành xác định vị trí bãi tập kết chất thải rắn trên địa bàn quận 2, thành phố Hồ Chí Minh Trong nghiên cứu này, tôi lựa chọn
3 nhóm tiêu chí cấp 1 bao gồm: kinh tế, xã hội và môi trường Trong đó, nhóm tiêu chí về kinh tế gồm các tiêu chí cấp 2 như: khoảng cách đến đường giao thông, khoảng cách đến các trạm cung cấp điện và hiện trạng sử dụng đất Nhóm tiêu chí về xã hội bao gồm sự chấp thuận của cộng đồng dân cư, khoảng cách đến khu dân cư và sự chấp thuận của chính quyền địa phương Nhóm tiêu chí về môi trường thì chỉ mang tiêu chí cấp 2 là khoảng cách đến nguồn nước mặt Các tiêu chí lựa chọn có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển bền vững của bãi tập kết chất thải rắn Các chỉ tiêu này phục vụ cho việc thu thập các
dữ liệu đầu vào và cần được thu thập, khảo sát ý kiến từ các chuyên gia thuộc các ngành, lĩnh vực có liên quan
- Xây dựng các bản đồ chuyên đề, bản đồ đơn vị đất đai
Dựa vào các dữ liệu thu thập được xây dựng các bản đồ chuyên đề ứng với từng tiêu chí đánh giá
- Trên cơ sở tham khảo ý kiến các chuyên gia, cơ sở lý thuyết đã nghiên cứu, tiến hành tính toán trọng số cho từng yếu tố ảnh hưởng theo phương pháp phân tích thứ bậc 9 cấp độ
Để bắt đầu tính toán chúng ta tiến hành so sánh từng cặp các yếu tố với sự tham gia của các chuyên gia, trên cơ sở đó xây dựng ma trận so sánh tổng hợp các yếu tố: các tiêu chí cấp 1 và tiêu chí cấp 2, nghiên cứu thu thập từ các chuyên gia
Dùng thang phân tích thứ bậc 9 cấp độ theo AHP để tính toán trọng số cho từng yếu tố thích nghi theo phương pháp vector riêng, thu được ma trận trọng số
- Tính chỉ số thích nghi Si
Dựa trên các trọng số tương ứng thu được, tiến hành tính toán chỉ số thích
thải thông qua phương trình tổng cộng điểm số của các chỉ tiêu: hiện trạng sử dụng đất, khoảng cách đến đường giao thông, khoảng cách đến các trạm cung cấp điện, khoảng cách đến nguồn nước mặt, khoảng cách đến khu dân cư, chấp thuận của cộng đồng và chấp thuận của chính quyền địa phương lần lượt ứng với
X1, X2, X3, X4, X5, X6, X7
Trang 35Giá trị chỉ số thích nghi Si được tính theo công thức sau:
- Chồng xếp bản đồ và lựa chọn vị trí thích hợp
3.2 Kết quả ứng dụng GIS và MCA để lựa chọn vị trí bãi tập kết rác thải trên địa bàn quận 2, TP Hồ Chí Minh
3.2.1 Lựa chọn tiêu chí đánh giá
Dựa trên việc tìm hiểu đặc điểm của khu vực quận 2, các chỉ tiêu lựa chọn địa điểm bãi tập kết chất thải rắn được trình bày như trong bảng 3.1
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu lựa chọn địa điểm bãi tập kết chất thải rắn
Nhóm chỉ tiêu Tên chỉ tiêu Giới hạn
nước mặt (sông, hồ, đầm)
Không xây dựng bãi tập kết gần các nguồn nước ven sông, các vùng được bảo vệ, hồ suối, đầm lầy hoặc những nơi có bão lụt thường xuyên, nhưng cũng không nên xa quá để thuận tiện cho việc thoát nước thải
Kinh tế
Khoảng cách đến trạm cung cấp điện
Ưu tiên vị trí gần
Hiện trạng sử dụng đất
Giảm chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng cho việc xây dựng bãi tập kết rác thải Ưu tiên đất chưa sử dụng, đất nông nghiệp hiệu quả kinh tế thấp, các bãi rác đang sử dụng để nâng cấp phục vụ cho bãi tập kết và
xử lí rác trên đia bàn quận 2
Khoảng cách tới đường giao thông chính
Khoảng cách từ bãi đến đường giao thông chính < 100m
Xã hội
Khoảng cách đến khu dân cư
Tăng tối đa khoảng cách đến cụm dân cư
Chấp thuận của cộng đồng
Tăng tối đa sự chấp thuận của cộng đồng dân cư
Chấp thuận của chính quyền địa phương
Tăng tối đa sự chấp thuận của chính quyền địa phương
Trang 363.2.2 Trọng số các tiêu chí
Để có thể đánh giá sự quan trọng của 1 phần tử với 1 phần tử khác, ta cần một mức thang đo để chỉ sự quan trọng hay mức độ vượt trội của 1 phần tử so với 1 phần tử khác qua các tiêu chí hay tính chất
Từ bảng 1.1, ta lần lượt so sánh các cặp tiêu chí với nhau, xem xét mức độ
ưu tiên của mỗi cặp
Trọng số của các nhóm chỉ tiêu:
Theo hướng dẫn đánh giá đất đai cho quản lý bền vững FAO (1993b) Sau khi khảo sát thực tế địa bàn quận 2 và tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong các lĩnh vực: Kinh tế, môi trường, quản lý đô thị,…Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới việc lựa chọn vị trí bãi tập kết rác thải trên địa bàn quận
Tiến hành thiết lập ma trận so sánh tổng hợp các yếu tố (tiêu chí cấp 1): Kinh tế (KT), xã hội (XH), môi trường (MT) thu thập từ các chuyên gia, tính trọng số của các yếu tố đó theo bảng 3.2:
Bảng 3.2 Giá trị so sánh cặp của chuyên gia
So sánh Kết quả đánh giá của chuyên giá thứ Aij
ma trận và tính trọng số các yếu tố theo phương pháp vector riêng, kết quả như bảng 3.3: