1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu các giải pháp tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở quận hà đông

122 174 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo chính sách hiện hành, người bị thu hồi đất nông nghiệp được đền bù thiệt hại và được hỗ trợ đào tạo nghề, tạo việc làm và ổn định cuộc sống để tiếp tục phát triển kinh tế trong điều

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS CHU TIẾN QUANG

Hà Nội, 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi thông tin, số liệu trong luận văn được thu thập công khai, chính xác và có nguồn gốc rõ ràng Các số liệu này chưa được sử dụng cho công trình nghiên cứu khoa học hoặc bảo vệ cho học vị nào

Tác giả

Tạ Mạnh Hùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp, Khoa đào tạo sau Đại học, các thầy cô giáo đã giảng dạy và truyền đạt những kiến thức khoa học cho tôi trong cả quá trình học tập Đặc biệt là Tiến sĩ Chu Tiến Quang người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình và truyền đạt kiến thức khoa học, kinh nghiệm quý báu và những tình cảm tốt đẹp cho tôi trong qúa trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Xin trân thành cảm ơn:

- UBND quận Hoàng Mai; Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội; Trung tâm dạy nghề quận Hoàng Mai;

- UBND quận Thanh Xuân; Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội; Trung tâm dạy nghề quận Thanh Xuân;

- UBND quận Hà Đông; Phòng Tài Nguyên và Môi trường; Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội; Ban bồi thường giải phóng mặt bằng; Trung tâm phát triển quỹ đất; Trung tâm giới thiệu việc làm; cán bộ, nhân dân các phường trên địa bàn quận Hà Đông;

Đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi điều tra thu thập số liệu để tôi hoàn thành Luận văn tốt nghiệp Do thời gian nghiên cứu thực tế có hạn, khả năng và nhận thức của cá nhân còn hạn chế, bài viết không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp./

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 26 tháng 03 năm 2013

Tác giả

Tạ Mạnh Hùng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vi

Danh mục các bảng .vii

Danh mục các hình viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN BI ̣ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 5

1.1 Tổng quan các tài liê ̣u nghiên cứu liên quan: 5

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 5

1.1.2 Ở Việt Nam 6

1.2 Một số vấn đề về cơ sở lý luâ ̣n giải pháp tạo việc làm của người dân bi ̣ thu hồi đất nông nghiê ̣p: 9

1.2.1 Các khái niệm liên quan 9

1.2.2 Đă ̣c điểm của người dân bi ̣ thu hồi đất nông nghiê ̣p: 14

1.2.3 Các hình thức (kênh) viê ̣c làm của người dân bi ̣ thu hồi đất nông nghiê ̣p 17

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới tiếp câ ̣n viê ̣c làm của người dân bi ̣ thu hồi đất nông nghiê ̣p 19

1.3 Cơ sở thực tiễn - Kinh nghiệm ngoài nước và trong nước về ta ̣o viê ̣c làm cho người dân bi ̣ thu hồi đất nông nghiê ̣p 24

1.3.1 Kinh nghiệm nước ngoài 24

1.3.2 Kinh nghiệm trong nước 27

1.4 Một số nhận xét tổng quát về giải pháp tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 30

Trang 6

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 33

2.1 Đặc điểm quận Hà Đông: 33

2.1.1 Về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của quận Hà Đông: 33

2.1.2 Điều kiện kinh tế 34

2.1.3 Đặc điểm dân số, lao động 35

2.2 Thực trạng dân số, lao động và việc làm ở Quận Hà Đông qua các kết quả điều tra từ năm 2008 đến nay: 36

2.2.1 Thực trạng dân số và tăng dân số 36

2.2.2 Thực trạng lao động (dân số từ 15 tuổi trở lên) 38

2.2.3 Thực trạng việc làm của dân số từ 15 tuổi trở lên 41

2.3 Khái quát về tình hình thu hồi đất ở quận Hà Đông từ năm 2008 đến nay: 45

2.3.1 Tình hình triển khai các dự án thu hồi đất nông nghiệp 45

2.3.2 Thực trạng việc làm của lao động bị thu hồi đất nông nghiệp từ năm 2008 đến nay: 50

2.3.3 Các chính sách, giải pháp tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất nông nghiệp đã triển khai ở quận Hà Đông 51

2.3.4 Nhận xét chung: 57

2.4 Phương pháp nghiên cứu: 58

2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin 58

2.4.2 Phương pháp phân tích số liệu: 58

2.4.3 Phương pháp tổng hợp, hệ thống và kết nối các kết quả nghiên cứu bộ phận của luận văn: 59

2.4.4 Hệ thống tiêu chí sử dụng trong nghiên cứu đề tài: 59

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 60

3.1 Khái quát tình hình việc làm của người dân bị thu hồi đất nông nghiệp qua kết quả điều tra 60

3.1.1 Tình hình cơ bản về thu hồi đất nông nghiệp và việc làm của người dân bị thu hồi đất nông nghiệp tại các phường nghiên cứu 60

3.1.2 Tình hình thu hồi đất và việc làm của người nông dân sau thu hồi đất tại 3 phường nghiên cứu: 61

Trang 7

3.1.3 Tình hình thu hồi đất và việc làm của 150 hộ đã điều tra 66

3.2 Thực trạng việc làm của người dân bị thu hồi đất trên địa bàn quận Hà Đông qua kết quả điều tra 69

3.2.1 Việc làm nông nghiệp trên diện tích đất nông nghiệpcòn lại 73

3.2.2 Việc làm phi nông nghiê ̣p ta ̣i chỗ (làm thuê ở khu vực nhà nước hoặc khu vực tư nhân) 74

3.2.3 Việc làm tại chỗ thông qua tự hình thành hoa ̣t động kinh doanh nhỏ (tự doanh) 76

3.2.4 Việc làm thông qua đi làm thuê ở nơi khác (kể cả đi xuất khẩu lao động) 79

3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện các giải pháp tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở quận Hà Đông 80

3.3.1 Nhóm nhân tố khách quan 80

3.3.2 Nhóm nhân tố chủ quan 83

3.4 Phân tính các giải pháp tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất tại quận Hà Đông 85

3.4.1 Phân tích SWOT đối với người dân bị thu hồi đất tiếp cận từng hình thức việc làm 85

3.4.2 Giải pháp hỗ trợ người bị thu hồi đất nông nghiệp tiếp tục sản xuất trên diện tích đất nông nghiệp còn lại 89

3.4.3 Giải pháp hỗ trợ người dân bị thu hồi đất tiếp cận việc làm đối với hình thức việc làm phi nông nghiệp tại chỗ (làm thuê khu vực nhà nước hoặc khu vực tư nhân) 91

3.4.4 Giải pháp hỗ trợ người dân bị thu hồi đất tiếp cận việc làm đối với hình thức tự hình thành các hoạt động kinh doanh nhỏ (tự doanh): 92

3.4.5 Giải pháp hỗ trợ người dân bị thu hồi đất tiếp cận việc làm đối với hình thức đi làm thuê ở nơi khác (kể cả di lao động xuất khẩu) 93

3.4.6 Giải pháp đào tạo nghề mới: 94

3.4.7 Giải pháp cung cấp thông tin việc làm mới: 96

3.4.8 Giải pháp khôi phục, phát triển các làng nghề truyền thống: 96

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 CN – TTCN Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

3 CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Kết quả cho vay vốn tạo việc làm trên địa bàn Quận Thanh Xuân 28 2.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế (theo GDP) 35 2.2 Hộ – nhân khẩu chia theo phường của quận Hà Đông tại thời

điểm điều tra (01/8/2008 ) và thời điểm điều tra 01/6/2010

37

2.3 số người từ 15 tuổi trở lên của quận Hà Đông chia theo giới tính

và độ tuổi (thời điểm 01/6/2010)

38

2.4 số người từ 15 tuổi trở lên chia theo độ tuổi và trình độ văn hoá

thời điểm 01/6/2010

39

2.5 Số người từ 15 tuổi trở lên ở thời điểm 01/6/2010 chia theo

nhóm tuổi và trình độ chuyên môn

40

2.6 Cơ cấu số người từ 15 tuổi trở lên thời điểm 01/6/2010 chia theo

nhóm tuổi và trình độ chuyên môn ( đvt: %)

40

2.7 Số người tham gia HĐKT trước thời điểm 01/6/2010 chia theo

phường của Quận Hà Đông

41

2.8 Số người tham gia hoạt động kinh tế thời điểm 1/8/2008 chia

theo phường và tình trạng hoạt động

42

2.9 Số lao động từ 15 tuổi trở lên không có việc làm (thất nghiệp)

chia theo độ tuổi

3.4 Số hộ của từng phường tham gia các HĐKT 72 3.5 Số người của từng phường tham gia các HĐKT 72 3.6 lao động kinh doanh thương mại dịch vụ 78

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

1.1 Cung cầu lao động theo kỹ năng trên thị trường 23 2.1 Cơ cấu đất đai năm 2011 của quận Hà Đông 47 2.2 Cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn Quận Hà Đông năm 2012 47

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển dần từ một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế công nghiệp tiên tiến, hiện đại vào năm 2020 thì việc thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia là một yêu cầu khách quan, mang tính tất yếu Giải phóng mặt bằng để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị và tạo việc làm cho người dánau khi giao đất nông nghiệp là vấn đề không chỉ mang tính kinh tế, mà còn mang tính chính trị, xã hội cần thiết, cấp bách hiện nay

Trong những năm qua nhiều địa phương trên cả nước ta đã và đang triển khai thu hồi đất để đầu tư xây dựng nhiều khu công nghiệp, khu đô thị, hạ tầng kinh tế - xã hội Quỹ đất dành cho xây dựng các dự án, công trình này rất lớn, bao gồm quỹ đất cho sản xuất nông, lâm, thủy sản; đất sử dụng vào các hoạt động sản xuất kinh doanh khác; đất nhà ở của nhân dân… Do vậy việc thực hiện chuyển đổi đối với một bộ phận đất nông nghiệp sang mục đích sử dụng khác là cần thiết và việc thu hồi đất nông nghiệp để chuyển sang sử dụng vào mục đích khác là tất yếu

Theo chính sách hiện hành, người bị thu hồi đất nông nghiệp được đền bù thiệt hại và được hỗ trợ đào tạo nghề, tạo việc làm và ổn định cuộc sống để tiếp tục phát triển kinh tế trong điều kiện mới

Trên thực tế việc chuyển quỹ đất nông nghiệp sang mục đích triển khai các dự án, công trình phi nông nghiệp rất khó khăn, vì ảnh hưởng đến sinh kế, đời sống của người dân bị thu hồi đất Có thể nói đây là một thách thức rất lớn đối với triển khai các dự án, công trình hiện nay, làm ảnh hưởng lớn đến tiến độ

và thời gian thi công các dự án, công trình, đòi hỏi phải giải quyết hàng loạt các vấn đề liên quan đến người dân bị mất đất như: đời sống, việc làm và đền bù

Trang 12

thỏa đáng thiệt hại của người dân bị thu hồi đất, giải quyết ổn thỏa tâm trạng của người dân sau khi bị mất đất đang là những vấn đề vô cùng quan trọng, nếu không được giải quyết kịp thời sẽ hạn chế tính thực thi của chính sách thu hồi đất

Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội hiện đang trong quá trình CNH, HĐH, ĐTH mạnh, rất nhiều dự án đã và đang triển khai thông qua thu hồi đất nông nghiệp của người dân để phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế Vấn đề chuyển đổi quỹ đất nông nghiệp đang sử dụng hiện nay sang đất xây dựng đang diễn ra nhanh, nhưng công tác đền bù giải phóng mặt bằng đang gặp nhiều phức tạp vì một bộ phận người dân bị mất đất chưa thỏa mãn với những gì họ được hưởng từ chính sách bồi thường thiệt hại hiện nay, dẫn đến khiếu kiện kéo dài Nguyên nhân của thực trạng này một phần thực hiện chính sách bồi thường, tái định cư, đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất chưa hợp lý Bên cạnh

đó, bản thân người dân bị thu hồi đất còn thụ động, quá trông chờ vào Nhà nước, chưa tích cực tham gia đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm mới để thích ứng với

Trang 13

Ngoài ra việc thực hiện luận văn còn giúp tôi nâng cao trình độ nhận thức chuyên môn trong chỉ đạo việc thực hiện các giải pháp tạo việc làm cho người dân bị nhà nước thu hồi đất nông nghiệp tại phường Đồng Mai, từ đó hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó

Thông qua nghiên cứu luận văn tôi đã trực tiếp điều tra, khảo sát thực tế, những vấn đề đang nảy sinh trong thực hiện các giải pháp tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất, từ đó hình thành căn cứ khoa học để kiến nghị các giải pháp hoàn thiện việc triển khai chính sách bồi thường hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận Hà Đông, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất, góp phần hạn chế tranh chấp, khiếu kiện, đồng thời đề xuất bổ sung các giải pháp đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người dân nói chung, người dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở quận Hà Đông nói riêng

2 Mục tiêu nghiên cứu:

- Mục tiêu tổng quát:

Đánh giá thực trạng và đề xuất hoàn thiện các giải pháp tạo việc làm cho

người dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở quận Hà Đông

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài:

Các giải pháp tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở Quận Hà Đông

Trang 14

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài :

+ Phạm vi về nội dung: Luận văn chỉ đề cập các giải pháp hỗ trợ của Nhà nước đối với người dân bị thu hồi đất nông nghiệp trong tiếp cận việc làm tại chỗ trên địa bàn quận và tự tạo việc làm

+ Phạm vi về không gian: Người dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở Quận

Hà Đông

+Phạm vi về thời gian: Đánh giá thực trạng các giải pháp tạo việc làm

cho người dân bị thu hồi đất từ năm 2008 đến nay và đề xuất giải pháp tiếp tục giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất những năm tới ở quận Hà Đông

4- Nội dung nghiên cứu:

- Cơ sở lý luâ ̣n và thực tiễn về các giải pháp tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất nông nghiệp;

- Thực tra ̣ng các giải pháp tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất ở quận Hà Đông từ 2008 đến nay; những hạn chế và bất cập;

- Đề xuất các giải pháp tạo việc làm nhằm ổn định đời sống người dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp

- Kết luận, Khuyến nghị

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN BI ̣

THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIÊ ̣P 1.1 Tổng quan ca ́ c tài liê ̣u nghiên cứu liên quan:

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài

Trên thế giới đã có công trình nghiên cứu về việc làm và tạo việc làm cho lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng Các nghiên cứu này thường tập trung vào các vấn đề cơ bản như: thực trạng việc làm; các kênh tạo việc làm; các khía cạnh kinh tế-xã hội trong tạo việc làm; cơ hội, thách thức trong tiếp cận việc làm của người lao động; các biện pháp để giải quyết việc làm cho người lao động Những nghiên cứu tiêu biểu là:

- Năm 1992, Tổ chức năng suất lao động châu Á (Productivity

Organization) đã công bố công trình nghiên cứu về: “Các chương trình và chính

sách tạo việc làm cho nông thôn ở các nước Châu Á”, Tokyo đã phân tíchnhững vấn đề giải quyết tạo việc làm cho lao động ở các nước Châu Á và đề xuấtmộtvài ý kiếnchochính sách tạo việc làm [16]

- Năm 1998, Gillis, William R, Shaffer và Ron E trong một nghiên cứu

về “Kết hợp việc mới cho lao động nông thôn” đã đề cập những nội dung về

những ngành nghề mới nhằm tạo thêm việc làm cho lao động nông thôn để giúp người dân có thêm việc làm trong thời gian nông nhàn (ngoài các công việc trên đồng ruộng), nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho người nông dân [19]

- Năm 1998 Brajesh Jha B đã xuất bản cuốn sách: “Chính sách kinh tế

làm tăng việc làm ở nông thôn Ấn Độ” [20] Đã nghiên cứu tình trạng việc làm ở

Ấn Độ trong thời kỳ cải cách kinh tế, phát hiện ra rằng, trong điều kiện kinh tế phát triển với tốc độ cao ( khoảng trên 6,5% / năm) sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm đối với người lao động xã hội Nhưng mức tăng trưởng về việc làm trong

Trang 16

nền kinh tế thường không đáp ứng được sự gia tăng nhanh hơn của lực lượng lao động xã hội Từ đó vấn đề tạo việc đủ làm cho lao động tăng lên luôn là vấn đề lớn đối với Chính phủ và Xã hội Ấn Độ

- Năm 1999, AK Ghose trong công trình nghiên cứu với tên gọi “Vấn đề

hiện nay của chính sách việc làm ở Ấn Độ” [18] đã phân tích kinh nghiệm trong

xác định những vấn đề xã hội cần được được giải quyết, đó là tạo việc làm cho lao động ở Ấn Độ Phần cuối công trình tác giả đề xuất ý kiến cho chính sách tạo việc làm cho lao động trong tương lai tại quốc gia này

- Năm 2000, Tổ chức năng suất lao động châu Á lại công bố công trình

nghiên cứu về: “ Các phương thức tạo việc làm cho nông thôn khu vực Châu Á -

Thái Bình Dương” Nghiên cứu này đã đề cập những nội dung cơ bản về ngành

nghề mới nhằm tạo thêm việc làm cho lao động nông thôn, tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho người nông dân [17]

Những nghiên cứu trên đây đã cho thấy vấn đề giải quyết việc làm ở các nước trên thế giới là một trong những vấn đề kinh tế và xã hội quan trọng, phức tạp, không dễ dàng giải quyết rốt ráo trong quá trình tăng trưởng, phát triển kinh

tế Tuy nhiên các công trình trên chưa đề cập về tạo việc làm cho đối tượng người dân bị thu hồi đất nông nghiệp, do vậy việc khảo cứu kinh nghiệm quốc tế

về vấn đề này có phần khó khăn, hạn chế

1.1.2 Ở Việt Nam

Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này, tiêu biểu là:

- Năm 1990, Nguyễn Sinh Cúc đã viết bài “Vấn đề tạo việc làm tăng thu

nhập ở nông thôn” [9] Trong nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra đánh giá, nhận

xét về các chính sách của Nhà nước đối với vấn đề tạo việc làm và phát triển kinh tế xã hội, bao gồm: các chính sách chưa đủ mạnh; thiếu chính sách hỗ trợ phát triển thị trường lao động nông thôn; Chưa gắn quy hoạch, kế hoạch phát

Trang 17

triển kinh tế trong các ngành, các vùng, các khu vực kinh tế, các khu công nghiệp; chưa có kế hoạch đào tạo, dạy nghề, sử dụng lao động tại chỗ Ngoài ra, vấn đề việc làm và đời sống của nông dân vùng bị thu hồi đất cho phát triển công nghiệp, khu đô thị đã và đang tạo ra những bức xúc trong xã hội Tình trạng các ngành công nghiệp thiếu lao động kỹ thuật, trong khi nông thôn lại dư thừa lao động phổ thông và bị cột chặt vào nông nghiệp với việc làm, năng xuất, thu nhập rất thấp đang là những mâu thuẫn, bức xúc trong xã hội

- Năm 1991, Trần Đình Hoan - Lê Mạnh Khoa đã xuất bản cuốn sách“Sử

dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam”, trong đó đã nêu lên

các biện pháp sử dụng nguồn nhân lực sao cho có hiệu quả [12]

- Năm 1997, Nguyễn Hữu Dũng, Trần Hữu Trung đã xuất bản cuốn sách:

“chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam” [11] Cuốn sách đã đề cập đến

chính sách giải quyết việc làm ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH Công trình đã phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề việc làm ở nước ta nói chung, trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng và những nguyên nhân chủ yếu của vấn đề thiếu việc làm; đã khái quát các dòng di chuyển lao động trên thị trường lao động, nhất là di chuyển từ nông thôn ra thành thị tìm việc làm Trên

cơ sở đó đưa ra hệ thống quan điểm, giải pháp giải quyết việc làm trong quá trình đẩy mạnh CNH-HĐH ở nước ta

- Năm 1999, Nguyễn Sinh Cúc đã viết bài “Giải pháp tạo việc làm ở nông

thôn thời kỳ CNH, HĐH” [10] Trong nghiên cứu này, Tác giả đã đưa ra đánh

giá, nhận xét các chính sách của Nhà nước đối với vấn đề tạo việc làm và phát triển kinh tế xã hội như: các chính sách chưa đủ mạnh; nhất là thiếu chính sách

hỗ trợ phát triển thị trường lao động nông thôn; Chưa gắn quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế trong các ngành, các vùng, các khu vực kinh tế, các khu công nghiệp; chưa có kế hoạch đào tạo, dạy nghề, sử dụng lao động tại chỗ Ngoài ra, vấn đề việc làm và đời sống của nông dân vùng bị thu hồi đất cho phát triển công

Trang 18

nghiệp, khu đô thị đang làm nảy sính những bức xúc trong xã hội Tình trạng các ngành công nghiệp thiếu lao động kỹ thuật, trong khi nông thôn lại dư thừa lao động phổ thông và bị cột chặt vào nông nghiệp với việc làm, năng suất, thu nhập rất thấp

- Năm 2001, Bùi Văn Quán có bài viết “Thực trạng lao động, việc làm ở

nông thôn và một số giải pháp cho giai đoạn 2001 – 2005” [15] Tác giả đã đưa

ra một số biện pháp nhằm đẩy mạnh việc đào tạo nghề, nhất là cho nông dân vùng giải phóng mặt bằng làm khu công nghiệp, cụm công nghiệp gắn với quy hoạch xây dựng nhà ở, phát triển khu đô thị mới…Từ phân tích tình hình, tác giả

đã đưa ra giải pháp về duy trì và phát triển làng nghề truyền thống, xây dựng các trường dạy nghề Đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động, xây dựng cơ chế, chính sách về đào tạo nguồn nhân lực, tích cực xuất khẩu lao động để giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động

- Trong năm 2001, TS Chu Tiến Quang đã chủ biên cuốn sách “Việc làm

ở nông thôn, thực trạng và giải pháp” [14] Cuốn sách đã đề cập đến cơ sở lý

luận và thực tiễn cho một số chính sách tạo việc làm ở nông thôn Từ phân tích thực trạng lao động và việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp trong nông thôn; các dòng di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị và giữa các vùng nông thôn để tìm kiếm việc làm; từ đó cuốn sách đưa ra một số quan điểm cơ bản về giải quyết việc làm, định hướng giải pháp, chính sách tạo việc làm cho lao động nông thôn trong quá trình CNH-HĐH, góp phần hoàn thiện hệ thống các chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam

- Năm 2008, Viện chính sách và chiến lược PTNNNT đã thực hiện đề tài

“Thực trạng và giải pháp về lao động và việc làm nông nghiệp nông thôn” do

Ths Vũ Thị Kim Mão làm chủ nhiệm [13] Nghiên cứu này đã tìm hiểu thực trạng về lao động và việc làm trong nông nghiệp, nông thôn, nguyên nhân của tình trạng thiếu việc làm hiện đang phổ biến ở khu vực nông thôn, để từ đó đề

Trang 19

xuất các giải pháp nhằm tạo cơ hội việc làm cho người lao động nông nghiệp, nông thôn, góp phần thúc đẩy quá trình phân công lao động trong nông thôn

Tổng quan các nghiên cứu đã công bố trên đây cho thấy, vấn đề việc làm

và tạo việc làm cho người lao động nói chung và người lao động nông thôn luôn

là vấn đề quan trọng, có ý nghĩa trực tiếp đối với tăng trưởng, phát triển kinh tế

và công bằng xã hội Vấn đề này càng trở nên có ý nghĩa lớn đối với quốc gia đang trong quá trình CNH, HĐH như Việt Nam hiện nay Tuy nhiên còn ít công trình nghiên cứu về các giải pháp tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất nông nghiệp, đang là vấn đề bức xúc trong xã hội ở Việt Nam hiện nay

Việc nghiên cứu đề tài luận văn này sẽ đề cập về những vấn đề còn đang

bỏ trống trên đây và đề xuất giải pháp cho vấn đề còn bỏ trống đó

1.2 Một số vấn đề về cơ sở lý luâ ̣n giải pháp tạo việc làm của người dân bi ̣ thu hồi đất nông nghiê ̣p:

1.2.1 Các khái niệm liên quan

1.2.1.1 Khái niệm về việc làm

Việc làm là mối quan tâm thường nhật của người lao động và giải quyết việc làm cho lao động xã hội là công việc quan trọng của tất cả các quốc gia Đời sống và sinh kế của người lao động và gia đình họ phụ thuộc rất nhiều vào việc làm và thu nhập của họ Sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng gắn liền với tính hiệu quả của chính sách giải quyết việc làm

Với tầm quan trọng như vậy, việc làm được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như kinh tế, xã hội học, lịch sử Khi nghiên cứu dưới góc độ lịch sử thì việc làm liên quan đến phương thức lao động kiếm sống của con người và xã hội loài người Các nhà kinh tế coi sức lao động thông qua quá trình thực hiện việc làm của người lao động là yếu tố quan trọng của đầu vào sản xuất và xem

xét vấn đề những vấn đề về thu nhập của người lao động do việc làm tạo ra

Trang 20

Ở Việt Nam trước đây, cơ chế kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp, vấn

đề việc làm của người lao động chỉ được xã hội thừa nhận khi họ làm việc trong các đơn vị kinh tế thuộc thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, bao gồm các đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể Trong cơ chế đó, xã hội không thừa nhận việc làm

ở các thành phần kinh tế khác và cũng không thừa nhận thiếu việc làm, thất nghiệp

Với đổi mới tư duy thì quan niệm về việc làm đã từng bước được mở rộng hơn theo hướng khuyến khích các loại hình tổ chức kinh tế, hộ gia đình và người lao động cùng tham gia tạo việc làm, tạo thu nhập mà không bị pháp luật cấm Điều 13, chương II Bộ luật Lao động Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật

cấm đều được thừa nhận là việc làm”[43,tr.42]

Từ điển tiếng Việt định nghĩa việc làm như sau: “Việc làm là tiếng nói chung về công chuyện cần phải dùng đến sức lực và trí não để nuôi sống”[tr.729] Khái niệm này được sử dụng tương đối rộng, theo đó việc làm là hoạt động lao động bằng sức lực, bằng trí não của con người để nuôi sống con người

Theo các quan niệm trên, việc làm là các hoạt động lao động bao gồm: các loại công việc làm thuê có trả tiền công, tiền lương hoặc một hình thái hiện vật có giá trị tương đương với giá trị do công việc đó tạo ra; những công việc tự làm mang lại lợi ích vật chất thay thế cho thu nhập của bản thân hoặc gia đình, những công việc tự làm thường không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật, nhưng có ý nghĩa về kinh tế đối với bản thân và gia đình người lao động Như vậy, có thể diễn giải một hoạt động lao động được coi là “việc làm” cần thoả mãn hai điều kiện:

Một là, phải có ích, tạo ra thu nhập và mang lại lợi ích cho người lao

động và các thành viên trong gia đình

Trang 21

Hai là, không bị pháp luật cấm hay được pháp luật thừa nhận là hợp pháp

Hai điều kiện trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm

Tác giả luận văn cho rằng, quan niệm trên về việc làm đã góp phần mở rộng khái niệm về việc làm và phản ánh đầy đủ hơn các yếu tố cơ bản nhất của việc làm dưới góc độ khoa học và pháp luật

1.2.1.2 Khái niệm về người có việc làm:

- Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “Người có việc làm là những người đang làm một việc gì đó được trả tiền công hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự thỏa mãn lợi ích, thay thế thu nhập của gia đình”

- Theo Tổng cục Thống kê: “Người có việc làm là những người đang làm việc trong thời gian quan sát và những người trước đó có việc làm nhưng hiện đang nghỉ tạm thời vì các lý do như ốm đau, đình công, nghỉ hè, nghỉ lễ, trong

thời gian sắp xếp lại sản xuất, do thời tiết xấu, máy móc hư hỏng, ”

- Theo Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội: “Người có việc làm là người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân mà trong tuần lễ liền kề trước thời điểm điều tra (gọi tắt là tuần lễ tham khảo) có thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn qui định (trường hợp Việt Nam, mức chuẩn này là 8 giờ)

1.2.1.3 Khái niệm về tạo việc làm

Có thể hiểu tạo việc làm cho người lao động là việc đưa người lao động vào một quá trình hoạt động kinh tế có ích, tạo ra hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường và xã hội Theo cách hiểu này thì tạo việc làm cho người lao động là một vấn đề phức tạp, nhưng rất cần thiết mà mỗi quốc gia, mỗi địa phương luôn phải quan tâm Vấn đề tạo việc làm cho người lao động không những chịu ảnh hưởng bởi trình độ phát triển của nền kinh tế, mà còn chịu ảnh

Trang 22

hưởng của rất nhiều yếu tố mang tính xã hội khác Vì vậy khi xem xét để đưa ra chính sách tạo việc làm cho người lao động cần phải quan tâm đến rất nhiều nhân tố khác nhau

Thực chất của tạo việc làm cho người lao động là tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất gồm cả về chất lượng và cả số lượng Chất lượng, số lượng của tư liệu sản xuất phụ thuộc vào vốn đầu tư, vào tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng trong sản xuất, cũng như vào việc sử dụng và quản lý các tư liệu sản xuất đó Tạo đủ việc làm cho lao động xã hội là đáp ứng đủ việc làm cho số lượng lao động có nhu cầu làm việc tại một thời điểm quan sát

Số lượng lao động xã hội phụ thuộc vào quy mô và cơ cấu dân số; còn chất lượng lao động phụ thuộc vào kết quả đào tạo, phát triển của giáo dục và y

tế Hai vấn đề này ảnh hưởng mạnh đến khả năng tiếp cận việc làm của người lao động Ngoài ra các chính sách khuyến khích người sử dụng lao động thu hút lao động vào các công việc của họ cũng ảnh hưởng tới mạnh tới kết quả tạo việc làm

Việc làm được hình thành khi người lao động tiếp cận được chỗ làm việc thông qua thị trường lao động Trong thị trường này người lao động gặp gỡ với người sử dụng lao động và đi đến nhất trí vấn đề sử dụng sức lao động Như vậy, vấn đề tạo việc làm là kết quả của hình thành, phát triển mối quan hệ giữa người lao động, người sử dụng lao động và vai trò của Nhà nước Cụ thể về vai trò của từng tác nhân tham gia vào quá trình tạo việc làm như sau:

- Vai trò của người sử dụng lao động:

Người sử dụng lao động chủ yếu là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế với các hình thức sở hữu khác nhau (nhà nước, tư nhân, nhà đầu tư nước ngoài) hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế có nhu cầu thuê nhân công làm việc

Việc phát triển các khu công nghiệp, các ngành nghề, kinh tế dịch vụ, hệ thống các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ trong hoạt động sản

Trang 23

xuất đa dạng tịa chỗ sẽ tạo nhiều việc làm cho lao động, là hướng tạo việc làm tích cực cho lực lượng lao động nông thôn hiện nay Những ngành thu hút nhiều lao động là những ngành gia công sản phẩm xuất khẩu như dệt may, giày da, gốm sứ, lắp ráp các hàng điện tử, xe máy Do vậy các chính sách khuyến khích phát triển các hoạt động kinh tế đa dạng, khuyến khích hình thành và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong NN, NT sẽ đóng vai trò quan trọng thúc đẩy tạo ra chỗ làm việc và thu hút lao động tại chỗ vào làm việc Những người lao động này có thể là: nông dân không trong mùa vụ (nông nhàn), những người lao động bị thu hồi đất, những lao động là thanh niên chờ việc làm, lao động đang bị thất nghiệp

Ngoài ra, việc làm có thể do bản thân người lao động tạo ra, bao gồm cả nông nghiệp và phi nông nghiệp

- Vai trò của người lao động:

Vai trọng của người lao động là tham gia vào các công việc do các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế tạo ra, hoặc tự tạo ra việc làm Để thực hiện được vai trò này người lao động phải có sức khoẻ, có trình độ chuyên môn để thực hiện tốt các công việc do người sử dụng lao động tạo ra và để có được mức trả công thỏa đáng

Trong khả năng tự tạo việc làm, người lao động có thể tự tạo việc làm tại chỗ thông qua các hình thức như: phát triển sản xuất nông nghiệp (nếu có điều kiện về đất đai) theo hướng giá trị cao; tự làm các ngành nghề thủ công truyền thống; tự mở các hoạt động kinh doanh dịch vụ…

- Vai trò của Nhà nước

Nhà nước có vai trò quản lý quan hệ sử dụng sức lao động giữa người sử dụng với người lao động làm thuê bằng các chính sách khuyến khích, động viên nhằm đem lại lợi ích cho cả người sử lao động và người lao động, tạo điều kiện

Trang 24

thuận lợi cho cả hai bên để họ phát huy tối đa năng lực của mình cùng nhau duy trì việc làm đã có và mở rộng thêm việc làm mới

Nhà nước có thể chủ động tác động tạo ra việc làm cho người lao động thông qua triển khai các chương trình, đề án, dự án hỗ trợ tạo việc bằng nguồn tiền ngân sách hỗ trợ Ngoài ra, nhà nước cũng có thể triển khai các chương trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo phân bổ nguồn nhân lực một cách hợp lý giữa các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế

Nhà nước cần chú trọng tới các hình thức tạo việc làm cho người lao động trọng xã hội như: tạo việc làm trong khu vực kinh tế chính thức (các chủ thể kinh

tế có tư cách pháp nhân, đã đăng ký sản xuất kinh doanh), tạo việc làm trong khu vực phi chính thức (cá nhân, hộ gia đình chưa có tư cách pháp nhân, chưa đăng

ký sản xuất kinh doanh) để có chính sách hỗ trợ phù hợp

1.2.2 Đặc điểm của người dân bi ̣ thu hồi đất nông nghiê ̣p:

Trong nông thôn, người dân bị Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp thường

là những người nông dân đang tiến hành hoạt động sản xuất nông nghiệp trên đất

bị thu hồi Ngoài ra có thể có bộ phận nông dân đã từ bỏ sản xuất nông nghiệp vì các lý do khác nhau, trong thời gian chưa chuyển giao đất cho người khác thì Nhà nước thu hồi đất, bộ phận này không nhiều Theo đó người dân bị thu hồi đất thường mang những đặc điểm sau:

Thứ nhất Gắn bó với sản xuất nông nghiê ̣p qua nhiều thế hệ

Những người nông dân làm nông nghiệp thường trải qua nhiều năm sinh sống về nghề nông, do đó gắn bó với đất nông nghiệp một cách sâu sắc (quê cha đất tổ Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, người nông dân vừa phải chống chọi với thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm để bảo vệ đồng ruộng của mình, dù trong hoàn cảnh nào họ vẫn bám trụ mảnh đất của mình với tinh thần “Một tấc không đi, một ly không rời” Vì vậy, nhiều thế đã nối tiếp nhau gắn bó với đất sản xuất nông nghiệp Cuộc sống lao động trên mảnh đất nơi sinh

Trang 25

sống đã tạo ra sự đoàn kết gắn bó cộng đồng, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, tình nghĩa thuỷ chung đã trở thành lẽ sống của người nông dân Công việc đông áng hàng ngày và sinh hoạt trong họ hàng, làng xã đã làm cho cuộc sống của người nông dân yêu thương đùm bọc lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ ngọt bùi đắng cay như câu nói “tối lửa tắt đèn có nhau” và điều này được thể hiện không chỉ trong hoạt động hàng ngày mà còn được khái quát trong ca dao tục ngữ: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước thì thương nhau cùng”, “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, “Lá lành đùm lá rách" Tóm lại tình cảm của người nông dân với đất nông nghiệp là thiêng liêng

Thứ hai Trình độ hiểu biết về pháp luật hạn chế

Người nông dân Việt nam đã sống lâu trong lệ làng, tự do, không tuân thủ

kỷ luật lao động nghiêm ngặt, nên họ ít hoặc không quan tâm đến pháp luật và những quy định pháp lý về sản xuất-kinh doanh nông nghiệp Họ thường biểu hiện tâm lý phức tạp với suy nghĩ của người sản xuất nhỏ, thiếu tự chủ, phụ thuộc vào thiên nhiên “nắng mưa bất thường” và “kinh nghiệm cá nhân”, chậm đổi mới tư duy theo sự thay đổi của các điều kiện bên ngoài, đặc biệt là những thay đổi liên tục của khung khổ pháp luật, từ đó tạo ra tính bảo thủ khá nặng nề ở từng cộng đồng dân cư…Chính vì vậy Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu:

“…Đồng bào và cán bộ phải đánh lui tư tưởng bảo thủ”

Thứ ba Đa ̣i đa số nông dân không được đào ta ̣o chuyên môn

Tư duy manh mún, tản mạn là đặc điểm tâm lý nổi bật của nông dân Tư duy này bắt nguồn từ lối sống khép kín sau lũy tre làng; canh tác trên mảnh đất nhỏ, lẻ với công cụ thô sơ “Con trâu đi trước cái cày theo sau” dựa trên những thói quen, tập quán nhiều đời…Họ ít có khả năng khái quát, tổng hợp những vấn

đề nảy sinh xung quanh Thường chỉ thấy trước mắt, không thấy lâu dài, lợi ích

cá nhân lớn hơn lợi ích tập thể, cộng đồng; tâm lý ngại đổi mới và “lười biếng” trong suy nghĩ cộng với tính ỷ lại và bảo thủ cao, sùng bái kinh nghiệm cá nhân

Trang 26

quá mức dân đến “coi thường” những ý kiến khác lạ Trong nền kinh tế tiểu nông, kiểu “Lão nông tri điền”, “Sống lâu nên lão làng”, “Đất lề quê thói”,

“Phép vua thua lệ làng” đã trở thành đặc điểm phổ biến ở người nông dân Chính

vì vậy, khi nói về những điều cần khắc phục trong tâm lý nông dân, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:“…nông dân thường có tính thủ cựu, rời rạc, tư hữu"

Thứ tư Thu nhâ ̣p thấp, đời sống khó khăn

Ở nông thôn Việt Nam hiện nay đang phổ biến tình trạng ruộng đất manh mún, thiếu só với nhu cầu canh tác, môi trường sinh thái suy giảm, giá cả nông sản không ổn định, thu nhập và đời sống nông dân thấp và tăng rất chậm so với thành thị, thiếu việc làm ngày càng tăng làm cho đời sống và thu nhập của nông dân rất khó khăn

Thứ năm Trình độ và quan hệ sản xuất lạc hậu

Để sản xuất nông nghiệp, người nông dân đồng thời chịu sự tác động trực tiếp của 2 mối quan hệ là: quan hệ với điều kiện tự nhiên và quan hệ giữa người với người trong quá trình cùng sản xuất Hai mối quan hệ này tác động qua lại tạo nên quy luật cơ bản của sự vận động, phát triển kinh tế nông nghiệp Trong điều kiện sản xuất nhỏ với số lượng rất đông các hộ nông dân cùng tham gia sản xuất trên một địa bàn nông thôn dẫn tới rất nhiều khó khăn, phức tạp trong việc

tổ chức sản xuất và sự hình thành quan hệ sản xuất mới, từ đó hạn chế sự phát triển của các thế mạnh của từng vùng sản xuất nông nghiệp, hạn chế ứng dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất, thưởng nảy sinh các tranh chấp về ruộng đất, sản phẩm và những vấn đề khác nảy sinh trong quá trình canh tác, tiêu thụ nông sản

Ở Việt Nam quá trình “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” kể từ Nghị quyết 10 ngày 5/4/1988 đến nay đã thu được nhiều thành công lớn, đưa Việt Nam từ quốc gia thiếu lương thực trở thành xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới,

Trang 27

nhưng quan hệ sản xuất trong nông nghiệp hiện nay vẫn đang trong tình trạng lạc hậu với những đặc điểm sau:

- Lao động thủ công chiếm phần lớn trong nông nghiệp, kỹ năng lao động, kinh nghiệm, trình độ tổ chức, phân công lao động, trình độ ứng dụng khoa học

kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp rất thấp, các công công cụ sản xuất mang tính thủ công là chính, năng suất và chất lượng thấp

- Năng lực hợp tác, liên kết giữa các hộ nông dân thấp, thể hiện trong sản xuất nông nghiệp đã từng hình thành các tổ chức HTX, THT, các trang trại và các hình thức liên kết khác giữa nông dân với nhau…nhưng chậm phát triển thành các tổ chức kinh tế mạnh và chưa hình thành được hệ thống sản xuất mang tính cạnh tranh cao…

- Thị trường nông nghiệp đã hình thành ở cả đầu vào (vật tư, tư liệu phuc

vụ sản xuất) và đầu ra (tiêu thụ sản phẩm), nhưng sự vận hành của thị trường không lành mạnh, không minh bạch, không hiệu quả, thiếu sự quản lý cần thiết của Nhà nước thể hiện trình độ phát triển thấp…

1.2.3 Ca ́ c hình thức (kênh) viê ̣c làm của người dân bi ̣ thu hồi đất nông nghiê ̣p

- Tiếp tục sản xuất nông nghiệp trên diê ̣n tích đất nông nghiệp còn la ̣i Thực tế ở quận Hà Đông cho thấy, sau quá trình thu hồi đất những năm qua, diện tích đất sản xuất nông nghiệp chỉ còn lại rất ít ở các phường: Phú Lương, Đồng Mai, Yên Nghĩa, Biên Giang Việc duy trì sản xuất nông nghiệp trên phần diện tích này chỉ bảo đảm việc làm cho số ít lao động trong nông thôn, các lao động này là những người không có khả năng tham gia đào tạo nghề mới, không tìm kiếm được việc làm mới ở khu vực phi nông nghiệp;

- Việc làm phi nông nghiê ̣p ta ̣i chỗ

Sau thu hồi đất, một bộ phận lao động nông nghiệp trẻ đã chuyển sang làm thuê ở khu vực kinh tế nhà nước hoặc khu vực tư nhân gồm các doanh nghiệp, hộ kinh doanh Những việc làm này phụ thuộc vào mức độ tạo ra chỗ

Trang 28

làm việc của khu vực kinh tế nhà nước và tư nhân trên địa bàn Nơi nào có nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế được thành lập và hoạt động thành công, nơi đó sẽ

có nhiều việc làm phi nông nghiệp cho người lao động, trong đó có lao động bị thu hồi đất

- Việc làm thông qua tự hình thành hoa ̣t động kinh doanh nhỏ (tự doanh) Một bộ phận lao động sau khi mất đất đã sử dụng vốn tự có cùng với tiền bồi thường của Nhà nước để thành lập hoạt động kinh doanh, buôn bán nhỏ tại nơi sinh sống Hoạt động kinh doanh nhỏ của những lao động này thường hình thành ở những nơi có điều kiện hạ tầng giao thông phát triển, dân cư tập trung đông và hình thành các điều kiện của kinh tế đô thị với nhiều hoạt động thương mại dịch vụ khác nhau phục vụ đời sống dân cư đô thị, giải quyết việc làm cho một lượng lao động đáng kể trên địa bàn

- Việc làm thông qua đi làm thuê ở nơi khác

Một bộ phận lao động sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp có thể rời bỏ quê hương để đi làm thuê tại các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế ở các quận, huyện, thị

xã khác trong thành phố hoặc đến các tỉnh thành phố khác trong cả nước và một

bộ phận có thể tìm kiếm việc làm thôn qua đi xuất khẩu lao động

Sự đa dạng của các kênh việc làm nói trên đã tạo cơ hội đa dạng để người dân bị thu hồi đất nông nghiệp có thể tiếp cận được việc làm phù hợp với điều kiện , hoàn cảnh đặc thù của cá nhân mỗi người Nhưng điều đang bàn là tính rủi

ro trong việc làm đối với người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở tất cả các kênh đều rất cao do người lao động bị thu hồi đất thường yếu thế hơn, bất lực hơn so với những lao động khác trong xã hội Nếu như họ không được Nhà nước

hỗ trợ đầy đủ cả về nguồn lực tài chính và kiến thức thích nghi tại môi trường việc làm mới, đặc biệt là kiến thức về phòng trách rủi ro từ nhiều phía thì rất dễ lâm vào tình trạng rủi ro và trở nên nghèo khó, mất tư liệu sản xuất và trở nên tha hóa

Trang 29

Chính vì vậy, đối với người lao động là nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp thì để giảm thiểu tối đa những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình tiếp cận việc làm mới Nhà nước cần phải có chính sách, giải pháp bổ sung phù hợp để giúp họ giảm tối đa những rủi ro và thiệt hại sau khi bị thu hồi đất sản xuất

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới tiếp cận viê ̣c làm của người dân bi ̣ thu hồi đất nông nghiê ̣p

Để làm rõ các các nhân tố ảnh hưởng tới tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất, Luận văn phân chia các nhân tố thành hai nhóm: nhóm các nhân tố liên quan tới môi trường bên ngoài người lao động bị thu hồi đất gọi là nhóm nhân tố khách quan và nhóm nhân tố liên quan tới chính người dân bị thu hồi đất gọi là nhóm nhân tố chủ quan

1.2.4.1 Nhóm nhân tố khách quan, gồm:

- Cơ chế, chính sách Cơ chế chính sách của Chính phủ, của Chính quyền

địa phương các cấp là nhân tố quan trọng đối với tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

Đối với vấn đề tạo việc làm trong toàn xã hội thì Chính phủ thường phải có chính sách cụ thể, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để phát triển sản xuất, mở mang các hoạt động kinh tế mới, từ đó tạo ra khả năng hình thành chỗ làm việc mới

Ở Việt Nam, Đảng ta đã xác định “Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo việc làm cho người lao động Mọi công dân đều được tự do hành nghề, thuê mướn lao động theo pháp luật Phát triển dịch vụ việc làm, tiếp tục phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân cư trên các địa bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh, quốc phòng Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu lao động" Từ đó Luật lao động quy định: "Người lao động có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và bất kỳ chỗ nào mà pháp luật không cấm"1 và “Giải quyết

Trang 30

việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội"2

Đối với người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp, ngoài các chính sách tạo việc làm nói trên, Chính phủ cần ban hành một số chính sách hỗ trợ đặc thù

để hỗ trợ những người lao động này do việc thu hồi đất đã tạo ra tình trạng mất việc làm của họ Chính sách trợ giúp người lao động tiếp cận việc làm có thể đạt tới 3 mức độ chính như sau: Thứ nhất Bù đắp thiệt hại tại chỗ và tạo được việc làm, đời sống bình thường cho người bị thu hồi đất như trước khi bị thu hồi (mức cao nhất - đáp ứng được mong muốn của người bị thu hồi đất) Trong trường hợp này chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp có thể coi là thỏa đáng; Thứ hai Bù đắp thiêt hại tại chỗ, nhưng không giải quyết được việc làm, đời sống cho người bị thu hồi đất (mức trung bình - chưa đáp ứng đầy đủ mong muốn của người bị thu hồi đất) Trong trường hợp này chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp có thể coi là chưa thỏa đáng; Thứ ba Bù đắp không đủ thiệt hại tại chỗ của người bị thu hồi đất và không tạo được việc làm, đời sống bình thường của người bị thu hồi đất (mức thấp nhất – không đáp ứng được mong muốn của người bị thu hồi đất) Trong trường hợp này chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp có thể coi là không thỏa đáng

- Nhân tố từ phía cung việc làm (tạo ra chỗ làm việc)

Nhân tố này gắn với các tác nhân có khả năng tạo ra chỗ làm việc trong xã hội, nói cách khác là các chủ thể kinh doanh và sử dụng lao động làm thuê và trả tiền công, tiền lương cho họ Theo đó số lượng và quy mô của các các loại hình doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế không phân biệt hình thức sở hữu hoạt động

Trang 31

trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế càng nhiều, càng lớn thì khả năng tạo chỗ làm việc và thu dụng lao động vào làm việc càng lớn

Nhân tố từ phía cung việc làm ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến kết quả tạo ra chỗ làm việc Tuy nhiên để chỗ làm việc tạo ra có người vận hành thì chủ doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh tế phải tuyển dụng người lao động vào làm việc Nếu việc tuyển dụng thành công thì người lao động tiếp cận được việc làm

và kết quả tạo việc làm hoàn tất, trong trường hợp ngược lại thì chỗ làm việc được tạo ra nhưng kết quả tạo việc làm chưa đạt được Do vậy, kết quả tạo việc làm phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các chủ doanh nghiệp và tổ chức kinh tế

đã tạo ra chỗ làm việc Việc tác động vào chủ doanh nghiệp và tổ chức kinh tế để tối đa hóa tuyển dụng lao động lấp đầy chỗ việc làm tạo ra có ý nghĩa quyết định tới kết quả tạo việc làm

1.2.4.2 Nhóm nhân tố chủ quan

Đó là các nhân tố liên quan đến bản thân người lao động, cụ thể:

i) Đối với người lao động nói chung trong xã hội thì các nhân tố phát sinh

từ phía người lao động bao gồm: Số lượng lao động (L), chất lượng hay năng lực lao động T (kiến thức, kỹ năng, sức khỏe ); mức độ chấp nhận tiền lương/thu nhập (S); và các điều kiện làm việc khác (O) trong quá trình làm việc như: điều kiện học tập, thăng tiến, môi trường làm việc, tổ chức xã hội và các quyền của người lao động Tập hợp các nhân tố từ phía người lao động có thể được biểu diễn dưới dạng hàm sau:

Y = f (L, T, S, O )

Trên thị trường lao động, một lượng lao động có cùng một kỹ năng, tay nghề và kinh nghiệm làm việc hoặc một tập hợp số lượng lao động với các kỹ năng khác nhau sẽ tạo nên lượng cung về lao động, hay nói cách khác là lượng cầu về việc làm Sự gặp gỡ giữa cung và cầu về việc làm phụ thuộc trình độ tay

Trang 32

nghề, chuyên môn và vào mức tiền lương, tiền công mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo trình độ tay nghề, kỹ năng và kinh nghiệm làm việc

Khi có sự gia tăng về cầu lao động ở một trình độ tay nghề, kỹ năng nhất định, trong khi lượng cung về lao động trên thị trường chưa thay đổi thì tiền lương sẽ là biến điều chỉnh quan hệ cung cầu này Khoảng cách và sự khác biệt

về tiền lương sẽ dẫn đến tăng lượng cung lao động với trình độ tay nghề, kỹ năng mà người sử dụng có nhu cầu nhiều nhất

Khi nền kinh tế phát triển thì năng lực sản xuất của các chủ thể sử dụng lao động sẽ mở rộng và kéo theo gia tăng nhu cầu về sử dụng lao động làm cho đường cầu lao động chuyển dịch tăng lên (từ D1 sang D2 trong biểu đồ 1.1), khi

đó các chủ sử dụng phải thay đổi tiền lương, tiền công để tăng thu hút lao động

Công tác đào tạo và đào tạo lại tay nghề, kỹ năng làm việc cho người lao động là yếu tố cơ bản làm tăng kỹ năng, trình độ chuyên môn cho người lao động và làm tăng cung lao động tích cực cho thị trường lao động Tuy nhiên đào tạo là yếu tố mang tính dài hạn, mà cần có thời gian khá dài để tạo ra sự gặp gỡ mới giữa các chủ sử dụng lao động với người lao động đã được đào tạo hoặc đào tạo lại

Khi lượng lao động được đào tạo đã đặt tới mức độ nhất định, làm thay đổi mối quan hệ cung cầu về lao động có đào tạo, thì cầu về lao động trên thị trường có xu hướng giảm (minh họa bằng sự dịch chuyển đường cung lao động

từ S1 sang S2 trong biểu đồ 1.1) Khi cầu về lao động được đào tạo đã đáp ứng tốt thì tiền lương, tiền công (thực tế) không có sự thay đổi lớn [17, tr 23]

Trang 33

Hình1.1: Cung cầu lao động theo kỹ năng trên thị trường

Khi cung lao động qua đào tạo nghề vượt quá khả năng thu dụng của các chủ sử dụng lao động sẽ tạo sức ép lớn về giải quyết việc làm cho số lao động đã qua đào tạo nhưng dư thừa Trong hoàn cảnh đó Nhà nước buộc phải tác động vào các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế (bên cung việc làm) để thúc đẩy tăng việc làm, đồng thời mở rộng các chương trình dạy nghề để giúp người lao động thay đổi tay nghề, kỹ năng cho phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp, tạo ra sự gặp

gỡ mới giữa cung và cầu về việc làm

Khi áp lực tìm kiếm việc làm của lao động xã hội tăng cao dẫn tới gia tăng thất nghiệp, buộc Chính phủ mở rộng chính sách kéo dài thời gian giáo dục, đào tạo và đào tạo lại người lao động để giảm áp lực về cầu việc làm Chính sách này được nhiều quốc gia áp dụng (Hy Lạp, Malaysia) Kết quả thu được là tích cực

ii) Đối với người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp thì bên cạnh các nhân tố trên cần lưu ý thêm các nhân tố sau:

- Lứa tuổi và sức khỏe Nếu người lao động bị thu hồi đất còn trẻ và có sức khỏe tốt thì họ dễ dàng tham gia và kiếm được việc làm trên thị trường Nếu

là người quá tuổi lao động và không đủ sức khỏe cần thiết thì sẽ không thể kiếm được việc làm trên thị trường vì các chủ sử dụng lao động không sử dụng họ Số lao động này chỉ còn con đường duy nhất là tự tạo việc làm trong điều kiện họ có

Tiền lương

Trang 34

được, chẳng hạn tiếp tục sản xuất nông nghiệp nếu còn đất; chuyển sang làm các hoạt động buôn bán, dịch vụ nhỏ, hoặc làm thuê theo vụ việc…nếu bị thu hồi toàn bộ số đất sản xuất nông nghiệp;

- Vốn xã hội và khả năng chuyển đổi công việc Đối với những lao động

có người thân quen ở thành thị, công xưởng thì họ có thể di chuyển đến nơi làm việc mới qua sự hỗ trợ, giúp đơn của người thân quen Đối với những người không có khả năng này sẽ rất khó khăn trong di chuyển đến nới mới để tiếp cận với việc làm mới và từ bỏ sản xuất nông nghiệp Những người này buộc phải ở lại và tìm kiếm công việc có thể có tại chỗ hoặc chịu cảnh thất nghiệp

1.3 Cơ sở thực tiễn - Kinh nghiệm ngoài nước và trong nước về ta ̣o viê ̣c

la ̀m cho người dân bi ̣ thu hồi đất nông nghiê ̣p

Luận văn đã khảo cứu kinh nghiệm ta ̣o việc làm cho lao động ở một số quốc gia và một số quâ ̣n ở Hà Nội có điều kiện tương tự quâ ̣n Hà Đông và một

số nước Kết quả như sau:

1.3.1 Kinh nghiệm nước ngoài

1.3.1.1 Kinh nghiệm của Trung quốc:

i) Các chính sách tạo việc làm cho người lao động trong NN, NT ở Trung Quốc đã được triển khai từ những năm cải cách và mở cửa kinh tế cuối thập kỷ

70 Điển hình là chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp hương trấn nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động ở nông thôn, rút ngắn chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, coi phát triển công nghiệp nông thôn là giải pháp để tạo việc làm

ii) Từ năm 1986 đến nay, Trung Quốc đã thực hiện “thị trường hóa việc làm, công khai hóa thất nghiệp, người lao động được bảo vệ, người thất nghiệp được bảo hiểm”… Từ đó Trung Quốc đã đưa ra các điều chỉnh trong chính sách tạo việc làm bao gồm:

Trang 35

- Thực hiện cải cách hành chính; Phát triển thị trường lao động, hệ thống dịch vụ việc làm công cộng Theo hướng này, Trung Quốc đã thực hiện “Nhà nước điều chỉnh thành thị và nông thôn phát triển nhịp nhàng, doanh nghiệp tự chủ dùng người, cá nhân tự chủ lựa chọn, thị trường điều tiết cung cầu, xã hội cung cấp phục vụ” Ngoài ra chính phủ cũng có các biện pháp tích cực khuyến khích các tổ chức tư nhân tham gia vào dịch vụ tìm kiếm việc làm, đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo việc làm cho người lao động; Điều chỉnh cơ cấu ngành nghề theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông lâm ngư nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ

- Chuyển dịch cơ cấu lao động, giải quyết lao động dư thừa ở nông thôn thông qua các biện pháp:

+ Chuyển dịch lao động tại chỗ: “không rời đất, không rời làng” và “rời đất, không rời làng” hay “ly nông bất ly hương, nhập xưởng bất nhập thành”;

+ Chuyển dịch sang nơi khác: “rời làng, không rời đất” và “rời đất, rời làng” Lực lượng lao động dư thừa ở nông thôn đã hình thành hai đội quân: công nhân viên của các xí nghiệp hương chấn và đội “dân công lưu động” Sự phát triển của các xí nghiệp hương chấn đã trở thành nhân tố chủ yếu phát triển kinh

tế nông thôn, xóa đói giảm nghèo

1.3.1.2 Kinh nghiệm của Malaysia

i) Chú trọng phát triển nông nghiệp với cây công nghiệp dài ngày theo lợi thế về đất đai khí hậu, phát triển công nghiệp chế biến nhằm giải quyết đầu ra cho sản xuất nông nghiệp và tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân Thời gian sau đó tập trung đầu tư ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, giảm sử dụng lao động giản đơn của người nông dân;

ii) Mở rộng sản xuất nông nghiệp ở những vùng đất mới nhằm tạo việc làm nông nghiệp cho lao động nông nghiệp chưa chuyển dịch được sang các lĩnh vực phi nông nghiệp Tại các vùng này, Chính phủ đầu tư mạnh vào cơ sở hạ

Trang 36

tầng, cung cấp vật tư nông nghiệp, khuyến nông, tiêu thụ sản phẩm cho nông dân

iii) Thu hút đầu tư cả trong và ngoài nước vào phát triển công nghiệp chế biến nông sản nhằm nâng cao giá trị gia tăng, đồng thời tạo việc làm, thu hút lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ

iv) Thực hiện liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học, cơ sở đào tạo, chính quyền địa phương với các tổ chức doanh nghiệp chế biến, hộ nông dân, nhằm chuyển giao nhanh chóng và hiệu quả tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cung cấp lao động đã qua đào tạo cho công nghiệp chế biến trong nông thôn

1.3.1.3 Kinh nghiệm của Thái Lan

Chính sách tạo việc làm cho người lao động của Thái Lan thời gian qua tập trung vào:

i) Triển khai “Chương trình phát triển nông thôn cấp xã” được thực hiện

từ năm 1975 với mục tiêu chính là hỗ trợ nông dân tạo việc làm tại chỗ để tăng thu nhập Chính phủ tăng đầu tư vào hạ tầng nông thôn và sử dụng lao động nông thôn vào các hoạt động này, từ đó tạo việc làm cho lao động nông thôn

ii) Triển khai “Chương trình tạo việc làm nông thôn” đưa ra năm 1980 với mục tiêu: tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân sau kỳ thu hoạch, tăng năng suất lao động nông nghiệp thông qua các dự án xây dựng các công trình công cộng, hạn chế di cư theo mùa từ nông thôn ra thành thị kiếm việc làm, phát triển các hoạt động phi nông nghiệp, đào tạo nguồn nhân lực…

iii) Thực hiện chương trình “Mỗi làng một sản phẩm” trong đó chính phủ

hỗ trợ vốn cho các làng trong việc xây dựng vùng sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm; chương trình “Mỗi làng 1 triệu Baht” được chính phủ đầu tư nhằm tạo cơ hội giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nông dân thông qua việc vay vốn từ chính phủ Ngoài ra những chương trình hỗ trợ vốn

Trang 37

tạo việc làm thông qua các tổ chức xã hội như phụ nữ, thanh niên cũng đem lại tiến bộ đáng kể trong việc tạo việc làm cho lao động khu vực nông nghiệp, nông thôn [18, tr 248]

1.3.2 Kinh nghiệm trong nước

1.3.2.1 Kinh nghiệm Quận Thanh Xuân:

Các chính sách tạo việc làm cho người lao động nói chung ở quận Thanh Xuân đã được triển khai từ năm 2008 đến nay thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:

+ Quận đã phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội quận cho người lao động trên địa bàn vay vốn để tự giải quyết việc làm;

+ Quận đã thu thập và xử lý thông tin về cung, cầu lao động và phối hợp với phòng Chính sách lao động việc làm của Sở Lao động –Thương binh và Xã hội thành phố Hà Nội tổ chức tập huấn nghiệp vụ ghi chép sổ sách và xử lý thông tin về cung - cầu tới UBND các phường và 100% tổ trưởng tổ dân phố thuộc 11 phường trên địa bàn quận Thanh Xuân;

+ Thường xuyên thực hiện cơ chế phối hợp giữa ba ngành Lao Thương binh và xã hội – Liên đoàn lao động – Bảo hiểm xã hội quận trong việc hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các doanh nghiệp trên địa bàn thực hiện các quy định của Bộ Luật Lao động nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động

động-Từ năm 2008 đến nay, quận Thanh Xuân đã:

+ Tổ chức được 2 phiên giao dịch việc làm: phiên thứ nhất diễn ra vào ngày 12/6/2010 và đã thu hút hàng trăm doanh nghiệp đóng trên địa bàn Quận và hàng nghìn lượt người lao động có nhu cầu tìm việc tham gia, kết quả đã phỏng vấn 1.438 lao động, tuyển dụng trực tiếp được 683 lao động; phiên thứ hai diễn

ra vào năm 2012 có 45 đơn vị, doanh nghiệp, trường Cao đẳng, Trung tâm dạy nghề tham gia, kết thúc phiên giao dịch có 286 người lao động được tuyển dụng trực tiếp, 46 người được tuyển sinh đào tạo, 261 người lao động hẹn phỏng vấn lần 2

Trang 38

+ Phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội quận thẩm định trình Ủy ban nhân dân quận duyệt cho vay giải quyết việc làm:

Bảng 1.1: Kết quả cho vay vốn tạo việc làm trên địa bàn Quận Thanh Xuân

Năm Số dự

án

Tổng số tiền (triệu đồng)

Tổng số người được giải quyết việc làm từ

dự án

Tổng số người được giải quyết việc làm bằng nhiều hình thức khác nhau

(Nguồn: Báo cáo kết quả công tác LĐTBXH quận Thanh Xuân)

Những kinh nghiệm của quận Thanh Xuân có thể tham khảo là:

+ Tổ chức tập huấn nghiệp vụ thu thập xử lý thông tin cung – cầu lao động đến cán bộ chuyên môn của các phường và toàn bộ tổ trưởng các tổ dân phố

+ Tổ chức các phiên giao dịch giới thiệu việc làm với sự tham gia của nhiều tổ chức kinh tế

+ Phối hợp chặt chẽ giữa các phòng, ban, ngành của quận trong công tác tạo điều kiện cho người dân vay vốn GQVL, bảo đảm quyền lợi người lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn quận

+ Người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp: được cung cấp các thông tin

về việc tổ chức các lớp đào tạo nghề để đăng ký tham gia đào tạo; được cung cấp thông tin về nhu cầu tuyển dụng lao động của các tổ chức kinh tế; khi tham gia học nghề được hỗ trợ hoặc miễn kinh phí đào tạo (tùy theo chương trình dạy nghề ngắn hay dài hạn); được tạo điều kiện thuận lợi cho vay ưu đãi khi có nhu cầu vay vốn để mở các cơ sở SXKD

1.3.2.2 Kinh nghiệm quâ ̣n Hoàng Mai:

Những kinh nghiệm tốt có thể tham khảo là:

Trang 39

+ Sử dụng tốt nguồn vốn hỗ trợ việc làm của Trung ương, thành phố và của quận vào tạo việc làm Kết quả đã giải quyết việc làm cho 8.663 lao động (đặc biệt phần lớn trong số này là những lao động thuần nông, tuổi cao, văn hóa thấp)

+ Phát huy các cơ sở dạy nghề trên địa bàn quận (trong đó có Trung tâm dạy nghề quận) đã đào tạo và đào tạo lại (hệ dạy nghề ngắn hạn) được 7.527 người lao động Trung tâm dạy nghề quận Hoàng Mai được bố trí đảm bảo biên chế, trang bị cơ sở vật chất, đồng thời chủ động mở rộng liên kết với các đơn vị bạn , phối hợp chặt chẽ với các phòng ban ngành, các phường trong quận

+ Thực hiện việc lập cơ sở dữ liệu về công tác lao động - việc làm - dạy nghề Hàng năm cơ sở dữ liệu được cập nhật thông tin kịp thời Trên cơ sở đó quận Hoàng Mai có chủ trương, biện pháp, định hướng chính sách hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm phù hợp với người lao động, nhằm giảm tỷ lệ lao động không có việc làm, góp phần tích cực nâng cao đời sống người lao động trên địa bàn

+ Tổ chức vận hành thị trường lao động trên địa bàn, tổ chức đào tạo và đào tạo lại đội ngũ lao động Nâng cao nhận thức của xã hội và dạy nghề và giải quyết việc làm trong nhân dân

+ Người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp được cung cấp các thông tin

về việc tổ chức các lớp đào tạo nghề để đăng ký tham gia đào tạo, được cung cấp thông tin về nhu cầu tuyển dụng lao động của các tổ chức kinh tế Khi tham gia học nghề được hỗ trợ hoặc miễn kinh phí đào tạo (tùy theo chương trình dạy nghề ngắn hay dài hạn

Những kinh nghiệm chưa tốt nên tránh là:

+ Công tác thống kê số lượng, chất lượng người lao động và kiểm soát kết quả giải quyết việc làm chưa tốt; chưa có cán bộ chuyên trách về thông tin việc làm ở cấp phường; Công tác quản lý, dự báo về thị trường sức lao động, hướng

Trang 40

dẫn, tư vấn, tuyên truyền cho người có nhu cầu việc làm, học nghề chưa hiệu quả;

+ Chưa tổ chức việc gắn kết giữa đào tạo-việc làm và chính sách hỗ trợ đào tạo việc làm, nhiều lao động được đào tạo nhưng vẫn rất khó tìm được việc làm

+ Các cơ sở dạy nghề chưa đầu tư chiều sâu về con người và cơ sở vật chất để đào tạo nghề theo kịp đòi hỏi của xã hội (nghề mới, áp dụng công nghệ tiên tiến,hiện đại ) Chưa giải quyết được cho vay vốn để học nghề ngắn hạn

+ Nguồn vốn cho vay của quận vào hỗ trợ giải quyết việc làm còn ít; chưa

có chính sách huy động các nguồn vốn xã hội cho tạo việc làm

+ Để cung lao động vượt quá cầu lao động (để tốc độ tăng dân số nhanh, chưa quản lý tốt lao động ở các nơi đổ về quận để tìm việc làm)

+ Các phòng, ban chức năng của quận chưa có sự phối hợp đồng bộ trong việc tạo chính sách, cơ chế khuyến khích, phát huy có hiệu quả việc khôi phục

và phát triển các làng nghề truyền thống của địa phương, góp phần giải quyết việc làm cho lao động dư thừa

1.4 Một số nhận xét tổng quát về giải pháp tạo việc làm cho người lao động

bị thu hồi đất nông nghiệp

i) Phát triển nhanh các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế

Các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế có vai trò to lớn đối với tạo việc làm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Các doanh nghiệp này nhanh chóng hình thành và phát triển trong kinh tế thị trường nên khả năng tạo việc làm nhanh

và rộng lớn Thực tế ở quận Hà Đông đã chứng minh 98% số doanh nghiệp thuộc loại hình nhỏ và vừa, có vốn đầu tư ban đầu không lớn nhưng được hình thành và phát triển rộng khắp ở các phường, ở hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực; khai thác và huy động các nguồn lực, tiềm năng, tạo cơ hội cho đông đảo người lao động trên địa bàn quận có việc làm

Ngày đăng: 03/09/2017, 23:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w