1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp nâng cao thu nhập của các hộ nông dân trồng chè tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang

136 264 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều kiện tự nhiên rất ưu đãi cho cây chè sinh trưởng và phát triển tại nơi đây, nhưng vẫn luôn tồn tại những hạn chế nhất định như cơ sở hạ tầng chư đáp ứng được nhưu cầu phát triển, gi

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp, khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, khoa Sau đại học đã giảng dạy, giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học 2011-2013

Tôi cũng đã nhận được sự quan tâm chỉ bảo, nhiệt tình giúp đỡ quý báu của tập thể bộ môn Quản trị kinh doanh – khoa Kinh tế và phát triển nông thôn trong suốt quá trình thực hiện luận văn đảm bảo được yêu cầu và hoàn thành đúng tiến độ đề ra

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới thầy giáo – PGS.TS Nguyễn Đình Long - người đã định hướng, trực tiếp hướng dẫn và đóng góp

cụ thể trong quá trình thực hiện luận văn của tôi

Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ các phòng ban thuộc huyện Yên Sơn, cán bộ, nhân dân và các hộ Nông dân trồng chè được điều tra tại ba xã Thắng Quân, Mỹ Lâm, Nhữ Khê đã nhiệt tình cung cấp thông tin, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn

Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới các tập thể, cá nhân, bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã động viên, khích lệ trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 09 năm 2013

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Thế

Trang 3

MU ̣C LỤC

Trang TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm của hộ, hộ nông dân 4

1.1.2 Cơ sở lý luận về thu nhập của hộ nông dân 10

1.1.3 Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất chè 12

1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân trồng chè 23

1.1.5 Đặc điểm về thu nhập của hộ nông dân trồng chè tại huyện Yên Sơn 26

1.1.6 Những vấn đề về nâng cao thu nhập 28

1.2 Cơ sở thực tiễn 29

1.2.1 Tình hình sản xuất tiêu thụ chè trên thế giới 29

1.2.2 Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam 33

1.2.3 Hiện trang phát triển chè ở các tỉnh miền núi phía bắc 35

1.2.4 Tình hình tiêu thụ, sản xuất và chế biến chè ở Tuyên Quang 40

1.2.5 Tình hình nghiên cứu thu nhập của hộ và những bài học kinh nghiệm 46

Trang 4

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM HUYỆN YÊN SƠN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU 49

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện yên sơn 49

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 49

2.1.2 Các nguồn tài nguyên 53

2.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 57

2.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 57

2.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 58

2.2.3 Dân số 63

2.2.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 63

2.3 Đánh giá chung về đặc điểm huyện yên sơn 68

2.3.1 Thuận lợi 68

2.3.2 Khó khăn 70

2.3.3 Áp lực đối với đất đai 71

2.4 Phương pháp nghiên cứu 72

2.4.1 Phương pháp chọn điểm điều tra 72

2.4.2 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 74

2.4.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 75

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Và THẢO LUẬN 77

3.1 Tình hình kinh tế hộ nông dân trồng chè trên địa bàn 77

3.1.1 Tình hình kinh tế các hộ dân chuyên trồng chè sản xuất 77

3.1.2 Tình hình sản xuất, thu mua và tiêu thụ của các doanh nghiệp 79

3.2 Đánh giá thực trạng của hộ dân trồng chè trên địa bàn 80

3.2.1 Tình hình chung của nhóm hộ nghiên cứu 80

3.2.2 Tình hình sản xuất chè của hộ 85

3.3 Ảnh hưởng của các yếu tố tới thu nhập của hộ trồng chè 95

3.3.1 Ảnh hưởng của các yếu tố về điều kiện sản xuất 95

Trang 5

3.3.2 Tổ chức sản xuất 97

3.3.3 KHKT và công nghệ 97

3.3.4 Quản lý vĩ mô của nhà nước 98

3.3.5 Phong tục, tập quán sản xuất 99

3.4 Đánh giá thực trạng thu nhập của hộ trồng chè 102

3.4.1 Kết Quả 102

3.4.2 Những nguyên nhân 104

3.5 Quan điểm, mục tiêu nâng cao thu nhập cho các nông hộ trồng chè 105

3.5.1 Quan điểm nâng cao thu nhập cho các nông hộ trồng hè 105

3.5.2 Mục tiêu nâng cao thu nhập cho nông hộ dân trồng chè ở Yên Sơn 106

3.6 Định hướng chủ yếu nâng cao thu nhập cho hộ trồng chè 106

3.6.1 Định hướng chung 106

3.6.2 Định hướng đặc thù đối với nông trồng chè ở Yên Sơn 107

3.7 Giải pháp nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân trồng chè ở Yên Sơn 108

3.7.1 Giải pháp về kỹ thuật và tăng cường ứng dụng các thành tựu mới của khoa học kỹ thuật vào sản xuất chè 108

3.7.2 Giải pháp về chế biến chè 110

3.7.3 Giải pháp tiêu thụ sản phẩm và xây dựng thương hiệu chè Yên Sơn 111

3.7.4 Giải pháp về cơ chế chính sách 111

3.7.5 Giải pháp về nguồn vốn để phát triển sản xuất chè 112

3.2.6 Giải pháp thủy lợi phục vụ sản xuất chè 112

3.2.7 Giải pháp về công tác khuyến nông 113

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 114 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GO/ha Tổng giá trị sản xuất/ha

GO/IC Tổng giá trị sản xuất/ chi phí trung gian

VA/IC Giá trị gia tăng/chi phí trung gian

GO/lđ Tổng giá trị sản xuất/ lao động

VA/lđ Giá trị sản xuất/ lao động

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới 50 năm

1.2 Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng một số nước trồng

1.3 Nhu cầu sử dụng chè của một số nước trên thế giới năm

1.4 Diễn biến diện tích, sản lượng chè Việt Nam từ 1980-1990 34

1.5 Tình hình diện tích, năng suất, sản lượng chè ở Việt Nam

1.6 Tình hình diện tích, năng suất, sản lượng chè ở một số tỉnh

1.7 Sản lượng chè búp tươi của tỉnh Tuyên Quang 2010 - 2012 40 1.8 Diện tích chè của tỉnh Tuyên Quang năm 2010 - 2012 43 2.1 Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Yên Sơn 57 2.2 Diện tích, năng xuất và sản lượng cây trồng năm 2011 59

2.5 Bảng tiêu chí phân loại kinh tế hộ tại các xã nghiên cứu 74

3.1 Phân loại hộ trồng chè trên địa bàn huyện giai đoạn 2010 -

3.2 Tình hình sản xuất chè của các hộ nông dân trên dịa bàn

3.3 Tình hình sản xuất chè của các doanh nghiệp trên dịa bàn

Trang 8

3.9 Tổng hợp chi phí trồng mới và chi phí kiến thiết cơ bản của

3.10 Cơ cấu giống chè của nhóm hộ sản xuất chè huyện Yên Sơn

Trang 9

DANH MU ̣C CÁC HÌNH

3.3 Diện tích, năng suất, sản lượng chè của hộ sản xuất chè

huyện Yên Sơn năm 2013

85

3.4 Kết quả sản xuất chè của hộ sản xuất chè huyện Yên Sơn

năm 2009

93

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Cây chè được người Việt Nam biết đến từ rất xa xưa và nó đã trở thành một loại nước uống rất phổ biến Thói quen uống trà đã không chỉ là nét đẹp văn hoá của người dân Việt Nam nói riêng mà nó rất gần gũi với người dân Châu Á và trên Thế giới Có nơi đã trở thành một thứ trà đạo kèm theo đó là một ngành công nghiệp chế biến được hình thành và phát triển với công nghệ ngày một đổi mới hiện đại cho nhiều loại sản phẩm khác nhau và có chất lượng cao, đáp ứng được khẩu vị của nhiều người

Ở Việt Nam nền công nghiệp chế biến chè còn kém phát triển so với Thế giới Người nông dân trồng chè vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình canh tác và sản xuất dẫn đến hiệu quả trong sản xuất kinh doanh vẫn chưa được cao

Cây chè ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang là một cây công nghiệp lâu năm đã gắn liền với cuộc sống của những người dân nơi đây hàng ngày cây chè vẫn cung cấp sản phẩm phục vụ cho đời sống của người dân nơi đây, giúp

họ tồn tại và dần nâng cao cuộc sống

Điều kiện tự nhiên rất ưu đãi cho cây chè sinh trưởng và phát triển tại nơi đây, nhưng vẫn luôn tồn tại những hạn chế nhất định như cơ sở hạ tầng chư đáp ứng được nhưu cầu phát triển, giao thông vận tải thì còn gặp nhiều khó khăn, diện tích sản xuất của từng hộ dân thì còn manh mún, sản xuất dựa nhiều vào điều kiện thời tiết, công cụ sản xuất thô sơ…

Nhận thấy những vấn đề đó với mong muốn giúp người nông dân trồng chè

có thể từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất dẫn tới tăng năng suất và thu nhập cho người nông dân giúp người dân có thể sống và làm giàu từ cây chè tôi đã

quyết định nghiên cứu và thực hiện đề tài: “Một số giải pháp nâng cao thu nhập của các hộ nông dân trồng chè tại huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang”

Trang 11

2 Mục tiêu nghiên cứu:

2.1 Mục tiêu tổng quát:

-Trên cơ sở thực trạng phát triển về sản xuất và thu nhập của các hộ nông dân trồng chè, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân trồng chè ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang, góp phần xóa đói giảm nghèo cho các hộ nông dân trồng chè tại đây

- Đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao thu nhập cho các

hộ nông dân trồng chè trong thời gian tới tại huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hộ nói chung và dân trồng chè ở Yên Sơn nói riêng

- Các hộ nông dân trồng, sản xuất, chế biến và kinh doanh chè trên địa bàn huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang:

- Phân tích về thu nhập của các hộ nông dân trồng chè ở huyện Yên Sơn

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung: Các vấn đề chủ yếu liên quan đến kinh tế nông hộ nói chung, hộ nông dân trồng chè trên địa bàn nghiên cứu và giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân trồng chè tại huyện Yên Sơn

- Về không gian: đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang

Trang 12

- Về thời gian: Số liệu thống kê của huyện yên sơn từ năm 2009 đến năm 2012 và số liệu điều tra hộ nông dân trồng chè tháng 6 năm 2013

4 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu các vấn đề chủ yếu liên quan đến kinh tế nông hộ nói

chung và hộ dân trồng chè trên địa bàn huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang

- Nghiên cứu về thực trạng trồng, sản xuất chè và thu nhập của các hộ nông dân trồng chè tại huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân trồng chè tại huyện Yên Sơn góp phần xây dựng đời sống mới khá giả, giàu mạnh hơn cho những hộ nông dân trồng chè tại đây

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm của hộ, hộ nông dân

1.1.1.1 Khái niệm hộ và hộ nông dân

Khái niệm về hộ

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hộ, nhưng vẫn tập trung vào 3 quan điểm cơ bản:

Dưới khía cạnh kinh tế: Hộ là tập hợp những thành viên có chung một

cơ sở kinh tế (cùng làm, cùng ăn, cùng ngân quỹ) (có thể cùng hoặc không cùng huyết thống)

Dưới khía cạnh nhân chủng học: Hộ là tập hợp những người cùng chung huyết tộc (có chung một cơ sở kinh tế)

Quan điểm mang tính toàn diện hơn của Traianốp nhà khoa học kinh tế nông nghiệp nổi tiếng hàng đầu của Nga cho rằng : Khái niệm hộ, đặc biệt trong đời sống nông thôn không phải bao giờ cũng tương đương với khái niệm sinh học mà còn liên quan đến đời sống kinh tế và đời sống gia đình

Trong thực tiễn, ở nông thôn nước ta, hộ tồn tại chủ yếu dưới dạng hộ gia đình, là những hộ vừa có chung huyết thống lẫn điều kiện kinh tế Một gia đình có thể có nhiều hộ, nhiều thế hệ cùng huyết tộc, hôn phối cùng chung sống dưới một mái nhà; khi con cái trưởng thành, cha mẹ cho con vốn làm ăn riêng, mặc dù đã tách hộ, song vẫn chung sống cùng bố mẹ dưới một mái nhà Đây là dạng gia đình mở rộng Gia đình chỉ được coi là hộ khi các thành viên của nó có chung một cơ sở kinh tế Như vậy giữa hộ và gia đình có những điểm khác nhau, những yếu tố lịch sử, phong tục và tập quán ảnh hưởng đến

sự hình thành hộ trên nền tảng cơ bản là hộ gia đình Gia đình được xem như một đơn vị xã hội có mối quan hệ huyết thống giữa các cá nhân và thường

Trang 14

ranh giới không rõ, do đó rất khó sử dụng đơn vị gia đình để phân tích các yếu tố về chi phí, thu nhập và tiêu dùng, Vì thế, nhà kinh tế thường tập trung vào đơn vị hộ và giả thiết rằng thu nhập được đóng góp chung của các thành viên, chi tiêu được chia đều, quyết định sản xuất đưa ra dựa trên ý kiến của những người trưởng thành trong hộ

Tóm lại, khái niệm hộ bao gồm:

Hộ là một nhóm người cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc

Họ sống chung hoặc không sống chung dưới một mái nhà

Có chung một ngân quỹ và ăn chung

Cùng tiến hành sản xuất chung

Khái niệm hộ nông dân

Trong lịch sử phát triển nông nghiệp của thế giới, HND là khái niệm chỉ một đơn vị cấu thành cơ bản trong sản xuất nông nghiệp, một nhóm hộ sống ở khu vực nông thôn và liên quan đến các hoạt động nông nghiệp xen lẫn với phi nông nghiệp với mức độ khác nhau HND có thể có nhiều thành viên tham gia hoạt động phi nông nghiệp, tuy nhiên, cuộc sống của hộ chủ yếu vẫn dựa vào các nguồn tài nguyên như đất đai và từ các hoạt động chăn nuôi và trồng trọt Dưới khía cạnh kinh tế, hoạt động nổi trội nhất của HND là sản xuất nông nghiệp, đất đai là phương tiện sống, có cuộc sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, chủ yếu sử dụng lao động gia đình trong sản xuất nông nghiệp, và đặc trưng bởi sự tham gia một phần trong thị trường sản phẩm đầu vào và đầu ra chưa hoàn hảo Hộ gia đình ở nông thôn làm nông nghiệp được gọi là HND

Theo Đào thế Tuấn (1997) “hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”.[56,tr.50] Theo Nguyễn Sinh Cúc [16,tr.7] đưa ra khái niệm: “hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc hơn

Trang 15

50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp"

HND thường được xem là đơn vị cơ bản để phân tích tài chính, kinh

tế, xã hội trong một hệ thống mở liên quan với phạm vi và tổ chức xã hội từ thấp đến cao bao gồm: hộ nông dân - hệ thống sản xuất - cộng đồng nông thôn - hệ thống xã hội phạm vi quốc gia và thế giới

HND hình thành một hệ thống HND với cấu trúc ba chiều, trong đó

hộ vừa là đơn vị cư trú, vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu thụ

HND không thể tồn tại độc lập với các hệ thống sản xuất và cấu trúc kinh tế xã hội của thế giới bên ngoài mà nằm trong một tổng thể với các mối liên hệ mật thiết và tác động qua lại với các yếu tố đó Do đó, HND bị chi phối và ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài cũng như yếu tố nội tại Tuy nhiên, HND có khả năng tồn tại bền vững trong nhiều thể chế chính trị - kinh tế - xã hội

Khái niệm về kinh tế hộ nông dân

T Chayanov cho rằng:

+ Kinh tế hộ nông dân là một loại hình kinh tế phức tạp của tổ chức sản

Trang 16

xuất nông nghiệp Đó là những xí nghiệp sản xuất hàng hoá của gia đình nông dân không thuê lao động và chiếm đại bộ phận nông hộ nước Nga trước Cách mạng tháng Mười cũng như trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô trước đây

+ Trong kinh tế gia đình, người nông dân vừa làm chủ, vừa là người lao động Mục đích không phải vì lợi nhuận mà để thoả mãn những nhu cầu của gia đình

+ Lợi nhuận của tư bản là lợi nhuận ròng, được tính bằng cách lấy tổng số thu nhập trừ các chi phí sản xuất Cách tính lợi nhuận như vậy không thể áp dụng được cho kinh tế HND vì trong kinh tế HND sức lao động bỏ ra không được thể hiện cũng như không tính được bằng lương tháng Chừng nào các yêu cầu của gia đình nông dân còn chưa được thoả mãn, chừng nào việc thoả mãn các nhu cầu còn được đánh giá cao hơn lượng lao động cần thiết thì gia đình nông dân vẫn sẽ làm việc vì những khoản tiền công nhỏ bé mà chắc chắn không có khả năng sinh lợi trong kinh tế tư bản (dẫn theo [28,trang 48- 49])

Xuất phát từ quan điểm về HND kinh tế HND bao gồm các nguồn thu

từ nông nghiệp và phi nông nghiệp (nông nghiệp ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả nông - lâm - ngư nghiệp)

1.1.1.2 Vai trò của kinh tế hộ nông dân trong phát triển kinh tế nông nghiệp

Sự tồn tại của HND là do đặc điểm rất riêng của sản xuất nông nghiệp Nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận hộ là đơn vị kinh tế cơ bản, là chủ thể sản xuất nông nghiệp

Năm 1925, T Chayanov đã nghiên cứu hình thái của gia đình nông dân không có lao động làm thuê và chỉ sử dụng sức lao động gia đình là hình thức tổ chức sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao trong điều kiện sản xuất nông nghiệp thủ công Tổng kết kinh nghiệm của mô hình trang

Trang 17

trại ở Mỹ, Anh, Hà Lan và Italia ông cũng chứng minh sức sống của kinh tế

hộ trên mảnh đất gia đình

Mác, sau khi nghiên cứu thực tế phát triển kinh tế HND ở Anh đã rút ra kết luận: “Ngay ở nước siêu công nghiệp với thời gian cho đến nay đã khẳng định, hình thức lãi nhất không phải là nông trại công nghiệp hoá mà là nông trại gia đình không dùng lao động làm thuê” Song điều đó không có nghĩa là Mác tuyệt đối hoá tính chất bền vững của kinh tế tiểu nông Mác nhận thấy rằng đối với “nghề nông hợp lý” thì hoặc là phải có bàn tay của người tiểu nông sống bằng “lao động của mình”, hoặc là phải có sự kiểm soát của những người sản xuất có liên kết với nhau

Ở nước ta trong thời kỳ hợp tác hoá nông nghiệp, nông hộ được hợp tác

xã (HTX) giành cho 5% đất canh tác để làm “kinh tế phụ gia đình” hay “kinh

tế phụ xã viên” Nhưng trên thực tế, với 5% đất canh tác này đã tạo ra 48% giá trị tổng sản lượng nông nghiệp, 95% sản lượng chăn nuôi, 93% sản lượng rau quả, thu nhập chiếm 50 - 60% tổng thu nhập của hộ Tuy kinh tế tập thể

sử dụng trên 90% đất đai và các tư liệu sản xuất chủ yếu nhưng thu nhập của người nông dân từ kinh tế tập thể cũng chỉ chiếm từ 40 - 50% Từ khi Nghị quyết 10 xác định HND là đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất kinh doanh, kinh tế HND đã có những bước phát triển đáng kể và khẳng định vai trò quan trọng trong sự phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá nước ta, thể hiện rõ trên các mặt:

- Phát huy tốt các tiềm lực sản xuất (đất đai, lao động, vốn, kinh nghiệm sản xuất, ) để tạo ra nhiều nông sản hàng hoá cho xã hội, tạo ra bước tiến quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta từ những năm

90 đến nay

- Kinh tế trong nông nghiệp đã tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống

Trang 18

Từ những căn cứ về lý luận và thực tiễn, từ các quan điểm đánh giá của các nhà nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy kinh tế HND có những vai trò và ý nghĩa thiết thực đối với nền kinh tế quốc dân:

+ Cung cấp sản phẩm không thể thiếu cho xã hội loài người, nhằm đáp ứng tiêu dùng và tạo nguồn nguyên liệu cho các ngành kinh tế quốc dân

+ Cung cấp và duy trì các nguồn lực như đất đai, lao động, góp phần phân công lao động xã hội

+ Là thị trường rộng lớn của các ngành kinh tế quốc dân

1.1.1.3 Đặc điểm của kinh tế hộ nông dân

+ Kinh tế HND là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, các thành viên

có mối quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế cũng như huyết thống Trong nông

hộ, chủ hộ thường là người vừa điều hành quản lý sản xuất lại vừa là người trực tiếp tham gia lao động nên tính thống nhất giữa lao động quản lý và lao động trực tiếp rất cao

+ Đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của HND Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất Giải quyết mối quan hệ giữa nông dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản về kinh tế HND Ở nước ta, từ năm

1988 khi Nhà nước giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các HND, sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa, đã có mức tăng chưa từng có về năng suất và sản lượng Người nông dân phấn khởi trong sản xuất Một vấn đề quan trọng ở đây là việc xác nhận họ được quyền kiếm sống gắn bó với mảnh đất của họ

+ Kinh tế HND chủ yếu sử dụng lao động gia đình, việc thuê mướn lao động mang tính chất thời vụ không thường xuyên hoặc thuê mướn để đáp ứng nhu cầu khác của gia đình Một thực tế là hiệu quả sử dụng lao động trong nông nghiệp rất cao, khác với các ngành kinh tế khác do các thành viên trong

hộ cùng dựa trên một cơ sở kinh tế, ý thức trách nhiệm rất cao, việc bố trí, sắp

Trang 19

xếp công việc trong hộ cũng rất linh hoạt, hợp lý

+ Sản xuất của HND là tập hợp các mục đích kinh tế của các thành viên trong gia đình, thường nằm trong một hệ thống sản xuất lớn hơn của cộng đồng Kinh tế HND là tế bào kinh tế của sản xuất nông nghiệp, tất yếu có quan hệ với thị trường song mức độ quan hệ còn thấp, chưa gắn chặt với thị trường Nếu tách họ ra khỏi thị trường họ vẫn tồn tại Mặt khác, hộ cũng sẽ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh cao

1.1.2 Cơ sở lý luận về thu nhập của hộ nông dân

1.1.2.1 Khái niệm về thu nhập

Thu nhập là một trong những phương tiện giúp con người định hướng giải quyết nhiều vấn đề trong cuộc sống Chính vì vậy, khi nghiên cứu về hộ nông dân, nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu quan tâm đến thu nhập của hộ Xong do được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau cho nên thu nhập hộ nông dân cũng được nhìn nhận và khái niệm khác nhau

Quan điểm của Traianốp về thu nhập của hộ nông dân trong điều kiện không tồn tại thị trường sức lao động Theo ông, thu nhập hộ nông dân không giống thu nhập của các xí nghiệp tư bản Thu nhập trong nông hộ không chỉ

có tiền lãi kinh doanh mà bao gồm toàn bộ giá trị lao động Như vậy, thu nhập của hộ nông dân là phần còn lại sau khi lấy tổng giá trị sản xuất trừ đi tổng chi phí vật chất

Theo Đỗ Kim Chung đưa ra quan điểm về thu nhập của hộ nông dân như sau Vẫn là thu nhập hỗn hợp nhưng phần chi phí mà hộ tự sản xuất ra không qua trao đổi trên thị trường là khó hạch toán cho nên thu nhập của hộ nông dân vẫn bao gồm cả chi phí này Ngoài thu nhập từ các hoạt động sản xuất trong nông hộ thì phần thu từ các hoạt động ngoài nông hộ chiếm tỷ lệ không nhỏ

Theo Chúng tôi thu nhập của một hộ nông dân được hiểu là phần giá trị

Trang 20

sản xuất tăng thêm mà hộ được hưởng để bù đắp cho thù lao lao động của gia đình, cho tích luỹ và tái sản xuất mở rộng nếu có Thu nhập của hộ phụ thuộc vào kết quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh mà hộ thực hiện Có thể phân thu nhập của hộ nông dân thành 3 loại: thu nhập từ nông nghiệp, thu nhập từ phi nông nghiệp và thu nhập khác

1.1.2.2 Nội dung và phương pháp tính thu nhập cho hộ nông dân

* Nội dung

Tổng thu của hộ nông dân có được từ hoạt động sản xuất khác nhau trong nông hộ do các thành viên cùng chung gánh vác tạo ra Một số khác lại cho rằng việc kiếm được từ các công việc khác ngoài nông hộ như làm thuê, lương hưu, trợ cấp v.v cũng làm tăng nguồn thu cho hộ Như vậy, tổng thu của hộ có được từ 3 nguồn chính là thu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp và thu nhập từ các khoản thu nhập khác

* Phương pháp tính tổng thu nhập của hộ nông dân

Thu từ sản xuất nông nghiệp =  Số lượng sản phẩm chính (phụ) x giá bán Thu từ chăn nuôi = Số lượng sản phẩm chính (phụ) x giá bán Thu từ hoạt động phi nông nghiệp =  Số lượng hàng hoá x giá bán Thu nhập khác = Tổng các khoản thu thực tế khác trong năm

1.1.2.3 Nội dung và cách tính chi phí

* Nội dung

Chi phí sản xuất thể hiện bằng tiền hoặc hiện vật các yếu tố sản xuất được đưa vào một hoặc nhiều quá trình sản xuất Thực chất, chi phí sản xuất bao gồm chi phí tự có của hộ (phần không phải trả) và toàn bộ phần phải chi khác (phần phải trả) để có thể tạo ra một lượng sản phẩm tương ứng với thời

kỳ một năm

Trang 21

* Phương pháp tính chi phí

Tổng chi phí SX = CP biến đổi + CP cố đinh + CP chung khác

1.1.2.4 Nội dung và phương pháp tính thu nhập

* Nội dung:

Thu nhập của hộ nông dân là phần còn lại sau khi đã trừ hết chi phí sản xuất Như vậy, thu nhập của hộ nông dân bao gồm lợi nhuận kinh doanh, tiền công của chủ hộ và các thành viên trong hộ, và các khoản thu nhập ngoài nông hộ Một phần thu nhập sẽ được sử dụng vào chi tiêu đời sống, sinh hoạt, một phần dùng để đầu tư cho quá trình sản xuất tiếp theo hay gửi tiết kiệm

* Phương pháp tính thu nhập

TN của hộ = Tổng thu của hộ - Tổng chi phí SX

Tổng TN của hộ = TN từ HĐSXNN + TN từ phi NN + TN khác

1.1.3 Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất chè

1.1.3.1 Quá trình phát triển cây chè ở Việt Nam

Cây chè Việt Nam có xuất xứ từ cây chè rừng, những năm trước đây, người Việt Nam trồng chè chủ yếu dưới 2 loại hình: cây chè vườn được trồng bởi hộ gia đình, sử dụng lá chè tươi đun để làm thức uống Loại chè này được trồng nhiều ở vùng đồng bằng sông Hồng, ở Hà Đông, chè đồi ở Nghệ An Loại chè thứ hai là chè rừng vùng núi, với tập quán là uống chè mạn, lên men một nửa, thường được ưa chuộng ở vùng Hà Giang, Bắc Hà (Lào Cai)

Cây chè (Thea sinensis L.) là một trong số ít những cây công nghiệp của

vùng trung du và miền núi, ngay từ đầu thế kỷ XX đã được chú ý nghiên cứu đưa vào khai thác, sử dụng trên quy mô công nghiệp Năm 1939, diện tích chè

đã có 17.400 ha, sản lượng 10.900 tấn, xếp thứ 6 thế giới sau Ấn Độ, Sri Lanka, Trung Quốc, Nhật Bản và Indonesia Thời đó, người Pháp đã đưa mặt hàng chè của ta đi tiêu thụ ở một số nơi trên thị trường thế giới với các tên gọi khác nhau

Trang 22

Về sau này, có hai loại chè công nghiệp mới xuất hiện: chè đen công nghệ truyền thống orthodox (OTD) và chè xanh chảo Trung Quốc Bắt đầu phát triển những đồn điền chè lớn tư bản Pháp với thiết bị công nghệ hiện đại Người dân Việt Nam sản xuất chè xanh tại hộ gia đình và tiểu doanh điền Chè đen xuất khẩu sang thị trường Tây Âu, chè xanh xuất sang thị trường Bắc Phi

Sau khi hoà bình lập lại (1954) thời “hoàng kim” của chè là vào những năm của thập kỷ 60, 70 và 80 Được nhà nước khuyến khích, đầu tư hàng vạn lao động gồm bộ đội giải ngũ, thanh niên xung phong đi xây dựng vùng kinh

tế mới, lập nên những công trường, lâm trường và nông trường (chủ yếu là trồng chè) Nhà nước đã tiến hành xây dựng các nông trường quốc doanh và hợp tác xã nông nghiệp trồng chè; chè đen OTD xuất khẩu sang Liên Xô – Đông Âu, còn chè xanh xuất khẩu sang Trung Quốc

Hiện nay ở Việt Nam có một số vùng chè lâu năm, chuyên về sản xuất chè Có thể kể ra như khu vực chè Tây Nguyên cới cao nguyên Lâm Viên, Bảo Lộc (Lâm Đồng), khu vực Bắc Trung Bộ với chè Tân Cương (Thái Nguyên) nổi tiếng, vùng chè Trung Bộ gồm Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định

1.1.3.2 Một số cách phân loại và đặc điểm của cây chè

Cây chè nằm trong hệ thống phân loại thực vật như sau:

- Ngành hạt kín Angiospermae

- Lớp song tử diệp Dicotyledonae

- Bộ chè Theales

- Họ chè Theaceae

- Chi chè Camellia (Thea)

- Loài Camellia sinensis

Năm 1753, Line đặt tên khoa học cho chè là Thea sinensis, sau đó đặt lại

là Camellia sinensis Sau Line, có nhà thực vật học xếp cây chè thuộc chi

Trang 23

Thea, có người lại xếp cây chè thuộc chi Camellia sinensis Tên khoa học của

cây chè được viết là Thea sinensis hoặc Camellia sinensis Hơn một trăm

năm, tên khoa học của cây chè vẫn là một vấn đề tranh luận Trước sau có 20 cách đặt tên khoa học cho cây chè Hiện nay, các nhà thực vật học gộp hai chi

Thea và Camellia làm một và gọi là chi Camellia Vì vậy, tên khoa học của

cây chè được nhiều người thường gọi là Camellia sinensis (L) O.Kuntze

Cơ sở của việc phân loại chè dựa vào:

- Cơ quan dinh dưỡng: loại thân bụi hoặc thân gỗ, hình dạng của tán, hình dạng và kích thước của các loại lá, số đôi gân lá

- Cơ quan sinh thực: độ lớn của cánh hoa, số lượng đài hoa, vị trí nhánh của đầu nhị cái

- Đặc tính sinh hoá: chủ yếu dựa vào hàm lượng tanin Mỗi giống chè đều có hàm lượng tanin biến động trong một phạm vi nhất định

1.1.3.3 ý nghĩa của việc phát triển sản xuất chè

Chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, nó có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt và đời sống kinh tế, văn hóa của con người Sản phẩm chè hiện nay được tiêu dùng ở khắp các nước trên thế giới, kể cả các nước không trồng chè cũng có nhu cầu lớn về chè Ngoài tác dụng giải khát chè còn có nhiều tác dụng khác như kích thích thần kinh làm cho thần kinh minh mẫn, tăng cường hoạt động của cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, tăng sức đề kháng cho cơ thể…

Đối với nước ta sản phẩm chè không chỉ để tiêu dùng nội địa mà còn

là mặt hàng xuất khẩu quan trọng để thu ngoại tệ góp phần xây dựng đất nước Đối với người dân thì cây chè đã mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định, cải thiện đời sống kinh tế văn hóa xã hội, tạo ra công ăn việc làm cho bộ phận lao động dư thừa nhất là ở các vùng nông thôn Nếu so sánh cây chè với các loại cây trồng khác thì cây chè có giá trị kinh tế cao hơn hẳn, vì cây chè

Trang 24

có chu kỳ kinh tế dài, nó có thể sinh trưởng, phát triển và cho sản phẩm liên tục khoảng 30 - 40 năm, nếu chăm sóc tốt thì chu kỳ này còn kéo dài hơn nữa

Mặt khác chè là cây trồng thích hợp với các vùng đất trung du và miền núi Chính vì vậy cây chè không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn góp phần cải thiện môi trường, phủ xanh đất trống đồi núi trọc Nếu kết hợp với trồng rừng theo phương thức Nông - Lâm kết hợp sẽ tạo nên một vành đai xanh chống xói mòn rửa trôi, góp phần bảo vệ một nền nông nghiệp bền vững

Như vậy, phát triển sản xuất chè đã và đang tạo ra một lượng của cải vật chất lớn cho xã hội, tăng thu nhập cho người dân, cải thiện mức sống ở khu vực nông thôn Nó góp phần vào việc thúc đẩy nhanh hơn công cuộc Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, giảm bớt chênh lệch về kinh

tế - xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng núi cao và đồng bằng

1.1.3.4 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất chè

Cây chè có đặc điểm từ sản xuất đến chế biến đòi hỏi phải có kỹ thuật khá cao từ khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch đến chế biến và bảo quản Vì thế

để phát triển ngành chè hàng hóa đạt chất lượng cao cần phải quan tâm, chú trọng từ những khâu đầu tiên, áp dụng những chính sách đầu tư hợp lý, loại bỏ dần những phong tục tập quán trồng chè lạc hậu… Để tạo ra được những sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh cao, thu hút khách hàng và các nhà đầu tư sản xuất trong và ngoài nước Nếu coi cây chè là cây trồng mũi nhọn thì cần phải thực hiện theo hướng chuyên môn hóa để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chè góp phần tăng thu nhập cải thiện đời sống người dân trồng chè

* Những nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất chè

a Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên

+ Đất đai và địa hình: Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và cây chè nói riêng Đất đai là yếu tố ảnh

Trang 25

hưởng đến sản lượng, chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm Yếu tố đất đai cho phép quyết định chè được phân bổ trên những vùng địa hình khác nhau Muốn chè có chất lượng cao và hương vị đặc biệt cần phải trồng chè ở

độ cao nhất định Đa số những nơi trồng chè trên thế giới thường có độ cao cách mặt biển từ 500 - 800m So với một số cây trồng khác, cây chè yêu cầu

về đất không nghiêm ngặt Nhưng để cây sinh trưởng tốt, có tiềm năng năng suất cao thì đất trồng chè phải đạt yêu cầu: đất tốt, nhiều mùn, có độ sâu, chua

và thoát nước Độ pH thích hợp là 4,5 - 6, đất phải có độ sâu ít nhất là 60cm, mực nước ngầm phải dưới 1m Địa hình có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng

và chất lượng chè Chè trồng ở trên núi cao có hương vị thơm và mùi vị tốt hơn vùng thấp, nhưng lại sinh trưởng kém hơn ở vùng thấp

+ Thời tiết khí hậu: Cùng với địa hình, đất đai, các yếu tố: nhiệt độ, ẩm

độ trong không khí, lượng mưa, thời gian chiếu sáng và sự thay đổi mùa đều ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, sản lượng và chất lượng chè Cây chè bắt đầu sinh trưởng được ở nhiệt độ >1000C Nhiệt độ trung bình hàng năm để cây chè sinh trưởng và phát triển bình thường là 12,50C, cây chè sinh trưởng và phát triển tốt nhất trong điều kiện nhiệt độ từ 15 -

230C Mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, mùa xuân cây chè sinh trưởng trở lại Cây chè yêu cầu lượng tích nhiệt hàng năm từ 3000 –

40000C Nhiệt độ quá cao và quá thấp đều ảnh hưởng đến việc tích luỹ tanin trong chè, nếu nhiệt độ vượt quá 350C liên tục kéo dài sẽ dẫn đến cháy

lá chè Nhiệt độ thấp kết hợp với khô hạn là nguyên nhân hình thành nhiều búp mù Cây chè tiến hành quang hợp tốt nhất trong điều kiện ánh sáng tán

xạ, ánh sáng trực xạ trong điều kiện nhiệt độ không khí cao không có lợi cho quang hợp và sinh trưởng của chè Tuỳ theo giống và tuổi của chè mà yêu cầu ánh sáng cũng khác nhau Thời kỳ cây con, giống chè lá to yêu cầu ánh sáng ít hơn trong thời kỳ cây trưởng thành và giống lá chè nhỏ

Trang 26

Do cây chè là cây thu hoạch lấy búp non và lá non nên cây ưa ẩm, cần nhiều nước Yêu cầu lượng mưa bình quân trong năm khoảng 1.500 mm và phân bố đều trong các tháng Lượng mưa và phân bố lượng mưa ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng và thu hoạch của cây chè Cây chè yêu cầu độ ẩm cao trong suốt thời kỳ sinh trưởng là khoảng 85% Ở nước ta các vùng trồng chè có điều kiện thích hợp nhất cho cây chè phát triển cho năng suất và chất lượng cao vào các tháng 5, 6, 7, 8, 9 và 10 trong năm

b Nhóm nhân tố về kỹ thuật

+ Ảnh hưởng của giống chè: Chè là loại cây trồng có chu kỳ sản xuất dài, giống chè tốt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sản xuất Do vậy, việc nghiên cứu chọn, tạo và sử dụng giống tốt phù hợp cho từng vùng sản xuất được các nhà khoa học và người sản xuất quan tâm từ rất sớm

Năm 1905, Trạm nghiên cứu chè đầu tiên trên thế giới được thành lập trên đảo Java Đến năm 1913, Cohen Stuart đã phân loại các nhóm chè dựa theo hình thái Tác giả đã đề cập đến vấn đề chọn giống chè theo hướng

di truyền sản lượng, đồng thời ông cũng đề ra tiêu chuẩn một giống chè tốt Theo ông, để chọn được một giống tốt theo phương pháp chọn dòng cần phải trải qua 7 bước:

1 Nghiên cứu vật liệu cơ bản

2 Chọn hạt

3 Lựa chọn trong vườn ươm

4 Nhân giống hữu tính và vô tính

Trang 27

Giống chè ảnh hưởng tới năng suất búp, chất lượng nguyên liệu do

đó cũng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm chè, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và cạnh tranh trên thị trường Mỗi sản phẩm chè đòi hỏi một nguyên liệu nhất định, mỗi vùng, mỗi điều kiện sinh thái lại thích hợp cho một hoặc một số giống chè Vì vậy, để góp phần đa dạng hóa sản phẩm chè và tận dụng lợi thế so sánh của mỗi vùng sinh thái cần đòi hỏi một tập đoàn giống thích hợp với điều kiện mỗi vùng

Để đáp ứng yêu cầu kế hoạch sản xuất chè ở Việt Nam và góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, môi trường của sản xuất chè cần áp dụng đồng bộ các giải pháp, trong đó nghiên cứu và triển khai giống chè mới là giải pháp rất quan trọng, cần thiết cho việc phát triển cây chè cả về trước mắt và lâu dài

+ Tưới nước cho chè: Chè là cây ưa nước, trong búp chè có hàm lượng nước lớn, song chè rất sợ úng và không chịu úng Chè gặp khô hạn sẽ

bị cằn cỗi, hạn chế việc hút các chất dinh dưỡng từ đất, khô hạn lâu ngày sẽ làm giảm sản lượng thậm chí còn chết Do đó, việc tưới nước cho chè là biện pháp giữ ẩm cho đất để cây sinh trưởng phát triển bình thường, cho năng suất và chất lượng cao

+ Mật độ trồng chè: Để có năng suất cao cần đảm bảo mật độ trồng chè cho thích hợp, mật độ trồng chè phụ thuộc vào giống chè, độ dốc,điều kiện cơ giới hóa Nhìn chung tùy điều kiện mà ta bố trí mật độ chè khác nhau, nếu mật độ quá thưa hoặc quá dầy thì sẽ làm cho năng suất sản lượng thấp, lâu khép tán, không tận dụng được đất đai, không chống được xói mòn và cỏ dại, vì vậy cần phải bố trí mật độ chè cho hợp lý

+ Đốn chè: Đốn chè là biện pháp kỹ thuật không những có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây chè mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè Do vậy, kỹ thuật đốn chè đã được nhiều nhà

Trang 28

khoa học chú ý nghiên cứu Kỹ thuật đốn chè ở Việt Nam đã được đề cập từ lâu, đầu tiên từ những kinh nghiệm của thực tiễn sản xuất Trước năm 1945 nhân dân vùng Thanh Ba - Phú Thọ đã có kinh nghiệm đốn chè kinh doanh:

"Năm đốn - năm lưu" Những công trình nghiên cứu về đốn chè ở Trại Thí nghiệm chè Phú Hộ - Phú Thọ từ năm 1946 - 1967 đã đi đến kết luận hàng năm đốn chè tốt nhất vào thời gian cây chè ngừng sinh trưởng và đã đề ra các mức đốn hợp lý cho từng loại hình đốn:

Đốn phớt: Đốn hàng năm, đốn cao hơn vết đốn cũ 3 - 5cm, khi cây chè cao hơn 70cm thì hàng năm đốn cao hơn vết đốn cũ 1 - 2cm

Đốn lửng: Đốn cách mặt đất 60 - 65cm

Đốn dàn: Đốn cách mặt đất 40 - 50cm

Đốn trẻ lại: Đốn cách mặt đất 10 - 15cm

Nghiên cứu về đốn chè các tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979),

Đỗ Ngọc Quỹ (1980) đều cho thấy: Đốn chè có tác dụng loại trừ các cành già yếu, giúp cho cây chè luôn ở trạng thái sinh trưởng dinh dưỡng, hạn chế ra hoa, kết quả, kích thích hình thành búp non, tạo cho cây chè có bộ lá, bộ khung tán thích hợp, vừa tầm hái

+ Bón phân: Bón phân cho chè là một biện pháp kỹ thuật quan trọng nhằm tăng sự sinh trưởng của cây chè, tăng năng suất và chất lượng chè

Trong quá trình sinh trưởng, phát triển, cây chè đã lấy đi một lượng phân rất cao ở trong đất, trong khi đó chè lại thường được trồng trên sườn đồi, núi cao, dốc, nghèo dinh dưỡng Cho nên, lượng dinh dưỡng trong đất trồng chè ngày càng bị thiếu hụt

Chính vì vậy, để đảm bảo cho cây chè sinh trưởng tốt và cho năng suất cao, chất lượng tốt, đảm bảo được mục đích canh tác lâu dài, bảo vệ môi trường và duy trì thu nhập thì bón phân cho chè là một biện pháp không thể

Trang 29

thiếu được Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đều cho thấy hiệu quả của bón phân cho chè chiếm từ 50 - 60%

Hiệu quả của các biện pháp nông học đối với năng suất chè, kết quả nghiên cứu trong 10 năm cho (1988-1997) ở Phú Hộ cho thấy:

Đạm có vai trò hàng đầu, sau đó đến lân và kali đối với sinh trưởng của chè nhỏ tuổi Đạm và lân có ảnh hưởng lớn hơn đối với cây chè nhỏ tuổi, lớn hơn vai trò của tổ hợp đạm và kali Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng và năng suất chè ở các giai đoạn khác nhau, tác giả Chu Xuân Ái, Đinh Thị Ngọ, Lê Văn Đức 1998 cho thấy: phân lân có vai trò với sinh trưởng cả về đường kính thân, chiều cao cây, độ rộng tán của cây con

Bón phân cân đối giữa N, P, K cho năng suất cao hơn hẳn so với chỉ bón đạm và kali hoặc chỉ bón mỗi đạm Thời kỳ đầu của giai đoạn kinh doanh

sự sinh trưởng tán chè tiếp tục đòi hỏi đủ phân P, K nên cơ sở bón đủ đạm

Như vậy, cây chè cần được cung cấp N, P, K với lượng cân đối hợp lý và thường xuyên Tuy nhiên, mỗi giai đoạn cây cần với liều lượng khác nhau với nguyên tắc: từ không đến có, từ ít đến nhiều, bón đúng lúc, đúng cách, đúng đối tượng và kịp thời

Nếu bón phân hợp lý sẽ giúp cho cây chè sinh trưởng và phát triển tốt, tăng khả năng chống chịu với điều kiện thời tiết bất thuận, sâu bệnh dẫn đến tăng năng suất

+ Hái chè: Thời điểm, thời gian và phương thức hái có ảnh hưởng đến chất lượng chè nguyên liệu, hái chè gồm một tôm hai lá là nguyên liệu tốt cho chế biến chè, vì trong đó chứa hàm lượng Polyphenol và Caphein cao, nếu hái quá già thì không những chất lượng chè giảm mà còn ảnh hưởng đến sinh rưởng phát triển của cây chè

+ Vận chuyển và bảo quản nguyên liệu: Nguyên liệu chè sau khi thu hái có thể đưa thẳng vào chế biến, có thể để một thời gian nhưng không

Trang 30

quá 10h do nhà máy chế biến ở xa hoặc công suất máy thấp Do vậy khi thu hái không để dập nát búp chè

+ Công nghệ chế biến: Tùy thuộc vào mục đích của phương án sản phẩm mà ta có các quy trình công nghệ chế biến phù hợp với từng nguyên liệu đầu vào, nhìn chung quá trình chế biến gồm hai giai đoạn sơ chế

và tinh chế thành phẩm

Chế biến chè đen gồm các công đoạn: Hái búp chè Làm héo Vò Lên men - Sấy khô - Vò nhẹ - Phơi khô Chè đen thường được sơ chế bằng máy móc hiện đại với năng suất chất lượng cao, trong các khâu này đòi hỏi quy trình kỹ thuật phải nghiêm ngặt tạo hình cho sản phẩm và kích thích các phản ứng hóa học trong búp chè

Chế biến chè xanh: Là phương pháp chế biến được người dân áp dụng rất phổ biến từ trước đến nay, quy trình gồm các công đoạn: Từ chè búp xanh (1 tôm 2 lá) sau khi hái về đưa vào chảo quay xử lý ở nhiệt độ 1000 C với thời gian nhất định rồi đưa ra máy vò để cho búp chè săn lại, đồng thời giảm bớt tỷ

lệ nước trong chè Sau khi vò xong lại đưa chè vào quay xử lý ở nhiệt độ cho đến khi chè khô hẳn (chú ý nhiệt độ phải giảm dần) Sau khi chè khô ta có thể đóng bao bán ngay hoặc sát lấy hương rồi mới bán, khâu này tùy thuộc vào khách hàng Đặc điểm của chè xanh là có màu nước xanh óng ánh, vị chát đậm, hương vị tự nhiên, vật chất khô ít bị biến đổi

Chế biến chè vàng: Yêu cầu của việc chế biến khác với chè xanh và chè đen, chè vàng là sản phẩm của một số dân tộc ít người trên các vùng núi cao, được chế biến theo phương pháp thủ công

c Nhóm nhân tố về kinh tế

+ Thị trường và giá cả: Kinh tế học đã chỉ ra 3 vấn đề kinh tế cơ bản: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Câu hỏi sản xuất cái gì được đặt lên hàng đầu, buộc người sản xuất phải trả lời cho được,

Trang 31

để trả lời câu hỏi này người sản xuất tìm kiếm thị trường, tức là xác định được nhu cầu có khả năng thanh toán của thị trường đối với hàng hoá mà họ sẽ sản xuất ra được người tiêu dùng chấp nhận ở mức độ nào, giá cả có phù hợp hay không, từ đó hình thành mối quan hệ giữa cung và cầu một cách toàn diện Nhu cầu trên thế giới ngày càng tăng và tập trung vào hai loại chè chính là chè đen và chè xanh Chè đen được bán ở thị trường Châu Âu

và Châu Mỹ, còn chè xanh được tiêu thụ ở thị trường Châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc ) Chính vì vậy, nghiên cứu thị trường chè cần lưu ý tới độ co giãn cung cầu về chè

Cuối cùng là vấn đề sản xuất cho ai? Ở đây muốn đề cập tới khâu phân phối Hàng hoá sản xuất ra được tiêu thụ như thế nào? Ai là người được hưởng lợi ích từ việc sản xuất đó, cụ thể là bao nhiêu? Có như vậy mới kích thích được sự phát triển sản xuất có hiệu quả

Thực tế cho thấy rằng, thực hiện cơ chế thị trường, sự biến động của

cơ chế thị trường ảnh hưởng lớn đến đời sống của người sản xuất nói chung, cũng như người làm chè, ngành chè nói riêng Do đó, việc ổn định giá

cả và mở rộng thị trường tiêu thụ chè là hết sức cần thiết cho ngành chè góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành nông nghiệp

Để ổn định giá cả và mở rộng thị trường chè, một yếu tố cần thiết là

hệ thống đường giao thông Phần lớn những vùng sản xuất chè xa đường quốc

lộ rất khó khăn cho việc tiêu thụ sản phẩm Do đường giao thông kém, đi lại khó khăn nên người sản xuất thường phải bán với giá thấp do tư thương ép giá, làm hiệu quả sản xuất thấp Muốn nâng cao hiệu quả sản xuất cũng như phát triển ngành chè trong tương lai cần thiết phải có hệ thống giao thông thuận lợi để nâng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường

+ Cơ cấu sản xuất sản phẩm: Đa dạng hoá sản phẩm là quan điểm có ý nghĩa thực tiễn cao, vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội Đa dạng hoá sản

Trang 32

phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu khác nhau của thị trường và tiêu thụ được nhiều sản phẩm hàng hoá nhưng đồng thời phải phát huy những mặt hàng truyền thống đã có kinh nghiệm sản xuất, chế biến, được thị trường chấp nhận

1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân trồng chè

1.1.4.1 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến thu nhập

Những nhân tố về điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến mảnh đất mà người nông dân canh tác như thời tiết, khí hậu Do đối tượng sản xuất nông nghiệp là sinh vật sống nên quá trình sinh trưởng và phát triển của cây chè Nếu điều kiện ngoại cảnh thuận lợi, phù hợp với các giai đoạn phát triển của cây chè sẽ cho năng suất cao và ngược lại thiên tai, dịch bệnh sẽ làm giảm năng suất cây chè dẫn đến làm giảm thu nhập của hộ nông dân

1.1.4.2 Ảnh hưởng của quy mô, chất lượng đất đai đến thu nhập

Quy mô diện tích là nhân tố quan trọng để xác định mức thu nhập từ sản xuất mà hộ khai thác được Nếu hộ nào có điều kiện sản xuất trên quy mô rộng thì việc tăng quy mô diện tích sẽ phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá Ngược lại nếu hộ nào không có đủ điều kiện, không có khả năng sản xuất kinh doanh thì quy mô diện tích rộng sẽ không những không làm tăng thu nhập mà còn làm tăng chi phí, lãng phí đất đai, lãng phí sức lao động

Chất lượng đất đai thể hiện ở độ phì, độ màu mỡ của đất Độ phì, độ mầu mỡ của đất là chất dinh dưỡng cho cây trồng tồn tại và phát triển Chất lượng của đất còn quy định lợi thế của từng vùng, tạo ra sự đa dạng của sản phẩm Chất lượng đất không những làm tăng khối lượng của sản phẩm mà còn làm giảm được chi phí sản xuất Thực tế cho thấy, ở cùng một diện tích giống nhau, muốn tạo ra cùng một lượng sản phẩm nơi nào đất đai mầu mỡ sẽ

bỏ ra chi phí ít hơn, vì vậy thu nhập cũng lớn hơn

1.1.4.3 Ảnh hưởng của lao động và nhân khẩu đến thu nhập

Quy mô lao động thể hiện ở số lượng lao động vào một công việc cụ

Trang 33

thể Nếu đầu tư vào sức lao động cao hơn sẽ cho sản lượng cao hơn và thu nhập cao hơn và ngược lại Khi đánh giá vấn đề nhân khẩu, chúng ta phải đánh giá tỷ số số lượng lao động và số lượng nhân khẩu Khi tỷ số giữa lao động trên nhân khẩu thấp nghĩa là tỷ lệ phụ thuộc cao, điều này gây bất lợi cho hộ, nó làm cho những hộ nghèo sẽ nghèo thêm

Chất lượng lao động thể hiện ở trình độ học vấn, kỹ năng lao động, khả năng tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất Trong đó, kiến thức chuyên môn có được thông qua quá trình đào tạo ở trường, ở các lớp tập huấn ngắn hạn và dài hạn Thông qua đó, người lao động hiểu biết được đặc điểm quá trình sinh trưởng và phát triển của cây chè từ đó lựa chọn phương án sản xuất tối ưu, đồng thời tiếp thu nhanh tiến bộ kỹ thuật, hiểu biết thị trường, nắm được các chính sách kinh tế của nhà nước

Như vậy, để tiếp thu và đưa kỹ thuật hiện đại vào sản xuất thì kiến thức chuyên môn cho người lao động là rất cần thiết Đặc biệt, đối với chủ hộ vì họ

là người cuối cùng đưa ra quyết định lựa chọn phương án sản xuất, những quyết định của chủ hộ ảnh hưởng trực tiếp đến thành công hay thất bại của hộ trong sản xuất kinh doanh

Kinh nghiệm sản xuất là những gì mà người lao động tích luỹ được trong cuộc sống Vì sản xuất nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc biệt, nó tuân theo quy luật của tự nhiên dù chúng ta có kiến thức chuyên môn cao vẫn

có thể bị thất bại nếu không có kinh nghiệm Vì vậy, kinh nghiệm sản xuất ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của hộ nông dân

1.1.4.4 Ảnh hưởng của quy mô vốn đến thu nhập

Vốn là một yếu tố quan trọng không thể thiếu được để tiến hành tổ chức sản xuất, kinh doanh nó bao gồm tiền mặt, nguyên liệu và công cụ sản xuất Có vốn, có thể mở rộng quy mô sản xuất chuyển dần sang sản xuất hàng hoá, có vốn thì có thể mua sắm trang thiết bị hiện đại phục vụ cho sản xuất

Trang 34

làm giảm chi phí, góp phần nâng cao thu nhập cho hộ nông dân

1.1.4.5 Ảnh hưởng của khoa học kỹ thuật

Sản xuất của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vì nó tạo ra sản phẩm có năng suất cao và chất lượng tốt Cải tiến kỹ thuật làm tăng khối lượng và chất lượng hàng hoá và giảm được chi phí, cải tiến kỹ thuật cho phép mở rộng quy mô sản xuất, tăng khối lượng hàng hóa và tăng thu nhập cho hộ nông dân

1.1.4.6 Ảnh hưởng của thị trường

Trong cơ chế thị trường các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn sản xuất các sản phẩm mà họ có khả năng và chi phí cơ hội thấp Đối với từng

hộ nông dân, để đáp ứng nhu cầu thị trường nông sản, họ có xu hướng liên kết, hợp tác sản xuất với nhau Thị trường là nơi mà giá cả của các yếu tố đầu vào và đầu ra trong sản xuất được hình thành nên thị trường có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người dân Trong giai đoạn hiện nay, xu thế phát triển của kinh tế hộ nông dân là sản xuất sản phẩm hàng hoá Hộ phải lựa chọn sản xuất các nông phẩm có giá trị kinh tế cao mà xã hội đang

có nhu cầu dựa trên khả năng các yếu tố sản xuất của mình và giá cả các yếu tố đầu vào hợp lý Cho nên nắm bắt tốt các thông tin của thị trường cũng góp phần làm tăng thu nhập cho hộ nông dân

1.1.4.7 Ảnh hưởng của phong tục tập quán

Mỗi vùng có điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội khác nhau, đặc biệt yêu cầu thích nghi của các giống cây trồng vật nuôi cũng khác nhau ở mỗi vùng sinh thái, đòi hỏi phải có những kỹ thuật canh tác và nuôi trồng phù hợp với điều kiện từng vùng Chính vì những đặc điểm đó mà tập quán sản xuất ăn sâu vào ý thức của nông dân Ngày nay, khi trình độ khoa học kỹ thuật và thị trường phát triển, những hộ nào biết thay đổi những tập quán sản xuất cũ lạc hậu, hiệu quả thấp và phát huy những ngành nghề truyền thống có khả năng

Trang 35

cạnh tranh với thị trường thì cải thiện được thu nhập và ngược lại Vì vậy, phong tục tập quán là nhân tố quyết định đến sự thành công của quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nhằm nâng cao thu nhâp cho hộ nông dân

1.1.4.8 Ảnh hưởng của chính sách Nhà nước

Chính sách của Nhà nước bao gồm các chính sách thuế, đất đai, tín dụng, khuyên nông, bảo hộ sản phẩm, trợ giá, giải quyết việc làm, trợ cấp … Các chính sách trên có ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế hộ nông dân Nếu chính sách phù hợp sẽ tạo điều kiện nâng cao thu nhập cho một bộ phận lớn dân cư

mà đặc biệt là chính sách về kinh tế nông nghiệp nông thôn, là môi trường thuận lợi để nông dân phát triển sản xuất theo hướng hàng hoá với quy mô lớn

1.1.4.9 Ảnh hưởng của các yếu tố khác

Các khoản thu khác của hộ nông dân chịu ảnh hưởng của các yếu tố như số người được hưởng trợ cấp, số người có lương hưu, số người đi làm việc ở các công ty xí nghiệp, số người đi xuất khẩu lao động … Trong đó, trình độ của số người đi làm việc ở ngoài thể hiện ở số tiền mà lao động nhận được trong một đơn vị thời gian, thu nhập của những hoạt động này thể hiện ở

số tiền đóng góp vào ngân qũy của hộ khoản thu này tuy không lớn so với thành thị nhưng có ảnh hưởng lớn đến thu nhập của hộ nông dân ở nông thôn

1.1.5 Đặc điểm về thu nhập của hộ nông dân trồng chè tại huyện Yên Sơn

1.1.5.1 Thu nhập của hộ nông dân thấp và tăngchậm

Hộ nông dân chủ yếu sống ở nông thôn nơi có điều kiện khó khăn về cơ

sở hạ tầng, trình độ dân trí thấp, dân số tăng nhanh và thiếu diện tích canh tác,

… Hiện nay ở Việt Nam, tốc độ tăng dân số hăng năm bình quân ở nông thôn

từ 2.5-3% /năm, nông thôn có hơn 3 triệu lao động nhưng mới chỉ sử dụng khoảng 60-70% quỹ thời gian làm việc lao động được sử dụng chủ yếu là lao động phổ thông nên thu nhập thấp Ngành sản xuất chính của hộ nông dân là trồng trọt và chăn nuôi, những ngành này thường gặp nhiều rủi ro, việc đầu tư

Trang 36

của hộ bị hạn chế nên thu nhập của hộ nông dân thấp Theo số liệu thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, khoảng cách về thu nhập bình quân giữa dân

cư thành thị và dân cư nông thôn có xu hướng gia tăng trong những năm 1993 đến năm 2001 Những năm qua, bằng những chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước về việc hỗ trợ cho nông thôn, khoảng cách chênh lệch giữa thu nhập của dân cư thành thị và dân cư nông thôn đã được rút ngắn

1.1.5.2 Nguồn thu nhập của hộ nông dân chủ yếu từ hoạt động sản xuất chè

Hoạt động sản xuất kinh doanh từ cây chè tạo ra phần lớn thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu nhập của hầu hết các hộ Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp trong thời gian qua có mức tăng trưởng nhanh hơn các nguồn thu nhập khác trong nông thôn và thực sự đóng góp vào việc nâng cao thu nhập cho người dân Việt Nam trong giai đoạn 1992-1998, mức tăng trưởng bình quân thu nhập của hộ nông dân với nguồn đóng góp từ hoạt động sản xuất nông nghiệp là 61%, từ hoạt động phi nông nghiệp là 30,5%, các nguồn thu nhập khác tăng lên không đáng kể

1.1.5.3 Thu nhập của hộ nông dân không đồng đều

Đó là chênh lệch về thu nhập giữa các hộ nông dân với nhau Do huyện Yên Sơn là vùng rộng lớn, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế rất đa dạng và

có sự khác biệt nhau Sự khác biệt về trình độ dân trí, trình độ nhận thức, phong tục tập quán va các yếu tố kinh tế - xã hội khác nhau, làm cho kết quả của sự khai thác các nguồn lực khác nhau, dẫn đến thu nhập của các hộ nông dân trồng chè cũng có sự khác nhau giữa các vùng, miền và giữa các hộ với nhau

1.1.5.4 Thu nhập của hộ nông dân không ổn định

Nguồn thu nhập chủ yếu của các hộ nông dân trồng chè là kết quả của hoạt động sản xuất chè, nhưng sản xuất chè phụ thuộc khá lớn vào điều kiện

tự nhiên, mà điều kiên tự nhiên thì thường xuyên thay đổi khó có thể kiểm soát được Sản xuất chè nếu gặp thời tiết thuận lợi sẽ cho năng xuất cao và

Trang 37

ngược lại Hơn nữa, sản xuất chè mang tính thời vụ gây lên sự mất ổn định về giá cả của sản phẩm, hàng hoá dẫn đến thu nhập của hộ cũng thay đổi

1.1.5.5 Thu nhập của hộ nông dân chưa loại trừ hết chi phí

Với các hình thức doanh nghiệp khác, thu nhập là khoản thu sau khi đã trừ hết tất cả những tri phí (gọi là lợi nhuận) Đối với hộ nông dân trồng chè, thu nhập không chỉ là lợi nhuận kinh doanh mà con bao gồm cả chi phí lao động gia đình, bởi hộ nông dân trồng chè chủ yếu là sử dụng lao động gia đình nên việc sử dụng lao động của hộ hết sức linh hoạt Trong cùng một thời gian, một người có thể làm nhiều việc khác nhau, tạo ra các khoản thu nhập khác nhau nên khó có thể hạch toán được chi phí lao động vào tổng chi phí Chính vì vậy, thu nhập của hộ được tính bao gồm cả chi phí lao động gia đình

1.1.6 Những vấn đề về nâng cao thu nhập

1.1.6.1 Nâng cao thu nhập

Nâng cao thu nhập là làm cho lượng thu nhập ngày càng tăng và ổn định trong một thời gian tương đối dài của hộ gia đình và cộng đồng dân cư

mà không làm suy giảm (ảnh hưởng) đến việc phát triển tài nguyên đa dạng sinh học của vùng và quốc gia

Vấn đề chủ yếu đối với nâng cao thu nhập:

- Lượng thu nhập ngày càng tăng, phù hợp với mặt bằng phát triển thu nhập của dân cư ở các vùng lân cận và cả nước

- Lượng thu nhập này giữ ổn định động trong một thời gian dài từ 3 đến

5 năm trở lên

- Nâng cao thu nhập tính cho từng hộ gia đình nói riêng và cả cộng đồng dân cư nói chung nghĩa là không còn hộ đói, giảm hộ nghèo và tiến tới đạt được mức sống trung bình trở lên của tất cả các hộ dân cư

1.1.6.2 Điều kiện để nâng cao thu nhập cho các nhóm hộ nông dân trồng chè

- Sử dụng đất đai bền vững, phát triển cây chè thâm canh đa tác dụng

Trang 38

- Sử dụng hợp lý các tài nguyên sản phẩm từ cây chè

- Phát triển cây chè, đặc biệt là các loại giống cây mới cho năng suất cao

- Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá đặc sắc dân tộc ở địa phương

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tình hình sản xuất tiêu thụ chè trên thế giới

1.2.1.1 Tình hình sản xuất chè trên thế giới

Theo PGS Đỗ Ngọc Quỹ , Quốc gia đầu tiên trên thế giới phát triển sản xuất chè là Trung Quốc, sau đó được truyền bá sang Nhật Bản vào những năm

805 sau Công nguyên, vào Indônexia năm 1654, vào Ấn Độ năm 1780, vào Nga năm 1833, Malaixia năm 1914, vào những năm 1920 vào Châu Phi: Kênia, Malavi, Ghinê đến nay chè đã được trồng ở 58 quốc gia với quy mô khác nhau, phân bố ở khắp 5 Châu như sau:

- Châu Á: Châu Á có 20 nước trồng chè bao gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Sirilanca, Indonexia, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, Bănglađet, Iran, Myanma, Việt Nam, Thái Lan, Lào, Mailaixia, Campuchia, Nêpan, Philipin, Triều Tiên, Apganistan, Pakistan

- Châu Phi có 21 nước gồm: Kênia, Malavi, Uganda, Tanzania, Mozambich, Ruanda, Mali, Ghinê, Môrixơ, Nam Phi, Ai Cập, Công Gô, Camơrun, Đảo Rêugniông, Tchat, Rôdêzia, Abitxini, Buraudi, Marốc, Angiêri

và Zimbabue

Trang 39

- Châu Mĩ có 12 nước bao gồm: Achentina, Braxin, Peru, Côlômbia, Ecuađo, Guatêmala, Paraguay, Ramaica, Mêhico, Bolivia, Guyana và Mĩ.- châu Đại Dương có 3 nước sản xuất chè đó là các nước: Papua TanGhinê, Fiji

và Australia

- Châu Âu chỉ có ở Liên Xô cũ (Grudia) và Bồ Đào Nha

Bảng 1.1: Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới

50 năm qua (FAO 2005)

Tạ khô/ha

Tốc độ tăng

so với 10năm trước (%)

Vạn tấn

Tốc độ tăng

so với 10 năm trước (%)

- Diện tích chè thế giới 50 năm qua tăng mạnh trong 30 năm từ 1954 -

1984 Sau mười năm diện tích chè thế giới tăng từ 22,1% đến 86,7% tăng mạnh nhất là 10 năm từ 1964 - 1974 Và ổn định trong 20 năm gần đây, chỉ tăng khoảng 1,0% sau 10 năm

Trang 40

- Năng suất chè thế giới năm 1974 giảm 22,7% so với 10 năm trước

đó, các thập kỷ sau tăng từ 12,1% đến 27,0% năng suất cao nhất vào năm

2004, đạt 12,99 tạ/ha

- Sản lượng chè thế giới tăng mạnh trong 5 thập kỷ qua và đạt 319,69 vạn tấn/năm với nhịp độ tăng sau mỗi thập kỷ từ 13,4% đến 49,7%, tăng mạnh nhất vào giai đoạn 1964 - 1984

- Số liệu bảng 1 cũng cho thấy sau 50 năm: Diện tích chè thế giới tăng gấp 3 lần (từ 83,2 vạn ha lên 246.1 vạn ha) năng suất tăng 1.5 lần (từ 8.97 tạ/ha lên 12.99 tạ/ha) Sản lượng tăng lên 4 lần (từ 74.63 vạn tấn lên 319.69 vạn tấn) Qua đó ta có thể rút ra kết luận: Trong 50 năm qua sản lượng chè thế giới tăng chủ yếu là do diện tích tăng, phần sản lượng tăng do tăng năng suất

là rất nhỏ Xu hướng đó cho thấy sản xuất chè thế giới 50 năm qua 2004) vẫn chưa đi sâu theo hướng thâm canh

Mặc dù có tới 63 quốc gia trồng chè trên thế giới, tuy nhiên sản xuất chè của thế giới chỉ tập trung ở một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanca, Kênia, Nhật Bản Số liệu thống kê tình hình diện tích, năng suất, sản lượng một số nước trồng chè trên thế giới năm 2004 ở bảng 1.2 cho thấy:

- Trung Quốc là quốc gia đứng đầu thế giới về diện tích đạt 94,31 vạn ha, chiếm 37,96% diện tích chè thế giới, tuy nhiên năng suất chè của Trung Quốc không cao, chỉ đạt 8,70 tạ khô/ha, cho nên sản lượng của Trung Quốc chỉ đứng thứ 2 trên thế giới (sau Ấn Độ) đạt 82,10 vạn tấn, chiếm 25,68% sản lượng chè thế giới

Ngày đăng: 03/09/2017, 23:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới - Một số giải pháp nâng cao thu nhập của các hộ nông dân trồng chè tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 1.1 Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới (Trang 39)
Bảng 1.2: Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng một số nước - Một số giải pháp nâng cao thu nhập của các hộ nông dân trồng chè tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 1.2 Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng một số nước (Trang 41)
Bảng 1.3: Nhu cầu sử dụng chè của một số nước trên thế giới năm 2000 - Một số giải pháp nâng cao thu nhập của các hộ nông dân trồng chè tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 1.3 Nhu cầu sử dụng chè của một số nước trên thế giới năm 2000 (Trang 42)
Bảng 1.4: Diễn biến diện tích, sản lượng chè Việt Nam từ 1980-1990 - Một số giải pháp nâng cao thu nhập của các hộ nông dân trồng chè tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 1.4 Diễn biến diện tích, sản lượng chè Việt Nam từ 1980-1990 (Trang 43)
Bảng 1.5: Tình hình diện tích, năng suất, sản lượng chè ở Việt Nam - Một số giải pháp nâng cao thu nhập của các hộ nông dân trồng chè tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 1.5 Tình hình diện tích, năng suất, sản lượng chè ở Việt Nam (Trang 44)
Bảng 1.6: Tình hình diện tích, năng suất, sản lượng chè ở một số tỉnh - Một số giải pháp nâng cao thu nhập của các hộ nông dân trồng chè tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 1.6 Tình hình diện tích, năng suất, sản lượng chè ở một số tỉnh (Trang 46)
Bảng 1.7: Diện tích chè của tỉnh Tuyên Quang năm 2010 - 2012 - Một số giải pháp nâng cao thu nhập của các hộ nông dân trồng chè tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 1.7 Diện tích chè của tỉnh Tuyên Quang năm 2010 - 2012 (Trang 49)
Bảng 2.3: Cơ cấu vật nuôi năm 2011 - Một số giải pháp nâng cao thu nhập của các hộ nông dân trồng chè tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 2.3 Cơ cấu vật nuôi năm 2011 (Trang 69)
Bảng 2.4: Tổng hợp diện tích rừng - Một số giải pháp nâng cao thu nhập của các hộ nông dân trồng chè tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 2.4 Tổng hợp diện tích rừng (Trang 70)
Bảng 3.3: Tình hình sản xuất chè của các doanh nghiệp trên dịa bàn - Một số giải pháp nâng cao thu nhập của các hộ nông dân trồng chè tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.3 Tình hình sản xuất chè của các doanh nghiệp trên dịa bàn (Trang 88)
Bảng 3.7: Tình hình sản xuất chè của hộ trong huyện Yên Sơn năm 2013 - Một số giải pháp nâng cao thu nhập của các hộ nông dân trồng chè tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.7 Tình hình sản xuất chè của hộ trong huyện Yên Sơn năm 2013 (Trang 94)
Bảng 3.8: Chi phí sản xuất chè của hộ - Một số giải pháp nâng cao thu nhập của các hộ nông dân trồng chè tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.8 Chi phí sản xuất chè của hộ (Trang 97)
Bảng 3.13: Vai trò của các tổ chức, trưởng xóm tại cộng đồng - Một số giải pháp nâng cao thu nhập của các hộ nông dân trồng chè tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.13 Vai trò của các tổ chức, trưởng xóm tại cộng đồng (Trang 108)
7. Hình thức tiêu thụ chè của các hộ - Một số giải pháp nâng cao thu nhập của các hộ nông dân trồng chè tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
7. Hình thức tiêu thụ chè của các hộ (Trang 135)
6. Hình thức chế biến chè của các hộ - Một số giải pháp nâng cao thu nhập của các hộ nông dân trồng chè tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
6. Hình thức chế biến chè của các hộ (Trang 135)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm