Công ty chưa sử dụng hết công suất tối đa TSCĐ đầu tư nên đã làm giảm đáng kể về năng suất lao động và hiệu quả sử dụng vốn của Công ty… Nhận thấy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa Đào tạo sau đại học, Phòng Đào tạo - Trường đại học Lâm Nghiệp, Công ty Cổ phần Đầu tư Sông Đà - Việt Đức Nhân dịp này tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới
sự quan tâm giúp đỡ quý báu đó
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Lê Thu Huyền với tư cách là người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ và có những đóng góp quý báu cho luận văn
Tác giả xin gửi lời cảm ơn sự ủng hộ giúp đỡ của gia đình, cảm ơn những nhận xét, đóng góp ý kiến và sự động viên của bạn bè đồng nghiệp
Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Hà nội, ngày tháng 11 năm 2013
Tác giả
Đinh Thị Mỹ Linh
Trang 2MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các từ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục biểu đồ vi
Danh mục các từ viết tắt vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 3
1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp 3
1.1.1 Vốn kinh doanh, đặc điểm và vai trò của vốn kinh doanh 3
1.1.2 Các loại vốn kinh doanh và nguồn hình thành vốn kinh doanh 7
1.1.3 Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh 13
1.1.4 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VKD 20
1.2 Cơ sở thực tiễn của hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp 23
1.2.1 Quan điểm đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của các nước trên thế giới 24
1.2.2 Quan điểm đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ở Việt Nam 24
1.2.3 Tổng quan về các công trình đã nghiên cứu liên quan 24
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ SÔNG ĐÀ - VIỆT ĐỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Khái quát chung về đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Đầu tư Sông Đà - Việt Đức 27
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Sông Đà – Việt Đức 27 2.1.2 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của Công ty Cổ phần đầu tư Sông Đà Việt Đức 29
2.1.3 Tổ chức bộ máy kế toán và Chế độ kế toán 32
Trang 32.1.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật 34
2.1.5 Nguồn nhân lực 36
2.1.6 Thị trường và khách hàng 36
2.1.7 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 37
2.2 Phương pháp nghiên cứu 40
2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu 40
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 40
2.2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 42
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
3.1 Thực trạng quản lý và sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Đầu tư Sông Đà Việt Đức giai đoạn 2010-2012 49
3.1.1 Tình hình tổ chức vốn kinh doanh của Công ty Cổ phần Đầu tư Sông Đà Việt Đức 49
3.1.2 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của Công ty 60
3.1.3 Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Đầu tư Sông Đà - Việt Đức 86
3.2 Một số giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Đầu tư Sông Đà - Việt Đức 92
3.2.1 Định hướng phát triển của Công ty trong thời gian tới 92
3.2.2 Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn 97
3.2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Đầu tư Sông Đà - Việt Đức 99
3.3 Đề xuất cách thức thực hiện giải pháp đối với Công ty và một số kiến nghị với nhà nước, các ngân hàng và các tổ chức tín dụng Error! Bookmark not defined 3.3.1 Cách thực hiện giải pháp cho Công ty Cổ phần Đầu tư Sông Đà - Việt Đức Error! Bookmark not defined 3.3.2 Kiến nghị với Nhà nước 108
3.3.3 Kiến nghị với ngân hàng và các tổ chức tín dụng 109
KẾT LUẬN 110 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
SXKD Sản xuất kinh doanh TSNH Tài sản ngắn hạn TSDH Tài sản dài hạn TSCĐ Tài sản cố định TSLĐ Tài sản lưu động VCĐ Vốn cố định VLĐ Vốn lưu động VCSH Vốn chủ sở hữu CCDC Công cụ dụng cụ DTT Doanh thu thuần GVHB Giá vốn hàng bán CPBH Chi phí bán hàng
CP QLDN Chi phí quản lý doanh nghiệp LNTT Lợi nhuận trước thuế
LNST Lợi nhuận sau thuế
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh các năm 2010 – 2012 42
3.1 Cơ cấu tài sản và nguồn vốn của Công ty giai đoạn 2010 –
3.10 Cơ cấu hàng tồn kho của Công ty giai đoạn 2010 – 2012 68
3.11 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của
3.12 Cơ cấu đầu tư vào tài sản dài hạn của Công ty giai đoạn
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
2.1 Xu hướng biến động của một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu của
Công ty CP Việt Đức các năm 2010-2011 (năm gốc 2010) 43
3.1 Quy mô vốn kinh doanh của Công ty CPĐT Sông Đà Việt
3.2 Cơ cấu tài sản của Công ty Cổ phần đầu tư Sông Đà- Việt
3.3
Tình hình biến động của các khoản đầu tư ngắn hạn của
Công ty CPĐT Sông Đà - Việt Đức giai đoạn 2010-2012 so
3.8 Biến động của các yếu tố hiệu suất sử dụng vốn lưu động
của Công ty giai đoạn 2010-2012 so với năm 2009 71
3.9 Tình hình biến động của hiệu suất sử dụng vốn cố định của
Công ty giai đoạn 2010 – 2012 so với năm 2009 79 3.10 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tổng
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
2.1 Sơ đồ quy trình sản xuất bê tông thương phẩm 36
2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán Công ty CP ĐT Sông Đà-
2.3 Sơ đồ trình tự ghi sổ theo hình thức Nhật ký chung bằng
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đối với doanh nghiệp, vốn được coi là điều kiện tiên quyết, nhân tố quan trọng hàng đầu trong quá trình sản xuất kinh doanh Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế như hiện nay, các doanh nghiệp trong nước không chỉ cạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh tranh với với các doanh nghiệp nước ngoài, có tiềm lực vốn dồi dào và nhiều kinh nghiệm trong việc
sử dụng đồng vốn Vì vậy, để có thể đứng vững trên thị trường, việc sử dụng vốn có hiệu quả sẽ đóng một vai trò sống còn với mỗi doanh nghiệp Công ty
Cổ phần Đầu tư Sông Đà - Việt Đức là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đầu tư, sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng Trong những năm qua, doanh nghiệp đạt nhiều thành tích về nâng cao chất lượng sản phẩm, phục vụ yêu cầu ngày càng cao của khách hàng, nộp thuế đầy đủ và đúng hạn Tuy nhiên qua tìm hiểu thực tế tại Công ty, tác giả nhận thấy vấn đề quản lý vốn hiện nay đang có những bất cập như đầu tư dàn trải, không có kế hoạch chi tiết cho từng dự án, công trình, hạng mục công trình dẫn tới liên tục rơi vào tình trạng thiếu vốn, chậm tiến độ, hiệu quả vốn đầu tư chưa cao các khoản phải thu của khách hàng còn lớn nên dẫn đến mất cân đối về vốn Công ty chưa sử dụng hết công suất tối đa TSCĐ đầu tư nên đã làm giảm đáng kể về năng suất lao động và hiệu quả sử dụng vốn của Công ty…
Nhận thấy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh như hiện nay,
tác giả đã quyết định chọn đề tài: "Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Đầu tư Sông Đà - Việt Đức" làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình
Trang 92 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu lý thuyết, quan điểm và các quyết định quản lý tài chính trong doanh nghiệp Hệ thống hóa cơ sở lý luận về VKD, hiệu quả sử dụng vốn và các chỉ tiêu hiệu quả của việc sử dụng vốn
Đánh giá thực trạng tình hình sử dụng vốn kinh doanh của Công ty Cổ phần Đầu tư Sông Đà - Việt Đức trong những năm gần đây, những thuận lợi
và khó khăn cũng như những hiệu quả đã đạt được
Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty Cổ phần Đầu tư Sông Đà - Việt Đức
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Đầu tư Sông Đà - Việt Đức
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Phạm vi về không gian: Công ty Cổ phần Đầu tư Sông Đà - Việt Đức Địa chỉ: Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
Phạm vi về thời gian: giai đoạn 2010 – 2012
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, hệ thống các bảng biểu, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dụng của luận văn tốt nghiệp gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Chương 2: Đặc điểm Công ty Cổ phần Đầu tư Sông Đà - Việt Đức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 10Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH
DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Vốn và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1 Vốn kinh doanh, đặc điểm và vai trò của vốn kinh doanh
1.1.1.1 Khái niệm về vốn kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải có các yếu tố cơ bản như sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Để có được các yếu tố này doanh nghiệp phải ứng ra một lượng vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh Lượng vốn đó được gọi là vốn kinh doanh (VKD) của doanh nghiệp
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản mà doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu sinh lời
Vốn kinh doanh là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới các bước tiếp theo của quá trình sản xuất Trong nội dung hoạt động của tài chính doanh nghiệp, quản lý sử dụng VKD được coi là khâu trọng tâm nhất, có tính chất quyết định tới mức độ tăng trưởng hoặc suy thoái của một doanh nghiệp Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải huy động, quản lý, sử dụng vốn một cách phù hợp và khoa học để vừa bảo toàn được vốn, vừa bảo đảm sinh lời cao, để người lao động có thu nhập cao, doanh nghiệp ngày càng phát triển lớn mạnh, đóng góp được nhiều nhất vào sự phát triển của xã hội
Tổ chức tài chính doanh nghiệp còn dựa vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh Mỗi ngành kinh doanh có đặc điểm về mặt kinh tế và
kỹ thuật riêng Những đặc điểm đó ảnh hưởng đến cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp (ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến vốn cố định chiếm tỷ trọng khác nhau trong tổng số VKD); ảnh hưởng đến tốc độ
Trang 11luân chuyển vốn (tốc độ luân chuyển vốn của doanh nghiệp sản xuất chậm hơn tốc độ luân chuyển vốn của các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ, doanh nghiệp sản xuất có tính chất thời vụ khác với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh liên tục…
1.1.1.2 Đặc điểm của vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất
Để quản lý và sử dụng hiệu quả VKD đòi hỏi doanh nghiệp phải nhận thức đúng đắn và đầy đủ các đặc trưng cơ bản của vốn, bao gồm:
Thứ nhất: Vốn là biểu hiện bằng giá trị của các tài sản trong doanh nghiệp như nhà xưởng, đất đai, máy móc thiết bị… Đặc biệt đối với các doanh nghiệp sản xuất nhu cầu về vốn để đầu tư mua sắm các thiết bị máy móc phục vụ cho SXKD thường chiếm tỷ trọng lớn nó giúp cho doanh nghiệp đứng vững hơn, có lợi thế cạnh tranh hơn trong việc đấu thầu các dự án và nó cũng chứng minh được năng lực của chủ đầu tư Cơ cấu tài sản trong doanh nghiệp, sản xuất, xây dựng thường lớn hơn so với các doanh nghiệp thương mại và dịch vụ Do đó, đòi hỏi công tác quản lý tài sản trong doanh nghiệp phải chặt chẽ, quản lý và sử dụng tài sản đúng mục đích mới mang lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp
Thứ hai: Vốn phải được vận động cho đúng đắn và phù hợp để có khả năng sinh lời cho doanh nghiệp Đặc trưng này xuất phát từ nguyên tắc: tiền tệ chỉ được coi là vốn khi chúng được đưa vào sản xuất kinh doanh Trong quá trình vận động vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát
và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là tiền, lượng tiền thu về phải lớn hơn lượng tiền bỏ ra, tức là kinh doanh có lãi – đây là nguyên tắc cơ bản của việc bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Điều này đòi hỏi trong quá trình kinh doanh doanh nghiệp không được để vốn bị ứ đọng Doanh nghiệp phải tính toán được nhu cầu và chu kỳ luân chuyển vốn để sử dụng vốn cho đúng mục đích và lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp Khả năng sinh lời
Trang 12của doanh nghiệp nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng phương án kinh doanh cho phù hợp với pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp Thường xuyên kiểm tra nhu cầu vốn đầu tư vào lĩnh vực hoạt động kinh doanh của Công ty, xem xét tốc độ vòng quay, chu kỳ luân chuyển vốn kinh doanh, VCĐ, VLĐ
Thứ Ba: Vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định đủ sức đầu tư vào một phương án kinh doanh
Nếu vốn không được tích tụ đầy đủ (thiếu vốn) thì hoạt động đầu tư sẽ bị ngưng trệ, gián đoạn và đồng thời hiệu quả sử dụng vốn sẽ bị giảm sút Điều này đặt ra yêu cầu cho doanh nghiệp cần lập kế hoạch, đề ra các biện pháp để khai thác, thu hút, huy động được các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, đáp ứng yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh Đối với một doanh nghiệp SXKD vòng quay vốn thường bị chậm, chu kỳ sản xuất dài hơn so với doanh nghiệp thương mại và dịch vụ Do đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải thật trú trọng trong công tác quản lý TSCĐ và TSLĐ Trong nền kinh tế thị trường vốn phải được gắn với chủ sở hữu, gắn với lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu thì đồng vốn đó mới được chi tiêu hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả, có sinh lời
Thứ tư: Vốn có giá trị về mặt thời gian
Trong nền kinh tế thị trường, một đồng vốn ở thời điểm này có giá trị khác với giá trị ở một thời điểm khác, đó là giá trị thời gian của vốn Đó là do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như giá cả thị trường, lạm phát…Vì vậy việc sử dụng vốn và những thiệt hại do nhân tố này gây ra bắt nguồn từ chính giá trị thời gian của tiền
Do có những đặc điểm khác nhau của vốn để tổ chức công tác quản lý
và sử dụng vốn có hiệu quả các doanh nghiệp luôn nỗ lực thực hiện nhiều biện pháp để tăng vòng quay vốn và sử dụng các chỉ tiêu vòng quay VKD như một chỉ dẫn quan trọng về hiệu quả sử dụng vốn
Trang 131.1.1.3 Vai trò của vốn kinh doanh
Vốn là điều kiện tiền đề để doanh nghiệp có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Mỗi doanh nghiệp khi bắt đầu tiến hành sản xuất đều phải cần đến vốn Nếu không có vốn doanh nghiệp sẽ không thể mua sắm tài sản cố định, thuê mướn nhân công để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Vốn là điều kiện duy trì sản xuất, đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm cho người lao động
Từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng cường khả năng trên thị trường,
mở rộng xuất khẩu, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Nếu doanh nghiệp thiếu vốn quá trình sản xuất sẽ bị đình trệ, không đảm bảo được các hợp đồng đã ký với khách hàng dẫn đến mất thị phần, mất khách hàng; doanh thu và lợi nhuận giảm sút và không đạt được các mục tiêu đã đề ra
Vốn kinh doanh có vai trò như một đòn bẩy, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát triển, là điều kiện để tạo lợi thế cạnh tranh, khẳng định vai trò của doanh nghiệp trên thị trường
Vốn kinh doanh còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của tài sản, kiểm tra, giám sát quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu tài chính Qua đó, các nhà quản trị doanh nghiệp biết được thực trạng khâu sản xuất, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát hiện được các tồn tại, tìm ra nguyên nhân và đưa ra các biện pháp khắc phục
Từ những vai trò nêu trên cho thấy nâng cao hiệu quả sử dụng VKD có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay Nó quyết định sự sống còn, sự tăng trưởng
và phát triển của mỗi doanh nghiệp trong cơ chế mới
Trong các điều kiện kinh tế thị trường hiện nay thì việc tiết kiệm triệt
Trang 14để vốn để giảm giá thành sản phẩm là yếu tố lợi thế Vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp
Bên cạnh đó, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn còn góp phần nâng cao khả năng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất, tăng nhanh tốc độ hoạt động của doanh nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh nhằm đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp; góp phần tăng trưởng nền kinh tế xã hội
Đối với một doanh nghiệp xây dựng xác định được nhu cầu vốn cần thiết trong đầu tư xây dựng cơ bản nó có vai trò rất quan trọng giúp doanh nghiệp bảo toàn được vốn và khả năng sinh lời mang lại rất cao cho doanh nghiệp Bởi lẽ đối với doanh nghiệp xây dựng quá trình đầu tư thường dài hơn đối với doanh nghiệp kinh doanh thương mại và dịch vụ, do đó vòng quay của vốn thường chậm và bị kéo dài tiến độ đầu tư nên vốn của doanh nghiệp nằm chết ở các dự án kiến cho doanh nghiệp càng gặp khó khăn hơn về vốn Chính
vì thế, doanh nghiệp cần phải quan tâm nghiên cứu kỹ về nhu cầu quản lý và
sử dụng vốn, đồng thời phải xác định nhu cầu về vốn để huy động, bổ sung và
sử dụng vốn có hiệu quả
1.1.2 Các loại vốn kinh doanh và nguồn hình thành vốn kinh doanh
1.1.2.1 Phân loại vốn kinh doanh
Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển về mặt giá trị và hiện vật của các tài sản có trong doanh nghiệp, vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của các tài sản đó, thường được chia thành hai loại: vốn lưu động và vốn cố định
a)Vốn lưu động
* Khái niệm: Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên các tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục
* Thành phần của vốn lưu động
Trang 15Để quản lý tốt cần phải phân loại VLĐ dựa theo tiêu thức khác nhau, thông thường có một số cách phân loại chủ yếu:
Dựa theo hình thái biểu hiện của vốn có thể chia VLĐ thành
* Vốn bằng tiền và các khoản phải thu:
- Vốn bằng tiền gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển Tiền là một loại tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi thành các loại tài sản khác hoặc để trả nợ Nên trong hoạt động kinh doanh đòi hỏi DN cần phải có một lượng tiền cần thiết nhất định
- Các khoản phải thu: Chủ yếu là nguồn thu của khách hàng mà doanh nghiệp mua hàng của DN dưới hình thức trả sau Ngoài ra DN còn có thể phải ứng trước tiền mua hàng cho người cung ứng, từ đó hình thành khoản tạm ứng, trả trước cho người bán
* Vốn về hàng hóa tồn kho hay vốn vật tư hàng hóa
- Vốn về vật tư doanh nghiệp dự trữ, vốn sản phẩm dở dang, vốn thành phẩm Gồm có vốn NVL chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, chi phí trả trước, thành phẩm
Thông qua cách phân loại này có thể tìm các các biện pháp phát huy các chức năng các thành phần vốn và biết được kết cấu VLĐ theo hình thái biểu hiện để định hướng điều chỉnh hợp lý có hiệu quả
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động Đây là bộ phận vốn góp phần tạo ra những yếu tố tài sản ngắn hạn phục vụ thường xuyên cho kinh doanh của doanh nghiệp
Vốn lưu động (VLĐ) có đặc điểm là thời hạn luân chuyển thường là trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp Sự luân chuyển này phụ thuộc vào quá trình khai thác, sử dụng và bảo quản từng bộ phận tài sản ngắn hạn cũng như các chính sách tài chính có liên quan của
doanh nghiệp
Trang 16b)Vốn cố định
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản đầu tư dài hạn Kết cấu
vốn cố định (VCĐ) gồm: giá trị của tài sản cố định (TSCĐ), bất động sản đầu
tư, đầu tư tài chính dài hạn, tài sản dài hạn khác Đây là bộ phận vốn góp phần tạo ra những cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết sử dụng trong dài hạn cho doanh nghiệp VCĐ có đặc điểm là thời gian luân chuyển kéo dài từ một năm trở lên Sự luân chuyển này phụ thuộc vào chính quá trình khai thác, sử dụng và bảo quản các tài sản dài hạn cũng như các chính sách tài chính có liên quan của doanh nghiệp [14]
Khi nghiên cứu cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp theo các loại vốn cố định và vốn lưu động như vậy giúp doanh nghiệp có thể lựa chọn một
cơ cấu vốn phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh, và có những giải pháp quản lý và sử dụng vốn một cách hiệu quả
* VCĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh có những đặc điểm:
- Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, VCĐ chu chuyển giá trị dần dần vào từng phần và thu hồi giá trị từng phần sau mỗi chu kỳ kinh doanh Một bộ phận VCĐ được luân chuyển và cấu thành chi phí SXKD dưới hình thức chi phí khấu hao tương ứng với phần giá trị hao mòn
- Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh mới hoàn thành một vòng chu chuyển Quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, giá trị của TSCĐ giảm đi tương ứng, đó là phần tăng lên của vốn luân chuyển của quỹ khấu hao cho hoạt động tái đầu tư
Trang 17phòng Căn cứ vào tình hình sử dụng hiện tại của tài sản người ta phân ra thành 3 loại: TSCĐ đang dùng, TSCĐ chưa dùng và TSCĐ đang chờ thanh
lý
1.1.2.2 Nguồn hình thành vốn của doanh nghiệp
VKD của doanh nghiệp được tài trợ từ các nguồn khác nhau Nghiên cứu nguồn hình thành VKD sẽ giúp cho doanh nghiệp lựa chọn được hình thức huy động vốn thích hợp và có hiệu quả Theo các tiêu thức khác nhau có
thể chia nguồn vốn trong doanh nghiệp thành các loại khác nhau
* Căn cứ theo quan hệ sở hữu vốn
Theo căn cứ này vốn kinh doanh được hình thành từ hai nguồn: nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả
- Nguồn vốn chủ sở hữu: là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh
nghiệp gồm vốn góp ban đầu và vốn được bổ sung từ kết quả kinh doanh hàng năm, các quỹ…
Ngoài ra vốn chủ sở hữu còn bao gồm các thành phần khác như thặng dư vốn cổ phần do phát hành trái phiếu cao hơn mệnh giá, các khoản cho biếu tặng, chênh lêch tỷ giá, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản Khi phân loại tài sản nhằm tạo khả năng xem xét và có các phương án tối ưu để huy động các nguồn vốn sao cho tạo ra cơ cấu nguồn vốn hợp lý, đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp nhằm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn
Vốn chủ sở hữu = Giá trị tổng tài sản - Nợ phải trả
- Nợ phải trả: là các khoản nợ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh
doanh doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán lãi và nợ gốc đúng cam kết Tùy thuộc vào ngành nghề kinh doanh và đặc điểm tình hình kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp mà người quản lý sẽ có quyết định kết hợp vốn chủ sở hữu và nợ phải trả sao cho phù hợp nhất
Nợ phải trả bao gồm nguồn vốn tín dụng và nguồn vốn chiếm dụng
Trang 18+ Nguồn vốn tín dụng: Bao gồm các khoản vay của doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân, vay ngân hàng vay tổ chức tín dụng, vay tổ chức kinh tế khác, vay cá nhân, phát hành trái phiếu, vay qua thuê mua tài chính
+ Nguồn vốn chiếm dụng: Nguồn vốn này chủ yếu DN chiếm dụng tiền hàng từ nhà cung cấp, vốn người mua ứng trước tiền hàng, tiền chậm nộp thuế, bảo hiểm các khoản phải trả khác chưa đến hạn thanh toán
* Căn cứ theo thời gian huy động và sử dụng nguồn vốn
Căn cứ theo tiêu thức này có thể chia nguồn vốn thành hai loại: nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời
- Nguồn vốn thường xuyên (nguồn vốn dài hạn): là tổng thể các nguồn vốn
có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh Nguồn vốn này thường được sử dụng để mua sắm, hình thành tài sản cố định và một phần tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Nguồn vốn thường xuyên = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn
hay Nguồn vốn thường xuyên = Giá trị tổng tài sản – Nợ ngắn hạn
Trên cơ sở xác định nguồn vốn thường xuyên còn có thể xác định nguồn VLĐ thường xuyên của doanh nghiệp Nguồn VLĐ thường xuyên là nguồn vốn ổn định có tính chất dài hạn để hình thành hay tài trợ cho TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn VLĐ thường xuyên được tính là:
Nguồn VLĐ = Tổng nguồn vốn - Giá trị còn lại của TSCĐ
thường xuyên thường xuyên và TSDH khác
- Nguồn vốn tạm thời (nguồn vốn ngắn hạn): là các nguồn vốn có tính
chất ngắn hạn (dưới một năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời phát sinh trong quá trình sản xuất kinh
Trang 19doanh Nguồn vốn tạm thời thường bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng và các
tổ chức tín dụng, vay ngắn hạn khác
* Căn cứ theo phạm vi huy động vốn
Căn cứ vào phạm vi huy động các nguồn vốn của doanh nghiệp có thể chia nguồn vốn kinh doanh thành nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài
Việc phân loại này chủ yếu để xem xét việc huy động nguồn vốn của một doanh nghiệp đang hoạt động
- Nguồn vốn bên trong: là nguồn vốn có thể huy động được vào đầu tư
từ chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp tạo ra Nguồn vốn bên trong cho thấy khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm:
+ Lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư
+ Khoản khấu hao tài sản cố định
+ Tiền nhượng bán tài sản, vật tư không cần dùng hoặc thanh lý TSCĐ Nguồn vốn bên trong chủ động giúp doanh nghiệp đáp ứng kịp thời các thời cơ trong kinh doanh của doanh nghiệp, tiết kiệm được chi phí sử dụng vốn, giữ được quyền kiểm soát của doanh nghiệp, tránh được áp lực phải thanh toán đúng kỳ hạn Tuy nhiên hiệu quả sử dụng không cao do không phải trả cả vốn và lãi theo kỳ hạn cố định làm cho doanh nghiệp không chú trọng đến việc cân nhắc tính toán hiệu quả sử dụng vốn cho đầu tư và có giới hạn về mặt quy mô nguồn vốn
- Nguồn vốn bên ngoài: Việc huy động vốn từ bên ngoài doanh nghiệp
để tăng thêm nguồn tài chính cho kinh doanh là vấn đề hết sức quan trọng đối với một doanh nghiệp Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã làm nảy sinh nhiều hình thức và phương pháp mới cho phép doanh nghiệp huy động vốn từ bên ngoài Nguồn vốn này bao gồm:
+ Vay người thân (đối với doanh nghiệp tư nhân)
+ Vay ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác
+ Góp vốn liên doanh liên kết
Trang 20+ Tín dụng thương mại của nhà cung cấp
1.1.3 Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
1.1.3.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Trong sự phát triển của hệ thống kinh tế nói chung luôn tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra Theo mối quan hệ này,
sự phát triển của các hệ thống kinh tế là sự kết hợp của hai loại hình phát triển chiều rộng và phát triển chiều sâu phù hợp với từng giai đoạn cụ thể Thông thường, khi trình độ phát triển xã hội ở mức thấp, các hệ thống kinh tế thường hướng vào phát triển theo chiều rộng Đặc điểm của loại hình phát triển này là
sự gia tăng sản phẩm đầu ra chủ yếu dựa vào sự gia tăng của các yếu tố đầu vào như tăng diện tích đất đai, tăng số lượng máy móc, thiết bị, tăng vốn, tăng lao động Nhưng khi trình độ sản xuất xã hội tiến lên ở mức cao hơn thì các
hệ thống kinh tế lại thiên về phát triển theo chiều sâu Theo loại hình này, sự
ra tăng sản lượng đầu ra lại chủ yếu dựa vào sự gia tăng chất lượng đầu vào như nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, hiệu suất sử dụng máy móc, thiết bị, hiệu suất sử dụng vốn và năng suất lao động Như vậy, dù cùng một số lượng đầu vào như cũ hoặc ít hơn vẫn có thể tạo ra được một khối lượng đầu
Trang 21ra lớn hơn Sự phát triển của việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ
là chìa khoá quyết định và đảm bảo cho loại hình phát triển theo chiều sâu này Đây là xu hướng phát triển tất yếu mang tính sống còn của nhân loại hiện nay bởi những hạn chế của sự phát triển kinh tế theo chiều rộng liên quan tới việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên cũng như các đe dọa về môi trường
Từ cách phân tích trên, có thể thấy hiệu quả liên quan mật thiết với việc phát triển chiều sâu, đến chất lượng khai thác và sử dụng nguồn lực tiết kiệm, hữu ích, đến việc cải tạo và bảo vệ môi trường Như vậy, theo nghĩa chung nhất thì: Hiệu quả là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng và tính hữu ích của việc sử dụng các yếu tố chi phí đầu vào trong quá trình sản xuất, được xác định bằng mối quan hệ so sánh giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào của một hệ thống kinh tế trong một thời gian nhất định
Tuy nhiên, hiệu quả cũng là một phạm trù kinh tế rất phức tạp và rộng lớn bởi những khác biệt về đầu vào và đầu ra của các hệ thống kinh tế ở các cấp độ khác nhau Xét trong toàn bộ nền kinh tế (tầm vĩ mô), người ta quan tâm đến cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Tuy nhiên, trong phạm vi một doanh nghiệp, doanh nghiệp chủ yếu quan tâm đến hiệu quả kinh tế, hay cụ thể ở đây là hiệu quả sử dụng vốn
Khi bước sang nền kinh tế thị trường các đơn vị hoạt động SXKD tuân theo các nguyên tắc hạch toán kinh doanh Việc sản xuất cái gì, sản xuất cho
ai và sản xuất như thế nào không phải xuất phát từ ý muốn chủ quan của doanh nghiệp mà xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi của thị trường theo phương châm "Tất cả nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường một cách tốt nhất" Vì thế nó
đã tạo ra tính chủ động, sáng tạo trong việc sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế, và cũng chính vì thế mà nó tạo ra một môi trường cạnh tranh quyết liệt giữa các doanh nghiệp, đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng hoàn
Trang 22thiện, tự đổi mới nhằm đạt hiệu quả cao trong hoạt động SXKD Vốn là yếu
tố khởi nguồn của mọi hoạt động kinh doanh, nó tồn tại gắn liền với sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp Doanh nghiệp sử dụng vốn để mua các tài sản cần thiết cho việc xây dựng doanh nghiệp (máy móc thiết bị, nhà xưởng, mua các phát minh sáng chế), đảm bảo cho sự hoạt động của doanh nghiệp (mua nguyên vật liệu, trả lương cho công nhân, trả lãi vay) và đầu tư phát triển doanh nghiệp
Các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự tồn tại một lượng vốn tiền tệ như một tiền đề bắt buộc Tuy nhiên, với cùng một lượng vốn, lợi nhuận thu được của các doanh nghiệp khác nhau lại khác nhau Nguyên nhân chủ yếu của sự khác biệt này là do hiệu quả sử dụng vốn tại mỗi doanh nghiệp Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải xây dựng một kế hoạch sử dụng vốn hiệu quả nhằm tìm kiếm lợi nhuận và khẳng định được vị trí cuả mình trên thương trường Cạnh tranh và khát vọng lợi nhuận đã trở thành động lực thôi thúc doanh nghiệp tăng cường đầu tư, đổi mới thiết bị, đầu tư vào ngành nghề mới Tình hình trên đã làm gia tăng nhu cầu về vốn và đòi hỏi sử dụng vốn hiệu quả để đạt được lợi ích kinh tế cao nhất từ việc sử dụng vốn vào hoạt động SXKD của doanh nghiệp Có thể đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động SXKD bằng cách sử dụng thước đo tiền tệ để lượng hoá các đầu ra và đầu vào và mối quan hệ giữa chúng Hiệu quả kinh doanh được xác định bằng thước đo tiền tệ gọi là hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng vốn có thể được biểu hiện là một chỉ tiêu chất lượng phản ánh tương quan giữa kết quả thu được từ hoạt động SXKD với chi phí
bỏ ra để đạt được kết quả đó
Như vậy, hiệu quả chịu ảnh hưởng của hai nhân tố: kết quả và chi phí Trong điều kiện hiện nay, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì yêu
Trang 23cầu đặt ra cho doanh nghiệp là phải sử dụng có hiệu quả lượng vốn đem vào đầu tư Tức là không những bảo toàn được vốn mà còn phải tăng được mức sinh lời của đồng vốn Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng có nghĩa là làm sao với một lượng chi phí bỏ ra thấp nhất mà thu được kết quả cao nhất
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh lời tối đa Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hoá thông qua hệ thống các chỉ tiêu về khả năng hoạt động, khả năng sinh lời, tốc độ luân chuyển vốn
Sử dụng vốn hiệu quả sẽ đảm bảo khả năng an toàn của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Qua đó, doanh nghiệp sẽ đảm bảo việc huy động các nguồn tài trợ và khả năng thanh toán, khắc phục được rủi ro trong kinh doanh Mặt khác, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhằm tăng uy tín, thế lực, thị phần của doanh nghiệp trên thương trường cũng góp phần hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo khả năng canh tranh của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, góp phần tăng lợi nhuận, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên, nâng cao hiệu quả đóng góp cho xã hội
1.1.3.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Để tiến hành SXKD đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định và để duy trì hoạt động SXKD buộc doanh nghiệp phải bảo toàn vốn Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường tồn tại nhiều thành phần kinh tế và
sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì vấn đề tổ chức huy động và sử dụng vốn có hiệu quả là một vấn đề hết sức quan trọng Đây là yếu tố có tính chất quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, đồng thời giúp doanh nghiệp khẳng định và giữ vị trí của mình trong cạnh tranh Nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn SXKD luôn là vấn đề mà mỗi doanh nghiệp cần đặt lên hàng đầu, nó xuất phát từ các lý do sau:
Trang 24Thứ nhất, xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động SXKD đều hướng tới mục đích là tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu dựa trên cơ sở nâng cao lợi nhuận Muốn vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải phối hợp tổ chức, thực hiện đồng bộ mọi hoạt động trong lĩnh vực SXKD Trong đó, vấn đề tổ chức và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn có tính chất quyết định tới hiệu quả SXKD của doanh nghiệp
Thứ hai, sử dụng vốn hiệu quả đảm bảo khả năng an toàn về tài chính, đảm bảo khả năng thanh toán và khắc phục rủi ro trong kinh doanh cho doanh nghiệp Điều này ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Thứ ba, sử vốn hiệu quả giúp nâng cao khả năng tài chính của doanh nghiệp, tạo điều kiện hiện đại hoá công nghệ, nâng cao trình độ của người lao động, tăng cao năng lực sản xuất, từ đó doanh nghiệp mở rộng quy mô cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
Thứ tư, sử dụng vốn hiệu quả góp phần nâng cao vị thế, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình hợp tác phát triển của doanh nghiệp, để doanh nghiệp thực hiện mở rộng thị trường trong và ngoài nước
Thứ năm, sử dụng vốn hiệu quả cũng có nghĩa là doanh nghiệp tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ, tạo được lợi thế trong cạnh tranh, đó là điều kiện quan trọng để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường
Thứ sáu, sử dụng vốn hiệu quả sẽ làm tăng lợi nhuận cảu doanh nghiệp Đây là cơ sở để tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động
Thứ bảy, sử dụng vốn hiệu quả góp phần kéo dài thời gian sử dụng hữu ích của tài sản và tạo ra hiệu quả kinh tế cao Doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nguồn lực của mình sẽ đem lại sự tăng trưởng ổn định, bền vững cho nền kinh tế
Trang 25Thứ tám, sử dụng vốn hiệu quả tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia tốt các chính sách xã hội, đóng góp vào các chương trình vì lợi ích cộng đồng, góp phần vào xây dựng phát triển nền kinh tế của đất nước
1.1.3.3 Mục đích của phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn kinh doanh vận động liên tục
và nhu cầu vốn ở mỗi thời điểm khác nhau là khác nhau Đồng vốn bỏ ra có khả năng sinh lời có liên quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Nếu sử dụng đồng vốn không có hiệu quả, không bảo đảm được vốn, không làm cho nó sinh lời thì doanh nghiệp sẽ không tồn tại và dẫn đến nguy
cơ phá sản Vì vậy việc tổ chức và đảm bảo kịp thời, đầy đủ vốn là mục tiêu
và là yêu cầu khách quan đối với tất cả các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh Việc tăng cường công tác tổ chức và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp xuất phát từ những nguyên nhân như từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp, bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh đều hướng tới mục tiêu là tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu dựa trên cơ sở nâng cao lợi nhuận Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp liên quan đến tất cả các mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là nguồn tích lũy cơ bản để tái sản xuất mở rộng Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay, doanh nghiệp có tồn tại
và phát triển được hay không thì điều kiện quyết định là doanh nghiệp có tạo
ra được lợi nhuận hay không? Vì thế lợi nhuận được coi là một trong những đòn bẩy quan trọng, đồng thời là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh Do đó, sản xuất như thế nào để thu được lợi nhuận cao là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp
Xuất phát từ vai trò của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vốn là tiền đề, là xuất phát điểm cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh; là điều kiện quyết định và ảnh hưởng xuyên suốt đến toàn bộ quá
Trang 26trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra vốn kinh doanh là điều kiện để sử dụng các nguồn tiềm năng khác với mục đích phát triển kinh doanh, phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng Trên thực tế, đã
có không ít các doanh nghiệp có khả năng về nhân lực, có cơ hội đầu tư nhưng thiếu khả năng tài chính mà đành bỏ lỡ mất cơ hội kinh doanh Với vai trò quan trọng đó, đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Đó cũng chính là mục tiêu cần đạt tới của việc sử dụng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Xuất phát từ tình hình quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.Trong cơ chế bao cấp, hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước được Nhà nước bao cấp toàn bộ vốn sản xuất kinh doanh hoặc là được ưu tiên vay vốn với lãi suất thấp Việc khai thác thu hút vốn không được đặt ra như một yêu cầu cấp bách, có tính sống còn đối với doanh nghiệp Điều này đã vô tình
“triệt tiêu” tính chủ động, sáng tạo và tính linh hoạt của các doanh nghiệp
Chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế cùng đan xen hoạt động, các doanh nghiệp Nhà nước chỉ còn là một bộ phận song song cùng tồn tại với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác Các doanh nghiệp phải tự trang trải mọi chi phí và đảm bảo kinh doanh có lãi, phải tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả Nếu không thực hiện được các yêu cầu trên, các doanh nghiệp rất dễ lâm vào tình trạng phá sản Hơn nữa
để tồn tại và phát triển trong cơ chế mới đòi hỏi các doanh nghiệp phải năng động, nắm bắt nhu cầu thị trường, đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, cải tiến quy trình công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm Những đòi hỏi đó buộc các doanh nghiệp phải quản lý đồng vốn một cách chặt chẽ hơn Mặt khác, việc quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp Nhà nước hiện nay còn khác trước,
là các doanh nghiệp phải bảo toàn được số vốn được giao, kể cả khi trượt giá
và phải đầu tư mở rộng phát triển quy mô sản xuất kinh doanh Do đó, vấn đề
Trang 27nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh càng trở nên cấp bách
Xuất phát từ tầm quan trọng của việc tổ chức đảm bảo vốn, tất cả các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ở bất kỳ quy mô nào đều cần đến một lượng vốn nhất định Hơn nữa, việc mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong điều kiện tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ phát triển với tốc độ cao, nhu cầu vốn đầu tư cho các hoạt động này ngày càng lớn Do vậy việc tổ chức huy động vốn ngày càng trở nên quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp Ngoài ra, việc huy động vốn đầy đủ và kịp thời giúp cho doanh nghiệp có thể chớp thời cơ kinh doanh, tạo lợi thế trong cạnh tranh Việc lựa chọn các hình thức huy động vốn thích hợp còn giúp giảm bớt chi phí sử dụng vốn, gây tác động rất lớn làm tăng lợi nhuận ròng cho doanh nghiệp
1.1.4 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VKD
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố bao gồm cả nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn thông qua việc ảnh hưởng đến lợi nhuận trên một vòng quay vốn thực hiện được Trong quá trình quản lý vốn, các doanh nghiệp cần tính tới tác động của những nhân tố này để đề ra biện pháp sử dụng vốn có hiệu quả nhất
1.1.4.1 Nhóm nhân tố khách quan
Các nhân tố khách quan bao gồm các nhân tố tồn tại ngoài doanh nghiệp nhưng có tác động không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm:
- Cơ chế quản lý và chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường Nhà nước cho phép các doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh nhưng dưới sự quản lý vĩ mô của Nhà nước và tạo hành lang pháp lý để các doanh nghiệp hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Chính sách kinh tế ổn định sẽ giúp cho kế hoạch sản xuất kinh doanh của
Trang 28doanh nghiệp thông suốt, có hiệu quả và ngược lại Chính sách kinh tế của Nhà nước có thể làm tăng hoặc giảm hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp Do vậy các doanh nghiệp phải luôn luôn nhạy bén trước các thông tin kinh tế, chủ động điều chỉnh các hoạt động kinh doanh của mình nhằm phù hợp với chính sách quản lý của Nhà nước
- Đặc thù ngành kinh doanh
Đây là nhân tố có ý nghĩa quan trọng cần được xem xét khi quản lý và
sử dụng vốn Đặc thù của ngành thường ảnh hưởng đến cơ cấu đầu tư và cơ cấu nguồn vốn cũng như vòng quay vốn Do đó việc so sánh các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn với chỉ tiêu trung bình của ngành là cần thiết nhằm phát hiện những ưu điểm và hạn chế trong quản lý và sử dụng vốn
- Khả năng cạnh tranh trên thị trường:
Nếu doanh nghiệp có sức cạnh tranh lớn trên thị trường, sản phẩm có sức tiêu thụ lớn thì doanh nghiệp sẽ có doanh thu và lợi nhuận lớn từ đó sẽ tạo
ra tỷ suất lợi nhuận trên vốn cao và ngược lại Nhận thức được vấn đề này doanh nghiệp sẽ đề ra được biện pháp quản lý VKD hiệu quả nhất
- Lãi suất thị trường: Lãi suất thị trường ảnh hưởng đến chi phí huy
động bằng vốn vay Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi lãi suất thị trường tăng lên, tiền lãi doanh nghiệp phải thanh toán sẽ tăng lên, lợi nhuận giảm làm tỷ suất lợi nhuận trên vốn giảm xuống
- Nhân tố thuộc về nền kinh tế: các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
đều chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố thuộc về nền kinh tế như: lạm phát, khủng hoảng…và các nhân tố này đều gây ra ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Do vậy việc nghiên cứu thị trường là rất quan trọng, giúp các doanh nghiệp có thể ứng phó kịp thời trước những biến động của nền kinh tế
Trang 29- Nhân tố thuộc về kỹ thuật: Khoa học công nghệ là cơ hội cũng như
thách thức đối với doanh nghiệp Trong thời đại ngày nay khi mà khoa học kỹ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp dám chấp nhận mạo hiểm đầu tư tiếp cận kịp thời với tiến bộ khoa học, ngược lại sẽ là nguy cơ với các doanh nghiệp còn lạc hậu và tụt lùi
- Rủi ro trong kinh doanh: các rủi ro trong kinh doanh như hỏa hoạn,
bão lụt…làm tài sản của doanh nghiệp bị tổn thất, giảm dần giá trị dẫn tới mất vốn của doanh nghiệp Đặc biệt các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp trong các ngành: xây dựng, nông nghiệp,
đáng của việc lựa chọn phương án đầu tư và kế hoạch kinh doanh cú ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
* Trình độ quản lý tổ chức sản xuất mà trước hết là trình độ tổ chức
quản lý của lãnh đạo, thể hiện ở sự kết hợp một cách tối ưu và hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh, nhằm giảm những chi phí không cần thiết, đồng thời nắm bắt các cơ hội kinh doanh đem lại cho doanh nghiệp
sự tăng trưởng và phát triển
Sau đó là trình độ tay nghề của người lao động: thể hiện ở khả năng tự
Trang 30tìm tòi sáng tạo trong công việc, tăng năng suất lao động…Đây là đối tượng trực tiếp sử dụng vốn của doanh nghiệp quyết định phần lớn hiệu quả trong sử dụng vốn
* Trình độ quản lý và sử dụng các nguồn vốn: là nhân tố ảnh hưởng
trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Công cụ chủ yếu để quản lý các nguồn tài chính là hệ thống kế toán tài chính Nếu công tác kế toán được thực hiện không tốt sẽ dẫn đến mất mát, bị chiếm dụng, sử dụng không đúng mục đích…gây lãng phí tài sản đồng thời có thể gây ra các tệ nạn tham ô, hối lộ, tiêu cực…
* Vấn đề xác định nhu cầu vốn kinh doanh: nếu không chính xác sẽ dẫn
đến việc thừa hoặc thiếu vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh, dẫn đến sự thừa ứ hoặc không đủ vốn để hoạt động, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
* Tính khả thi của dự án đầu tư: việc lựa chọn dự án đầu tư có ảnh
hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn Nếu doanh nghiệp có dự án đầu
tư khả thi, sản xuất ra các sản phẩm dịch vụ có chất lượng tốt, giá thành thấp thì doanh nghiệp sẽ sớm thu hồi được vốn và có lãi Ngược lại khi không tiêu thụ được sản phẩm, doanh nghiệp sẽ bị ứ đọng vốn, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
* Sự hợp lý của cơ cấu tài sản và nguồn vốn kinh doanh trong doanh nghiệp: việc đầu tư vào những tài sản không phù hợp sẽ dẫn đến tình trạng tài
sản không sử dụng được, vốn bị ứ đọng, gây ra tình trạng lãng phí vốn, giảm vòng quay của vốn; hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp sẽ thấp
1.2 Cơ sở thực tiễn của hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp
Trang 311.2.1 Quan điểm đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của các nước trên thế giới
Có các quan điểm đánh giá hiệu quả sử dụng vốn khác nhau, được thể hiện ở các tài liệu như: cuốn "Kinh tế học" nổi tiếng của David Begg, một số giáo trình, luận văn Song tổng kết lại thì họ cho rằng hiệu quả sử dụng vốn được thể hiện ở khả năng sinh lời của vốn, bảo toàn vốn và quản lý vốn sao cho nó không mất mát, tìm cách để cho đồng vốn sinh sôi nảy nở thật nhiều
1.2.2 Quan điểm đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ở Việt Nam
Trong thời kỳ bao cấp, Nhà nước cấp vốn cho các doanh nghiệp, các doanh nghiệp phải đảm bảo được hai yêu cầu là bảo toàn và phát triển vốn Hiệu quả sử dụng vốn cũng được nêu ra nhưng vì sợ mất vốn chi phối nên cơ chế quản lý đặt ra không hề biết đến nguyên tắc quản trị lẫn phương tiện kinh doanh mà Nhà nước đặt ra các con số để khống chế chỉ tiêu dẫn đến hiệu quả kinh tế không cao
Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường thì vốn trong các doanh nghiệp có thể là vốn đầu tư của Nhà nước, vốn của tư nhân, vốn đầu tư nước ngoài Vì vậy quan điểm về vốn và hiệu quả sử dụng vốn cũng thay đổi Sự sinh lời của đồng vốn phải được nhìn nhận và tạo điều kiện cho nó sinh sôi
1.2.3 Tổng quan về các công trình đã nghiên cứu liên quan
Nguyễn Thị Ngọc Hà (2011), "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Cổ phần bất động sản An Thịnh - Hoà Bình", luận văn thạc sỹ kinh tế, trường Đại học Lâm nghiệp Luận văn đã phân tích hiệu quả
sử dụng vốn qua các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của công ty, từ đó xác định nguyên nhân và đưa ra biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Các đề xuất giải pháp đưa ra chưa đầy đủ và cụ thể đối với tình hình hoạt động kinh doanh của công ty
Trần Thị Hải Yến (2011), "Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần xuất khẩu thuỷ sản II - Quảng Ninh", luận
Trang 32văn thạc sỹ kinh tế, trường Đại học Lâm nghiệp Luận văn đã đi sâu nghiên cứu, phân tích tình hình sản xuất kinh doanh của công ty và các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh nhằm đánh giá tình hình biến động của các yếu tố ảnh hưởng để tìm ra nguyên nhân và đề ra giải pháp làm tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng
Trên thực tế để đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu một số giáo trình, các tác phẩm và một số luận văn đã phân tích hiệu quả sử dụng vốn qua các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của công ty, từ đó xác định nguyên nhân và đưa ra biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Các đề xuất giải pháp chỉ đưa ra cụ thể đối với tình hình hoạt động kinh doanh của công ty Chưa đi sâu nghiên cứu, phân tích tình hình sản xuất kinh doanh của công ty và các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh nhằm đánh giá tình hình biến động của các yếu tố ảnh hưởng để tìm ra nguyên nhân và đề ra giải pháp làm tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng cho một doanh nghiệp cụ thể
Bên cạnh đó cũng qua một số giáo trình nghiên cứu của Lưu Thị Hương (2007), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, Khoa ngân hàng - Tài chính, Đại học Kinh tế quốc dân, NXB Thống kế, Hà Nội Giáo trình của PGS TS Nguyễn Đình Kiệm, TS Bạch Đức Hiển (2007), Giáo trình tài chính doanh nghiệp hiện đại, NXB tài chính, Hà Nội Trên thực tế các giáo trình này chỉ đề cập đến những doanh nghiệp bất động sản và thương mại dịch vụ và đề cập cho những doanh nghiệp áp dụng loại hình kinh doanh theo lĩnh vực cụ thể mà không đề cập đến loại hình doanh nghiệp kinh doanh sản xuất vật liệu bê tông
Tuy nhiên, cũng có một số luận văn đề cập đến nhiều công trình nghiên cứu về giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp nhưng chưa có đề tài nào đề cập cụ thể về NVL sản xuất bê tông trong doanh nghiệp và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty
Trang 33Cổ phần Đầu tư Sông Đà - Việt Đức Để doanh nghiệp có thể cạnh tranh và đứng vững trong nền kinh tế thị trường tất yếu đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của mình Thông qua đề tài: "Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty Cổ phần Đầu tư Sông Đà - Việt Đức", tác giả đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu cho luận văn của mình Tác giả cũng rất mong muốn sẽ làm rõ những mặt đã đạt được và những mặt còn hạn chế trong tổ chức sử dụng vốn kinh doanh, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty
Trang 34Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ SÔNG ĐÀ - VIỆT ĐỨC VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Khái quát chung về đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ
phần Đầu tư Sông Đà - Việt Đức
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Sông Đà –
Việt Đức
* Tên công ty viết bằng tiếng Việt:
CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ SÔNG ĐÀ - VIỆT ĐỨC
(Tên cũ là: Công ty CP khai thác chế biến vật liệu xây dựng Việt Đức)
* Tên viết tắt: SONG DA – VIET DUC., JSC
* Địa chỉ trụ sở chính: 78 Bạch Đằng - Thanh Lương - Hai Bà Trưng - Hà
Nội
Công ty Cổ phần Đầu tư Sông Đà – Việt Đức được thành lập vào năm
2004 Ban đầu, Công ty có tên gọi là Công ty Cổ phần khai thác chế biến vật
liệu xây dựng Việt Đức với hoạt động chính là: Khai thác và chế biến đá, sản
xuất bê tông tươi, bê tông thương phẩm, bê tông đúc sẵn, xây dựng các công
trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi, xây dựng đường dây và
trạm biến áp có điện áp từ 35 KW trở xuống, và một số lĩnh vực kinh doanh
khác…
Năm 2007, Công ty chuyển đổi hình thức pháp lý sang thành Công ty
cổ phần và có tên gọi là Công ty Cổ phần Đầu tư Sông Đà – Việt Đức và có
Trang 35thêm được nguồn vốn góp từ nguồn vốn liên kết với thành viên góp vốn là Công ty Cổ phần Thương mại vận tải Sông Đà
Cùng năm này, Công ty thành lập thêm 02 trạm sản xuất bê tông lớn: trạm sản xuất 1 tại Km8+200 Láng Hòa Lạc, An Khánh, Hoài Đức, Hà Nội và trạm sản xuất 2 tại Thúy Lĩnh, Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Hà Nội Với việc mở rộng thêm quy mô trạm trộn sản xuất sản phẩm Bê tông thương phẩm đã giúp cho Công ty ngày càng phát triển trên thị trường và có sức cạnh tranh với các doanh nghiệp sẩn xuất bê tông khác
Những năm 2008 – 2011, tuy nền kinh tế đi xuống nhưng Công ty không ngừng phát triển do nhu cầu về vật liệu xây dựng vẫn tăng cao Trong giai đoạn này, công ty thực hiện phương châm đa dạng hóa các ngành nghề kinh doanh
và mở rộng thêm lĩnh kinh doanh: Xây dựng phòng thí nghiệm; Lữ hành nội địa, lữ hành quốc tế vầ các dịch vụ phục vụ khách du lịch; Kinh doanh bất động sản (không bao gồm hoạt động tư vấn về giá đất); Dạy nghề: sửa chữa ô tô, xe máy, điện tử, điện lạnh, cơ khí, …; Mua bán xe có động cơ) và quy mô sản xuất không ngừng tăng lên
Trong quá trình hình thành và phát triển 8 năm qua, Công ty Cổ phần Đầu tư Sông Đà – Việt Đức đã đạt được những thành tích đáng khích lệ Công
ty đã cung cấp bê tông cho các công trình: Cầu Thanh Trì, đường vành đai 3, công trình QL1A Cầu Giẽ - Pháp Vân, Cầu Vĩnh Tuy và nhiều dự án bê tông khác…
Bên cạnh đó, các sản phẩm Bê tông thương phẩm của Công ty được sử dụng cho nhiều công trình ở miền Bắc mà đối tác là các Công ty xây dựng như: Công ty Xây dựng số 1 Hà Nội, Công ty Cổ phần Sông Đà 25, Công ty
XD Công trình Giao thông 492 Tổng công ty Công trình Giao thông 4, Công
ty xây dựng 319,…
Trang 36Trên lĩnh vực kinh doanh bất động sản, công ty đã đứng vai trò chủ đầu tư của nhiều dự án như:
- Dự án đầu tư xây dựng cải tạo khu Nghĩa Tân, Quận Cầu Giấy, Hà Nội;
- Dự án xã hội hóa các chung cư tại Liễu Giai, Quận Ba Đình và Hoàng Ngọc Phách, Quận Đống Đa, Hà Nội;
- Dự án Đắc Sở, Huyện Hoài Đức, Hà Nội;
- Dự án Diamon Plaza tại Nam An Khánh, Huyện Hoài Đức, Hà Nội;… Ngoài ra công ty còn tham gia nghiên cứu đầu tư các khu nhà ở và công cộng góp phần vào sự phát triển hạ tầng nhà ở và môi trường tại Thành phố
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
Phương châm hoạt động của công ty là: “Thỏa mãn mọi yêu cầu của khách hàng, rút ngắn thời gian thi công, đem đến cho khách hàng những sản phẩm tốt nhất với sự phục vụ chuyên nghiệp nhất.”
Đến nay vốn điều lệ của Công ty tăng lên đến 1.102 tỷ đồng và sử dụng trên 300 lao động
2.1.2 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của Công ty Cổ phần đầu tư Sông
Đà Việt Đức
Công ty Cổ phần Đầu tư Sông Đà Việt Đức được biết đến là doanh nghiệp chuyên cung cấp, vận chuyển bê tông thương phẩm cho các dự án chung cư cao cấp, các công trình nhà ở, trường học, bệnh viện… các công trình do Công ty đấu thầu hoặc được chỉ định thầu của chủ đầu tư Ngoài ra Công ty còn tiến hành cung cấp vật tư nguyên liệu, hàng hoá cho các đơn vị sản xuất
Tuy nhiên, Công ty hoạt động trên cả hai lĩnh vực chính: kinh doanh bất động sản và sản xuất bê tông thương phẩm
Trang 37Thứ nhất, trên lĩnh vực kinh doanh bất động sản, công ty đã đứng vai trò chủ đầu tư cho các dự án xây dựng, cải tạo nhà ở cũ, xây dựng mới các dự
án xã hội hóa các chung cư, xây dựng các chung cư cao tầng chất lượng cao, tham gia nghiên cứu đầu tư các khu nhà ở công cộng, phát triển hạ tầng nhà ở
và môi trường…
Thứ hai, sản xuất bê tông thương phẩm Đây được coi là hoạt động sản xuất chủ yếu của Công ty Công ty có những trạm trộn bê tông công suất lớn, được điều khiển tự động bằng hệ thống máy vi tính, cho ra những sản phẩm đạt tiêu chuẩn cao, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của mọi công trình
Với hệ thống xe chuyên chở Công ty có thể nhanh chóng cung cấp bê tông nguyên vật liệu và các cấu kiện xây dựng tới tận chân công trình một cách nhanh chóng
Công ty có hệ thống kiểm tra chất lượng đảm bảo mọi tiêu chuẩn Việt Nam và Quốc tế với việc cấp phối bê tông được thiết kế bởi các kỹ sư vật liệu xây dựng có kinh nghiệm lâu năm trong nghiên cứu và thực tế về bê tông thương phẩm Kiểm tra chất lượng được công ty chú trọng từ khâu kiểm định chất lượng nguyên vật liệu đầu vào, trong quá trình sản xuất, trộn bê tông với quy trình được bám sát chặt chẽ bởi đội ngũ cán bộ có chuyên môn đến khâu cuối cùng là giao bê tông tới tận chân công trình
Quy trình công nghệ sản xuất Bê tông thương phẩm của công ty Cổ phần Đầu tư Sông Đà – Việt Đức bắt đầu từ thu mua nguyên vật liệu chính đến ra khi sản phẩm cuối là bê tông thương phẩm thường kéo dài từ 10 đến 15 ngày, để phân tích, thí nghiệm xác định tính chất cơ lý của vật liệu đầu vào là cát, đá, xi măng xem có đạt yêu cầu mới chuẩn bị đưa vào sản xuất Thời gian quy trình sản xuất ra khối lượng bê tông thường rất nhanh mỗi một m3 hỗn hợp bê tông trộn khoảng từ 1 đến 3 phút và thời gian sản xuất bê tông phục vụ công trình có thể kéo dài từ 1 đến 3 giờ
Trang 38Qui trình sản xuất bê tông của công ty được thực hiện: Từ khi nhận được đơn đặt hàng và lệnh sản xuất trong ngày theo nhu cầu của khách hàng, phòng kinh doanh lập kế hoạch sản xuất gửi các trạm trộn để có kế hoạch sản xuất bê tông Do chu kỳ của bê tông dài thời gian đông kết nhanh nên bê tông sau khi sản xuất ra phải được bộ phận thí nghiệm ngoài công trường thường trực để lấy mẫu mang đi xét nghiệm kết quả tại trung tâm kiểm định của viện khoa học sau R 7 ngày, R14 ngày và R 28 ngày đạt mác có kết quả công ty gửi chủ đầu tư mới được chấp nhận sản phẩm đạt tiêu chuẩn
Vật liệu chính để sản xuất bê tông thương phẩm bao gồm: cát, đá, xi măng, nước và các phụ gia khác được trộn theo tỷ lệ thích hợp với từng loại
bê tông
Bê tông thương phẩm được sản xuất và cung cấp theo quy trình sau:
Hình 2.1: Sơ đồ quy trình sản xuất bê tông thương phẩm
Trang 39Các vật liệu được trộn theo thiết kế kỹ thuật phù hợp với từng loại Mác
bê tông
Ngoài sản phẩm bê tông thương phẩm Công ty còn cung cấp các sản phẩm từ đá bao gồm: đá cốt liệu, đá cấp phối các loại và bột đá (cả dạng mịn
và thô thích hợp cho mọi ứng dụng)
2.1.3 Tổ chức bộ máy kế toán và Chế độ kế toán
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra, chỉ đạo nghiệp vụ của kế toán trưởng cũng như của lãnh đạo Công ty đối với toàn bộ công tác kế toán nói riêng và hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung Công ty Cổ phần Đầu
tư Sông Đà – Việt Đức tổ chức bộ máy kế toán theo hình thức tập trung Theo hình thức này mọi công việc kế toán đều được thực hiện ở phòng kế toán và chịu sự kiểm soát của kế toán trưởng
Tại Công ty đứng đầu bộ máy kế toán là kế toán trưởng, bên dưới là kế toán các phần hành chịu sự lãnh đạo trực tiếp của kế toán trưởng
Phòng kế toán của Công ty bao gồm 8 người được tổ chức theo sơ đồ sau:
Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán Công ty CP ĐT Sông Đà- Việt Đức
Công ty áp dụng hình thức Nhật ký chung và được thực hiện trên máy vi tính bằng phần mềm kế toán AFC Phần mềm này do Công ty mua ngoài, nó giúp cho
Trang 40các nhân viên kế toán phát huy tối đa khả năng của mình, giảm thiều công việc cho các nhân viên kế toán
Trình tự ghi sổ của Công ty được thực hiện theo sơ đồ sau:
Hình 2.3: Sơ đồ trình tự ghi sổ theo hình thức Nhật ký chung bằng phần
mềm kế toán AFC
Theo hình thức này, sau khi các chứng từ, bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại được phân loại và nhập vào máy, phần mềm trên máy vi tính sẽ xử lý thông tin và chạy lên bảng kê, sổ, thẻ kế toán chi tiết, nhật ký chung, sổ cái các tài khoản, các báo cáo tài chính và các báo cáo kế toán khác phục vụ nhu cầu quản trị nội bộ trong Công ty
Cuối kỳ Công ty sẽ in các sổ, thẻ kế toán chi tiết, nhật ký chung, sổ cái và các báo cáo kế toán Trong một số trường hợp theo yêu cầu quản lý, kế toán phần hành
sẽ in ra sổ, thẻ kế toán chi tiết, báo cáo nội bộ cung cấp thông tin cho ban lãnh đạo
Ví dụ, hàng tháng kế toán kho sẽ in Sổ chi tiết nhập vật tư theo kho từ ngày 01 đến ngày 15, Sổ chi tiết xuất vật tư theo kho từ ngày 01 đến ngày 15 trước ngày 20 hàng