tham gia của người dân, giúp người dân nhận thức rõ trách nhiệm, quyền lợi nhằm chủ động tham gia phát triển nông nghiệp - nông thôn đóng vai trò chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp h
Trang 1PHÍ TRỌNG HỢP
GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ NGƯỜI DÂN TRONG THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI HUYỆN CHƯƠNG MỸ, TP HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội, 2013
Trang 2PHÍ TRỌNG HỢP
GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ NGƯỜI DÂN TRONG THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI HUYỆN CHƯƠNG MỸ, TP HÀ NỘI
Chuyªn ngµnh: Kinh tế nông nghiệp
M· sè: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN ĐÌNH LONG
Hà Nội, 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian theo học cao học khóa 19 (2011 – 2013), chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp (KTNN) tại Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam (VFU), tôi đã dự định, xây dựng đề cương, thực tế đi sâu vào nghiên cứu
và thực tập đề tài: “Giải pháp nâng cao vai trò người dân trong thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Chương Mỹ, Tp Hà Nội”
Cho đến nay, tôi đã hoàn thành Luận văn tốt nghiệp cho khóa học này Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu đã tạo điều kiện tốt cho tôi và các học viên lớp Cao học KTNN 19B1 trong quá trình học tập Cảm ơn các thầy cô trong Khoa Đào tạo sau Đại học, các thầy cô bộ môn Kinh tế và các bộ môn khác đã nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức, giúp đỡ tạo điều kiện trong công tác và học tập
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn, sự giúp đỡ quý báu của PGS.TS Nguyễn Đình Long đã tạo điều kiện chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học và các chuyên gia trong lĩnh vực đã tận tình giúp đỡ, đóng góp ý kiến trong quá trình thực hiện luận văn Cảm ơn các cán bộ, xã viên ủy ban nhân dân các xã thuộc huyện Chương
Mỹ, thành phố Hà Nội
Do điều kiện thời gian, năng lực có hạn, bản thân tôi đã cố gắng hết mình
để hoàn thành Luận văn này, tuy vậy sẽ không tránh khỏi khiếm khuyết và thiếu sót Rất mong các thầy cô, các nhà khoa học, các đồng nghiệp đóng góp ý kiến xây dựng để tôi có cơ hội tiếp thu và nâng cao kiến thức chuyên môn
Tôi xin cam đoan rằng các số liệu đã thu thập và tính toán là chính xác, trung thực, được trích dẫn và có thể truy xuất nguồn gốc rõ ràng
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả
Phí Trọng Hợp
Trang 4MỤC LỤC
Trang TRANG PHỤ BÌA
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
TRANG PHỤ BÌA ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ NGƯỜI DÂN TRONG THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 5
1.1 Cơ sở lý luận về vai trò người dân trong thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới 5
1.1.1 Quan điểm về xây dựng nông thôn mới 5
1.1.2 Một số đặc trưng của mô hình nông thôn mới 6
1.1.3 Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới 7
1.1.4 Nội dung chủ yếu về Chương trình xây dựng nông thôn mới 8
1.1.5 Sự tham gia của người dân trong thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới 10
1.1.6 Vai trò tham gia của người dân trong thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới 14
1.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới 18
1.2 Cơ sở thực tiễn 21
1.2.1 Trên thế giới 21
Trang 51.2.2 Ở Việt Nam 29
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Chương Mỹ 37
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 37
2.1.2 Đặc điểm kinh tế của huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội 43
2.1.3 Đặc điểm xã hội của huyện Chương Mỹ 53
2.2 Phương pháp nghiên cứu 56
2.2.1 Phương pháp tiếp cận và chọn điểm nghiên cứu 56
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 57
2.2.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp/xử lý số liệu, tài liệu 58
2.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá sự tham gia của người dân 58
2.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình cơ bản về thực hiện chương trình nông thôn mới tại các xã điều tra 58
2.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh vai trò của người dân 59
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 61
3.1 Khái quát thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Chương Mỹ giai đoạn 2009 - 2012 61
3.1.1 Tình hình triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Chương Mỹ 61
3.1.2 Sự tham gia của người dân trong các nội dung xây dựng nông thôn mới tại huyện Chương Mỹ 72
3.2 Sự tham gia của người dân trong thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới tại các điểm nghiên cứu 81
3.2.1 Khái quát về tình hình cơ bản tại các xã điều tra 81
3.2.2 Kết quả về sự tham gia của người dân thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới 83
Trang 63.2.3 Tác động từ việc tham gia tích cực lập kế hoạch của người dân trong thực hiện xây dựng nông thôn mới 91 3.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong thực hiện Chương trình nông thôn mới 97 3.3 Đánh giá chung và những vấn đề đặt ra trong phát huy vai trò tham gia của người dân trong thực hiện Chương trình xây dựng NTM 100 3.3.1 Đánh giá chung về vai trò tham gia của người dân trong thực hiện Chương trình xây dựng NTM 100 3.3.2 Những vấn đề đặt ra trong phát huy vai trò tham gia của người dân trong thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới 102 3.4 Định hướng và các giải pháp nhằm nâng cao vai trò người dân trong thực hiện Chương trình xây dựng NTM tại huyện Chương Mỹ 104 3.4.1 Quan điểm nâng cao vai trò người dân trong thực hiện Chương trình xây dựng NTM 104 3.4.2 Các giải pháp nâng cao vai trò người dân trong thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới 106 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 110 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7CNH - HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
KTCTTL Kỹ thuật Công trình Thủy lợi
NN - NT Nông nghiệp – nông thôn
NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn NSVSMT Nước sạch vệ sinh môi trường
PRA Cách tiếp cận phương pháp tham gia
Trang 8DANH MỤC BẢNG
2.1 Tình hình sử dụng đất đai của Huyện Chương Mỹ năm 2011 44 2.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2006 - 2010 46 2.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện giai đoạn 2006 - 2010 47 2.4 Bảng tình hình biến động dân số qua một số năm ở huyện
3.1 Tình hình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên
3.2 Kết quả thành lập Ban chỉ đạo các cấp của huyện Chương Mỹ
3.3 Kết quả đào tạo và tập huấn cán bộ cơ sở trong xây dựng nông
thôn mới tại huyện Chương Mỹ giai đoạn 2010 - 2012 68 3.4
Kết quả đào tạo và tập huấn người dân về kiến thức khoa học
kỹ thuật trong xây dựng NTM tại huyện Chương Mỹ năm
2010- 2012
70 3.5 Kết quả tham gia của người dân về đồ án quy hoạch XD NTM 73
3.6 Kết quả thực hiện phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn giai đoạn
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
3.1 Sự biến động số lượng người tham gia trong ban chỉ đạo xây
3.2 Số lớp được mở và số lượng người tham gia vào các lớp đào
3.3 Các nguồn vốn theo đề án và thực tế đã huy động được 86
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông thôn là danh từ được dùng để chỉ những vùng đất trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia mà ở đó người dân sinh sống chủ yếu bằng hoạt động canh tác nông nghiệp Cho đến năm 2009, có đến 70,4% dân số sống ở vùng nông thôn Việt Nam, trong khi tỷ lệ này là 76,5% năm 1999 và con số của những năm trước còn lớn hơn nhiều Chính vì thế cuộc sống và tổ chức nông thôn có ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn xã hội Nông nghiệp và nông thôn luôn là những vấn đề nóng và có vị trí quan trọng đặc biệt trong chiến lược và đường lối phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam Phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa đã được khẳng định rõ ràng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta
Để phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương giải quyết đồng bộ
cả ba vấn đề là “Nông nghiệp, nông thôn, nông dân” Xuất phát từ chủ trương
đó, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành Nghị quyết số 26 - Hội nghị lần thứ VII
Ban chấp hành TW khóa X về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” (năm
2008) và văn bản nghị quyết đã phần nào chỉ rõ đường lối, quan điểm, nhiệm
vụ và giải pháp lớn về công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020
Như vậy, chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng ở các địa phương trên cả nước Xây dựng nông thôn mới là cốt lõi thực hiện Nghị quyết số 26 NQ/TW của BCH Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông thôn và nông dân, từ đó thể hiện sự quan tâm, chăm lo của
Đảng, Nhà nước để phát triển khu vực nông thôn Với phương châm “Nhà
nước và nhân dân cùng làm”, xây dựng nông thôn mới chính là một cuộc
cách mạng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị, sự
Trang 11tham gia của người dân, giúp người dân nhận thức rõ trách nhiệm, quyền lợi nhằm chủ động tham gia phát triển nông nghiệp - nông thôn đóng vai trò chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ
tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái đất nước
Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn
xã hội, trong đó người dân có vai trò chủ thể, dám nghĩ, dám làm và dám chịu
trách nhiệm trong các hoạt động Với phương châm hành động “Mỗi người
dân làm một việc, mỗi hộ gia đình làm một hoạt động thiết thực tham gia xây dựng nông thôn mới”, người dân nông thôn tham gia học tập, nâng cao trình
độ, tổ chức và xây dựng các phong trào thi đua tại địa phương; từng người dân thật sự phải là cá nhân tích cực tuyên truyền xây dựng nông thôn mới; các hoạt động cụ thể của người dân được tổ chức trực tiếp tham gia xây dựng nông thôn mới và tuyên truyền, vận động mọi tầng lớp nhân dân địa phương cùng tham gia
Người dân tham gia các phong trào phát triển kinh tế – xã hội của địa phương để từ đó vươn lên thoát nghèo, tiến tới làm giàu cho chính mình; người dân có vai trò chủ thể, thực hiện hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; là lực lượng luôn tích cực tiếp thu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
cơ cấu cây trồng – vật nuôi và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Hiện nay, trên toàn bộ địa bàn huyện Chương Mỹ, mới có 13/17 xã
tổ chức công bố đề án quy hoạch và phát động phong trào toàn dân xây dựng NTM; nhiều xã thay vì chưa xây dựng kế hoạch và lộ trình cụ thể trong đấu giá đất, huy động sức dân… mà trở nên bị động, trông chờ vào nguồn lực của nhà nước Hơn thế nữa, công tác dồn điền đổi thửa ở một số
xã vùng đồi gò rất khó khăn; trình độ cán bộ xã chưa đáp ứng được yêu cầu
Trang 12lập dự án báo cáo kinh tế kỹ thuật, hồ sơ thiết kế thẩm định và phê duyệt các công trình giao thông, thủy lợi…
Ngoài ra, việc triển khai xây dựng nông thôn mới còn bộc lộ nhiều khuyết điểm, tồn tại như: Nhận thức của một bộ phận cán bộ, nhân dân về cách làm, mục đích, ý nghĩa của Chương trình này chưa được đầy đủ, vẫn còn
có thái độ thờ ơ, chưa vào cuộc, chưa ủng hộ chương trình; công tác tuyên truyền, vận động người dân về chủ trương chưa đồng nhất và chưa đạt hiệu quả chưa cao; cơ chế chính sách chưa đồng bộ, không phù hợp với tình hình thực tế triển khai tại cơ sở, một số cơ chế chính sách liên quan đến trình tự, thủ tục trong quản lý đầu tư, thanh toán chậm được ban hành… Có thể nói, các xã xây dựng chưa bền vững mà lý do cơ bản là sự tham gia của người dân
là thụ động Vì vậy cần phải xác định giải pháp, cách thức nâng cao hay làm tăng sự tham gia của người dân trong các hoạt động xây dựng nông thôn mới
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế về sự tham gia của người dân trong
quá trình phát triển nông thôn mới, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao vai trò người dân trong thực hiện Chương trình xây dựng Nông thôn mới tại huyện Chương Mỹ, Tp Hà Nội”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
- Đánh giá thực trạng vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới, qua đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nâng cao vai trò của người dân trong quá trình thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới
Trang 13- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nâng cao vai trò của người dân trong thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Chương Mỹ trong thời gian tới
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nội dung xây dựng nông thôn mới và sự tham gia của người dân trong thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi về nội dung
- Tập trung nghiên cứu nghiên cứu thực trạng vai trò của người dân và các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, qua đó luận giải và đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò người dân trong quá trình thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới
1.3.2.2 Phạm vi không gian
- Huyện Chương Mỹ - thành phố Hà Nội
1.3.2.3 Phạm vi thời gian
- Đề tài nghiên cứu trong thời gian từ 2010 - 2012
1.4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, kết cấu của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của người dân trong thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới
Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 141.1.1 Quan điểm về xây dựng nông thôn mới
Trong những năm trở lại đây, mô hình nông thôn mới không còn là tên gọi mới mẻ ở Việt Nam Mô hình phát triển nông thôn này đã góp phần quan trọng phát triển và cải thiện bộ mặt đời sống kinh tế - xã hội nông thôn nước
ta Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của người dân nông thôn và yêu cầu phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, hợp tác hóa theo tinh thần của Nghị quyết số 06/NQ-TW ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 49/2001/CT-BNN/CS ngày 27/04/2001 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc
“Xây dựng mô hình phát triển nông thôn mới” nhằm định hướng rõ trong chỉ đạo thực hiện Việc xây dựng mô hình phát triển nông thôn mới là một quá trình chuyển đổi căn bản chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam từ hướng cung sang hướng vào nhu cầu thị trường và nhu cầu xã hội Đồng thời đảm bảo sự tham gia tối đa của người dân vào những hoạt động phát triển này theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý thành quả và dân hưởng lợi” Đây là những cơ sở để phát huy nội lực, hướng tới xây dựng phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững
Do đó, mô hình nông thôn mới là tập hợp các hoạt động qua lại để cụ thể hóa các chương trình phát triển nông thôn; mô hình nhằm bố trí sử dụng các nguồn lực khan hiếm về tài chính, nhân lực, phương tiện, vật tư thiết bị để tạo ra các sản phẩm hay dịch vụ trong một thời gian xác định và thỏa mãn các
Trang 15mục tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường cho sự phát triển bền vững ở nông thôn Dưới đây là quan điểm chung về xây dựng nông thôn mới được khái quát như sau:
1 Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp xây dựng phát triển kinh tế - văn hoá – xã hội của huyện theo hướng văn minh, hiện đại Vì vậy, xây dựng nông thôn mới cần được sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp và sự tham gia tích cực, chủ động của toàn dân bảo đảm hoàn thành các mục tiêu của đề án đề ra
2 Xây dựng nông thôn mới phải tuân thủ theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô, quy hoạch chung Thủ đô đến năm 2030, tầm nhìn 2050 và các quy hoạch ngành, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của huyện
3 Xây dựng nông thôn mới vừa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, vừa bảo tồn phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, giữ gìn bản sắc dân tộc, góp phần xây dựng phát triển bền vững,
có môi trường xanh, sạch, đẹp
4 Xây dựng nông thôn mới trên tinh thần phát huy nội lực của cộng đồng, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường của nhân dân là chính, kết hợp với sự hỗ trợ của nhà nước và phù hợp với điều kiện từng cơ sở
5 Xây dựng nông thôn mới cần triển khai đồng bộ, toàn diện trên địa bàn huyện Phấn đấu đến năm 2015, cơ bản số xã đạt các tiêu chí về xây dựng
cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hoá và xã hội
1.1.2 Một số đặc trưng của mô hình nông thôn mới
- Đơn vị cơ bản của mô hình nông thôn mới là làng - xã Làng - xã là một cộng đồng, trong đó quản lý của Nhà nước và tự quản của nông dân được kết hợp hài hòa, các giá trị truyền thống của làng - xã được phát huy tối đa,
Trang 16tạo ra bầu không khí tâm lý xã hội tích cực, bảo đảm trạng thái cân bằng trong đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn, giữ vững an ninh trật tự xã hội… nhằm hình thành môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông thôn
- Đáp ứng yêu cầu thị trường hóa, đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuẩn bị những điều kiện vật chất và tinh thần giúp nông dân yên tâm làm ăn sinh sống và ngày một thịnh vượng hơn trên chính nơi họ đã gắn bó lâu đời
- Có tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, môi trường sinh thái được giữ gìn, tiềm năng du lịch được khai thác, làng nghề truyền thống, làng nghề tiểu thủ công nghiệp được khôi phục, ứng dụng khoa học công nghệ cao trong quản lý cũng như sản xuất…
- Các chủ thể nông thôn (lao động nông thôn, chủ trang trại, hộ nông dân, các tổ chức phi chính phủ…) có khả năng, điều kiện và trình độ để tham gia tích cực vào các quá trình ra quyết định về chính sách phát triển nông thôn… Người nông dân thực sự được tự do và quyết định trên luống cày và thửa ruộng của mình, lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh làm giàu cho mình, cho quê hương theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước
- Nông dân, nông thôn có văn hóa phát triển, dân trí được nâng lên, sức lao động được giải phóng Người nông dân có cuộc sống ổn định, giàu có, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật và tay nghề cao, lối sống văn minh hiện đại nhưng vẫn giữ được những giá trị văn hóa, bản sắc truyền thống dân tộc…
1.1.3 Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành kèm theo Quyết định
số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ tiêu chí xác định nông thôn mới Được chia làm 5 nhóm với 19 tiêu chí, Bộ
Trang 17tiêu chí quốc gia cụ thể hóa các định tính của Nông thôn mới Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020:
+ Nhóm 1: Quy hoạch 1 tiêu chí
+ Nhóm 2: Hạ tầng kinh tế - xã hội 8 tiêu chí
+ Nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất 4 tiêu chí
+ Nhóm 4: Văn hóa – Xã hội – Môi trường 4 tiêu chí
tầng, để áp dụng khi xây dựng Nông thôn mới Từ đó giúp cho các cấp quản
lý, ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của mỗi địa phương, đưa ra được các phương án khả thi nhằm đưa địa phương mình trở thành xã, huyện, tỉnh đạt nông thôn mới (Xem phụ lục)
1.1.4 Nội dung chủ yếu về Chương trình xây dựng nông thôn mới
Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 xác định xây dựng nông thôn mới là chương trình mục tiêu quốc gia và là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, bao gồm các nội dung:
- Quy hoạch xây dựng nông thôn mới: Nội dung căn bản này là cơ sở
để có thể tiến hành các giải pháp tiếp theo trong xây dựng nông thôn mới, bao gồm: Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp dịch vụ; Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội môi trường theo tiêu chuẩn mới; Quy hoạch
Trang 18phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp
- Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại hóa: Cùng với việc hoàn thiện giải pháp về quy hoạch thì phát triển cơ sở hạ tầng sẽ giúp thay đổi bộ mặt của nông thôn, tạo cơ sở cho phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập Hiện nay, cơ sở hạ tầng ở nhiều vùng nông thôn vẫn còn nghèo nàn, thiếu thốn, đường giao thông đi lại khó khăn, các công trình công cộng như: trường học, thủy lợi, điện, nhà văn hóa, chợ, trạm y tế… chưa đảm bảo để phục vụ đời sống sinh hoạt cũng như sản xuất của người dân Do đó, cần nhanh chóng hoàn thiện
cơ sở hạ tầng từng bước hiện đại nhưng vẫn giữ gìn được phong cách truyền thống và phải phù hợp với thực trạng của từng địa phương
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, nâng cao thu nhập: Đây là nội dung trọng tâm, mang tính cốt lõi của Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM), là nội dung khó thực hiện nhất và cần phải có thời gian, đặc biệt là tiêu chí về thu nhập và cơ cấu lao động Muốn tăng thu nhập thì phải giảm tỷ lệ lao động trong nông nghiệp (vì nước ta hiện nay bình quân một hộ sản xuất nông nghiệp chỉ có 0,61 ha đất sản xuất, vùng đồng bằng sông Hồng chỉ có 0,35 ha thì đưa công nghệ kiểu gì cũng không thể làm giàu được với quy mô như hiện nay) bằng cách đào tạo nghề để làm phi nông nghiệp và dần dần rút bớt lao động trong nông nghiệp ra Xây dựng NTM là phải làm cho đời sống kinh tế của người dân giàu có hơn, đời sống văn hóa lành mạnh và giữ gìn bản sắc dân tộc, chứ không phải xây dựng NTM chỉ với mục tiêu là xây dựng cơ sở hạ tầng
- Văn hóa - xã hội - môi trường được nâng cao nhằm đảm bảo đời sống tinh thần cho người dân Bên cạnh việc đảm bảo đời sống vật chất thì đời sống tinh thần của người dân cũng phải được quan tâm vì có như vậy thì mới xây dựng được NTM bền vững Nội dung này bao gồm: Coi trọng công tác
Trang 19giáo dục nhằm tạo tiền đề cho việc nâng cao chất lượng lao động, thực hiện
an sinh xã hội: giảm tỷ lệ hộ nghèo, phát triển y tế để chăm sóc sức khỏe cho dân cư nông thôn Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn, xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; Xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; Chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; Cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng…
- Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị -
xã hội trên địa bàn Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định, ban hành chính sách khuyến khích, thu hút các cán bộ trẻ đã được đào tạo, đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh chóng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ ở các vùng này Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới
- Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn Trong quá trình đô thị hóa
sẽ xuất hiện nhiều ý kiến cũng như hành động trái chiều, đi ngược lại quy định Do đó, cần ban hành nội quy, quy ước, hương ước làng xóm về trật tự,
an ninh; Phòng, chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu Điều chỉnh và
bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều kiện cho lực lượng an ninh
xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới
1.1.5 Sự tham gia của người dân trong thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới
Sự tham gia của người dân trong thực hiện chương trình xây dựng NTM là: người dân được biết, người dân được bàn, người dân được làm và
người dân được hưởng lợi từ chương trình
Trang 20Hình 1.1: Nguyên tắc xây dựng Nông thôn mới
- Tham gia xác định khó khăn, nhu cầu và các vấn đề cần giải quyết
Người dân chủ động, tích cực tham gia đóng vai trò cầu nối, tiếp nhận thông tin, phản ánh các mặt tiêu cực và tích cực trong quá trình thực thi chính sách pháp luật về nông thôn mới ở chính quyền cơ sở Người dân có quyền được biết những nội dung chủ trương và biện pháp thực hiện các tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới, từ đó phổ biến rộng rãi trong lực lượng của mình, lấy
ý kiến tập thể trong tổ chức về lợi ích khi tham gia các nội dung phù hợp với đặc điểm tình hình của người dân
- Tham gia đưa ra giải pháp xây dựng nông thôn mới
Bao gồm việc người dân tham gia đóng góp ý kiến liên quan đến kế hoạch phát triển sản xuất, các giải pháp, hoạt động của người dân trên địa bàn chẳng hạn như: bàn luận mở ra một hướng sản xuất mới, đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng, giải pháp thiết kế, phương thức khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các mức đóng góp và các định mức chi tiêu
NGƯỜI DÂN
BIẾT BÀN ĐÓNG GÓP LÀM KIỂM TRA QUẢN LÝ HƯỞNG LỢI
Trang 21từ các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính trong nội bộ cộng đồng dân
cư hưởng lợi
- Tham gia lập kế hoạch, thẩm định, phê duyệt thực hiện xây dựng NTM
Sau khi xác định được giải pháp xây dựng NTM ở địa phương, người dân tham gia lập kế hoạch thực hiện xây dựng NTM hoặc tham gia vào thành phần thẩm định, phê duyệt kế hoạch xây dựng NTM Huy động sự tham gia của người dân vào khâu lập kế hoạch là phát huy mạnh mẽ sức sáng tạo và sự chủ động, góp phần xây dựng NTM
- Tham gia đóng góp nguồn lực xây dựng nông thôn mới
Là một yếu tố không chỉ ở phạm trù vật chất, tiền bạc mà còn ở cả phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng tính tự giác của từng người dân trong cộng đồng Hình thức đóng góp có thể bằng tiền, hoạt
động tình nguyện lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ
- Tham gia tổ chức thực hiện, thi công các nội dung trong chương trình xây dựng NTM
Chính là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào các hoạt động phát triển nông thôn như: đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt động của các nhóm khuyến nông, khuyến lâm, nhận ủy thác từng phần thông qua tổ chức hội, đoàn thể và những công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản
lý và sử dụng công trình Người dân trực tiếp tham gia phản biện vào quá trình cụ thể trong việc lập kế hoạch có sự tham gia cho từng hoạt động thi công, quản lý và duy tu bảo dưỡng, từ những việc tham gia đó đã tạo cơ hội
cho người dân ở nông thôn có việc làm, tăng thu nhập
- Tham gia kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện xây dựng NTM
Có nghĩa là thông qua các chương trình, hoạt động có sự giám sát và đánh giá của người dân, để thực hiện các quy chế dân chủ cơ sở của Đảng và Nhà nước nói chung và nâng cao hiệu quả chất lượng công trình Ở những công
Trang 22trình có nhiều bên tham gia, sự kiểm tra, giám sát của cộng đồng hưởng lợi có tác động tích cực trực tiếp đến chất lượng công trình và tính minh bạch trong
việc sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và của người dân vào xây dựng,
quản lý và vận hành công trình Việc kiểm tra có thể được tiến hành ở tất cả các
công đoạn của quá trình đầu tư trên các khía cạnh kỹ thuật cũng như tài chính
- Tham gia quản lý thành quả xây dựng NTM
Đó là các thành quả của các hoạt động mà cộng đồng dân cư trong đó
có người dân đã tham gia; các công trình sau khi xây dựng xong cần được quản lý trực tiếp của một tổ chức do nhân dân hưởng lợi lập ra để tránh tình trạng không rõ ràng về chủ sở hữu công trình Việc người dân tham gia tổ chức duy tu, bảo dưỡng công trình nhằm nâng cao tuổi thọ và phát huy tối đa hiệu quả trong việc sử dụng công trình là nhiệm vụ hết sức quan trọng
- Tham gia hưởng lợi trong chương trình xây dựng NTM
Chính là lợi ích mà các hoạt động mang lại, tuy nhiên cần chia ra các nhóm hưởng lợi ích trực tiếp và nhóm hưởng lợi gián tiếp Nhóm hưởng lợi trực tiếp là nhóm thụ hưởng các lợi ích từ các hoạt động như thu nhập tăng thêm của năng suất cây trồng do thực hiện thâm canh, tăng vụ, áp dụng các giống mới, các kỹ thuật tiên tiến, phòng trừ dịch bệnh và các hoạt động tài chính, tín dụng, Nhóm hưởng lợi gián tiếp là nhóm thụ hưởng thành quả của các hoạt động đó, để hưởng lợi từ mức độ cải thiện môi trường sinh thái, học hỏi nhóm hưởng lợi trực tiếp từ các mô hình nhân rộng, mức độ tham gia vào thị trường để tăng thu nhập
Người dân tham gia với sự đồng thuận và ý thức trách nhiệm, chủ động và phát huy thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới Vì vậy đòi hỏi các cấp quản lý cần có các biện pháp tuyên truyền, vận động người dân để họ hiểu và trở thành chủ thể thực sự trong quá trình xây dựng nông thôn mới
Trang 231.1.6 Vai trò tham gia của người dân trong thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó
vạn lần dân liệu cũng xong” chứng minh qua nhiều công trình đã được xây dựng
ở khắp nơi trên cả nước và xây dựng nông thôn mới là " của dân, do dân và phục
vụ lợi ích vì nhân dân" Sự tham gia của người dân vào chương trình xây dựng nông thôn mới được coi là nhân tố quan trọng, quyết định đến sự thành công cũng
như thất bại của chương trình Do đó mọi việc phải để “dân biết, dân bàn, dân
làm và dân hưởng thụ” thay vì như khẩu hiệu mà chúng ta được thực hiện hiện
nay là “dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra”
a Vai trò của người dân trong quyết định các vấn đề xây dựng NTM
Sự tham gia quyết định các vấn đề xây dựng NTM được thể hiện qua
sự tham gia thành lập BCĐ, các tiểu ban xây dựng NTM thôn xóm; tham gia đóng góp ý kiến lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng NTM; quyết định lựa chọn phát triển vùng sản xuất (sản xuất cái gì, địa điểm xây dựng vùng sản xuất) thông qua hình thức họp, bàn, lấy ý kiến, biểu quyết theo tỷ lệ để lựa chọn các phương án Sự tham gia các lớp tập huấn phát triển sản xuất trên địa bàn…
Đây là nội dung quan trọng nhất và xuyên suốt quá trình xây dựng NTM, được coi như nhân tố quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ trong xây dựng thí điểm mô hình Từ việc biểu quyết thành lập BCĐ, tiểu ban NTM tại địa phương đến ý kiến lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng NTM của người dân thể hiện sự hiểu biết, bàn bạc, hành động (làm), quyết định của người dân
Sau khi đã họp, thảo luận, bàn bạc, khi triển khai, cán bộ cùng người dân quyết định cái gì làm trước, cái gì làm sau, phù hợp với nguồn lực của chính họ, phù hợp với nguồn lực của địa phương và của Trung ương hỗ trợ cho họ để đạt hiệu quả nhất
Trang 24Người dân phải thể hiện được quyền làm chủ của mình, tùy thuộc vào điều kiện và khả năng của chính họ, một số hoạt động tại địa phương người dân có thể đảm nhiệm để có cơ hội đóng góp công sức tiền của cho quê hương trong xây dựng nông thôn mới
Bên cạnh đóng góp cho cộng đồng, họ còn có thể có thêm thu nhập
từ những hoạt động của chương trình thay vì phải đi thuê từ bên ngoài cộng đồng Người nông dân phải thực sự hiểu được, thấy được là họ làm cho chính mình, thực hiện theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, tự đầu
tư nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh để thoát nghèo và làm giàu Hay nói cách khác là: “Chủ thể” cần thể hiện ở chỗ người dân phải
từ nhu cầu tăng thu nhập mà phải chủ động tìm đến khoa học kỹ thuật, phải học, quyết định đầu tư, chọn hướng sản xuất và thâm canh trên ruộng vườn nhà mình để có năng suất cao…
Cần giúp người dân tự ý thức chỉnh trang nhà cửa, sân vườn, cổng ngõ của họ theo quy hoạch chung của xã, đóng góp cho văn minh sạch đẹp của làng, xã từ chính nhà mình Xây đủ các công trình vệ sinh, bố trí khu chăn nuôi hợp vệ sinh, cải tạo ao (vừa để có thêm thu nhập); cải tạo ngõ, tường rào để có cảnh quan đẹp Bởi xây dựng nông thôn mới là phải nâng cao cả đời sống vật chất và tinh thần cho người dân
b Vai trò đóng góp nguồn lực cho xây dựng NTM
Phương châm xây dựng NTM là “Nhân dân làm, Nhà nước hỗ trợ”, do
đó, để thực hiện thành công xây dựng NTM, các địa phương cần làm tốt công tác huy động mọi nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực từ cộng đồng dân cư Nguồn lực xây dựng NTM bao gồm: nguồn vốn tiền mặt, hiện vật (vật liệu xây dựng), ngày công lao động, hiến đất… vốn tài trợ khác (tranh thủ sự ủng
hộ của con em thành đạt hướng về quê hương) để thực hiện các hoạt động xây
Trang 25dựng NTM Đây là sự thể hiện ở phạm trù vật chất lẫn phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tự giác của người dân
Trong xây dựng NTM, công trình nào mà người dân làm được thì để người dân làm, không phải tất cả các công trình đều phải thuê Làm như vậy vừa tăng thu nhập cho người dân, để họ có thể đóng góp sức lực cho công cuộc xây dựng NTM thông qua việc xây dựng, cải tạo nâng cấp công trình đó Đồng thời, để người dân phải thực sự hiểu được, thấy được là họ làm cho chính mình, thực hiện theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, tự đóng góp, đầu tư nâng cao hiệu quả các công trình, các hoạt động trong xây dựng NTM để từng bước nâng cao đời sống của chính gia đình mình và làm giàu chính đáng
c Vai trò trong kiểm tra, giám sát các công trình xây dựng NTM
Vai trò của người dân trong việc kiểm tra, giám sát trong quá trình triển khai thực hiện xây dựng NTM thể hiện: kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch, quản lý và sử dụng các nguồn đầu tư, nguồn thu từ cộng đồng, các dự
án đầu tư vào cộng đồng, các công trình nhân dân đóng góp kinh phí; hay sự tham gia lao động trực tiếp, số ngày công kiểm tra thực tế vào các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt động của tổ, nhóm khuyến nông,… thông qua hoạt động của các ban thanh tra nhân dân hay ban giám sát cộng đồng
Thông qua việc kiểm tra, giám sát thể hiện vai trò của người dân trong xây dựng NTM đồng thời đảm bảo được chất lượng các công trình, các hoạt động của xây dựng NTM từ đó nâng cao chất lượng phục vụ của các công trình NTM, nâng cao thời gian hưởng lợi cho cộng đồng dân cư
d Vai trò nghiệm thu, quản lý, khai thác sử dụng công trình xây dựng NTM
Nghiệm thu gồm có nghiệm thu từng phần, từng giai đoạn và nghiệm thu tổng thể; được thể hiện qua biên bản có sự ký kết của các thành phần tham gia, trong đó có sự tham gia của người dân Số lần nghiệm thu ở các hoạt động khác nhau cũng khác nhau, để tham gia nghiệm thu được đòi hỏi cả quá
Trang 26trình tham gia lao động thực tế của người dân Sau nghiệm thu tổng thể, người dân tiếp nhận quản lý và khai thác sử dụng để phục vụ cho chính nhu cầu của
họ Vừa khai thác vừa quản lý đồng thời nâng cao vai trò của người dân, để
họ thấy rằng mình thực sự rất quan trọng trong các hoạt động phát triển của địa phương, từ đó tăng tính trách nhiệm của người dân mà lại nâng cao tuổi thọ cho các công trình
e Vai trò của người dân trong việc bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên
Tốc độ phát triển CNH, ĐTH, khai thác tài nguyên và phát triển làng nghề đã làm cho vấn đề ô nhiễm môi trường vùng NN - NT ngày càng cấp bách, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, đang triển khai thực hiện Chương trình xây dựng NTM Những năm gần đây, tình hình thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế của người dân, mà phần lớn là nông dân Nhiều vùng nông thôn bị ô nhiễm vượt quá mức cho phép nhiều lần, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm hữu cơ trên các vùng mà nguyên nhân chính là do chất thải sinh hoạt, chăn nuôi, chất thải sản xuất, đặc biệt tại các làng nghề… Để xây dựng thành công NTM cần gắn quy hoạch phát triển KT - XH với bảo vệ tài nguyên môi trường
Để thực hiện thành công tiêu chí môi trường, cần thực hiện có hiệu quả quy hoạch bảo vệ môi trường; khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn, cải tạo, nâng cấp, xây dựng các công trình bảo vệ môi trường vùng NN -
NT, tăng cường năng lực quản lý môi trường cấp huyện, xã để bảo vệ môi trường; đặc biệt đẩy mạnh thông tin tuyên truyền, nâng cao nhận thức và sự tham gia của cộng đồng dân cư trong các hoạt động cải thiện và bảo vệ môi trường NN - NT, thông qua các hoạt động quét dọn đường làng, ngõ xóm; không thả gia súc, gia cầm trên đường làng, không phơi rơm rạ trên trục
Trang 27đường giao thôn liên xã, không xả rác bừa bãi, phân loại rác thải… Trong xây dựng NTM, từng người dân tự giác chỉnh trang nhà cửa, sân vườn, cổng ngõ của từng nhà theo quy hoạch chung của xã, đóng góp cho văn minh sạch đẹp của làng, xã từ chính nhà mình, tránh tư tưởng sạch trong nhà, ngoài ngõ bẩn hay ngược lại
Có thể nói, sự tham gia của người dân là phương tiện hữu hiệu để huy động sức mạnh tổng hợp của địa phương, tổ chức và vận dụng năng lực, sự khôn ngoan, tính sáng tạo của quần chúng vào hoạt động xây dựng nông thôn mới Giúp xác định nhu cầu ưu tiên của cộng đồng và tiến hành những hoạt động phát triển để đáp ứng những nhu cầu này Giúp cho việc xây dựng nông thôn mới được thừa nhận, khuyến khích người dân đóng góp nguồn lực thực hiện và đảm bảo khả năng bền vững
1.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới
Chính sách của Đảng và Nhà nước; Trình độ phát triển kinh tế xã hội; Trình độ dân trí, đời sống và thu nhập của người dân; Năng lực, trình độ của cán bộ địa phương và kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới; Sự phối hợp của các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp… là các yếu tố có ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới:
a Chính sách của Đảng và Nhà nước
Đây là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự tham gia của người dân vào hoạt động phát triển nông thôn Nếu Đảng và Nhà nước
có một định hướng đúng, có những chính sách phát triển nông thôn phù hợp, thì
sẽ khuyến khích người dân đồng lòng tham gia xây dựng nông thôn ngày càng phát triển Ngược lại các định hướng và chính sách không phù hợp sẽ có tác động xấu đến vai trò người dân tham gia phát triển nông thôn
Trang 28Vai trò lãnh đạo, định hướng của Đảng là kim chỉ nam để thực hiện thắng lợi 3 mục tiêu cốt yếu cho nông dân: trở thành lực lượng lao động tiên tiến, là lực lượng chính trị vững mạnh và phát triển mạnh mẽ, có những thay đổi về chất
Trước hết, Nhà nước phải có chính sách phát triển nông thôn toàn diện, không
phải chỉ tập trung vào nông nghiệp Thứ hai, Nhà nước phải hỗ trợ việc tăng
cường năng lực cho các cộng đồng nông thôn để nông dân có thể tham gia vào việc phát triển nông thôn, xây dựng các thể chế nông thôn dựa vào cộng đồng: hợp tác xã và các tổ chức dân sự, nghề nghiệp của nông dân
b Trình độ phát triển kinh tế xã hội
Nước ta xây dựng nông thôn mới trong điều kiện trình độ phát triển kinh tế còn thấp; chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn kém, quy mô sản xuất nhỏ bé, các cân đối nguồn lực còn hạn hẹp; mức thu nhập và tiêu dùng của dân cư thấp, chưa đủ tạo sức bật mới đối với sản xuất và phát triển thị trường Lĩnh vực xã hội tồn tại nhiều vấn đề bức xúc Cải cách hành chính tiến hành còn chậm Những tồn tại, hạn chế này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tham gia của người dân và kết quả xây dựng nông thôn mới
c Trình độ dân trí, đời sống và thu nhập của người dân
Hiện nay ở nước ta, tại nhiều địa phương, kể cả khu vực thành thị nhìn chung dân trí chưa cao Theo số liệu Lao động-việc làm ở Việt Nam công bố năm 2008, mặt bằng dân trí và học vấn của khu vực nông thôn, dù đã tiến bộ hơn trước, nhìn chung vẫn còn rất thấp Cụ thể là: Lao động nông thôn có tới 4,6% mù chữ (chiếm 93,81% tổng số chưa biết chữ của lao động cả nước), 18,15% chưa tốt nghiệp tiểu học, 34,11% tốt nghiệp tiểu học, 31,31% tốt nghiệp THCS, chỉ có 11,82% tốt nghiệp THPT
Thực trạng học vấn, dân trí và cách mạng kỹ thuật đang còn thấp kém đã gây rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện chủ trương đưa các tiến bộ khoa học và công nghệ vào quá trình lao động sản xuất ở khu vực nông nghiệp -
Trang 29nông thôn Thực trạng này cũng đã và đang là những nguyên nhân quan trọng làm cho nhiều vấn đề trong nông nghiệp, nông thôn, nông dân chậm được giải quyết
Thu nhập bình quân của người dân nông thôn hiện nay trên dưới 500.000 đồng/tháng, trong khi đó việc chi cho ăn, mặc chiếm tới 80 - 90% Hiện trạng về khoảng cách giàu, nghèo có xu hướng tăng lên, tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn mới) vẫn còn ở mức 18% (ở nhiều vùng sâu, vùng xa tới 40%)
Không chỉ vấn đề đất đai, áp lực về lao động trong nông thôn cũng ngày càng lớn Thực tế, ở nhiều địa phương hiện nay tuy có số nông dân đông, nhưng hầu hết những người có sức khỏe đều rời quê ra các đô thị tìm việc kiếm sống Vì thế vào những ngày mùa cần nhiều lao động các vùng thôn quê rất thiếu nhân lực, phải thuê với giá cao Do đó vấn đề đặt ra tuy nông thôn thừa lao động, thiếu việc làm nhưng có khi lao động vẫn là sức ép đối với nông thôn Ngoài ra, để tiến lên sản xuất lớn khu vực nông thôn còn thiếu hẳn lực lượng lao động có tay nghề, làm nông nghiệp giỏi
d Năng lực, trình độ của cán bộ địa phương và kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới
Trong quá trình nhận thức và thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước về xây dựng nông thôn mới, nhận thức, đặc biệt tư duy của nhiều cán
bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân ở một số địa phương còn hạn chế: Cho rằng xây dựng nông thôn mới là dự án phát triển sản xuất, đầu tư cơ sở hạ tầng; hoặc là biến đổi nông thôn thành thị trấn, thị tứ để đô thị hóa; hoặc xây dựng nông thôn mới là trách nhiệm của nhà nước phải làm cho dân nên nảy sinh tâm lý trông chờ, thụ động, ỷ lại, ảo tưởng là sắp có nông thôn mới Vì vậy, vấn đề đổi mới tư duy để nâng cao hiệu quả nhận thức, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân là hết sức cần thiết
Trang 30Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là lực lượng tiên phong, đi đầu trong xây dựng nông thôn mới Trước tiên họ phải đổi mới tư duy để nhận thức đúng về chủ trương của Đảng, chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới của Chính phủ; từ đó tuyên truyền, vận động, hướng dẫn tư duy và nhận thức của nhân dân về xây dựng nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới là nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì không thể có đất nước công nghiệp mà nông thôn lạc hậu
e Sự phối hợp của các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp
Vai trò và sự phối hợp của các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn góp phần vào thành công của công cuộc xây dựng nông thôn mới Sự
phối kết hợp thể hiện: Thứ nhất, quán triệt và thống nhất trong tổ chức về ý nghĩa và nhiệm vụ trong công tác xây dựng nông thôn mới; Thứ hai, là cầu nối hiệu quả giữa chính quyền và người dân; Thứ ba, tuyên truyền, vận động và tổ
chức các phong trào thi đua nhằm huy động nhân lực, vật lực giải quyết các công
việc cụ thể, Thứ tư, gương mẫu, trách nhiệm và đi đầu trong việc triển khai, thực
hiện và duy trì sử dụng các công trình, thành quả của công tác xây dựng nông thôn mới,
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Trên thế giới
Phát triển nông thôn với việc nâng cao vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, bình ổn xã hội, nhằm đạt đến sự phát triển bền vững cho mỗi quốc gia Tuy nhiên mỗi quốc gia có một quốc sách phát triển để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước mình
1.2.1.1 Hàn Quốc phát triển nông thôn từ việc nâng cao vai trò của nông dân thông qua mô hình “Làng mới” (Saemaul Undong)
Hàn Quốc vào những năm đầu 60 vẫn là một nước chậm phát triển,
Trang 31nông nghiệp là hoạt động kinh tế chính với khoảng 2/3 dân số sống ở khu vực nông thôn Nông dân quen với sống trong cảnh nghèo nàn, an phận thủ thường, họ cho rằng nghèo là số phận, là do kết quả lao động của cha ông để lại, do lãnh đạo đất nước thiếu năng lực, nông dân thiếu tinh thần trách nhiệm
về bản thân mình mà chỉ đổ tại cho khách quan bên ngoài Những suy nghĩ còn mang tính thụ động và ỷ lại ở phần đông nông dân cần được thay đổi; do vậy, các chính sách mới phải khơi dậy được niềm tin và tính tích cực đối với việc phát triển nông thôn, khơi dậy tính độc lập, hăng say lao động của đội ngũ nông dân ở khu vực nông thôn là làm thay đổi những suy nghĩ thụ động
và ỷ lại ở phần lớn nhân dân sống trong khu vực nông thôn và nâng cao vai trò của họ trong cuộc sống
Mục tiêu chính của chính sách mới là làm cho người dân có niềm tin và trở nên tích cực đối với sự nghiệp phát triển nông thôn, làm việc chăm chỉ, cần
cù, sáng tạo, độc lập và cộng đồng Tổng thống Hàn Quốc phát biểu: ”Nếu
chúng ta có thể tạo ra hay khai thác được tinh thần chăm chỉ, tự vượt khó khăn
và hợp tác tiềm ẩn trong mỗi thành viên sống trong khu vực nông thôn, tôi tin tưởng rằng tất cả các làng xã nông thôn sẽ trở thành nơi thịnh vượng để sống Chúng ta có thể gọi là phương hướng hành động của mô hình Saemaul Undong
đó là lời tuyên ngôn của phong trào làng mới” Như vậy, phong trào làng mới
nhấn mạnh đến yếu tố quan trọng nhất tạo động lực cho phát triển là “phát triển
tinh thần của người nông dân”, lấy kích thích vật chất nhỏ để kích thích tinh
thần và qua đó phát huy nội lực tiềm tàng to lớn của nông dân
* Một số hoạt động của mô hình “làng mới” nâng cao vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng mô hình
- Phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, tổ chức từ cơ sở đến Trung ương
Cấp được coi trọng nhất vẫn là cấp cơ sở, việc đầu tiên được tiến hành
là bầu ra một tổ chức ở cấp cơ sở được gọi là “Uỷ ban Phát triển Làng mới”;
Trang 32Uỷ ban này có khoảng 5 - 10 người, những người này là đại diện cho cộng đồng ở làng và chịu trách nhiệm lập kế hoạch, thực thi các tiểu dự án phát triển nông thôn cho làng mình Ngoài ra ở cấp tỉnh và cấp huyện, thị cũng được thành lập Uỷ ban này nhằm giúp, hướng dẫn, tư vấn mọi hoạt động cho
Uỷ ban Phát triển làng mới và giúp họ trong vấn đề huy động vật lực Khác với các nước khác, chương trình này do tổng thống đứng ra trực tiếp lãnh đạo
Bộ trưởng Bộ Nội vụ đứng đầu Uỷ ban điều phối Trung ương với 12 điều phối viên là các Bộ trưởng của các bộ
- Đội ngũ lãnh đạo thôn làm nòng cốt cho chương trình phát triển
Cuộc họp toàn dân mỗi làng bầu ra hai lãnh đạo, một nam và một nữ để lãnh đạo cho phong trào của mình Những người này độc lập với hệ thống chính trị và hành chính ở nông thôn và không được hưởng một khoản trợ cấp nào Nguồn tinh thần chính cho những người này là sự kính trọng của cộng đồng và sự vận động tinh thần kịp thời từ Chính phủ, những người lãnh đạo tinh thần này không bị một sức ép nào về chính trị hay ảnh hưởng về kinh tế,
mà chỉ chịu sự phán xét của nông dân và được cộng đồng tin yêu
- Đào tạo cán bộ các cấp theo các mô hình, gắn cả nước với phong trào phát triển nông thôn
Để giảm khoảng cách giữa dân thường và quan chức Chính phủ, cần gắn bó thực sự cán bộ nhà nước với nhân dân Các quan chức Trung ương được đưa về và sống cùng với nông dân, lãnh đạo các cấp chính quyền sống với lãnh đạo nông dân; Chính phủ mở các khoá đào tạo ngắn ngày khoảng từ một đến hai tuần, nội dung tuỳ theo nhu cầu từng giai đoạn của sự phát triển, đào tạo chủ yếu là học theo các mô hình, rút kinh nghiệm từ các mô hình
- Phát huy dân chủ, đưa nông dân tham gia vào quá trình ra quyết định
Nông dân đều tự ra quyết định lựa chọn thứ tự ưu tiên cho mỗi hoạt động, trong đó hoạt động nào được tiến hành trước và hoạt động nào tiến
Trang 33hành sau; họ tự chịu trách nhiệm trong việc lựa chọn, thực thi và quản lý, giám sát công trình Để tập hợp hay huy động nhanh, thuận lợi trong sinh hoạt cộng đồng, các làng đã xây dựng hội trường làng của mình Đây là điều kiện cho dân làng gần gũi nhau hơn, có tinh thần đoàn kết hơn khi tham gia sinh hoạt cộng đồng
- Tạo ra một không khí thi đua, tinh thần hăng hái trong làng, xã
Đây là nét nổi bật trong phong trào “Làng mới” của Hàn Quốc Hàng năm có đánh giá hiệu quả tham gia chương trình và được đánh giá một cách nghiêm túc, công khai Nơi nào thực hiện thành công từng giai đoạn của dự án mới được hỗ trợ chương trình khác Chủ trương này được Tổng thống công bố chính thức cho toàn dân Địa phương nào cũng muốn vươn lên thành điển hình tốt, họ tự hào về sự thay đổi và giàu có của làng mình, tình trạng kê khai xã nghèo để được hưởng sự hỗ trợ, đầu tư của nhà nước cũng tự nó mất đi trong các làng
- Nhà nước và nhân dân cùng làm
Nhà nước hỗ trợ vật tư, nhân dân đóng góp công, của; sự giúp đỡ và hỗ trợ của Nhà nước được giảm dần khi quy mô của địa phương và sự tham gia của dân gia tăng Nông dân chủ động trong vấn đề ra quyết định thứ tự ưu tiên trước, sau, họ tự quyết định các loại thiết kế, chỉ đạo thi công, xây lắp, nghiệm thu, giám sát công trình Hàng năm nhà nước tổ chức các cuộc họp toàn quốc cho lãnh đạo cộng đồng làng, xã tham dự; tại cuộc họp này, người có công được tuyên dương, phát phần thưởng, kể cả tuyên dương anh hùng lao động Đặc biệt Tổng thống là người sáng tác bài hát của phong trào, điều này đã cổ động rộng rãi hơn cho phong trào xây dựng mô hình “làng mới”, người dân càng tự hào và tự tinh hơn
- Một số kết quả đạt được từ phong trào “Làng mới”
Bộ mặt nông thôn thay đổi một cách nhanh chóng, sau tám năm các dự
Trang 34án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành, trong vòng 20 năm rừng đã được che phủ khắp nước và khoảng 84% cây rừng của Hàn Quốc hiện nay là cây rừng đã được trồng trong những năm làm mô hình Trong vòng sáu năm thu nhập bình quân các nông hộ tăng gấp 3 lần, tính thương mại trong sản xuất nông nghiệp tăng; việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đường làng, nhà xưởng, hệ thống cung cấp nước, điện, chuyển giao khoa học công nghệ, tích luỹ vốn, đào tạo nhân lực, bảo vệ môi trường, tạo quỹ tiết kiệm trong gia đình, Phong trào Saemaul là một mô hình phát triển nông thôn cho phép hạn chế tối đa thời gian chuyển hoá nông thôn truyền thống thành một nông thôn hiện đại
Sau hơn 30 năm thực hiện phong trào Làng mới, môi trường sống và cuộc sống vật chất của người dân nông thôn đã được cải thiện đáng kể; sản xuất mang tính thương mại Cái được lớn nhất là những người nông dân nghèo đói bắt đầu trở nên tự tin hơn, khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động, có khả năng tích luỹ, tự đầu tư và nhờ đó mà có khả năng tự phát triển Thông qua phong trào lao động nông thôn đã được đào tạo cơ bản, điều quan trọng là họ có tác phong công nghiệp, điều này đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động cho ngành công nghiệp đòi hỏi kỹ thuật cao hơn
Đầu tư phát triển nông thôn là quá trình lâu dài và tốn kém, để tìm ra biện pháp phát triển rút ngắn được khoảng cách thời gian, đồng thời hạn chế nguồn kinh phí hạn hẹp thì mô hình phong trào Làng mới Saemaul là một trong số những mô hình phát triển nông thôn cần được nghiên cứu và áp dụng một cách
có chọn lọc, phù hợp với tình hình thực tế tại nước ta
1.2.1.2 Kinh nghiệm phát triển nông thôn Trung Quốc - Xí nghiệp Hương Trấn
Trong lĩnh vực nông thôn, Trung Quốc đã hình thành Xí nghiệp Hương Trấn từ năm 1950, trên cơ sở các xí nghiệp, đội sản xuất của công xã nhân dân trước đây Kể từ cuối những năm 1970, Chính phủ Trung Quốc đã đề ra
Trang 35nhiều chính sách để phát triển xí nghiệp Hương Trấn Đầu năm 1997 toàn quốc có khoảng 20 triệu xí nghiệp Hương Trấn, với số lao động là 130 triệu người: trong đó, xí nghiệp do tập thể quản lý là 1,5 triệu với 60 triệu lao động, 30.000 xí nghiệp Hương Trấn hợp tác, liên doanh với nước ngoài, ngoài ra là các loại xí nghiệp khác do tư nhân hoặc tư nhân liên doanh, liên kết
Trung Quốc có 1,2 tỷ dân, trong đó có hơn 900 triệu người sống ở nông thôn, không những lao động nông thôn dư thừa, mà lao động ở thành thị cũng
dư thừa Vì vậy, khả năng thu hút lao động ở nông thôn về thành thị là có hạn
Sự phát triển của xí nghiệp Hương Trấn không những có thể thu hút được lượng lớn sức lao động dư thừa ở nông thôn, mà còn phù hợp với nhu cầu phát triển nhiều tầng nấc của lực lượng sản xuất trong quá trình công nghiệp hoá nông thôn
Xí nghiệp Hương Trấn là một loại hình xí nghiệp kinh tế do nông dân tự nguyện thành lập lên ngay tại quê hương của mình trên cơ sở sử dụng lợi thế về nguồn tài nguyên, lao động và các nguồn lực kinh tế khác dưới sự quản lý của chính quyền các cấp, sự lãnh đạo của đảng và quan tâm giúp đỡ của nhà nước
Xí nghiệp Hương Trấn là một hình thức mới của công nghiệp hóa nông thôn, đã đẩy mạnh tốc độ công nghiệp hóa đất nước, làm giảm chênh lệch về
thu nhập giữa nông thôn và thành thị Tuy vậy, Trung Quốc rất chú ý phát
triển nông nghiệp, lấy sản xuất nông nghiệp là chính và lấy xí nghiệp Hương Trấn làm trụ cột để phát triển nông nghiệp và nông thôn
Sức lao động ở nông thôn có thể lưu động tự do giữa các ngành, điều
đó tạo điều kiện cần thiết cho việc tổ hợp tốt hơn các yếu tố sản xuất ở nông thôn Các ngành phi nông nghiệp, nơi hiệu quả lưu chuyển vốn và sức lao động tương đối cao, là nguyên nhân quan trọng để các xí nghiệp Hương Trấn phát triển rầm rộ Xí nghiệp Hương Trấn có cơ chế vận hành phù hợp với yêu
Trang 36cầu của kinh tế thị trường nên nó mới mở ra được cho mình một khoảng không gian sinh tồn, phát triển, lớn mạnh trong lĩnh vực phi nông nghiệp, nơi
có rất nhiều xí nghiệp quốc doanh Xí nghiệp Hương Trấn đã trở thành một lực lượng chủ thể của kinh tế nông thôn, trụ cột lớn của nền kinh tế quốc dân
Sau hơn 20 năm tăng trưởng, các doanh nghiệp nông thôn đã làm thay đổi toàn cảnh kinh tế khu vực nông thôn; trở thành lực lượng chính đứng sau
sự tăng trưởng bền vững chung của Trung Quốc; vai trò to lớn của doanh nghiêp nông thôn Trung Quốc trong việc tạo ra sự bình đẳng hơn về phân phối thu nhập trong nội bộ tỉnh có được là nhờ bản chất nhỏ bé mang tính địa phương và sử dụng nhiều lao động của các doanh nghiệp này; sự phân hoá thu nhập theo vùng có xu hướng gắn liền với sự khác nhau về mật độ phân bố dân
cư nông thôn giữa các vùng (lục địa và duyên hải), do đó bằng việc tăng thu nhập ở các vùng nông thôn, sự phát triển của các doanh nghiệp nông thôn đã góp phần vào việc giảm bất bình đẳng thu nhập ở Trung Quốc
Các xí nghiệp Hương Trấn quy mô nhỏ có vai trò quan trọng đặc biệt với việc giải phóng cho công nghiệp ở thành thị tập trung đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường công nghệ cao, giải quyết nhiều vấn đề xã hội như tạo việc làm, tăng thu nhập cho các tầng lớp nhân dân, mở rộng thị trường trong nước
Như vậy, có thể nói rằng, Xí nghiệp Hương Trấn là mô hình đặc biệt của Trung Quốc và nó đã được nhân rộng ra nhiều vùng ở nông thôn, tạo nên sức mạnh kinh tế to lớn, giải quyết những vấn đề xã hội gay cấn và mang ý nghĩa kinh tế xã hội sâu sắc Xí nghiệp Hương Trấn đã tạo cho nông dân tự lập trong thu nhập, ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân Trung Quốc
1.2.1.3 Kinh nghiệm của Thái Lan về doanh nghiệp hoá nông nghiệp
Thái Lan đã lựa chọn chiến lược xuất khẩu nông sản từ năm 1977 Chiến lược đó đặt mục tiêu làm cho những nông sản có ưu thế của Thái Lan với tính cách một nước nhiệt đới có thể chiếm lĩnh được thị trường thế giới
Trang 37bằng chính sản phẩm nông nghiệp đã kinh qua chế biến Công nghiệp chế
biến được chọn là khâu đột phá để thực hiện chiến lược ấy
Từ quan điểm đó, họ đã xúc tiến các hoạt động:
- Công nghiệp hoá nông nghiệp với nghĩa là làm cho nông nghiệp trở thành một khâu gắn chặt với công nghiệp làm hàng xuất khẩu và do đó phải phát triển các doanh nghiệp trong công nghiệp đảm nhận liên hiệp với nông dân tạo ra sản phẩm để chế biến có hiệu quả xuất khẩu cao
- Để có được nền công nghiệp chế biến mạnh như vậy thì phải làm nông nghiệp theo một kiểu tổ chức khác Tổ chức đó như cách của Thái Lan (có lẽ cũng là nước đầu tiên trong số các nước đang phát triển) là đi theo công thức 4 nhà: Nhà nước + nhà doanh nghiệp + nhà ngân hàng + nhà nông Việt Nam cũng lấy ý tưởng này nhưng thay nhà ngân hàng bằng nhà khoa học
Công thức của Thái Lan nhắm vào việc lập ra các doanh nghiệp kinh doanh nông sản xuất khẩu theo hướng cả 4 nhà đi từ đầu đến cuối của quá trình sản xuất Hình thức kết hợp thì linh động thay đổi theo từng loại công việc và sản phẩm, nhưng về nguyên tắc, thì cả 4 nhân vật này đều là chủ thể của quá trình sản xuất: Chính phủ địa phương chịu trách nhiệm tạo dựng cơ sở hạ tầng, nhất là đường xá, chọn các nông hộ có khả năng tham gia liên kết với doanh nghiệp ngay từ lúc đầu, chọn những làng xã nào để thực hiện dự án sản xuất; Ngân hàng có trách nhiệm đầu tư vốn vào việc xây dựng các cơ sở chăn nuôi hoặc trồng trọt cho từng hộ nông dân đã được chọn; Doanh nghiệp chịu trách nhiệm cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Kết thúc quá trình sản xuất và tiêu thụ, lợi nhuận sẽ được chia cho 4 bên theo tỷ lệ thích hợp, chính phủ thu lợi qua thuế, ngân hàng thu lợi qua lợi tức cho vay, doanh nghiệp thu lợi qua lợi nhuận, nông dân thu lợi qua lợi nhuận và trừ dần các khoản đầu tư về thiết bị dài hạn Sau 5 - 7 năm, các thiết bị, nhà xưởng, máy móc đã đầu tư cho nông hộ sẽ do nông hộ sở hữu hoàn toàn
Trang 38Như vậy, nông hộ không bị lép vế như là người vay lãi ngân hàng hay mang nợ doanh nghiệp Do đó, cũng không xẩy ra tình trạng phải phạt nông dân khi họ không tôn trọng hợp đồng như có thể thấy ở các nơi khác Kết quả cuối cùng là Thái Lan có được một hệ thống các doanh nghiệp chuyên kinh doanh nông nghiệp và hệ thống các vùng kinh tế nông nghiệp chuyên môn hoá có quy
mô hợp lý Lúc đầu, Thái Lan làm mô hình này trong chăn nuôi, sau phát triển sang các mặt hàng khác như gạo, thuỷ sản, và đặc biệt là hoa quả nhiệt đới, hiện đứng đầu thế giới Đến năm 1989, Thái Lan đã có 14 loại nông sản phẩm xuất khẩu trên thế giới được thực hiện chủ yếu vào sự liên kết này
1.2.2 Ở Việt Nam
1.2.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vai trò của người dân trong thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới hiện nay
Trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước những năm gần đây, Đảng
và Nhà nước ta rất quan tâm đến vai trò người dân trong thực hiện Chương trình xây dựng NTM Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, đã
có một số quan điểm lớn của Đảng và Nhà nước ta về Chương trình xây dựng nông thôn mới như sau:
- Đảng ta vẫn xác định vai trò quan trọng của khối liên minh công, nông và tri thức là lực lượng quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Nhiệm vụ đặt ra là đưa người dân đi lên chủ nghĩa xã hội bằng phát huy nội lực, bằng vai trò của mình hòa cùng sức mạnh của cả nước; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc đã chỉ rõ “Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các hội quần chúng cần đổi mới mạnh mẽ và nâng cao chất lượng hoạt động, khắc phục tình trạng hành chính hóa, phô trương, hình thức; làm tốt công tác dân
vận trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân, nghe
dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”
Trang 39Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, qua đó thể hiện mối quan hệ gắn
bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Nhà nước là người đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức và thực hiện đường lối chính trị của Đảng Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều phản ánh các lợi ích của đại bộ phận người dân Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương
và chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Chúng ta chủ trương xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán bộ đảng viên và công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân Chú trọng nâng cao đào tạo nghề, giải quyết công ăn việc làm cho người nông dân, trước hết ở các vùng sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ, giao thông và các khu đô thị mới Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trọng lao động làm nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ Tạo điều kiện để lao động nông thôn có việc làm trong và ngoài khu vực nông thôn, kể cả ở nước ngoài Đầu tư mạnh hơn cho các chương trình xóa đói giảm nghèo, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống tinh thần
và vật chất của người nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng và từng lĩnh vực để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; từ đó khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy tối đa nguồn nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ
Trang 40tiên tiến trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao dân trí của người nông dân
Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả
hệ thống chính trị và của toàn xã hội; trước hết cần phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự lực, tự chủ và tự cường vươn lên của người nông dân Xây dựng
xã hội nông thôn ổn định, hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân
Nghị định 29/1998/NĐ-CP ngày 11 tháng 5 năm 1998 của Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, đến nay đã được đổi thành Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2003 là cách tiếp cận, đánh giá đúng tình hình ở cơ sở, thể chế hóa, pháp quy hóa những nội dung, nguyên tắc, phương châm cho sinh hoạt dân chủ ở nông thôn; Quy chế dân chủ cấp cơ
sở là khâu đột phá đưa sinh hoạt chính trị ở nước ta lên một tầm cao mới, củng cố và kiến tạo những điều kiện thuận lợi cho người dân nông thôn tham gia vào các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, là diễn đàn lớn cho nông dân phát huy quyền tự chủ của mình trong phát triển nông thôn và như vậy vai trò của họ được củng cố và nâng cao
1.2.2.2 Kết quả chung đạt được của các địa phương xây dựng NTM
Để triển khai thực hiện Nghị quyết 26/NQ-TW của BCH TW khóa X
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, ngày 30/12/2008, Ban Bí thư đã ban hành quyết định số 205/QĐ/TW thành lập Ban chỉ đạo thí điểm chương trình xây dựng NTM với mục tiêu xây dựng được mô hình thực tế NTM thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH, trên cơ sở tổng kết chương trình để nhân rộng trên phạm vi cả nước Với mục tiêu này, Ban chỉ đạo đã chọn 11 xã đại diện cho các vùng kinh tế - văn hóa trong cả nước để làm thí điểm