1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp góp phần tăng cường thu hút đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện chương mỹ, thành phố hà nội

89 210 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có như vậy mới tạo ra được những bước đột phá mới trong đầu tư xây dựng CSHT, đầu tư vào phát triển sản xuất –kinh doanh và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại mà n

Trang 1

-

PHẠM THỊ HỒNG

GIẢI PHÁP GÓP PHẦN TĂNG CƯỜNG THU HÚT ĐẦU TƯ CHO PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 60.62.01.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS Dương Ngọc Thí

Hà Nội – 2013

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tính cấp thiết của đề tài

Vốn đầu tư là một yếu tố cơ bản cho phát triển kinh tế xã hội Việc đảm bảo huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển là một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện thành công các mu ̣c tiêu phát triển kinh tế – xã

hội đến năm 2020

Trong nền kinh tế hiện nay, đầu tư cho phát triển kinh tế nói chung và đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh nói riêng là một vấn đề đặc biệt quan trọng, cần được quan tâm giải quyết Việc thu hút vốn đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh phải đảm bảo đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển, đồng thời việc thu hút và sử dụng vốn đó phải đạt được hiệu quả kinh tế cao Hoạt động thu hút vốn đầu tư được xem trọng vì chỉ có cách thu hút các nguồn vốn đầu tư thì mới có thể đẩy nhanh và mạnh nền kinh tế Có như vậy mới tạo ra được những bước đột phá mới trong đầu tư xây dựng CSHT, đầu

tư vào phát triển sản xuất –kinh doanh và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại mà nếu không có vốn thì không thể thực hiện được

Huyện Chương Mỹ nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội 20 km về phía Tây Nam Từ năm 2008 tỉnh Hà Tây sát nhập vào Hà Nội, chương Mỹ trở thành một huyện ngoại thành của Thủ đô Hà Nội Huyện có nhiều tiềm năng lợi thế về vị trí địa lý, giao thông, gần trung tâm chính trị- kinh tế- văn hóa -

xã hội Chính quyền huyện Chương mỹ đã nhận thức được thế mạnh của mình nên đã có nhiều giải pháp và vận dụng các chính sách để vừa khai thác sử dụng có hiệu quả các tiềm năng của mình đồng thời thu hút các tiềm lực bên ngoài tạo thêm động lực để phát triển kinh tế- xã hội của địa phương

Thời gian qua, công tác thu hút các dự án đầu tư sản xuất - kinh doanh trên địa bàn huyện Chương Mỹ có chiều hướng phát triển tích cực, các dự án mới đang triển khai thủ tục theo quy định, nhiều dự án đã đi vào hoạt động.Tuy nhiên việc thu hút các nguồn vốn đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh của Huyện chưa có các giải pháp và chính sách đủ mạnh tạo động lực thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước Chính vì vậy, chưa thu hút

Trang 3

được nhiều nhà đầu tư, chất lượng đầu tư chưa cao, chưa lựa chọn được các nhà đầu tư tốt để tạo bước đột phá cho sự phát triển kinh tế xã hội của huyện

Với mong muốn giúp huyện nhà thu hút ngày càng nhiều các nguồn vốn đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả, tôi đã

chọn đề tài: “Giải pháp góp phần tăng cường thu hút đầu tư cho phát triển

sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội "

Vốn đầu tư có thể được sử dụng cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, trong đó đầu tư cho sản xuất kinh doanh nhằm phát triển kinh tế, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập là nền tảng cho sự phát triển các lĩnh vực khác Chính vì vậy, trong giới hạn nghiên cứu của luận văn, học viên tập trung nghiên cứu thu hút vốn đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh Các lĩnh vực khác khi có điều kiện học viên sẽ nghiên cứu thêm

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 4

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư và thu hút vốn đầu tư

1.1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư

1.1.1.1 Khái niệm đầu tư

Khái niệm đầu tư theo từ điển VOV- Sách tiếng Anh đặc biệt: Đầu tư là

bỏ tiền vào kinh doanh hoặc vào một tổ chức với hy vọng kiếm được nhiều tiền hơn

Trong từ diển kinh tế -thương mại: Đầu tư là thuật ngữ này được sử dụng phổ biến nhất để mô tả lưu lượng chi tiêu được dùng để tăng hay duy trì dung lượng vốn thực tế

Trong Luật đầu tư só 59/2005/QH XI ban hành ngày 29/11/2005 của Việt Nam, Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Đối với các nhà đầu tư, khi họ bỏ vốn vào đầu tư họ tính toán và thực hiện các biện pháp để mong muốn trong tương lại (gần, dài hạn hoặc cả hai)

sẽ tạo ra giá trị lớn hơn giá trị họ đã bỏ ra Như vậy, mục đích chính yếu của nhà đầu tư là lợi nhuận

Đối với người thụ hưởng đầu tư (quốc gia, địa phương, các doanh nghiệp, nông dân, ) sẽ thu được nhiều lợi ích: Trước hết đối với các nước đang phát triển nguồn tài chính hạn hẹp, có thêm vốn đầu tư là có thêm nguồn tiền đáp ứng nhu cầu tài chính cho đầu tư phát triển Thứ hai, có thêm cơ hội

mở mang sản xuất, kinh doanh, phát triển CSHT v.v từ đó có thêm việc làm, tạo thêm thu nhập, cơ hội mở rộng ngành nghề đã có hay mở ra ngành nghề mới, v.v điều đó sẽ góp phần phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, địa

Trang 5

phương, cải thiện đời sống cư dân Thứ ba, người thụ hưởng đầu tư cũng mong đợi ở các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài sẽ mang đến những tiến bộ kỹ thuật, nhưng công nghệ mới, những phương thức quản trị tiên tiến, sau một thời gian đầu tư sẽ có sự chuyển giao các tiến bộ này từ nhà đầu tư sang người thụ hưởng đầu tư, giúp cho người thụ hưởng đầu tư nâng cao năng lực một cách toàn diện thông qua hoạt động đầu tư Thứ tư, với các nhà đầu tư nước ngoài, dày dạn kinh nghiệm thị trường, các sản phẩm của họ

đã kết nối được với thị trường thế giới, khi đầu tư vào sản xuất-kinh doanh tại một quốc gia hay một địa phương nào đó, các sản phẩm sản xuất từ đây là một bộ phận trong chiến lược sản phẩm, chiến lược thị trường của họ, như vậy sản phẩm của đầu tư sẽ có cơ hội hội nhập và kết nối thị trường thế giới., chất lượng và giá trị của nó sẽ được thị trường quốc tế chấp nhận, nâng cao vị

thế thương mại của nơi được thụ hưởng đầu tư

1.1.1.2 Các hình thức đầu tư

Luật đầu tư của Việt nam quy định có các hình thức đầu tư chủ yếu là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp

 Đầu tư trực tiếp

+ Đầu tư trực tiếp bao gồm các hình thức sau đây:

- Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài

- Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước

và nhà đầu tư nước ngoài

- Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT

- Đầu tư phát triển kinh doanh

- Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư

- Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp

Trang 6

- Các hình thức đầu tư trực tiếp khác

+ Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế bao gồm các hình thức sau đây:

- Doanh nghiệp tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp;

- Tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, quỹ đầu tư và các tổ chức tài chính khác theo quy định của pháp luật;

- Cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hoá, thể thao và các cơ sở dịch vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi;

- Các tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật

- Các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tổ chức và hoạt động theo Luật hợp tác xã; hộ kinh doanh theo quy định của pháp luật

 Đầu tư gián tiếp

Đầu tư gián tiếp tại Việt Nam có các hình thức sau đây:

- Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác;

- Đầu tư thông qua quỹ đầu tư chứng khoán;

- Đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian khác

Đầu tư thông qua mua, bán cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác của tổ chức, cá nhân và thủ tục thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp theo quy định của pháp luật về chứng khoán và các quy định khác của pháp luật có liên quan

1.1.1.3 Môi trường đầu tư

Theo Wim P.M Vijverberg, khái niệm môi trường đầu tư được hiểu là bao gồm tất cả các điều kiện liên quan đến kinh tế, chính trị, hành chính, cơ

sở hạ tầng tác động đến hoạt động đầu tư và kết quả hoạt động của doanh nghiệp

Như vậy, môi trường đầu tư là bối cảnh/khung cảnh về chính trị, kinh

tế, xã hội, pháp lý của một quốc gia hay địa phương nơi mà các nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư Các yếu tố chủ yếu của môi trường đầu tư như sau:

Trang 7

* Các yếu tố chính trị, xã hội và phát triển kinh tế

Chính vì vậy, ổn định chính trị xã hội, có tính nhất quán và minh bạch

về chủ trương, đường lối, chính sách là điều kiện tiên quyết hàng đầu

+ Sự phát triển và tăng trưởng về kinh tế

Nền kinh tế tăng trưởng sẽ ảnh hưởng đến việc thu hút các nguồn vốn đầu tư ở hai góc độ: Một là, khi GDP tăng, có nghĩa là hiệu quả của vốn đầu

tư được nhìn nhận theo chiều hướng tốt Từ đó, các nhà đầu tư có sự tin tưởng đối với các hoạt động kinh tế và tăng cường đầu tư vào Hai là, khi nền kinh

tế tăng trưởng nhanh sẽ có mức tiết kiệm cao hơn và từ đó tăng cường vốn đầu tư Thứ ba, mức tiêu dùng của người dân cũng tăng lên khi họ có thu nhập cao hơn, khi mức tiêu dùng C tăng lên, tức là các sản phẩm trên thị trường bán được nhiều hơn

Trái lại ở những nền kinh tế đình đốn, kém phát triển sức hấp dẫn của

đầu tư sẽ giảm sút

* Các yếu tố môi trường thể chế kinh tế, pháp lý

+ Thể chế kinh tế

Thể chế kinh tế là những quy tắc, cơ chế thực hiện và tổ chức gắn liền được hình thành một cách tất yếu nhằm điều chỉnh hành vi ứng xử của các chủ thể hoạt động tìm kiếm lợi nhuận cùng các lợi ích xã hội khác trong một nền kinh tế nhất định, phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế tương ứng

Theo nghĩa hẹp, thể chế kinh tế thường được đề cập như là thể chế kinh

tế chính thức Về phương diện này thể chế kinh tế được hiểu là những quy

Trang 8

định được thể hiện thành văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan tố chức

có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh tế nói chung

Những điểm chủ yếu thể hiện thể chế kinh tế hiện nay ở nước ta, đó là:

 Nền kinh tế ở nước ta là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Như vậy điều tiết nên kinh tế đựa trên các nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường;

 Nước ta đấy mạnh phát triển nhiều thành phần kinh tế (Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) Các thành phần kinh tế này đều được khuyến khích phát triển, bình đẵng trước pháp luật, không bị phân biệt đối xử;

 Nước ta đã gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới (WTO), tham gia nhiều tổ chức quốc tế, ký kết nhiều Hiệp định song phương, đa phương với các nước Nhà nước ta tôn trọng và thực thi đúng các định chế quốc tế, các cam kết trong các hiệp định với tư cách thành viên, trong đó có nhiều đinh chế và cam kết về đảm bảo quyền sở hữu tài sản, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài, quyền sở hữu trí tuệ v.v

Thể chế kinh tế ở Việt Nam đảm bảo cho các nhà đầu tư yên tâm, được khuyến khích bỏ vốn đầu tư vào Việt nam và hưởng lợi thành quả đầu tư lâu dài

+ Về môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý đối với đầu là hệ thống các văn bản (Luật, Chính sách, tiêu chuẩn, v.v.) quy định và điều chỉnh về đầu tư Nước nào có hệ thống văn bản pháp lý hoàn chỉnh và ổn định, ít có thay đổi, dễ dự tính được hiệu quả đầu tư; các thủ tục pháp lý thuận lợi; hệ thống pháp lý có hiệu lực cao, nước đó sẽ có cơ hội thu hút được nhiều nhà đầu tư

Sự bất ổn định luôn đóng vai trò trung tâm trong những cân nhắc về đầu tư, bất ổn định trong chính sách là những nhân tố cản trở lớn nhất đối với các quyết định đầu tư Khi những chính sách, thể chế kinh tế không ổn định

Trang 9

hoặc thiếu minh bạch sẽ làm giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Những

lo ngại về sự không ổn định của chính sách có thể bắt đầu từ tính chất mơ hồ của chính sách hoặc thể chế hiện hành Thậm chí ngay cả khi chính sách được thể hiện một cách rõ ràng trên giấy tờ thì chưa hẳn đã hết quan ngại về việc các chính sách đó được thực thi như thế nào trên thực tế Một môi trường đầu

tư được coi là hấp dẫn khi và chỉ khi các thể chế loại trừ hay hạn chế tối đa những bất định đối với nhà đầu tư

Chính sách đảm bảo quyền tài sản bao gồm hiến pháp, những quy định

về chế độ sở hữu, hệ thống luật pháp và các quy định về cấp giấy chứng nhận quyền tài sản …Việc đảm bảo quyền tài sản có ý nghĩa hai mặt đối với việc tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn Việc đảm bảo quyền tài sản bảo đảm cho nhà đầu tư thu được thành quả từ công cuộc đầu tư của mình Khi các quyền tài sản được bảo vệ bởi một thể chế phù hợp, minh bạch thì các nhà đầu tư yên tâm hơn khi đem vốn đi đầu tư và làm tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư Thể chế đảm bảo quyền tài sản cải thiện môi trường đầu tư rõ rệt qua các chức năng cụ thể như xác lập quyền về đất đai, tạo sự thuận lợi trong việc thực hiện hợp đồng Đối với các tài sản trí tuệ như bằng sáng chế, phát minh, thương hiệu, bản quyền tác giả … để có được chúng phải đòi hỏi rất nhiều chi phí Do vậy trong hoạt động của các tập đoàn, doanh nghiệp phát triển luôn có

sự hiện diện của của thể chế đảm bảo việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Như vậy một môi trường đầu tư được coi là hấp dẫn khi cơ chế đảm bảo quyền tài sản trí tuệ mạnh

Ở nước ta đã xây dựng và ban hành Luật đầu tư, các Nghị định và thông tư hướng dẫn thi hành Luật đầu tư Khung pháp lý này đảm bảo cho nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn vào đầu tư ở Việt Nam Tùy theo lĩnh vực đầu tư

và địa bàn đầu tư nhà đầu tư sẽ được hưỡng các mức độ ưu đãi khác nhau (Đặc biệt ưu đãi, ưu đãi, và khuyến khích đầu tư)

Trang 10

Việt Nam có các chính sách khuyến khích đầu tư thể hiện các ưu đãi về đất đai (ưu tiên cho thuê đất, giá thuê, thời gian miễn giảm nộp tiền thuê đất);

Hỗ trợ xây dựng CSHT bên ngoài hàng rào; về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu; hỗ trợ về nghiên cứu và áp dụng khoa học công nghệ; v.v

* Các ngành công nghiệp phụ trợ và các hoạt động hỗ trợ

Ngành công nghiệp phụ trợ là những ngành mà doanh nghiệp có thể phối hợp và chia sẻ trong chuỗi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chúng có tính chất bổ trợ ở các khâu của quá trình sản xuất

Ngành công nghiệp phụ trợ bao gồm sản xuất chi tiết linh kiện, các công nghệ sản phẩm đầu vào để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành phụ trợ càng mạnh thì tiềm năng cạnh tranh của doanh nghiệp mũi nhọn càng lớn, cơ hội thành công trong cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao

Trang 11

Các nhà đầu tư thường quan tâm tới hoạt động và sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ Sự hiện diện của các cụm công nghiệp phụ trợ là một lợi thế cho nhà đầu tư, giúp họ giảm thiểu chi phí sản xuất và quốc gia nào có một ngành công nghiệp phụ trợ phát triển cũng có lợi thế trong thu hút nguồn vốn đầu tư

Cộng đồng các doanh nghiệp có ngành hàng phụ trợ có mối quan hệ mật thiết với nhau để cùng nhau phát triển và phát triển một cách toàn diện

Đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp ngoài những tác nhân chủ yếu thực hiện các khâu của quá trình sản xuất, chế biến, thương mại, còn có các tác nhân hỗ trợ khác như các nhà cung cấp vật tư đầu vào, các tổ chức khoa học công nghệ và khuyến nông cung cấp giống, quy trình kỹ thuật; các cơ sở dịch

vụ làm đất, tưới tiêu, dịch vụ thu hoạch, bảo quản sản phẩm v.v

Các dự án đầu tư vào vùng nào có công nghiệp hỗ trợ mạnh hoặc các

cơ quan hoạt động hỗ trợ đồng bộ thì sẽ tạo thuận lợi cho các hoạt động đầu

tư, giảm chi phí tăng năng lực cạnh tranh

1.1.2 Lý luận về vốn đầu tư và thu hút vốn đầu tư

Hiểu theo nghĩa trực tiếp, vốn là phần giá trị tài sản quốc gia được tích luỹ dưới dạng tiền, giá trị của tài sản hữu hình và vô hình nhằm mục đích sinh lợi được chuyển đổi thông qua các hình thức đầu tư thành những tư liệu sản xuất cần thiết khác để sử dụng vào quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội

Trang 12

Trong nền kinh tế thị trường quan niệm vốn được mở rộng với các đặc trưng cơ bản sau: Vốn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản; vốn được biểu hiện bằng tiền, nhưng không phải tất cả mọi nguồn tiền đều là vốn; vốn còn

là một hàng hoá đặc biệt; vốn còn thể hiện dưới dạng tiềm năng và lợi thế vô hình Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ Việt Nam giải thích rõ hơn về vốn đầu tư:

Vốn đầu tư là đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi và các tài sản

hợp pháp khác để thực hiện hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp Tài sản hợp pháp gồm:

- Cổ phần, cổ phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác

- Trái phiếu, khoản nợ và các hình thức vay nợ khác

- Các quyền theo hợp đồng, bao gồm cả hợp đồng chìa khóa trao tay, hợp đồng xây dựng, hợp đồng quản lý, hợp đồng phân chia sản phẩm hoặc doanh thu

- Các quyền đòi nợ và quyền có giá trị kinh tế theo hợp đồng

- Công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm cả nhãn hiệu thương mại, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, tên thương mại, nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ

- Các quyền chuyển nhượng, bao gồm cả các quyền đối với thăm dò và khai thác tài nguyên

- Bất động sản; quyền đối với bất động sản, bao gồm cả quyền cho thuê, chuyển nhượng, góp vốn, thế chấp hoặc bảo lãnh

- Các khoản lợi tức phát sinh từ hoạt động đầu tư, bao gồm cả lợi nhuận, lãi

cổ phần, cổ tức, tiền bản quyền và các loại phí

- Các tài sản và quyền có giá trị kinh tế khác theo quy định của pháp luật

và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

Như vậy, giá trị tiền mặt và các tài sản hợp pháp nói trên bỏ ra để thực hiện đầu tư gọi là vốn đầu tư

Trang 13

1.1.2.2 Nguồn vốn đầu tư

aBản chất của nguồn vốn đầu tư:

Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội Điều này được cả kinh tế học cổ điển, kinh tế chính trị học Mác -

Lê nin và kinh tế học hiện đại chứng minh

Trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc” (1776), Adam Smith, một đại diện điển hình của trường phái kinh tế học cổ điển đã khẳng định: “Tiết

kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn Lao động tạo ra sản phẩm để tích luỹ cho quá trình tiết kiệm Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên”

Sang thế kỷ XIX, khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các mối quan hệ giữa các khu vực của nền sản xuất xã hội, về các vấn đề có liên quan trực tiếp đến tích luỹ, C Mác đã chứng minh rằng: Trong một nền kinh tế với hai khu vực, khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất và khu vực II sản xuất tư liệu tiêu dùng Cơ cấu tổng giá trị của từng khu vực đều bao gồm (c+v+m) trong đó c

là phần tiêu hao vật chất, (v+m) là phần giá trị mới sáng tạo ra Khi đó, điều kiện để đảm bảo tái sản xuất mở rộng không ngừng thì nền sản xuất xã hội phải đảm bảo (v +m) của khu vực I lớn hơn tiêu hao vặt chất (c) của khu vực

Trang 14

Đối với khu vực II, yêu cầu phải đảm bảo:

(c+v+m) II < (v+m) I + (v+m)II

Có nghĩa là toàn bộ giá trị mới của cả hai khu vực phải lớn hơn giá trị sản phẩm sản xuất ra của khu vực II Chỉ khi điều kiện này được thoả mãn, nền kinh tế mới có thể dành một phần thu nhập để tái sản xuất mở rộng Từ

đó quy mô vốn đầu tư cũng sẽ gia tăng

Như vậy, để đảm bảo gia tăng nguồn lực cho sản xuất, gia tăng quy mô đầu tư, một mặt phải tăng cường sản xuất tư liệu sản xuất ở khu vực I, đồng thời phải sử dụng tiết kiệm tư liệu sản xuất ở cả hai khu vực Mặt khác, phải tăng cường sản xuất tư liệu tiêu dùng ở khu vực II, thực hành tiết kiệm tiêu dùng trong sinh hoạt ở cả hai khu vực

Với phân tích như trên, chúng ta thấy rằng theo quan điểm của C.Mác, con đương cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm ở cả trong sản xuất và tiêu dùng, hay nói cách khác, nguồn lực cho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ có thể được đáp ứng

do sự gia tăng sản xuất và tích luỹ của nền kinh tế

Mác phân tích và nói điều này trong điều kiện của các nền kinh tế khép kín ở từng quốc gia Điều này không hòan toàn phù hợp ở thời đại chúng ta nữa, xét về nguồn gốc vốn đầu tư Vì thời đại hiện nay, phân flớn các nước có nền kinh tế mở, nguồn vốn đầu tư không chỉ lấy từ tiết kiệm ở trong nước mà huy động thêm từ bên ngoài

Quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu tư lại tiếp tục được các nhà kinh tế học hiện đại chứng minh Trong tác phẩm nổi tiếng “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của mình, John Maynard Keynes đã chứng minh được rằng: Đầu tư chính bằng phần thu nhập mà không chuyển vào tiêu đùng Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng, tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng:

Trang 15

mà người ta gọi là đầu tư

Tuy nhiên, điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng Trong đó, phần tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực tư nhân và tiết kiệm của chính phủ Điểm cần lưu ý là tiết kiệm và đầu tư xem xét trên góc độ toàn bộ nền kinh tế không nhất thiết được tiến hành bởi cùng một cá nhân hoặc doanh nghiệp nào Có thể có cá nhân, doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó có tích luỹ nhưng không trực tiếp tham gia đầu tư Trong khi

đó, có một số cá nhân, doanh nghiệp lại thực hiện đầu tư khi chưa hoặc tích luỹ chưa đủ Khi đó, thị trường vốn sẽ tham gia giải quyết vấn đề bằng việc điều tiết khoản vốn từ nguồn dư thừa hoặc tạm thời dư thừa sang cho người

có nhu cầu sử dụng Ví dụ, nhà đầu tư có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu (nếu đáp ứng được một số điều kiện nhất định và tuân thủ quy trình thủ tục

Trang 16

nhất định) để huy động vốn thực hiện một dự án đầu tư nào đó từ các doanh nghiệp, hộ gia đình hay các cá nhân - người dư thừa hoặc tạm thời dư thừa vốn

Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm của nền kinh tế không phải bao giờ cũng được thiết lập Phần tích luỹ của nền kinh tế có thể lớn hơn nhu cầu đầu tư tại nước sở tại, khi đó vốn có thể được chuyển sang nước khác để thực hiện đầu tư Ngược lại, vốn tích luỹ của nền kinh tế có thể

ít hơn nhu cầu đầu tư, khi đó nền kinh tế phải huy động tiết kiệm từ nước ngoài Trong trường hợp này, mức chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư được thể hiện trên tài khoản vãng lai

CA = S – I

Trong đó: CA là tài khoản vãng lai (current account)

Như vậy, trong nền kinh tế mở, nếu nhu cầu đầu tư lớn hơn tích luỹ nội

bộ của nền kinh tế và tài khoản vãng lai bị thâm hụt thì có thể huy động vốn đầu tư từ nước ngoài Khi đó, đầu tư nước ngoài hoặc vay nợ có thể trở thành một trong những nguồn vốn đầu tư quan trọng của nền kinh tế Nếu tích luỹ của nền kinh tế lớn hơn nhu cầu đầu tư trong nước trong điều kiện thặng dư tài khoản vãng lai thì quốc gia đó có thể đầu tư vốn ra nước ngoài hoặc cho nước ngoài vay vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế

Phân loại nguồn vốn đầu tư:

Nguồn vốn đầu tư hiện nay được phân loại như sau

 Nguồn vốn trong nước

Hình 1.1: Sơ đồ về các nguồn vốn đầu tư

Trang 17

Nguồn vốn trong nước được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ các nguồn lực được đưa vào vòng chu chuyển của nền kinh tế Nó không chỉ bao gồm tiền vốn biểu hiện bằng tài sản hiện vật như máy móc, vật tư, lao động, đất đai, tài nguyên mà nó còn bao gồm giá trị của những tài sản vô hình như

vị trí địa lý, thành tựu khoa học công nghệ, bản quyền phát minh sáng chế Các bộ phận cấu thành nguồn vốn trong nước gồm có nguồn vốn ngân sách Nhà nước (bao gồm cả vốn của doanh nghiệp nhà nước) và nguồn vốn tư nhân (bao gồm cả vốn của các doanh nghiệp dân doanh)

 Nguồn vốn nước ngoài

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là vốn của các doanh nghiệp và

cá nhân nước ngoài đầu tư sang các nước khác và trực tiếp quản lý quá trình

sử dụng nhằm mục đích thu lợi nhuận và thu hồi vốn bỏ ra

Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là vốn đầu tư của các Chính phủ nước ngoài được thực hiện dưới hình thức viện trợ hoàn lại hoặc viện trợ không hoàn lại hay cho vay ưu đãi

Nguồn vốn viện trợ phi chính phủ nước ngoài là vốn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài

1.1.2.3 Một số phương pháp tạo lập nguồn vốn đầu tư:

+ Khuyến khích huy động vốn từ tiết kiệm tư nhân:

Trên cơ sở giả thiết một nền kinh tế cạnh tranh thuần tuý, các nhà kinh

tế cổ điển Anh thế kỷ 19 cho rằng sự can thiệp của Chính phủ vào quyết định đầu tư và tiết kiệm của tư nhân có thể làm giảm tính hiệu quả kinh tế

Tiết kiệm của các hộ gia đình đã trở thành một nguồn lớn hình thành cung vốn đầu tư Ngoài ra, khoản thu nhập giữ lại của một đơn vị kinh doanh cũng là một nguồn quan trọng hình thành nên vốn đầu tư Tiết kiệm của các đơn vị kinh doanh bao gồm tiết kiệm từ lợi nhuận

Trang 18

Lãi suất làm cân bằng cung tiết kiệm với cầu đầu tư kinh doanh Một lãi suất cao hơn sẽ khuyến khích tiết kiệm dẫn đến đường cong cung tiết kiệm đi lên Một lãi suất thấp hơn sẽ giảm chi phí tiền vay kinh doanh, cầu đầu tư dốc xuống Giao điểm của cung tiết kiệm và cầu đầu tư sẽ xác định mức lãi suất

Tuy nhiên theo các nhà kinh tế trường phái Keynes cho rằng, lãi suất phải được xác định theo cung và cầu tiền tệ Do vậy chương trình tiết kiệm của các hộ gia đình và chương trình đầu tư của các doanh nghiệp thường không trùng hợp với nhau vì họ là những nhóm khác nhau, hành động theo các suy xét khác nhau

Tiết kiệm phụ thuộc vào thu nhập, còn đầu tư lại là một hàm số của tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng Hiện thời các nước kém phát triển ít có thiên hướng chấp nhận các quyết định tiết kiệm của các hộ gia đình và đơn vị kinh doanh trên cơ sở thị trường tự do vì thấy rằng, Chính phủ có vai trò tích cực trong việc tăng tỷ lệ hình thành vốn bằng việc tạo ra tỷ lệ tiết kiệm cao

+ Khai thác các nguồn lực nhàn rỗi:

Lao động dư thừa, theo Ragnar Nurkse, Chính phủ nên sử dụng số lao

động dư thừa có năng suất cận biên thấp hoặc bằng “0” trong nông nghiệp để thực hiện các dự án đầu tư cơ bản như các công trình giao thông công cộng, bệnh viện, trường học hay nhà ở công nhân Ở các công trình này có thể dựa vào những người ruột thịt để có lương thực, thực phẩm Như vậy, sự hình thành vốn mới, hay tiết kiệm được tạo lập mà thật sự không phải chi phí hoặc chi phí thấp

Một số vấn đề khác của cách tiếp cận Nurkse là việc sử dụng lao động nông nghiệp dư thừa sẽ kích thích các nguồn lực với các chi phí thay thế cao Công nhân trong các dự án đầu tư cơ bản sẽ cần một số tư liệu (như các dụng

cụ thô sơ) để làm đường bộ, đường sắt, nhà cửa và nhà máy Ngoài ra, nếu

Trang 19

công nhân chuyển vào sinh sống tại thành phố, sẽ phải xây dựng thêm nhà cửa, đường giao thông, trường học, bệnh viện và các dịch vụ khác

+ Năng lực vốn chưa dùng

Hiện tượng sử dụng vốn kém hiệu quả còn khá phố biến ở các quốc gia đang phát triển Các phương tiện vận chuyển bị bỏ quên do chưa được sửa chữa hoặc thiếu phụ tùng thay thế, các công trình nhà cửa bỏ hoang, các mương tưới tiêu khô nước, các nhà máy sử dụng dưới công suất do hư hỏng

về mặt cơ khí, thiếu vật tư hoặc thiếu thị trường tiêu thụ

Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận một cách có hiệu quả vì nhiều lý do: vì công nghệ do các nước phát triển chuyển giao không thích hợp với nhu cầu; hơn nữa, nhiều nước đang phát triển có thể chỉ thu hút có hiệu quả con số hạn chế về vốn đầu tư

1.1.3 Nội dung quản lý Nhà nước về đầu tư

Nội dung quản lý nhà nước về đầu tư được quy định theo các Điều tại chương X – Quản lý nhà nước về đầu tư của Luật đầu tư như sau:

- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về đầu tư phát triển

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư

- Hướng dẫn, hỗ trợ nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư và giải quyết những vướng mắc, yêu cầu của nhà đầu tư

- Cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư

- Hướng dẫn, đánh giá hiệu quả đầu tư, kiểm tra, thanh tra và giám sát hoạt động đầu tư; giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng và xử lý vi phạm trong hoạt động đầu tư

- Tổ chức hoạt động đào tạo nguồn nhân lực liên quan đến hoạt động đầu tư

- Tổ chức hoạt động xúc tiến đầu tư

Trang 20

- Theo dõi, đánh giá và báo cáo hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Nội dung theo dõi, đánh giá đầu tư bao gồm:

+ Việc ban hành văn bản hướng dẫn pháp luật theo thẩm quyền và thực hiện các quy định của pháp luật về đầu tư;

+ Tình hình thực hiện các dự án đầu tư theo quy định của Giấy chứng nhận đầu tư;

+ Kết quả thực hiện đầu tư của cả nước, các Bộ, ngành và các địa phương, các dự án đầu tư theo phân cấp;

+ Báo cáo cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp, cơ quan nhà nước quản

lý đầu tư cấp trên về kết quả đánh giá đầu tư, kiến nghị các biện pháp xử lý những vướng mắc và vi phạm pháp luật về đầu tư

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức thu hút các nguồn vốn đầu tư

Vốn đầu tư đưa vào một nền kinh tế nhiều hay ít cũng như hiệu quả của việc sử dụng các nguồn vốn ấy phụ thuộc vào một số yếu tố như: Các nguồn lực và tiềm năng phát triển của địa phương, sự tăng trưởng và phát triển bền vững của nền kinh tế, sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô và các chính sách khuyến khích đầu tư

1.1.4.1 Các nguồn lực và tiềm năng phát triển

Nguồn lực ở đây bao gồm: Nguồn lực về con người, thể hiện qua số lượng và chất lượng lao động; tiềm lực về khoa học công nghệ thể hiện qua việc sở hữu và áp dụng những công nghệ tiên tiến vào quản lư và sản xuất Tiềm năng phát triển bao gồm: điều kiện tự nhiên (vị trí, địa hình, khí hậu), tiềm năng về tài nguyên khoáng sản, tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng và tiềm năng phát triển kinh tế chưa được khai thác hết ở các ngành, lĩnh vực

Trang 21

+ Nguồn lực tự nhiên

Các nguồn tài nguyên thiên nhiên đó là tài nguyên mà thiên nhiên ban tặng cho một quốc gia hoặc một địa phương nào đó Nò bao gồm đất đai, thời tiết khắ hậu, nguồn nước, hệ sinh thái, các khoáng sản dưới lòng đất, tài nguyên sinh vật biển, v.v và được thể hiện ở số lượng, trữ lượng, chất lượng của từng loại tài nguyên Đây là những tiềm năng có thể khai thác sử dụng vào phát triển kinh tế, xã hội và môi trường Xuất phát từ nguồn lực tài nguyên hạn chế, đã khiến các nhà đầu tư thường tìm kiếm nơi có nhiều tài nguyên thiên nhiên và có chắnh sách thông thoáng để đầu tư Những nước giàu tài nguyên thì thu hút được nhiều nhà đầu tư Một mặt là nguồn tài nguyên là có hạn, mặt khác sử dụng không hiệu quả thì sẽ không đưa lại giá trị cao ngược lại sẽ để để lại hậu quả tiêu cực Chắnh vì vậy có tài nguyên chưa phải là yếu tố chủ yếu thu hút nhà đầu tư bền vững Chắnh phủ các nước

đã phải đưa ra các chắnh sách quản lý chặt chẽ tài nguyên thiên nhiên, khuyến khắch việc thăm dò, tìm kiếm tài nguyên một cách hiệu quả và tiết kiệmẦ

+ Nhân tố nguồn nhân lực

Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh muốn thực hiện được cần phải có con người Khi các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài đem vốn đến một quốc gia, họ không thể di chuyển toàn bộ các nguồn lực và phương tiện sản xuất đến quốc gia đó, vì vậy họ sử dụng nguồn lực tại chỗ là chủ yếu

Khi một nền kinh tế có nguồn lao động dồi dào và đáp ứng được nhu cầu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nhanh chóng đưa dự án vào hoạt động Ở đây xét đến cả số lượng và chất lượng lao động

Số lượng lao động phụ thuộc vào quy mô dân số và tỉ lệ dân số ở trong

độ tuổi lao động, nguồn lao động của một quốc gia có số lượng lớn sẽ đáp ứng được nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất và vận hành những sự án có quy

mô lớn Tuy nhiên, như vậy chưa đủ, trong khi sản xuất đòi hỏi yêu cầu về

Trang 22

chất lượng cao thì chất lượng lao động là vấn đề quan trọng hơn hết, nếu như

có hàng triệu lao động mà trình độ và kỹ năng của họ chỉ có thể sản xuất thủ công, là các lao động cơ bắp thì cũng chẳng có ý nghĩa gì Chất lượng lao động thể hiện ở trình độ chuyên môn kỹ thuật, khả năng tiếp thu sáng tạo khoa học công nghệ, nó phụ thuộc vào những truyền thống lao động và công tác giáo dục, đào tạo

Khi lao động có chất lượng cao, thứ nhất họ sẽ tham gia vào sản xuất tốt hơn vì họ có nhưng những kiến thức làm nền tảng, bao gồm cả những kiến thức cơ bản và kinh nghiệm qua thời gian Hơn nữa, họ sẽ tiếp thu nhanh hơn khoa học kỹ thuật, giảm bớt chi phí đào tạo cho nhà đầu tư, ảnh hưởng không nhỏ đến thu hút vốn đầu tư

1.1.4.2 Nhân tố chính trị - xã hội

Sự ổn định về chính trị, thể chế chính trị, sự nhất quán trong chủ trương, đường lối, chính sách cơ bản của nhà nước luôn là yếu tố tạo môi trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn các nhà đầu tư Đặc trưng nổi bật về sự tác động của những yếu tố chính trị đối với hoạt động đầu tư thể hiện ở những mục đích mà thể chế chính trị nhằm tới

Thể chế chính trị giữ vai trò định hướng, chi phối toàn bộ các hoạt động trong xã hội trong đó các hoạt động đầu tư kinh doanh của các nhà đầu

tư thông qua vai trò của nhà nước cầm quyền Với vai trò tạo lập, thúc đẩy, điều chỉnh và duy trì tốc độ phát triển kinh tế, nhà nước tạo lập một môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, quy định những khuôn khổ pháp lý, duy trì trật tự kỷ cương trong xã hội và các hoạt động kinh tế, duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô, quyết định tiền đồ kinh tế của một đất nước

Sự ổn định về chính trị sẽ tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, một nhà nước mạnh, thực thi hữu hiệu các chính sách phát triển KTXH sẽ đem lại lòng tin và tính hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Trang 23

Trong một xã hội ổn định về chính trị, các nhà đầu tư được đảm bảo an toàn về đầu tư, quyền sở hữu tài sản, các nhà đầu tư sẽ sẵn sàng bỏ vốn đầu tư lớn và dài hạn, mức độ yên tâm của các nhà đầu tư được củng cố thông qua sự đánh giá về mức độ rủi ro chính trị (rủi ro chính trị là mức độ mà các biến cố và hoạt động chính trị có khả năng gây ra những tác động tiêu cực đối với môi trường đầu tư, với lợi nhuận dài hạn tiềm tàng của các dự án của các nhà đầu tư)

Các nhân tố về chính sách có ý nghĩa rất lớn và ảnh hưởng lớn đến môi trường thu hút đầu tư Chính sách tốt và tạo điều kiện hỗ trợ nhà đầu tư mới thành lập, hoặc hỗ trợ động viên tinh thần hoặc cung cấp hạ tầng kỹ thuật như điện nước, hoặc chính sách về thuế, đào tạo lao động.v.v sẽ làm cho các nhà đầu tư yên tâm

Để đánh giá một nền kinh tế được coi là có phát triển hay không người

ta dựa vào một số chỉ tiêu chính như: Quy mô GDP, tốc độ tăng trưởng hàng năm, cơ cấu kinh tế, các chỉ tiêu về phúc lợi công cộng và chăm sóc con người

Để có thể tạo ra sự phát triển, trước hết, phải có mức tăng trưởng hàng năm thông qua giá trị tổng sản phẩm Sự tăng trưởng này ảnh hưởng đến việc thu hút các nguồn vốn đầu tư ở hai góc độ: Một là, khi GDP tăng, có nghĩa là hiệu quả của vốn đầu tư được nhìn nhận theo chiều hướng tốt Từ đó, các nhà đầu tư có sự tin tưởng đối với các hoạt động kinh tế và tăng cường đầu tư vào Bất kì một nhà đầu tư nào khi bỏ vốn vào một nền kinh tế, dù với mục đích tìm kiếm lợi nhuận hay là các nguồn viện trợ đều mong muốn những đồng vốn ấy được sử dụng với hiệu quả cao nhất

Chính vì vậy, nơi họ muốn tìm kiếm và sẵn sàng đầu tư phải là nơi cho

họ thấy được nguồn vốn sẵn có được sử dụng như thế nào Hai là, khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh sẽ có mức tiết kiệm cao hơn và từ đó tăng cường vốn đầu tư Ở đây không xét đến việc thu hút thêm các nguồn vốn từ bên

Trang 24

ngoài mà là vốn từ bản thân nền kinh tế thông qua tiết kiệm Vì xét theo lý thuyết kinh tế cổ điển cho một nền kinh tế đóng thì:

GDP= C+S; Trong đó: C là mức tiêu dùng; S là mức tiết kiệm

Và xét theo lý thuyết thì: S = I (trong đó I là mức đầu tư của nền kinh tế) Như vậy: GDP = C+ I, hay I = GDP- C

Mức tiêu dùng C của người dân cũng tăng lên khi họ có thu nhập cao hơn, nhưng nó cũng bị giới hạn bởi các quy luật sinh học, và xét theo góc độ nào đó, khi mức tiêu dùng C tăng lên, tức là các sản phẩm trên thị trường bán được nhiều hơn, từ đó khuyến khích các doanh nghiệp và các hoạt động dịch

vụ phát triển

Vấn đề đặt ra ở đây là phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa tiết kiệm và tiêu dùng Làm sao để thu hút được nguồn vốn từ tiết kiệm của người dân, biến nó thành vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội

Cơ cấu kinh tế cũng ảnh hưởng đến thu hút các nguồn vốn đầu tư Thường thì nhà đầu tư nào cũng muốn đầu tư vào những ngành nghề, lĩnh vực đem lại lợi nhuận cao, có khả năng thu hồi vốn nhanh và đảm bảo Nếu chia nền kinh tế thành ba khu vực chủ yếu: Nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ thì những nơi thu hút nhiều vốn vẫn là công nghiệp và dịch vụ

Chính vì vậy, những nền kinh tế có cơ cấu tỉ lệ công nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ lệ cao thì sẽ thu hút được nhiều vốn đầu tư hơn vì ở đây đã tồn tại sẵn những điều kiện cho các ngành này phát triển như: Cơ sở hạ tầng, vùng nguyên liệu, thị trường truyền thống, nguồn lao động Điều này giải thích tại sao phần lớn vốn đầu tư nước ngoài là vốn lưu chuyển giữa các nước phát triển

Phát triển kinh tế sẽ tạo điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng giống như một nền móng vững chắc cho mọi công cuộc đầu tư, vì muốn sản xuất kinh doanh phải có điện, nước đảm bảo, giao thông thuận tiện, các dịch vụ công cộng phát triển V́ vậy, bất cứ nhà đầu tư nào cũng muốn bỏ vốn vào địa bàn có lợi nhất

Trang 25

Sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô ở đây được nhìn nhận thông qua: sự

ổn định về kinh tế xã hội, ổn định về chính trị, môi trường kinh doanh và ổn định trong các chính sách tiền tệ Một quốc gia muốn thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội, trước hết, đó phải là nơi không xảy ra các cuộc chiến tranh, các cuộc nội chiến và khủng bố Đó phải là một quốc gia có các chính sách kinh tế ổn định, không có sự thay đổi liên tục về chính sách pháp luật vì khi đó sẽ ảnh hưởng rất lớn và theo xu hướng tiêu cực đối với các nhà đầu tư

Các chính sách tiền tệ phải làm sao hạn chế được lạm phát và chống giảm phát, ổn định tỉ giá và lãi suất Kinh tế không thể phát triển mà không có lạm phát, song vấn đề là ở chỗ làm sao để kiểm soát được lạm phát, giữ nó ở một tỉ lệ có lợi cho phát triển, tránh mất giá đồng tiền quá lớn

Các nhà đầu tư không thể yên tâm và ổn định sản xuất tại một nước mà giá trị đồng tiền của nước đó liên tục thay đổi, nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc xuất nhập khẩu của doanh nghiệp Hơn nữa, giá trị của đồng nội tệ còn ảnh hưởng đến lợi nhuận thực tế mà các nhà đầu tư thu được tại một thị trường xác định

Lãi suất sẽ có ảnh hưởng lớn đến dòng chảy của vốn vào trong nước hay ra ngoài, ở đây cần có một sự tương xứng giữa lãi suất trong nước và thị trường thế giới Vì vậy, lãi suất phải có xu hướng cao hơn thế giới để các nhà đầu tư dồn nhiều vốn vào trong nước hơn Mặt khác, một mức lãi suất cao còn

là điều kiện để bảo toàn nguồn vốn trong nước, tránh thất thoát ra ngoài

1.1.4.3 Các chính sách khuyến khích đầu tư

Một môi trường đầu tư thông thoáng và thuận tiện luôn là nơi mà các nhà đầu tư muốn tìm đến Vì vậy, các quốc gia đều đã và đang thực hiện các biện pháp nhằm cải tạo môi trường đầu tư của mình, trong đó vai trò của các chính sách khuyến khích đầu tư rất quan trọng, bao gồm những quy định cụ thể về trình tự, thủ tục đầu tư, các biện pháp ưu đãi đối với từng ngành, lĩnh vực và từng vùng cụ thể

Trang 26

Các nhà đầu tư mong muốn các thủ tục nhanh chóng và đơn giản, đồng thời có những ưu đãi về thuế, giá thuê đất, về tạo điều kiện cho sử dụng cơ sở

hạ tầng

Trên đây là những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến việc thu hút các nguồn vốn đầu tư vào một nền kinh tế, những ảnh hưởng này được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, song nhìn chung nó sẽ có những tác động tích cực tới việc thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội khi các nhân tố này được cân bằng và giữ ở mức độ thích hợp Còn như thế nào là thích hợp thì lại phụ thuộc vào điều kiện và mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của mỗi địa phương

1.2 Thực tiễn về thu hút vốn đầu tư vào phát triển sản xuất kinh doanh

1.2.1.Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trên thế giới

Các nước có nền kinh tế phát triển và đang phát triển trên thế giới đã có nhiều kinh nghiệm và thành công trong lĩnh vực thu hút và sử dụng vốn đầu tư phát triển, góp phần làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển nhanh hơn

Tuy nhiên, kết quả đạt được ở mỗi quốc gia là không giống nhau, vì

nó tuỳ thuộc vào mức độ và cách thức quản lý, sự điều tiết của Nhà nước và đặc điểm tình hình kinh tế xã hội của mỗi nước Chúng ta có thể tham khảo kinh nghiệm của các số nước ASEAN trong việc thu hút vốn đầu tư phát triển Sản xuất kinh doanh

Những năm 50 và những năm đầu của thập niên 60 của thế kỷ XX, các nước ASEAN đều thực hiện chiến lược "phát triển thay thế nhập khẩu" nhằm giảm bớt sự phụ thuộc đối với hàng nhập khẩu từ bên ngoài Các nước này đã tìm cách hạn chế tối đa hàng thành phẩm công nghiệp nhập từ các nước công nghiệp phát triển, tập trung phát triển một số ngành công nghiệp trong nước thay thế hàng nhập khẩu, mở rộng thị trường nội địa và tận dụng tối đa vốn đầu tư trong nước

Trang 27

Các nước này đều chú ý đầu tư xây dựng thêm nhiều ngành và cơ sở công nghiệp quốc doanh Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế còn thấp, vì trong điều kiện nền kinh tế "mở", hàng hoá trong nước không thể cạnh tranh được với hàng hoá nước ngoài Kết quả là các nước này vẫn phải tiếp tục nhập khẩu các loại nguyên liệu, kỹ thuật, máy móc, thiết bị từ bên ngoài và nền kinh tế của

họ ngày càng lệ thuộc chặt chẽ hơn vào các nước công nghiệp phát triển

Từ năm 1969, các nước ASEAN đã tìm ra một chiến lược mới: "Phát triển theo hướng xuất khẩu" Sự thay đổi chiến lược này nhằm tận dụng tối đa nguồn vốn và công nghiệp tiên tiến từ bên ngoài vào, việc khai thác mọi tiềm năng của mỗi nước, tập trung phát triển những ngành công nghiệp có thể xuất khẩu được, từng bước cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường thế giới Vì vậy, các ngành công nghiệp khai khoáng và chế biến hướng vào xuất khẩu có điều kiện phát triển nhanh, thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế đối ngoại Chiến lược này phù hợp với nhu cầu của các nước đang phát triển cần nhiều vốn và công nghệ hiện đại, còn các nước phát triển lại có nhu cầu đầu tư và chuyển giao công nghệ đến các nước đang phát triển Như vậy, mối quan hệ kinh tế giữa các nước được mở rộng trên nguyên tắc "hai bên cùng có lợi"

Để thực hiện chiến lược này, chính phủ các nước ASEAN đã rút kinh nghiệm trong việc điều chỉnh nền kinh tế, đã xây dựng và hoàn thiện một số

hệ thống điều tiết gồm các luật, chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách thu hút vốn đầu tư từ các nguồn vốn trong và ngoài nước

Nguồn vốn đầu tư trong nước ở các nước này là khá cao, chủ yếu do làm tốt việc khuyến khích tiết kiệm tiêu Chẳng hạn, ở Thái Lan và Inđônêxia tỷ lệ tiết kiệm so với GDP là 22%, Malaixia là 28%, Singapore là 26% Tỷ lệ tiết kiệm đạt được như vậy là do Chính phủ các nước đã có chính sách khuyến khích gửi tiền tiết kiệm, điều chỉnh lãi suất hợp lý Nguyên tắc chung là lãi suất tiết

Trang 28

kiệm dương, nghĩa là phải cao hơn mức lạm phát, có như vậy mới khuyến khích các tổ chức và cá nhân gửi tiền tiết kiệm cũng như sử dụng vốn vay có hiệu quả

Tất cả các nước đều khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển,

kể cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ Họ cho rằng có như vậy mới sử dụng được mọi nguồn vốn trong dân cư Bởi vậy, trong tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản thì vốn của tư nhân thường chiếm tỷ trọng lớn Tỷ lệ đó ở Singapore trong năm 1968 là 58,5%, năm 1971 là 74%, năm 1973 là 68,6%, năm 1975 là 92,6%, năm 1980 là 90,9% và năm 1988 là 82,9% [22]

Hình thức huy động vốn khác cũng khá phong phú và linh hoạt Các hình thức cổ phiếu, trái phiếu, thị trường chứng khoán rất phát triển Hoạt động của thị trường chứng khoán đã góp phần quan trọng vào việc huy động vốn, tạo điều kiện cho vốn di chuyển dễ dàng đến những khu vực kinh doanh

có hiệu quả và bổ sung cho hoạt động của hệ thống ngân hàng Nguồn vốn của tư bản nước ngoài được coi là yếu tố cơ bản để phát triển kinh tế các nước ASEAN Nguồn vốn này bao gồm các khoản viện trợ, vốn vay để tự đầu tư và vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài

Các nước ASEAN cho rằng đầu tư trực tiếp có lợi hơn nên đặc biệt khuyến khích hình thức này Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ASEAN tăng mạnh nhất là vào nửa cuối thập niên 70 của thế kỷ XX Đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ là nguồn bổ sung hết sức cần thiết, mà còn góp phần vào quá trình chuyển giao công nghệ, giúp cho các nhà kinh doanh trong nước có được những kinh nghiệm quý báu về tổ chức quản lý Hình thức này cũng tạo khả năng tập trung vốn nhanh hơn và giải quyết tốt vấn đề thị trường tiêu thụ

Vì vậy các nước ASEAN đều có các chính sách mở cửa rộng rãi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài Nội dung cơ bản của các chính sách đó là:

- Khuyến khích tư bản nước ngoài đầu tư bằng cách đề ra các chính sách ưu đãi bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợi cho tư bản nước ngoài đầu tư

Trang 29

và nhanh chóng phát huy hiệu quả vốn đầu tư Các nước ASEAN đều đã sớm ban hành luật đầu tư nước ngoài, trong đó bảo đảm không quốc hữu hoá, xác định rõ quyền sở hữu kinh doanh của nhà tư bản nước ngoài

- Nhà nước bảo hiểm đối với tư bản nước ngoài không hạn chế đầu tư vào các ngành then chốt, miễn là đầu tư nhiều vốn dùng nhiều công nhân, có

kỹ thuật hiện đại và quy trình công nghệ mới, dùng nguyên liệu trong nước

- Các đối tượng kinh doanh đó còn được hưởng ưu đãi về tài chính như: miễn thuế, bảo đảm cung cấp nguồn lao động ổn định và rẻ, cho phép tự

do hồi hương vốn và lợi nhuận Riêng ở Singapore và Malaixia th́ Nhà nước không hạn chế tỷ lệ cổ phần của nước ngoài trong các ngành sản xuất

- Tạo không khí ổn định chính trị, môi trường kinh doanh thuận lợi cho các hoạt động của các công ty tư bản nước ngoài Thực hiện chế độ nhập cảnh, thậm chí cả việc cư trú dễ dàng đối với các nhà tư bản công nghiệp và chuyên gia kỹ thuật nước ngoài

- Xây dựng trước các cơ sở hạ tầng có sẵn, hệ thống cung cấp điện, nước, nhà ở, bưu điện, kho hàng, giao thông thuận lợi, cho thuê với giá rẻ, nhằm giúp các nhà đầu tư nước ngoài nhanh chóng đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, rút ngắn được vòng quay của vốn

- Lập ra các khu vực mậu dịch tự do "khu công nghiệp chế biến xuất khẩu" hoặc "khu công nghiệp tự do" để thực hiện toàn bộ các biện pháp nói trên

Việc thực hiện có hiệu quả thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước của các nước ASEAN đã góp phần quan trọng thúc đẩy tốc độ phát triển kinh tế -

xã hội một cách nhanh chóng

1.2.2 Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư của Việt Nam

Thông qua việc tìm hiểu nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn trong việc thu thút và thực hiện vốn đầu tư ở các địa phương có nhiều điểm tương đồng, ta có thể rút ra được những bài học nhằm đưa ra những giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư vào Thành phố Hà Nội nói chung và vào huyện Chương Mỹ nói riêng

Trang 30

* Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh

Một môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn sẽ là “chìa khoá” để mở cửa cho những thành công Điều đó càng được khẳng định khi kết quả của việc tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi là các dự án và tổng vốn đăng ký đầu

tư vào các địa phương ngày càng tăng

Tỉnh Bắc Ninh có tầm nhìn phát triển kinh tế hướng ngoại, đã chuẩn bị các điều kiện về đất đai, lao động, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cải cách thủ tục hành chính về đầu tư nhằm tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến đầu tư tại Bắc Ninh Hiệu quả đã được thấy rõ:

Những năm qua, thu hút đầu tư của Bắc Ninh đạt hiệu quả cao, giai đoạn 2006-2010 tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt trên 64.000 tỷ đồng GDP tăng bình quân 15,1%/năm; sản xuất công nghiệp tăng từ vị trí 19 (2004) lên

vị trí thứ 9 toàn quốc; tổng kim ngạch XNK đạt 1,250 tỷ USD; Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 6 toàn quốc; thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đứng thứ 7 toàn quốc, thứ 2 vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, với 289 dự án FDI, tổng vốn đầu tư đăng ký là 3.171,8 triệu USD Đặc biệt, Bắc Ninh đã thu hút được nhiều Tập đoàn có danh tiếng trên thế giới như: Canon, Sumitomo đến

từ Nhật Bản; Samsung, Orion đến từ Hàn Quốc; Foxcon, Mictac đến từ Đài Loan; Tyco Electronics đến từ Hoa Kỳ; ABB đến từ Thuỵ Điển… Những dự

án đó đã góp phần nâng cao tỷ trọng vốn ĐTNN từ 5,9% năm 2005 lên 30,7% năm 2010; góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế của tỉnh cũng như tạo ra giá trị công nghiệp cao [ 23]

Đạt được thành tựu trên, bên cạnh những lợi thế về vị trí địa lý, tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện các giải pháp:

Một là, làm tốt công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng

thuận lợi cho nhà đầu tư

Hai là, thực hiện những chính sách ưu đãi đầu tư vào các KCN tập

trung và ngoài KCN theo quy định hiện hành, thường xuyên tổ chức gặp mặt đối thoại với các doanh nghiệp

Trang 31

Ba là, không ngừng cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng

lực cạnh tranh bằng các phương pháp: Thành lập Tổ công tác cải thiện môi trường kinh doanh; ban hành Quy trình, thủ tục đầu tư xây dựng của doanh nghiệp ngoài KCN tại tỉnh đảm bảo tính minh bạch về trình tự các bước; thực hiện song song, kết hợp một số thủ tục để tiết kiệm thời gian cho nhà đầu tư; giảm thiểu yêu cầu về trùng lắp hồ sơ; quy định rõ thời gian giải quyết ở tất cả các khâu của quy trình, từ khi tiếp nhận hồ sơ, lấy ý kiến của các cơ quan hữu quan, trình UBND tỉnh phê duyệt đến khi trả kết quả

* Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư của tỉnh Bình Định

Trong những năm gần đây, tỉnh Bình Định đã có sự bứt phá khá ấn tượng trên lĩnh vực thu hút đầu tư trong số các tỉnh duyên hải miền Trung Những gì Bình Định đã và đang làm sẽ là bài học kinh nghiệm bổ ích cho các tỉnh duyên hải miền Trung cũng như cả nước trong việc thu hút đầu tư

Bình Định là một tỉnh duyên hải miền Trung có xuất phát điểm thấp, xa hai trung tâm của đất nước, luôn đối mặt với thiên tai, lũ lụt

Thời gian qua, trên cơ sở đánh giá tiềm năng, thế mạnh của địa phương, lãnh đạo tỉnh Bình Định đã có những quyết sách, chủ trương thích hợp để thu hút nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước Và thời gian qua kinh tế của tỉnh

đã có những chuyển biến tích cực, đúng hướng, tuy nhiên, để phát triển tương xứng với tiềm năng thì còn nhiều việc cần phải làm Bình Định chưa có một ngành, dự án lớn mang tính chất đầu tàu để phát triển kinh tế cho cả tỉnh

Đối với các tỉnh miền Trung có 3 điểm tương đồng: thứ nhất là các địa phương cùng chính sách ưu đãi đầu tư; thứ hai là cùng nằm trong khu vực có điều kiện tự nhiên giống nhau trải dài ven biển; thứ ba là cùng chung một xuất phát điểm

Nên vấn đề là địa phương nào khai thác tốt nhất tiềm năng thế mạnh và

có giải pháp, bước đi thích hợp thì sẽ thu hút được đầu tư

Trang 32

Bình Định có 3 lợi thế quan trọng Lợi thế thứ nhất, có 1 vị trí chiến lược quan trọng không địa phương nào so sánh được, đó là nằm trên cửa ngõ Tây Nguyên, con đường ra biển gần nhất của các tỉnh Tây Nguyên và Nam Lào, nối với Đông Bắc Thái Lan

Thứ hai, Bình Định là địa phương có bề dày truyền thống lịch sử, có nền văn hóa đặc sắc Nơi đây là cố đô Chăm Pa, là nơi phát tích của phong trào Tây Sơn, gắn với người anh hùng áo vải Quang Trung; là quê hương của nghệ thuật tuồng, dân ca,… Bình Định cũng là nơi nuôi dưỡng, sinh ra nhiều danh nhân văn hóa lớn như Đào Tấn, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên,

Thứ ba, Bình Định là mảnh đất được thiên nhiên ban tặng nhiều tài nguyên, thiên nhiên khoáng sản phong phú Có tiềm năng phát triển ngành du lịch và chế biến khoáng sản

Trên cơ sở tiềm năng thế mạnh đó, Bình Định đưa ra nhiều giải pháp trong thời gian qua để thu hút đầu tư:

Trong đó chúng tôi rút ra bốn yếu tố, thứ nhất, để thu hút đầu tư, phải

đi trước một bước, phải chủ động chuẩn bị điều kiện kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông, hạ tầng, chuẩn bị sẵn mặt bằng đón các nhà đầu tư

Thứ hai, phải kiên trì trong thu hút đầu tư, trong thời gian qua chúng tôi

Trang 33

doanh của một số tỉnh trong nước, cũng như của một số nước trên thế giới Từ

lý luận và kinh nghiệm thực tiễn được rút ra trong việc thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, luận văn đi vào phân tích, đánh giá thực thu hút vốn đầu tư phát triển Sản xuất kinh doanh và đề ra các giải pháp cho việc thu hút vốn đầu tư phát triển Sản xuất kinh doanh ở Huyện Chương Mỹ trong giai đoạn hiện nay

Trang 34

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Các đặc điểm cơ bản của huyện Chương mỹ thành phố Hà Nội

2.1.1 Các đặc điểm về tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Trước đây huyện Chương Mỹ là một huyện thuộc hành chính của tỉnh Hà Tây cũ Từ ngày 01 tháng 8 năm 2008, thực hiện quyết định số 15/2008/QH12 của Quốc Hội về điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan, toàn bộ địa giới của tỉnh Hà Tây được sát nhập vào thành phố Hà Nội Cũng từ đó huyện Chương Mỹ là một trong những huyện của Thủ đô Hà Nội

Huyện Chương mỹ cách trung tâm của thủ đô Hà Nội 20 km, có phía Bắc giáp các huyện Quốc Oai, Hoài Đức Phía Nam giáp các huyện Mỹ Đức, ứng Hoà Phía Tây giáp huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình Phía Đông giáp quận Hà Đông và huyện Thanh Oai Tọa độ của huyện Chương Mỹ từ 20023’ – 20025’ độ vĩ bắc, từ 105030’ – 105040’ độ kinh đông, có gianh giới là con sông Đáy và đường quốc lộ 6A chạy qua

Giao thông thủy bộ thuận tiện cho việc giao lưu hàng hóa, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển, cạnh tranh các sản phẩm của địa phương như hàng nông, lâm thủy sản, thủ công mỹ nghệ,v.v…

Chương Mỹ có thể cung cấp cho các thị trường nguồn nhân lực dồi dào, đồng thời là nơi tiêu thụ, trung chuyển các mặt hàng từ Tây Bắc về các mặt hàng khác từ Hà Nội lên Chương Mỹ có vị trí đặc biệt về an ninh quốc phòng và tuyến phòng thủ của phía Tây thủ đô Hà Nội Với cơ chế vừa phát huy tốt tiềm năng lợi thế của huyện, vừa khai thác tốt các yếu tố tích cực từ

Trang 35

bên ngoài, huyện Chương Mỹ có thể phát triển nhanh toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội

Hình 2.1: Bản đồ hành chính huyện Chương Mỹ

2.1.1.2 Địa hình huyện Chương Mỹ

Địa hình của huyện Chương mỹ là đồng bằng bán sơn địa, cao trung bình từ 15-20 m Huyện có 3 con sông lớn chảy qua là sông Tích, sông Bùi

và sông Đáy Có 3 hồ lớn là hồ Đồng Sương, hồ Văn Sơn và hồ Miễu

Địa hình của huyện Chương Mỹ đa dạng, vừa có đặc trưng của vùng đồng bằng châu Thổ, vừa có đặc trưng của vùng bán sơn địa với núi, sông, đồng, bãi, hồ, hang, động nằm xen kẽ lẫn nhau Dòng sông Đáy chảy xuyên suốt từ Bắc đến Nam của huyện Chương Mỹ Huyện còn nằm trong tam giác

du lịch Hà Nội – Ba Vì - Chùa Hương Với những điều kiện thuận lợi về địa

Trang 36

hình, khí hậu thời tiết, giao thông thuỷ lợi, huyện Chương mỹ là một trong những huyện được coi là vựa lúa của thành phố Hà Nội

2.1.1.3 Khí hậu thủy văn

Chương Mỹ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng đồng bằng bắc bộ Mưa nhiều về mùa hè, mưa ít về mùa đông và đôi khi có sương muối

Hàng năm mùa mưa huyện Chương Mỹ thường từ tháng 05 đến tháng 9 mưa nhiều vào các tháng 6,7,8 Thời gian mưa ít, hanh khô thường vào thời gian từ tháng 10 – 12 của năm Với đặc điểm khí hậu như vậy, các doanh nghiệp thường hoạt động mạnh vào những tháng cuối năm, nhất là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, sản xuất hàng mây tre đan xuất khẩu, kinh doanh vật liệu xây dựng, vận tải, …

Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn huyện Chương Mỹ luôn nắm bắt được quy luật tương đối ổn định của khí hậu và thời tiết của huyện để chủ động cho hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình, đóng góp cho nền kinh tế của huyện thêm sắc màu

2.1.2 Các đặc điểm kinh tế xă hội

2.1.2.1 Dân số, lao động

Chương Mỹ sau khi sát nhập với Thành phố Hà Nội có 32 xã, thị trấn với dân số năm 2011 là 301.157 người trong đó nữ là 154.026 người (chiếm 51,14%) Người dân Việt Nam nói chung và người dân huyện Chương Mỹ nói riêng có truyền thống cần cù trong lao động, dũng cảm trong đấu tranh xây dựng và giữ gìn đất nước Với truyền thống anh hùng huyện Chương Mỹ

đã đóng góp sức người, sức của cho 2 cuộc đấu tranh chống Pháp và chống

Mỹ cứu nước, biết bao người con yêu dấu đã anh dũng hy sinh để bảo vệ quê hương, đất nước Đồng thời đây cũng là nơi sản sinh ra nhiều danh nhân,

Trang 37

danh tướng như: Đặng Tiến Đông, nhà lịch sử Ngô Sỹ Liên đã làm rạng danh cho mảnh đất quê hương Chương Mỹ yêu dấu

Trên địa bàn huyện dân tộc kinh là chủ yếu, dân tộc Mường có 01 thôn

là thôn Đồng Ké thuộc xã Trần Phú, ngoài ra còn một số dân tộc khác ở rải rác các xã, thị trấn Theo kết quả Tổng điều tra cơ sở kinh tế hành chính sự nghiệp năm 2012, hiện nay toàn huyện có 280 cơ sở kinh tế hành chính sự nghiệp, Đảng, Đoàn thể, hiệp hội; 317 cơ sở tôn giáo tín ngưỡng; 19.016 cơ

sở SXKD cá thể ; đặc biệt có 823 doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh góp phần chuyển dịch về cơ cấu kinh tế của huyện trong những năm qua

Chương Mỹ có nhiều đình chùa, đền, miếu có phong cảnh đẹp như Chùa Trầm, chùa Trăm Gian, chùa Cao, chùa Sấu, đình Nội, đình Xá, đình Ninh Sơn,…Tất cả là một quần thể danh lam, thắng cảnh di tích lịch sử văn hóa gần quốc lộ 6A Hầu hết các đình chùa này đều mở lễ hội vào dịp đầu xuân Ngoài ra còn có dải núi rừng và hồ phía tây đường 21A cũng có tiềm năng rất lớn về du lịch Theo thống kê, huyện Chương Mỹ có 374 di tích lịch

sử văn hóa, trong đó có 17 di tích lịch sử đã xếp hạng ( 12 di tích đã được UBND Thành phố khoanh vùng bảo vệ, 2 di tích cấp quốc gia) Tuy nhiên hiện có nhiều công trình cần phải trùng tu sửa chữa

2.1.2.2 Sự phát triển các ngành kinh tế của huyện

Với đặc điểm địa huyện Chương Mỹ là một huyện có 3 vùng sinh thái: Vùng trũng, vùng đồng bằng, vùng đồi , với địa hình này Chương Mỹ có thể phát triển một nền kinh tế đa dạng cả về nông nghiệp, công nghiệp và thương mại du lịch

Phát huy lợi thế nằm gần quận Hà Đông (Cửa ngõ Thủ Đô) và trung tâm thành phố Hà Nội Năm 2003 huyện Chương Mỹ đó được tỉnh phê duyệt đầu tư xây dựng cụm cụng nghiệp Phú Nghĩa với diện tích 55,83 ha và 13

Trang 38

điểm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – làng nghề ở 16 xã với diện tích

127 ha, huyện Chương Mỹ đã và đang thu hút được nhiều doanh nghiệp đến sản xuất kinh doanh Trước đây, kinh tế của huyện Chương Mỹ chủ yếu là nông nghiệp Những năm gần đây do thay đổi vị thế và do nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế, cơ cấu kinh tế của huyện Chương Mỹ đó chuyển dịch dần theo hướng công nghiệp và dịch vụ Năm 2008, cơ cấu kinh

tế theo tỷ lệ: ngành nông nghiệp chiếm 26,5%; công nghiệp xây dựng chiếm

40 %; thương mại dịch vụ chiếm 33,5% Nhưng đến năm 2011, cơ cấu kinh

tế đó chuyển dịch sang theo hướng công nghiệp dịch vụ như sau: ngành nông nghiệp chỉ còn chiếm 20,6%, trong khi đó nghành công nghiệp xây dựng chiếm 43,4% và ngành thương mại dịch vụ chiếm 36% Các khu công nghiệp Phú Nghĩa, cụm công nghiệp Ngọc Hoà, Ngọc Sơn, Nam Phương Tiến,… đó thu hút hơn 11.000 người lao động

Bên cạnh việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, huyện Chương Mỹ rất chú trọng việc phát triển ngành nghề trên quy mô toàn diện Sản suất công nghiệp dần đi vào ổn định, các ngành nghề thủ công nghiệp cũng từng bước được phục hồi

Đến nay huyện Chương Mỹ đó có 33 làng nghề (nghề mộc 4 làng nghề, nghề may tre đan 27 làng nghề; nghề chế biến nông sản - nấu rượu 1 làng nghề; nghề thêu ren 01 làng nghề ) trong đó nghề mây tre đan là mũi nhọn của huyện

Trong những năm qua đặc biệt là từ những năm của thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ chính quyền huyện nền kinh tế của Chương

Mỹ đó có những khởi sắc Trong 5 năm gần đây tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 13,1%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp xây dựng và dịch vụ giảm tương đối của tỷ trọng ngành nông nghiệp Đặc biệt cơ cấu lao động đó có những chuyển dịch

Trang 39

mạnh mẽ, cơ sở hạ tầng nông thôn được cải thiện, đời sống nông dân từng bước được cải thiện

2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện cơ bản của Huyện

- Huyện Chương Mỹ có vị trí địa kinh tế rất thuận lợi cho phát triển vùng kinh tế tổng hợp

Huyện Chương mỹ cách trung tâm của thủ đô Hà Nội 20 km, có phía Bắc giáp các huyện Quốc Oai, Hoài Đức Phía Nam giáp các huyện Mỹ Đức, Ứng Hoà Phía Tây giáp huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình Phía Đông giáp quận Hà Đông và huyện Thanh Oai Tọa độ của huyện Chương Mỹ từ 20023’ – 20025’ độ vĩ bắc, từ 105030’ – 105040’ độ kinh đông, có gianh giới là con sông Đáy và đường quốc lộ 6A chạy qua

Giao thông thủy bộ thuận tiện cho việc giao lưu hàng hóa, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển, cạnh tranh các sản phẩm của địa phương như hàng nông, lâm thủy sản, thủ công mỹ nghệ,v.v…

Chương Mỹ có thể cung cấp cho các thị trường nguồn nhân lực dồi dào, đồng thời là nơi tiêu thụ, trung chuyển các mặt hàng từ Tây Bắc về các mặt hàng khác từ Hà Nội lên Chương Mỹ có vị trí đặc biệt về an ninh quốc phòng và tuyến phòng thủ của phía Tây thủ đô Hà Nội Với cơ chế vừa phát huy tốt tiềm năng lợi thế của huyện, vừa khai thác tốt các yếu tố tích cực từ bên ngoài, huyện Chương Mỹ có thể phát triển nhanh toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội

- Khả năng lựa chọn các sản phẩm mũi nhọn của huyện trong điều kiện kinh tế mở cửa

Cùng với sản xuất nông nghiệp, huyện Chương Mỹ còn phát triển nhiều ngành nghề khác như sản xuất nón lá, mộc, điêu khắc, thêu ren, mây tre giang đan,…

Trang 40

Với lợi thế có nghề thủ công truyền thống là sản xuất hàng mây tre đan xuất khẩu, huyện Chương Mỹ đã mạnh dạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, trong đó đặc biệt huyện quan tâm và phát huy thế mạnh của các làng nghề mây tre giang đan xuất khẩu để giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của người nông dân

Hiện nay, huyện Chương Mỹ có 32/32 xã thị trấn có lao động làm nghề mây tre đan trong đó 27 làng được công nhận là làng nghề mây tre đan Các làng nghề đã thu hút nhiều lao động có việc làm thường xuyên và lao động thời vụ Thu nhập bình quân của một lao động trong các làng nghề mây tre đan tương đối ổn định từ 13-15 triệu đồng/ người/ năm trong khi đó thu nhập của lao động thuần nông chỉ khoảng 6 -8 triệu đồng/ người/ năm

Sản phẩm mây tre đan đã được các công ty, các nhà doanh nghiệp xuất khẩu ra thị trường thế giới, chủ yếu các nước như : Nga, Mỹ, Nhật bản, Canađa, Hàn Quốc, … Năm 2012, toàn huyện có 212 doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp thì có tới 80 doanh nghiệp hoạt động nghề sản xuất

và xuất khẩu hàng mây tre giang đan Trước tình hình nhiều doanh nghiệp tập trung sản xuất hàng mây tre thì nguyên vật liệu khai thác cũng cạn kiệt Lúc này đã có doanh nghiệp đi trước đón đầu mạnh dạn đầu tư vốn, giống, kỹ thuật trồng nguyên vật liệu mây ở Hà Giang như công ty TNHH xuất nhập khẩu Việt Cường ở xã Trường Yên huyện Chương Mỹ đến nay đã được thu hoạch cung cấp nguyên vật liệu mây ra thị trường đáp ứng phần nào nhu cầu nguyên vật liệu đầu vào cho các doanh nghiệp hoạt động SXKD hàng mây tre đan xuất khẩu

Nhờ có các doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyên xuất khẩu các mặt hàng mây tre giang đan mà tỷ trọng ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp chiếm trên 30% trong cơ cấu kinh tế của huyện

Ngày đăng: 03/09/2017, 23:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ về  các nguồn vốn đầu tư - Giải pháp góp phần tăng cường thu hút đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện chương mỹ, thành phố hà nội
Hình 1.1 Sơ đồ về các nguồn vốn đầu tư (Trang 16)
Hình 2.1: Bản đồ hành chính huyện Chương Mỹ - Giải pháp góp phần tăng cường thu hút đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện chương mỹ, thành phố hà nội
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Chương Mỹ (Trang 35)
Bảng 2.1: Thang đo các yếu tố ảnh hưởng và mức độ sẵn lòng - Giải pháp góp phần tăng cường thu hút đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện chương mỹ, thành phố hà nội
Bảng 2.1 Thang đo các yếu tố ảnh hưởng và mức độ sẵn lòng (Trang 46)
Bảng 3.1: Tổng vốn đầu tư vào huyện Chương Mỹ giai đoạn từ năm 2010– 2012 - Giải pháp góp phần tăng cường thu hút đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện chương mỹ, thành phố hà nội
Bảng 3.1 Tổng vốn đầu tư vào huyện Chương Mỹ giai đoạn từ năm 2010– 2012 (Trang 51)
Bảng 3.2: Cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực trên địa bàn huyện Chương Mỹ - Giải pháp góp phần tăng cường thu hút đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện chương mỹ, thành phố hà nội
Bảng 3.2 Cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực trên địa bàn huyện Chương Mỹ (Trang 53)
Bảng 3.4 Cơ cấu vốn đầu tư vào SXKD theo lĩnh vực SXKD - Giải pháp góp phần tăng cường thu hút đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện chương mỹ, thành phố hà nội
Bảng 3.4 Cơ cấu vốn đầu tư vào SXKD theo lĩnh vực SXKD (Trang 58)
Bảng 3.5: Các thang đo không đáp ứng yêu cầu chất lượng - Giải pháp góp phần tăng cường thu hút đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện chương mỹ, thành phố hà nội
Bảng 3.5 Các thang đo không đáp ứng yêu cầu chất lượng (Trang 64)
Bảng 3.6: Các biến đặc trưng và thang đo chất lượng tốt - Giải pháp góp phần tăng cường thu hút đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện chương mỹ, thành phố hà nội
Bảng 3.6 Các biến đặc trưng và thang đo chất lượng tốt (Trang 65)
Bảng 3.8: Tổng phương sai được giải thích - Total Variance Explained - Giải pháp góp phần tăng cường thu hút đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện chương mỹ, thành phố hà nội
Bảng 3.8 Tổng phương sai được giải thích - Total Variance Explained (Trang 66)
Bảng 3.9: Ma trận nhân tố xoay  Rotated Component Matrix a - Giải pháp góp phần tăng cường thu hút đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện chương mỹ, thành phố hà nội
Bảng 3.9 Ma trận nhân tố xoay Rotated Component Matrix a (Trang 67)
Bảng 3.10 : Tóm tắt mô hình - Model Summary b - Giải pháp góp phần tăng cường thu hút đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện chương mỹ, thành phố hà nội
Bảng 3.10 Tóm tắt mô hình - Model Summary b (Trang 68)
Bảng 3.11: Hệ số hồi quy - Coefficients a - Giải pháp góp phần tăng cường thu hút đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện chương mỹ, thành phố hà nội
Bảng 3.11 Hệ số hồi quy - Coefficients a (Trang 69)
Bảng 3.12: Vị trí quan trọng của các yếu tố - Giải pháp góp phần tăng cường thu hút đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện chương mỹ, thành phố hà nội
Bảng 3.12 Vị trí quan trọng của các yếu tố (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w