Ngoài ra, theo thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT, ngày 21 tháng 8 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về NTM quy định: Chủ tịch U
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ luận văn của một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc Bản luận văn này là nỗ lực, kết quả làm việc của cá nhân tôi
Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả
Trần Lê
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ rất nhiệt tình và có hiệu quả của Khoa sau đại học - Trường đại học Lâm Nghiệp Hà nội; Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện; Đảng ủy, Ủy ban nhân dân các xã và đông đảo bà con nhân dân của huyện Vũ Quang
Tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sỹ Nguyễn Thị Xuân Hương, người đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong việc hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện, các ngành đoàn thể của huyện Vũ Quang; xin cản ơn các Đảng ủy, Ủy ban nhân dân các
xã và bà con nhân dân đã giúp đỡ, cộng tác cùng tôi để Đề tài được thực hiện kịp tiến độ theo kế hoạch
Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả
Trần Lê
Trang 3MỤC LỤC
Trang TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH CÁC MỤC BẢNG vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới 5
1.1.1 NTM và xây dựng nông thôn mới (NTM) 5
1.1.2 Vai trò của nông thôn và sự cần thiết xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay ở nước 6
1.2 Tổng quan chương trình xây dựng nông thôn mới ở nước ta 8
1.2.1 Điều kiện ra đời, mục tiêu, nguyên tắc và phương pháp xây dựng NTM ở nước ta 8
1.2.2 Nội dung xây dựng NTM ở nước ta 11
1.2.3 Tổ chức thực hiện xây dựng NTM ở nước ta 16
1.3 Cơ sở thực tiễn về xây dựng nông thôn mới 18
1.3.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn ở một số nước trên thế giới 18
1.3.2 Kinh nghiệm trong nước 32
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HUYỆN VŨ QUANG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Vũ quang, tỉnh Hà Tĩnh 39
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 39
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 42
2.2 Phương pháp nghiên cứu 48
2.2.1 Phương pháp tiếp cận 48
2.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 48
Trang 42.2.3 Phương pháp thu thập tài liệu 49
2.2.4 Phương pháp phân tích 49
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50
3.1 Bối cảnh ra đời chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Vũ Quang - Hà Tĩnh 50
3.1.1 Bối cảnh ra đời 50
3.1.2 Công tác tổ chức thực hiện 50
3.1.3 Mục tiêu tổng quát trong xây dựng NTM trên địa bàn huyện Vũ Quang 53
3.2 Kết quả xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Vũ Quang, Hà Tĩnh 56
3.2.1 Kết quả công tác quy hoạch 56
3.2.3 Kết quả xây dựng hệ thống thủy lợi 59
3.2.4 Kết quả thực hiện tiêu chí - điện nông thôn 60
3.2.5 Kết qủa thực hiện tiêu chí - trường học 61
3.2.6 Kết qủa thực hiện tiêu chí - Cơ sở vật chất văn hoá 61
3.2.8 Kết qủa thực hiện tiêu chí - Bưu điện 62
3.2.9 Kết qủa thực hiện tiêu chí - Nhà ở dân cư 63
3.2.10 Kết qủa thực hiện tiêu chí - Thu nhập 64
3.2.11 Kết qủa thực hiện tiêu chí - Hộ nghèo 64
3.2.12 Kết quả thực hiện tiêu chí - Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyến 64
3.2.14 Kết qủa thực hiện tiêu chí - Giáo dục 65
3.2.15 Kết qủa thực hiện tiêu chí - Y tế 66
3.2.16 Kết qủa thực hiện tiêu chí - Văn hoá 67
3.2.17 Kết qủa thực hiện tiêu chí - Môi trường 67
3.2.18 Kết qủa thực hiện tiêu chí - Hệ thống tổ chức chính trị 69
3.3 Đánh giá chung việc thực hiện các mục tiêu, kế hoạch Chương trình 70 3.3.1 Công tác kiểm tra, giám sát 70
3.3.2 Công tác tuyên truyền 71
3.3.2 Công tác triển khai đồ án quy hoạch xây dựng NTM 71
3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện xây dựng NTM trên địa bàn huyện Vũ Quang - Hà Tĩnh 76
3.4.1 Cơ chế chính sách của nhà nước và địa phương 76
Trang 53.4.2 Năng lực tổ chức thực hiện của địa phương 79 3.4.3 Các cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật của địa phương 80 3.4.4 Đặc điểm dân cư và điều kiện kinh tế, xã hội địa phương 81
3.5 Kết quả điều tra ý kiến người dân về việc thực hiện chương trình nông thôn mới trên địa bàn huyện Vũ Quang 81
3.5.1 Nhận thức của người dân về Chương trình nông thôn mới 81 3.5.2 Mức độ sẵn lòng của người dân về đóng góp xây dựng Chương trình 83
3.6 Kết quả phân tích SWOT trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Vũ Quang 84 3.7 Một số giải pháp đẩy mạnh xây dựng NTM ở Vũ Quang 88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 83.14 Mức độ sẵn lòng và lý do từ chối đóng góp cho Chương trình
3.15 Kết quả phân tích SWOT trong xây dựng NTM ở huyện Vũ
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước có nền nông nghiệp lâu đời, do đặc điểm địa hình, lịch sử quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước nên phần lớn dân cư nước
ta sống quần tụ theo từng dòng họ, hình thành nên các làng, xã, phân bố chủ yếu ven lưu vực các dòng sông Cùng với văn minh lúa nước, làng (bản, thôn, xóm…) đã trở thành nét văn hóa riêng của người Việt Nam từ muôn đời nay Đến nay, tuy quá trình đô thị hóa đã diễn ra khá mạnh mẽ nhưng vẫn còn hơn 70% dân số sinh sống và hơn 54% lao động làm việc ở nông thôn
Nông thôn nước ta có một vị trí, vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc Nông thôn Việt Nam là cái nôi cung cấp nhân lực và vật chất trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, đồng thời là nơi hình thành và lưu giữ các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Ngày nay, mặc dù quá trình đô thị hoá diễn ra ngày càng sâu rộng, song nông thôn vẫn có vị trí
và vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước Nông thôn là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm quan trọng cho tiêu dùng xã hội; cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu; cung cấp nhân lực, trí tuệ cho cho xã hội; Là nơi diễn ra các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng nhiều tiến bộ trong chăn nuôi; và đây cũng là thị trường tiêu thụ hàng hoá quan trọng của xã hội
Mặc dù có vị trí quan trọng không thể thay thế trong nền kinh tế, song do
sự thay đổi trong mô hình phát triển kinh tế, sự thay đổi kinh tế trong và ngoài nước mà vai trò và vị trí của nông thôn đang ngày một mai một Sự phân hoá giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị đang ngày càng sâu sắc Hiện tượng lao động từ các vùng nông thôn di chuyển ra thành phố ngày càng phổ biến đã gây ra những ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế xã hội, đó là về đề dân cư,
Trang 10văn hoá và xã hội
Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp để hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế kinh tế thị trường và hội nhập thông qua việc triển khai thực hiện các chương trình lớn ở nông thôn như đầu tư cho các xã đặc biệt khó khăn (Chương trình 135), đầu tư cho các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, … Ở cơ sở, các địa phương cũng đã có nhiều chương trình, kế hoạch, đề án, để xây dựng và phát triển nông thôn Tuy nhiên nông thôn nước ta có phạm vi phân bố rộng lớn, phức tạp, cơ sở nền tảng cho phát triển kinh tế yếu kém nên tình trạng kinh tế, văn hoá xã hội kém phát triển ở nông thôn vẫn là phổ biến
Để rút ngắn khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị, Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X ra Nghị quyết 26 về
“Nông nghiệp, nông dân và nông thôn” Trên tinh thần đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành “Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới” (Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009) và “Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới” (Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 06/4/2010)
Trên tinh thần nghị quyết 26 và các quyết định có liên quan, các địa phương căn cứ và đặc điểm, nguồn lực của địa phương mình mà tiến hành các hoạt động xây dựng NTM theo các tiêu chí đã đặt ra
Huyện Vũ Quang là huyện miền núi của tỉnh Hà Tĩnh với kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn Trong triển khai thực hiện theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng NTM theo chuẩn NTM, huyện Vũ Quang đang gặp nhiều khó khăn do xuất phát điểm kinh tế thấp, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đáp ứng hết yêu cầu, đời sống của nhân dân còn khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn
Đề tài nghiên cứu: “Giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới ở
huyện Vũ Quang, Hà Tĩnh” được thực hiện với mong muốn tìm kiếm những
Trang 11giải pháp hữu hiệu góp phần xây dựng thành công nông thôn mới trên địa bàn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động tổ chức và thực hiện chương trình nông thôn mới trên địa bàn huyện Vũ Quang - Hà Tĩnh
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới
1.1.1 NTM và xây dựng nông thôn mới (NTM)
Đã có một số diễn giải và phân tích về khái niệm thế nào là NTM NTM trước tiên phải là nông thôn chứ không phải là thị tứ; đó là NTM chứ không phải nông thôn truyền thống Nếu so sánh giữa NTM và nông thôn truyền thống, thì NTM phải bao hàm cơ cấu và chức năng mới (Cù Ngọc Hưởng, 2006)
Ngày 16 tháng 4 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 491/Q Đ-TTg về Bộ tiêu chí quốc gia về NTM gồm 19 tiêu chí gồm: Tiêu chí về quy hoạch và thực hiện quy hoạch; tiêu chí về giao thông; tiêu chí về thủy lợi; tiêu chí về điện; tiêu chí trường học; tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa; tiêu chí chợ nông thôn; tiêu chí về bưu điện; tiêu chí về nhà ở dân cư; tiêu chí
về y tế; tiêu chí về văn hóa; tiêu chí về môi trường; tiêu chí về hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh; tiêu chí về an ninh, trật tự xã hội
Ngoài ra, theo thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT, ngày 21 tháng 8 năm
2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về NTM quy định: Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thể bổ sung thêm tiêu chí hoặc quy định mức đạt của các tiêu chí cho phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương nhưng không được thấp hơn mức quy định trong Bộ tiêu chí quốc gia
Từ Bộ tiêu chí quốc gia về NTM và quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ta có thể hiểu NTM là nông thôn toàn diện bao gồm tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, xã hội đến quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái và phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng
Trang 14Ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ Tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020 Tại quyết định này, mục tiêu chung của Chương trình được xác định là: “Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật
tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Như vậy, NTM là nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững
1.1.2 Vai trò của nông thôn và sự cần thiết xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay ở nước
1.1.2.1 Vai trò của nông thôn trong phát triển kinh tế xã hội
Nông thôn là nơi diễn ra phần lớn các hoạt động sản xuất nông nghiệp của các quốc gia Có thể nói nông nghiệp là chức năng tự nhiên của nông thôn Chức năng cơ bản của nông thôn là sản xuất dồi dào các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, là nguồn cung cấp nhiều đầu vào quan trọng cho công nghiệp chế biến hàng xuất khẩu
Nông thôn nước ta có một vị trí, vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc Nông thôn Việt Nam là cái nôi để cung cấp nhân lực
và vật chất trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, đồng thời Đây cũng
là nơi hình thành và lưu giữ các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Ngày nay, nông thôn là nơi cung cấp lương thực thực phẩm cho tiêu dùng xã
Trang 15hội, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, nông sản hàng hóa cho xuất khẩu, nhân lực cho các hoạt động kinh tế, trí tuệ cho nghiên cứu khoa học, tri thức cho xã hội; và đây cũng là nơi tiêu thụ lượng hàng hóa, sản phẩm lớn do xã hội sản xuất ra
Trong nông thôn truyền thống, con người và tự nhiên sinh sống hài hoà với nhau, con người tôn trọng tự nhiên, bảo vệ tự nhiên và hình thành nên thói quen làm việc theo quy luật tự nhiên Thành thị là hệ thống sinh thái nhân tạo phản tự nhiên Quá trình mưu cầu cuộc sống đầy đủ về vật chất đã khiến người thành thị càng ngày càng xa rời tự nhiên, khai thác triệt để tài nguyên
tự nhiên Nền văn minh công nghiệp đã phá vỡ mối quan hệ hài hoà vốn có giữa con người với thiên nhiên, làm phá vỡ môi trường một cách nghiêm trọng Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến con người ngày càng xa rời tự nhiên, phá vỡ thế cân bằng vốn có của tự nhiên, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống của con người
Do vậy việc bảo tồn và phát huy các giá trị hệ thống sinh thái nông nghiệp một mặt nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp các sản phẩm lương thực cho con người, mặt khác cũng đáp ứng được các yêu cầu về môi trường tự nhiên, bảo
vệ môi trường tự nhiên
1.1.2.2 Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới
Nông thôn có vai trò ngày càng quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hoá và xã hội ở Việt Nam, đặc biệt trong việc phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp và đóng góp cho phát triển kinh
tế xã hội của đất nước
Tuy nhiên, do những khó khăn nội tại của khu vực nông thôn, quá trình đô thị hoá và sự phát triển thiếu cân bằng giữa thành thị và nông thôn Việt nam
mà những vai trò to lớn của nông thôn đang ngày một suy giảm Những hạn chế này phần lớn do các đặc điểm phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay tạo
Trang 16nên, thể hiện cụ thể:
+ Kết cấu hạ tầng nông thôn yếu, thiếu và không đồng bộ Nhiều khu vực nông thôn, đặc biệt là khu vực nông thôn miền núi cơ sở hạ tầng giao thông, thuỷ lợi, điện, trường, chợ, trung tâm y tế không đáp ứng nhu cầu tối thiểu cho người dân
Điều này một mặt ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế địa phương, mặt khác ảnh hưởng đến đời sống một tỷ lệ lớn người dân sống ở nông thôn
+ Trình độ sản xuất nông nghiệp yếu kém, Sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn chế, chưa gắn chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường yếu, tỷ lệ ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp thấp
+ Thu nhập của nông dân thấp, lao động nông thôn chưa có sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn; kết cấu kinh
tế nông thôn hiện chủ yếu là kinh tế hộ gia đình, các thành phần kinh tế mang tính quy mô ít và hoạt động kém hiệu quả (như hợp tác xã nông nghiệp) do vậy tình trạng đói nghèo ở nhiều vùng nông thôn vẫn phổ biến và cũng chính những thực trạng đó đang làm ảnh hưởng đến các giá trị văn hoá truyền thống của nông thôn Việt Nam ( lễ hội, trang phục, tập quán )
Từ những thực trạng đó cho thấy việc xây dựng NTM để phục vụ mục tiêu công nghiệp hoá đất nước, tăng cường gìn giữ và phát triển văn hoá dân tộc truyền thống là một đòi hỏi tất yếu và cấp bách trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam
1.2 Tổng quan chương trình xây dựng nông thôn mới ở nước ta
1.2.1 Điều kiện ra đời, mục tiêu, nguyên tắc và phương pháp xây dựng NTM ở nước ta
a Hoàn cảnh ra đời
Việt Nam với dân số hơn 88 triệu người trong đó gần 60 triệu dân (chiếm
Trang 17hơn 67% tổng dân số) sống trong khu vực nông thôn Nhiều khu vực nông thôn điều kiện cơ sở hạ tầng rất yếu kém, kinh tế kém phát triển, trình độ văn hoá còn thấp là các nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ đói nghèo trong nông thông Việt Nam còn cao (Báo cáo các vấn đề kinh tế xã hội năm 2012- Tổng cục thống kê)
Phát triển toàn diện nông thôn là nhu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện này để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đến năm
2020
Từ thực tiến đó, 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ Tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020
b Mục tiêu
- Mục tiêu chung
Tại quyết định số 800/QĐ-TTg về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020 xác định mục tiêu chung của Chương trình là: “Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trên cơ sở những mục tiêu và định hướng xây dựng NTM, ban chỉ đạo
thực hiện Chương trình Trung ương đã đề ra bộ tiêu chí quốc gia về NTM gồm 19 tiêu chí
Trên cơ sở bộ tiêu chí này, các địa phương căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương mình mà có thể bổ sung và xây dựng các kế hoạch thực hiện và
Trang 18xác lập các tiêu chí cụ thể cho địa phương mình ( không thấp hơn mức chuẩn quốc gia)
c Nguyên tắc và phương pháp xây dựng NTM
Điều 2 Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHDT-BTC, ngày 13 tháng 4 năm 2011 (liên bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính) về hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn
2010 – 2020 đã đề ra 6 nguyên tắc trong xây dựng NTM, gồm:
(1) Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng NTM phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM ban hành tại Quyết định số 491/Q Đ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ
(2) Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định
và tổ chức thực hiện
(3) Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn
(4) Thực hiện Chương trình xây dựng NTM phải gắn với kế hoạch phát
Trang 19triển kinh tế xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng NTM đã được cấp có thẩm quyền xây dựng
(5) Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự án của Chương trình xây dựng NTM; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá
(6) Xây dựng NTM là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch, và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng NTM
1.2.2 Nội dung xây dựng NTM ở nước ta
a Quy hoạch xây dựng NTM
Quy hoạch NTM là chỉ tiêu đầu tiên trong bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu: Các địa phương căn cứ vào tình hình tài nguyên đất và nhu cầu hạ tầng địa phương mà xây dựng qui hoạch chi tiết việc sử dụng đất và xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu của địa phương ( gồm: điện, đường, trường, chợ, nhà văn hoá và trung tâm y tế )
b Phát triển hạ tầng kinh tế xã hội
- Về giao thông:
+ Hoàn thiện đường xã, liên xã, đường xã xuống thôn bằng nhựa hóa hoặc bê tông hóa theo tiêu chuẩn đường ô tô cấp VI được quy định trong TCVN 4054-2005;
+ Hoàn thiện đường trục thôn, xóm được cứng hóa theo tiêu chuẩn 22TCVN 210:1992
+ Xây dựng đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa, trong
Trang 20đó phần lớn được cứng hóa theo tiêu chuẩn 22TCVN 210:1992 (hoặc tiêu chuẩn thiết kế áo đường cứng 22 TCN 223-95);
+ Xây dựng đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện theo tiêu chuẩn kỹ thuật TCVN 4454/1987 của Bộ xây dựng
- Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn đáp ứng Quy trình kỹ thuật điện nông thôn năm
2006 (QĐKT - ĐNT-2006)
- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn:
+ Xây dựng, hoàn thiện trung tâm văn hóa, thể thao xã (gồm nhà văn hóa
đa năng và sân thể thao phổ thông) đảm bảo theo Quy chuẩn trung tâm văn hóa, thể thao xã của Bộ văn hóa, thể thao và Du lịch (ban hành kèm theo Quyết định 2448/QĐ-BVHTTDL, ngày 07/7/2009);
+ Xây dựng, hoàn thiện nhà văn hóa và khu thể thao thôn:
- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa bàn theo Quyết định 370/2002/QĐ-BYT, ngày 07/2/2002 của Bộ Y tế
- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn:
+ Hoàn thiện trường mầm non, nhà trẻ, tiểu học, trung học cơ sở có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia theo tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCVN 3978-
1984 và đảm bảo quy định theo Quyết định số 32/2005/QĐ-BGD&ĐT, ngày 24/10/2005 của Bộ Giáo dục về ban hành Quy chế chuẩn công nhận trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia;
- Về bưu điện:
+ Xây dựng điểm phục vụ bưu chính viễn thông (đại lý bưu điện hoặc ki
ốt, bưu cục hoặc điểm bưu điện – văn hóa, thùng thư công cộng, điểm truy nhập dịch vụ bưu chính, viễn thông ) với diện tích tối thiểu 150m2;
Trang 21+ Xây dựng điểm cung cấp dịch vụ truy nhập Internet ở thôn (đối với Internet băng rộng (ADSL) theo tiêu chuẩn TCN 68-227:2006 ban hành tại Quyết định định số 55/2006/QĐ-BBCVT ngày 25/12/2006 của Bộ Bưu chính viễn thông)
- Cải tạo, xây mới xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn:
+Xây dựng đê hoặc bờ bao chống lũ theo tiêu chuẩn hoàn chỉnh mặt cắt thiết kế, cứng hóa mặt đê và đường hành lang chân đê, trồng cỏ mái đê, trồng cây chân đê phía sông, phía biển; cống dưới đê vững chắc, đồng bộ với mặt cắt đê; lử lý sạt lở đảm bảo ổn định; đảm bảo môi trường xanh sạch đẹp; có ban chỉ huy phòng chống lụt bão xã, có đội quản lý đê nhân dân, đội tuần tra, canh gác đê trong mùa mưa lũ theo quy định, hoạt động có hiệu quả;
+ Hoàn thiện các công trình tưới tiêu, cấp nước công nghiệp, cấp nước sinh hoạt đảm bảo theo tiêu chuẩn thiết kế Việt Nam đối với từng loại, phát huy trên 75% năng lực thiết kế, 100% công trình có chủ quản lý đích thực; + Kiên cố hóa kênh mương (kể cả mương nội đồng);
- Hoàn chỉnh trụ sở xã: Trụ sở xã xây dựng ở nơi trung tâm, thuận tiện đối nội, đối ngoại, diện tích khuôn viên tối thiểu 1000m2, diện tích sử dụng của trụ
sở đối với khu vực đồng bằng, trung du tối thiểu 500m2, khu vực miền núi hải đảo tối thiểu 400m2; mật độ xây dựng dưới 50%, mật độ cây xanh trên 30%
- Nhà ở nông thôn: Chỉnh trang các khu dân cư hiện có; xóa nhà tạm, dột nát, xây dựng, hoàn thành nhà ở nông thôn đạt tiêu chuẩn của Bộ xây dựng, phù hợp với Quy hoạch theo Thông tư số 31/2009/TT-BXD, ngày 10/9/2009 của Bộ Xây dựng
Yêu cầu: đạt các tiêu chí 2,3,4,5,6,7,8,9 trong Bộ tiêu chí quốc gia NTM
c Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao
Trang 22- Tăng cường công tác khuyến nông; đẩy nhanh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông – lâm – nghiệp
- Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông - lâm – ngư nghiệp
- Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng một sản phẩm”, phát triển làng nghề theo thế mạnh của địa phương
- Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn
d Giảm nghèo và an sinh xã hội
- Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a của chính Phủ
- Tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo
e Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
- Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã
- Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn
g Phát triển giáo dục đào tạo
Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo: + Đạt và duy trì chuẩn quốc gia về phổ cập tiểu học, chống mù chữ Đảm bảo huy động trẻ 6 tuổi học lớp 1 đạt 90% (xã đặc biệt khó khăn đạt 80%) trở lên Ít nhất 80% (xã đặc biệt khó khăn đạt 70 %) số trẻ nhóm tuổi 11-14 tốt nghiệp tiểu học, số còn lại đang học tiểu học
+ Phổ cập giáo dục trung học Đảm bảo tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở hàng năm từ 90% (xã đặc biệt khó khăn đạt 70%) trở lên Tỷ lệ thanh thiếu niên 15-18 tuổi có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở từ 80% (xã đặc biệt khó khăn đạt 70%) trở lên
Trang 23+ Nâng cao tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục học trung học phổ thông
+ Đẩy mạnh đào tạo nghề
h Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân
- Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế (theo Quyết định 108/2007/QĐ-Tg, ngày 17/7/2007 của Thủ Tướng Chính Phủ)
-Nâng cao tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế
i Xây dựng đời sống văn hóa, thôn tin và truyền thông
Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về văn hóa Phấn đấu xã
có trên 70% số thôn, bản đạt tiêu chuẩn “Làng văn hóa” theo Quyết định 62/2006/QĐ-BVHTT ngày 23/6/2006 (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch)
- Thực hiện thông tin và truyền thông nông thôn Xã có Đài truyền thanh xã hoạt động có hiệu quả
k Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn:
+ Đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoat sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng;
+ Chỉ đạo nhân dân xây dựng hố xí đảm bảo vệ sinh
- Thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường trên địa bàn xã: + Xây dựng, cải tạo, nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn xóm Các thôn đều có tổ vệ sinh, phát quang, khơi thông cống rãnh
+ Xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải đạt yêu cầu chung theo TCVN 6696-2000 Bãi chôn lấp chất thải rắn xây dựng mới theo tiêu chuẩn thiết kế TCXDXN 261-2001
+ Chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang Nghĩa trang có khu hung táng, cát táng, nơi trồng cây xanh, lối đi thuận lợi, có quy chế quản lý nghĩa trang, mộ đặt theo hàng và xây dúng diện tích, chiều cao theo quy định đảm bảo theo tiêu
Trang 24chuẩn TCVN 7956:2008
+ Cải tạo, xây dựng các hồ sinh thái trong khu dân cư
+ Trồng cây xanh ở các công trình công cộng
l Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn
- Thành lập, duy trì đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị; đảm bảo không có trình trạng “trắng” các tổ chức này ở các thôn bản
- Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ
- Thu hút cán bộ trẻ về công tác tại xã
- Xây dựng ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng NTM
- Nâng cao chất lượng của các tổ chức trong hệ thống chính trị, phấn đấu hàng năm, tổ chức Đảng, Chính quyền đạt “trong sạch vững mạnh”, các tổ chức khác đạt danh hiệu tiên tiến trở lên theo quy định của từng tổ chức
m Giữ vững an ninh, trật tự xã hội ở nông thôn
- Ban hành, thực hiện nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu
- Hàng năm Đảng ủy có nghị quyết, UBND có kế hoạch về công tác an ninh, xã đạt đơn vị khá trở lên trong “Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, Công an xã đạt danh hiện “Đơn vị tiên tiến” trở lên
- Đảm bảo cho lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng NTM
- Không để xẩy ra các hoạt động chống đối; không để xẩy ra mâu thuẫn, tranh chấp trong nhân dân, các loại tội phạm, tai nạn giao thông giảm
1.2.3 Tổ chức thực hiện xây dựng NTM ở nước ta
a Trách nhiệm của các Bộ, ngành trung ương:
- Các Bộ, ngành được phân công thực hiện các nội dung của chương trình (tại mục IV) chịu trách nhiệm về việc xây dựng cơ chế, chính sách; hướng
Trang 25dẫn xây dựng các đề án, dự án để thực hiện các nội dung theo yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM, đồng thời, đôn đốc, kiểm tra, chỉ đạo thực hiện ở
cơ sở
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan thường trực Chương trình, có nhiệm vụ:
+ Giúp Ban Chỉ đạo Trung ương chỉ đạo thực hiện Chương trình; chủ trì
và phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm về mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp và nhu cầu kinh phí thực hiện Chương trình gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính để tổng hợp báo cáo Chính phủ;
+ Đôn đốc, kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện Chương trình của các
Bộ, ngành, cơ quan Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tổng hợp báo cáo Ban Chỉ đạo Trung ương và Chính phủ
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành có liên quan cân đối và phân bổ nguồn lực cho Chương trình thuộc nguồn vốn ngân sách Trung ương; phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng cơ chế, chính sách, quản lý thực hiện Chương trình
- Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xác định vốn từ ngân sách đối với từng nhiệm
vụ cụ thể cho các Bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện Chương trình theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước; đồng thời chịu trách nhiệm hướng dẫn cơ chế tài chính phù hợp với các Đề án, dự án của Chương trình; giám sát chi tiêu; tổng hợp quyết toán kinh phí Chương trình; cơ chế lồng ghép các nguồn vốn
- Bộ Xây dựng hướng dẫn, hỗ trợ các địa phương hoàn thành quy hoạch ở các xã theo tiêu chí NTM;
Trang 26- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện chính sách tín dụng của các ngân hàng tham gia thực hiện chương trình;
- Các cơ quan thông tin truyền thông có trách nhiệm tuyên truyền phục vụ yêu cầu của chương trình
b Trách nhiệm của địa phương
- Tổ chức triển khai các chương trình trên địa bàn;
- Phân công, phân cấp trách nhiệm của từng cấp và các ban, ngành cùng cấp trong việc tổ chức thực hiện Chương trình theo nguyên tắc tăng cường phân cấp và đề cao tinh thần trách nhiệm cho cơ sở;
- Chỉ đạo lồng ghép có hiệu quả các Chương trình, dự án trên địa bàn; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc quản lý thực hiện chương trình và thực hiện chế độ báo cáo hàng năm
c Huy động sự tham gia của các tổ chức đoàn thể:
Đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tích cực tham gia vào thực hiện Chương trình; tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”,
bổ sung theo các nội dung mới phù hợp với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM
1.3 Cơ sở thực tiễn về xây dựng nông thôn mới
1.3.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn ở một số nước trên thế giới
a Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc nằm trên bán đảo Triều Tiên, một nước từng bị đô hộ từ cuối thế kỷ 19, xuất phát điểm là một trong những quốc gia nghèo đói Cuối thập
kỷ 60 GDP bình quân đầu người chỉ có 85USD, phần lớn người dân không đủ
ăn, 80% người dân nông thôn vẫn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, ở trong những căn nhà lợp bằng lá Lúc ấy, nền kinh tế của Hàn Quốc phải dựa vào nông nghiệp trong khi khắp đất nước, lũ lụt và hạn hạn lại xảy
Trang 27ra thường xuyên Xã hội Hàn Quốc thời đó là một xã hội thờ ơ, hỗn độn và vô vọng Mối lo lớn nhất của Chính phủ là làm sao thoát khỏi đói nghèo
Sau trận lụt năm 1969, người dân phải tu sửa lại nhà cửa và đường sá
mà không có sự trợ giúp của Chính phủ Điều này làm Tổng thống suy nghĩ rất nhiều và nhận ra rằng “viện trợ của Chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự giúp chính mình” Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp đỡ nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn Những ý tưởng này chính là nền tảng của phong trào xây dựng NTM (Saemaul Udong)
Từ đó đến nay, phong trào Saemaul Udong đã thu được những thành tựu rất to lớn, sau 40 năm đưa đất nước Hàn quốc từ nghèo đói sang một nước phát triển, nằm trong tốp G20 của thế giới với thu nhập bình quân đầu người hơn 30.000 USD/năm
Từ sự thành công trong xây dựng NTM của Hàn Quốc, chúng tôi rút ra njh]ngx kinh nghiệm sau đây:
(1) Đoàn kết nhân nhân, khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường trong nhân dân để xây dựng NTM:
Phong trào Saemaul Udong không đơn thuần là một kế hoạch hành động mà còn là cả một cuộc cải tổ về ý thức dựa trên tinh thần Ngay từ đầu, Chính phủ đã truyền cho người dân ý thức “nhất định phải làm”, “đã làm là được”, “tất cả đều có thể làm được”
Nhờ được tuyên truyền tốt, người dân nhận thức được rằng phong trào Saemaul Udong là một cuộc cải tổ vì một cuộc sống tốt đẹp hơn cho cả cộng đồng chứ không chỉ đối với từng cá nhân đơn lẻ Sự thịnh vượng ở đây không chỉ bó hẹp ở ý nghĩa vật chất, nó còn bao hàm cả ý nghĩa tinh thần, không chỉ cho thế hệ hôm nay mà còn cho cả con cháu mai sau Mục tiêu của phong trào SaemaulUdong là xây dựng nền tảng cho một cuộc sống tốt đẹp hơn cho mỗi
Trang 28gia đình, làng xã góp phần vào sự tiến bộ chung của cả quốc gia
Để đoàn kết, tập hợp nhân dân trong sự nghiệp chung, Phong trào Saemaul Udong đề cao ba phẩm chất chính, đó là “ Sự cần cù, tự lực và hợp tác” Cần cù mang lại tính chân thật, không cho phép sự giả tạo và thói kiêu căng ngạo mạn Tính tự lực giúp cho con người tự quyết định vận mệnh của chính mình, không phải nhờ cậy đến bất kỳ sự giúp đỡ nào từ bên ngoài Hợp tác dựa trên mong muốn phát triển chung cả cộng đồng để nỗ lực vì mục tiêu chung Chính vì vậy ba nguyên tắc chủ yếu của phong trào Saemaul cũng chính là hạt nhân của công cuộc xây dựng một xã hội tiên tiến và một quốc gia thịnh vượng
(2) Kích thích sự tham gia bằng những lợi ích thiết thực:
Giai đoạn đầu của sự nghiệp xây dựng NTM, Chính phủ Hàn Quốc không
có nhiều kinh phí, do đó, Chính phủ đã khéo léo sử dụng chính sách kích cầu đầu tư, huy động sức mạnh của nhân dân
Năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc đưa ra thử nghiệm 10 dự án lớn trong phát triển nông thôn, bao gồm mở rộng và nắn thẳng đường sá, làm lại mái nhà bếp và hàng rào, xây dựng giếng nước công cộng và khu giặt giũ công cộng… vv Kinh phí để thực hiện các dự án này phần lớn dựa vào quỹ của xã
và lực lượng lao động sẵn có, Chính phủ chỉ cấp miễn phí cho mỗi xã trung bình 355 bao xi măng Kế hoạch triển khai trên quy mô toàn quốc và hơn 33.000 xã được nhận hỗ trợ Kết quả là mười sáu nghìn xã tức là phân nửa số
xã ở nông thôn đã được cải thiện rõ rệt Toàn bộ kế hoạch đều do chính ủy ban xã đó quản lý
Tới năm thứ hai, Chính phủ quyết định tiếp tục giúp đỡ những xã đã tự biết đứng lên bằng cách cấp thêm cho mỗi xã 500 bao xi măng và một tấn thép Nhờ đó, nhà tranh vách đất được dần thay thế bằng nhà mái ngói và tường xây Khắp nơi trên các làng xã, đường sá được mở rộng, đê điều được
tu bổ và cầu cống được xây dựng Làng xã phát triển chóng mặt, người dân
Trang 29nông thôn lấy lại được sự tự tin vốn có, những người trước đây sống rất thờ ơ giờ cũng bắt tay xây dựng lại ngôi làng của chính mình
Năm thứ 3, Chính Phủ Hàn Quốc đã đề ra chủ trương những làng tích cực thì được hỗ trợ nhiều Chính phủ đã chia tổng số 33.267 xã của cả nước thành 3 nhóm, trong đó, nhóm làng tích cực chiếm 6,7%, nhóm làng trung bình chiếm 40,2%, nhóm làng cơ bản chiếm 53,1% Chính phủ quy định, những làng thăng hạng sẽ được thưởng 2000 USD Do đó, chỉ sau 3 năm (năm 1976), tỷ lệ nhóm làng cơ bản chỉ còn có 0,9% nữa Những làng làm tốt cảm thấy họ được Chính phủ đền ơn Nhờ đó mà nông thôn nước Hàn đã thay đổi mạnh mẽ
Nhờ khơi dậy nội lực của nông dân mà nông thôn Hàn Quốc đã có những biến đổi to lớn Cuối những năm 80, Nông thôn Hàn Quốc đã biểu hiện có những dấu hiệu của sự phát triển và đô thị hóa
(3) Phát triển kinh tế hộ và các loại hình kinh tế có sức cạnh tranh cao:
- Đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ “Quan điểm của Hàn Quốc là không kêu gọi đầu tư nước ngoài cho nông nghiệp vì lo ngại lợi nhuận các công ty nước ngoài hưởng còn nông dân suốt đời làm thuê” (Lee Sang Mu, Cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về Nông – lâm – ngư nghiệp) Chính vì vậy, Chính phủ Hàn Quốc chủ trương hỗ trợ để nông dân tự mình đứng lên trở thành người chủ đích thực
- Thành lập các khu liên hiệp nông nghiệp trồng các sản phẩm đem lại lợi nhuận cao như nấm, thuốc lá để gia tăng tổng thu nhập Các khu liên hiệp này trồng cây trong nhà kính, sản phẩm rau sạch có thể thu hoạch ngay giữa mùa đông Khi làm việc tập thể, người nông dân cũng giảm được các chi phí không cần thiết so với làm việc đơn lẻ nên làm tăng hiệu quả sản xuất
- Chính phủ cho xây dựng các nhà máy ở nông thôn để gia tăng thu nhập Các nhà máy đã tạo việc làm và tăng thu nhập cho nhiều phụ nữ Kết quả là thu nhập ở nông thôn tăng đều đặn Năm 1977, có 98% các xã đã có
Trang 30thể độc lập về kinh tế
(4) Đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân:
Chính phủ luôn đóng vai trò cốt yếu trong việc gia tăng thu nhập cho người dân nông thôn Đi kèm với việc phát triển hạ tầng và tăng cường các cơ
sở đào tạo nghề nông, đưa tiến bộ KHKT, các loại giống mới như nấm, cây thuốc lá được đưa vào sản xuất Các làng xã và xí nghiệp đều được trang bị thư viện Saemaul và các phương tiện vui chơi giải trí khác Đặc biệt, thư viện
ở nông thôn đều có sách về các phương pháp canh tác mới Đây là bước đột phá lớn ở nông thôn và là nguyên nhân chính gia tăng thu nhập Năm 1974, sản lượng lúa tăng đến mức độ cố thể tự cấp tự túc Phổ biến kiến thức nông nghiệp đã tạo nên một cuộc cách mạng trong phương pháp canh tác Nuôi lợn,
bò, gà cũng đem lại lợi nhuận đáng kể Các làng chài cũng chuyển từ đánh bắt sang nuôi trồng thủy sản Tập quán trồng lúa và lúa mạch xưa kia đã được thay thế triệt để bằng các phương pháp canh tác tổng hợp
Khi đất nước đã giàu có, Chính phủ Hàn Quốc có thêm nhiều chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển khoa học công nghệ phục vụ nông nghiệp, nông thôn Năm 1995, Trung tâm Nghiên cứu và Xúc tiến Phát triển nông nghiệp (ARPC) được thành lập Trung tâm này đảm nhận hỗ trợ nghiên cứu và triển khai (R&D) trong nông nghiệp với kinh phí hoạt động lên tới 358 triệu USD
và hàng năm lại tăng thêm 6,4% (trong khi thu ngân sách chỉ tăng 4,1%/năm) Ngoài ra, Chính phủ còn đầu tư vào Chương trình Hỗ trợ phát triển cụm nông nghiệp với kinh phí rất lớn (năm 2005 là 12,6 triệu USD, năm 2006
là 20,9 triệu USD) nhằm mục đích phát triển hệ thống liên vùng kết nối giữa các nhà nghiên cứu, các viện nghiên cứu, các ngành công nghiệp và chính quyền địa phương nhằm giúp nông dân tiếp cận nhanh nhất với dịch vụ hỗ trợ
kỹ thuật và marketing
(5) Xây dựng trật tự, kỷ cương và nếp sống lành mạnh trong xã hội:
Trang 31Thành công của phong trào Seamaul ở nông thôn lan tới các vùng không làm nông nghiệp như trường học, công sở, thành phố, nhà máy với nhiều lĩnh vực khác nhau Các thành phố bắt đầu các dự án chống tham nhũng và xây dựng một đô thị hoàn hảo Ba chiến dịch Seamaul Udong đã được phát động
là chiến dịch tinh thần, cư xử và môi trường
Chiến dịch tinh thần bao gồm mối quan hệ thân thiện hơn với láng giềng,
kế thừa và phát huy những truyền thống dân tộc dựa trên lòng hiếu thảo và nâng cao ý thức cộng đồng Chiến dịch cư xử nhấn mạnh tới trật tự công cộng trên đường phố, những cách ứng xử tích cực, hành vi nơi công cộng và cấm say rượu dẫn tới cư xử không đúng đắn Chiến dịch môi trường nhấn mạnh vấn đề vệ sinh khu vực đang sống và làm việc, gìn giữ môi trường đường phố
và phát triển màu xanh ở thành phố cũng như các con sông
Tại nơi làm việc, các chiến dịch tập trung chủ yếu vào việc tạo ra các giá trị và niềm tin lành mạnh cùng với cung cách ứng xử xã hội đúng mực giữa những người đồng nghiệp Mục tiêu chính là tạo ra sự thống nhất và kỷ cương, giúp phát triển nông thôn và giúp những người vô gia cư
Tại nhà máy, phong trào Seamaul hướng tới khôi phục niềm tin và nâng cao khẩu hiệu “ mọi công nhân trong nhà máy đều là thành viên trong một gia đình, việc của nhà máy là việc của bản thân”, đoàn kết, đồng lòng cùng xây dựng nhà máy phát triển vững mạnh Việc củng cố nền tảng cho sự ổn định của các ngành công nghiệp được chú trọng bằng cách thu hẹp khoảng cách về
hệ thống giá trị giữa công nhân và giới chủ và xây dựng những quy tắc ứng
xử lành mạnh Thêm vào đó, dịch vụ công cộng ở nông thôn cũng là một cách
để xây dựng những quy tắc đạo đức đúng đắn
(6) Phân cấp phân quyền và thực hiện dân chủ trong quản lý và thực hiện
dự án:
Trong thời kỳ đầu, phong trào Saemaul bắt đầu bằng việc Chính phủ giao quyền tự quản rộng rãi cho chính quyền xã Bộ Nội vụ khi đó được giao
Trang 32đảm trách vấn đề này Một số các cơ quan ban ngành khác của Chính phủ cũng tham gia hỗ trợ thực thi công cuộc này trong đó có cả chính quyền địa phương cấp tỉnh và cấp huyện
Hội đồng xã và thị trấn thành lập Ủy ban điều hành để đảm bảo kế hoạch được thực thi suôn sẻ Các làng đều có một người lãnh đạo (nam hoặc nữ) song hành cùng với ban phát triển tự quản
Ban phát triển tự quản có hai phân ban chính của phụ nữ và thanh niên cùng với một số tiểu ban khác Họ có nhiệm vụ lập kế hoạch và điều hành các tiểu ban để tăng được thu nhập xã và thúc đẩy những giá trị và tư tưởng tiến bộ Các dự án Saemaul do hội đồng cấp huyện quyết định và phải có sự nhất trí của Chánh án Tiêu chí chọn dự án mới là sự cần thiết đối với người dân, điều kiện sống được cải thiện cho tất cả người dân trong vùng và lợi ích lâu dài của dự án
Mỗi tháng ít nhất hai lần có viên chức nhà nước tới để kiểm tra và hướng dẫn tiến độ của sáng kiến quốc gia theo chức trách Lãnh đạo của các phân ban có nhiệm vụ báo cáo tóm tắt hàng tháng và tổng kết tiến độ hàng năm Đánh giá từng giai đoạn là một bước rất quan trọng Có ba báo cáo chính: báo cáo tiền dự án, báo cáo lâm thời và báo cáo tổng kết dự án Hiệu quả của dự án trước được nghiên cứu rất kỹ lưỡng để phát triển tiếp những dự
án mới Các bản báo cáo tổng kết dự án được sử dụng rộng rãi trong chế độ
bổ nhiệm cán bộ xã
(7) Tăng cường năng lực của lãnh đạo địa phương:
Sau một năm thực hiện kế hoạch, Chính phủ đã nhận ra tầm quan trọng của người lãnh đạo Những nơi có người lãnh đạo đã triển khai dự án rất tốt, theo đúng đường lối của nhà nước còn những nơi không có người lãnh đạo thường tiêu phí tài nguyên vô ích Chính vì vậy, phải có người lãnh đạo tận tâm
Nhận ra được tầm quan trọng của người cầm đầu dự án, năm 1972, Chính phủ đã thành lập Học viện Bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo Saemaul Mỗi xã được
Trang 33phép cử một cán bộ (nam hoặc nữ) đi học Khoá học bồi dưỡng lãnh đạo nhấn mạnh vào sự cống hiến quên mình và nêu gương cho quần chúng Họ học trong một lán trại chung, do đó hiểu được cách làm việc theo nhóm trên tinh thần hợp tác Trong mỗi buổi thảo luận nhóm, các thành viên chia sẻ kinh nghiệm làm việc và do đó có thể học tập lẫn nhau bên cạnh sự hướng dẫn và trợ giúp của giáo viên Chính những học viên này sẽ là những người lãnh đạo
và hướng dẫn cho dân làng Tại thời điểm bấy giờ, khi vai trò của phụ nữ còn chưa được coi trọng thì sự tham gia của một bộ phận nữ giới trong khoá học
đã tạo ra sự khác biệt căn bản Phụ nữ đứng ra gây quỹ cho địa phương, họ tiết kiệm thực phẩm và tham gia vào phong trào giữ sạch đẹp làng xã Ngoài
ra, họ còn góp phần tích cực trong việc ngăn ngừa nạn rượu chè, cờ bạc
(8) Thực hiện các chính sách hỗ trợ cho nông dân:
Để nông thôn có đủ nguồn lực và liên tục phát triển, Hàn Quốc đã tìm mọi cách Cụ thể là:
- Áp dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy nông nghiệp, điện giá
rẻ cho chế biến nông sản;
- Cho nông dân thuê máy nông nghiệp;
- Giảm lãi suất tiền vay 2% so với các ngành nghề khác cho những dự
án đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn;
- Ban hành đạo Luật “Các ngành phải trợ giúp nông nghiệp, nâng cao đời sống nông dân và ngư dân”
Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân tham gia mô hình du lịch làng với chiến dịch “Mỗi công ty - Một làng nông nghiệp” Thường thì mỗi doanh nghiệp đăng ký “đỡ đầu” cho một làng, mức tiền đầu tư mà nhà nước khuyến khích là tối thiểu 300.000 USD/làng Tập đoàn Hyundai hiện đang giúp đỡ 66 làng trên toàn quốc Hàng năm Hyundai bố trí một lực lượng nhân viên, công nhân của mình về các làng này giúp đỡ nông dân gặt lúa, thu
Trang 34hoạch mùa màng, tham gia sửa nhà, sửa đường, chữa xe và khuyến khích nhân viên tiêu thụ các loại nông sản cho nông dân
Bên cạnh đó, Chính Phủ Hàn Quốc còn:
- Hỗ trợ tài chính cho nông dân: Những nông dân có độ tuổi trên 65 được
hỗ trợ nhượng bán hoặc cho thuê đất Chương trình này bắt đầu từ năm 1997, theo đó, người trên 65 tuổi khi nhượng, bán hoặc cho thuê đất với thời hạn trên 5 năm sẽ được hỗ trợ 3000 USD/ha
- Thực hiện hỗ trợ cho lao động trẻ nhằm chống lại xu hướng già hóa lực lượng lao động nông nghiệp và khuyến khích chuyên môn hóa Theo đó, hàng năm, Nhà nước chọn khoảng 1.000 lao động trẻ dưới 35 tuổi cho họ tiếp nhận khoản vốn vay ưu đãi với mức tối đa tương đương 75.000 USD để họ tham gia hoạt động nông nghiệp
- Áp dụng chính sách chỉ bán đất sản xuất nông nghiệp cho những người đăng ký là nông dân
- Thực hiện chính sách người từ thành phố về sinh sống ở nông thôn được trợ cấp lần đầu 50.000 USD và nhiều ưu đãi khác
b Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn, có dân số trên 1,3 tỷ người, trong
đó nông dân sống ở nông thôn gần 900 triệu người Dân số của Trung Quốc chiếm 21% dân số thế giới, trong khi đó, diện tích đất canh tác chỉ chiếm có 9% của thế giới Lại xuất phát điểm là một nước nghèo nhưng nhờ có công cuộc cải cách mở cửa, Trung Quốc đã trỗi dậy như một hiện tượng thần kỳ của khu vực Châu Á và trên thế giới
Với một diện tích đất canh tác ít ỏi như vậy, để nuôi sống 21% dân số của thế giới là một bài toán hóc búa Lời giải cho bài toán đó chính là chính sách Tam nông của Trung Quốc mà nhiều người gọi là “Quốc sách”
Thành công của chính sách Tam nông của Trung Quốc cho phép chúng ta
Trang 35rút ra những bài học sau đây:
(1) Cải tổ việc quản lý trong nông nghiệp:
Công cuộc cải cách nông thôn của Trung Quốc qua nhiều dấu mốc, trong đó những mốc quan trọng là xóa bỏ công xã nhân dân; xác lập thể chế kinh doanh 2 tầng kết hợp, lấy kinh doanh bao thầu gia đình làm cơ sở; mở cửa toàn diện thị trường nông sản; xóa bỏ thuế nông sản; xóa bỏ thuế nông nghiệp và thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nông dân
Nổi bật trong việc cải tổ quản lý trong nông nghiệp là:
- Xóa bỏ công xã nhân dân Công xã nhân dân được hình thành từ thời “Đại nhảy vọt” (1958), vốn là cấp bậc cao nhất trong ba cấp bậc hành chánh ở nông thôn Trung Quốc Nó là đơn vị tập thể hóa lớn nhất, được chia thành những đội
và đoàn sản xuất Các công xã nhân dân vừa có chức năng kinh tế, chức năng chính trị và chức năng chính quyền Bước vào thời kỳ cải cách mở cửa, hình thức Công xã nhân dân đã bộc lộ nhiều khuyết tật, trở thành lực cản của sự phát triển Vì vậy, đến năm 1985 Trung Quốc đã quyết định xóa bỏ công xã nhân dân
và thay thế chúng bằng bằng các Hương Làng Xóa bỏ Công xã nhân dân đã đặt các thành phần kinh tế cùng bình đẳng trong cơ chế thị trường
- Đổi mới cơ chế quản lý như thực hiện cơ chế “hai mở một điều chỉnh” Hai mở là mở cửa giá thu mua theo cơ chế thị trường, mở cửa thị trường mua bán lương thực Một điều chỉnh là chuyển từ trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân như trợ cấp giống, phân bón, vật tư, máy móc
Việc đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp đã thực sự cởi trói cho nông dân, thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển mạnh trong những năm vừa qua
(2) Nguồn lực của Nhà nước tập trung cho kết cấu hạ tầng:
Để thúc đẩy phát triển kinh tế và cải thiện đời sống dân sinh ở nông thôn, Chính phủ Trung Quốc đã huy động nhiều nguồn lực cho xây dựng kết cấu hạ
Trang 36tầng ở nông thôn Ngân sách nhà nước chủ yếu được sử dụng cho làm đường giao thông, xây dựng công trình thủy lợi, trường học, cơ sở y tế chỉ một phần nhỏ dùng để xây nhà cho người dân Nhờ đó, đến năm 2010, nông thôn Trung Quốc có kết cấu hạ tầng tương đối hoàn chỉnh Cụ thể là:
- 95% số thôn có đường bộ đến trung tâm thôn;
- 98,7% số thôn có điện;
- 97,6 % số thôn có điện thoại;
- Cải tạo và xây dựng mới 188.000 trạm y tế hương, trấn; trang bị thêm thiết
bị y tế cho 117.000 trạm y tế
Chỉ tính riêng trong 5 năm tài chính 2005 – 2010, Nhà nước Trung Quốc đã xây mới và cải tạo 1,3 triệu km đường nông thôn, cải tạo 22.000 trường tiểu học
và trung học nông thôn không an toàn
Nhờ tập trung nguồn lực của Nhà nước vào xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn nên hạ tầng của nông thôn Trung Quốc khá đồng bộ theo quy hoạch thống nhất, dần thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn với thành thị
(3) Phát triển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn để tạo việc làm tại chỗ, nâng cao nhu nhập cho người dân:
Song song cới việc thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển mạnh mẽ để đảm bảo an ninh lương thực, ổn định đời sống nhân dân, Trung Quốc tìm cách để phát triển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn để giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân
Hiện nay, cơ cấu lao động nông thôn Trung Quốc cũng chuyển dịch rất mạnh, 226 triệu lao động nông thôn chuyển sang chế độ làm thuê trong các xí nghiệp hoặc các ngành dịch vụ khác Đạt được thành tựu đó là nhờ Trung Quốc
đã phát triển mạnh các doanh nghiệp ở nông thôn
Chính phủ Trung Quốc đặc biệt chú trọng phát triển các doanh nghiệp hương trấn (town village enterprises, TVEs) Về hình thức, phần lớn TVEs do
Trang 37chính quyền hương trấn ở địa phương sỡ hữu, một loại sở hữu tập thể giống như hợp tác xã, nhưng trên thực tế, các loại doanh nghiệp này hoạt động như doanh nghiệp tư nhân Cùng với sự phát triển của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, TVEs là một trong hai đầu máy kéo lực lượng sản xuất của Trung Quốc theo hướng hiệu suất hoá và tăng năng lực cạnh tranh Từ năm 1986 đến năm 1997, tỷ lệ của TVEs trong tổng xuất khẩu của Trung Quốc đã tăng từ 9% lên đến 46% (Lin and Yao 2001, tr.147) Vào những năm đầu trong quá trình cải cách của Trung Quốc, TVEs chỉ chiếm dưới 10% lực lượng lao động có việc làm ở nông thôn, nhưng đến giữa thập niên 1990 tỷ lệ đó đã tăng lên gần 30% Tỷ lệ của TVEs trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của Trung Quốc
đã tăng từ 10% năm 1980 lên tới 58% năm 1997 (Lin and Yao 2001, tr 146) Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn, nhanh chóng đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; phát triển các ngành sản xuất cần nhiều lao động; mở rộng các ngành nghề dịch vụ ở nông thôn là chìa khóa giúp Trung Quốc thành công trong chính sách “Li nông, bất ly hương” Việc thực thi chính sách “cho nhiều, thu ít, tạo nhiều việc làm” đã mở rộng con đường giúp nông dân tăng thu nhập
(4) Có nhiều chính sách hỗ trợ nông dân, đảm bảo an sinh xã hội:
Đến năm 2009, thu nhập bình quân của cư dân nông thôn Trung Quốc đã đạt 5000 nhân dân tệ Theo Giáo sư – Tiến sỹ Lý Ninh Huy là nhờ Trung Quốc đã áp dụng nhiều chính sách hỗ trợ nông dân, đảm bảo an sinh xã hôi Những chính sách cụ thể là:
- Xóa bỏ thuế nông nghiệp (gồm cả thuế chăn nuôi, thuế đặc sản)
- Thực hiện giáo dục nghĩa vụ (9 năm) miễn phí Chính sách “lưỡng miễn nhất bổ” (bao gồm miễn sách vở, các khoản tạp phí và trợ cấp tiền sinh hoạt phí cho học sinh nội trú thuộc gia đình khó khăn Hàng năm có khoảng 150 triệu gia đình có con học tiểu học và trung học được hưởng chính sách này,
Trang 38làm giảm một gánh nặng đáng kể cho nông dân
- Hỗ trợ học nghề cho các tầng lớp thu nhập thấp Trung bình mỗi năm Chính phủ Trung Quốc đã giúp cho khoảng 8 triệu người, chủ yếu là con em nông thôn có việc làm Riêng 5 năm 2005-2010, Chính phủ Trung Quốc đã chi cho lĩnh vực này khoảng 66, 6 tỷ nhân dân tệ
- Thành lập chế độ bảo đảm mức sinh hoạt thấp nhất ở nông thôn Chính sách này được thực thi từ năm 2007 Đã có 35,5 triệu nông dân được đưa vào chính sách bảo hiểm này.Thực hiện chế độ y tế hợp tác kiểu mới, 730 triệu nông dân được hưởng chính sách này
- Hỗ trợ về giá mua giống, mua thiết bị, máy móc và vốn cho nông dân;
hỗ trợ thu mua lương thực cho nông dân không thấp hơn giá thị trường
- Trợ cấp 13% trên tổng giá trị hàng hóa khi nông dân mua sản phẩm đồ gia dụng, ô tô, xe máy tại các xã ( do nhà nước định hướng)
Bên cạnh việc áp dụng các chính sách trên, Chính phủ Trung Quốc đã xử
lý nghiêm nạn loạn thu phí và công bố công khai, minh bạch về giá và phí nông nghiệp, chính sách trợ cấp, đền bù và việc chuyển đổi thành tiền mặt đối với trợ cấp lương thực Nhờ đó, cả đời sống vật chất lẫn tinh thần cũng như các thể chế về chính trị, văn minh tinh thần không ngừng mở rộng
(5) Phát triển nền nông nghiệp hiệu quả cao:
Trước năm 2000, ngành nông nghiệp Trung Quốc chủ yếu làm sao cho đảm bảo ổn định đời sống nhân dân nhưng sau ngày gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), ngành nông nghiệp của Trung Quốc đã nhìn thấy bất lợi của nông dân Vào thời điểm năm 2001, giá cả các mặt hàng lúa mì, đậu nành, ngô, vải sợi, dầu thực phẩm và đường cao hơn mức giá thế giới từ 10 đến 70%, trong khi đó, thịt, rau quả, hải sản lại thấp hơn mức giá thế giới 40-80%
Từ đó, Trung Quốc đã tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng cố gắng khai thác lợi thế, nâng cao năng suất, chất lượng, đồng thời căn cứ vào
Trang 39nhu cầu của thị trường, đưa ra các biện pháp thích hợp cho từng khu vực để điều chỉnh và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp
Theo đó, Trung Quốc đã thực hiện kế hoạch sản xuất lương thực trên quy
mô lớn để đảm bảo an ninh lương thực, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu rau quả là những sản phẩm có tỷ trọng lao động cao, tập trung làm vườn, nuôi trồng thủy sản, sản xuất đậu nành, chăn nuôi bò sữa
Để giúp nông dân sản xuất ổn định, Trung Quốc khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh nông sản Tính đến cuối năm 2007, Trung Quốc có khoảng 154.842 doanh nghiệp kinh doanh nông sản, kéo theo sự phát triển của hơn 90,9 triệu hộ sản xuất
Cùng với việc đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, việc tái
cơ cấu lại ngành nông nghiệp, khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh nông sản đã đảm bảo cho Trung Quốc có một nền nông nghiệp hiệu quả cao, góp phần vào sự tăng trưởng thần kỳ trong những năm vừa qua Đến nay, Trung Quốc có nhiều sản phẩm nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn của thế giới như thịt lợn (chiếm 46% sản lượng thế giới), bông sợi (24%), trà (23%) Sản xuất thủy, hải sản tăng gấp 3 lần trong 10 năm qua Trung Quốc đứng thứ 8 thế giới trong xuất khẩu nông sản
(6) Trừng trị tham nhũng, xây dựng chính trị mạnh ở nông thôn:
Để cho nông thôn phát triển nhanh và lành mạnh, Trung Quốc quan tâm việc xây dựng hệ thống trừng trị và phòng ngừa tham nhũng hủ bại, đồng thời xây dựng đảng liêm chính ở nông thôn
Xây dựng hệ thống chính trị mạnh, ngăn ngừa tham nhũng không những
có ý nghĩa về chính trị mà còn thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc phát triển trên cơ sở lấy được lòng tin của nông dân, từ đó lãnh đạo nông dân trong công cuộc xây dựng NTM
Kinh nghiệm thực hiện chính sách tam nông ở Trung Quốc là bài học cho
Trang 40chúng ta trong chiến lược đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, nhằm rút ngắn khoảng cách giàu - nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nông dân
1.3.2 Kinh nghiệm trong nước
1.3.2.1 Kinh nghiệm ở tỉnh Tuyên Quang
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi, kinh tế còn gặp nhiều khó khăn Do vậy, xuất phát điểm để thực hiện xây dựng nông thôn mới còn thấp Để khắc phục những tồn tại, Tuyên Quang đã tập trung đẩy mạnh tuyên truyền, vận động để thu hút các nguồn lực vào xây dựng hạ tầng nông thôn
Để góp phần thực hiện thành công nhiệm vụ trên, chính quyền địa phương kết hợp với cơ quan báo chí của địa phương đã dành nhiều thời lượng
và dung lượng tuyên truyền vận động người dân tham gia, góp sức thực hiện Thông qua công tác tuyên truyền, vận động với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân hưởng lợi”, đã gây dựng được niềm tin
và sự đồng thuận để thực hiện phong trào xây dựng nông thôn mới
Là tỉnh không có cửa khẩu, không có cảng biển, giao thông khó khăn, xuất phát điểm thấp nên việc triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gặp không ít khó khăn Vì vậy, khi thực hiện triển khai Chương trình này, Tuyên Quang không đồng loạt triển khai thực hiện cả 19 tiêu chí, mà chỉ lựa chọn những tiêu chí phù hợp với điều kiện của địa phương ưu tiên làm trước Theo Đề án bê tông hoá đường giao thông nông thôn của Tuyên Quang, 5 năm (2011-2015), toàn tỉnh phấn đấu làm 2.183,88
km Tuy nhiên, đến hết năm 2012, các xã đã hoàn thành 470 km Bên cạnh nguồn kinh phí của tỉnh hỗ trợ về xi măng, ống cống, toàn tỉnh đã huy động được trên 300 tỷ đồng thông qua việc đóng góp của nhân dân Nhiều cá nhân,
hộ gia đình đã tự nguyện hiến đất để làm đường bê tông nông thôn
Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, nhiều xã trên địa bàn Tỉnh không trông chờ, ỷ lại mà huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, phát