1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ VÀ CẢNH BÁO CÁC LỐI ĐI LỞ TUYẾT TRONG THỜI GIAN THỰC TẾ DỰA VÀO GPS

31 225 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 2,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, cần một thiết bị định vị chính xác để giúp các du khách leo núi di chuyển một cách toàn trong những vùng có nguy cơ sạt lở Bài báo này trình bày việc thiết kế và thực hiện hệ thốn

Trang 1

HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ VÀ CẢNH BÁO CÁC LỐI ĐI LỞ TUYẾT TRONG THỜI GIAN

THỰC TẾ DỰA VÀO GPS

I Tổng quan

Hoạt động sạt lở tuyết thường xuyên và tầm nhìn đường kém do thời tiết xấu làm cho khối tuyết bám ở các vùng núi kém an toàn cho du lịch vào mùa đông Do đó, cần một thiết bị định vị chính xác để giúp các du khách leo núi di chuyển một cách toàn trong những vùng có nguy cơ sạt lở

Bài báo này trình bày việc thiết kế và thực hiện hệ thống định vị và cảnh báo dựa vào thiết bị cầm tay GPS, nó có khả năng chuyển hướng an toàn cho du khách leo núi ở khu vực sạt

lở dễ dàng hơn

Mô tả:

Hệ thống sử dụng một GPS cầm tay với độ chính xác của vị trí 2-5 m Một ứng dụng tùy chỉnh đã được thiết lập để xem bản đồ, định vị, theo dõi và đưa ra cảnh báo con đường có dấu vết và xảy ra lở tuyết trên cơ sở các dữ liệu những con đường xảy ra lở tuyết đã được ghi nhận

Ứng dụng này cập nhật cho du khách tại các khoảng thời gian định sẵn vào các vị trí hiệntại của các du khách là nằm bên trong hay bên ngoài con đường tuyết lở Khi du khách tiến vào khu vực dễ bị sạt lở, cảnh báo dưới dạng tin nhắn văn bản và tin nhắn thoại được phát ra bởi thiết

Trong việc kiểm tra của nhiều dấu vết, hệ thống này đã chứng minh độ chính xác cao và

sự lặp lại ở các vị trí sạt lở đã được ghi nhận tại các đường dốc hoặc ở các vùng đất trống

Trang 2

Phân tích về các kết quả thử nghiệm cho thấy rằng hệ thống này có thể giúp du khách ở vùng núi bị bám tuyết như một công cụ định vị và cảnh báo, sử dụng các vị trí lở tuyết đã được ghi nhận một cách chính xác và các vùng đệm xung quanh các vị trí đó.

Nhược điểm:

Độ chính xác lại giảm đi ở những khu rừng, thung lũng hẹp

II Giới thiệu hệ thống định vị:

Sự di chuyển của con người trong những vùng núi cao có tuyết bám ở dãy Himalaya ở

Ấn Độ thường xuyên bị ảnh hưởng bởi các mối nguy hiểm sạt lở và các vấn đề tầm nhìn kém do

sự bảo phủ của tuyết và điều kiện thời tiết xấu

Sự xuất hiện của sạt lở là nguyên nhân gây ra hiểm họa, thiệt hại, ảnh hưởng xấu đến con người và tài sản

Do đó, khi đi đường dài cần nhận thức được các rủi ro và thực hiện các biện pháp phòng ngừa để giảm đến mức tối thiểu các tổn thất do bất kỳ thảm họa nào Để an toàn và di chuyển chính xác ở địa hình đồi núi như vậy, các du khách cần nắm thông tin chính xác về cả tuyến đường bị lạc và cả các mô hình không gian và thời gian về tuyết lở, để tránh các vị trí sạt lở và lựa chọn các tuyến đường sai trong khi di chuyển

Tuy nhiên, cần có kiến thức về tuyết lở, cũng như kiến thức về các mô hình địa phương

về sự hoạt động sạt lở (qua kinh nghiệm), là rất quan trọng để dự đoán sạt lở (McCollister và cộng sự 2002).Từ đó lập bản đồ nguy cơ xảy ra rủi ra và chuyển hướng an toàn

Trong nhiều thập kỷ, các nhà nghiên cứu đã phát triển về các mô hình vật lý, thống kê và các mô hình thực nghiệm mô tả sự tương tác giữa sự bao phủ của tuyết phủ, bầu không khí và bề mặt trái đất Mặc dù những mô hình này đã được cải thiện những kiến thức về hiện tượng sạt lở tuyết, nhưng nó vẫn dự đoán các trận tuyết lở và đánh giá rủi ro rất khó khăn bởi vì các mối quan

hệ phức tạp của các yếu tố khác nhau tạo nên (thông số về sự bám tuyết, sự biến động khí hậu và các thông số địa hình)

Nhiều đồ thị phân vùng có nguy cơ sạt lở khác nhau đã được thực hiện trong thời gian qua để lập bản đồ, giám sát và đánh giá các rủi ro tại các vùng bị bám tuyết khác nhau như:

Trang 3

Nghiên cứu Ưu điểm Nhược điểm

Một số chỉ nghiên cứu liên

quan đến phân vùng nguy

hiểm sạt lở dựa trên thông số

địa hình sử dụng viễn thám và

GIS đã được thực hiện

(Gleason năm 1994; Gruber

năm 2001; Tracy năm 2001;

Barbolini & Keylock 2002;

Maggioni & Gruber 2003) Sử

dụng các đồ thị, bản đồ trận

tuyết lở nguy hiểm và Tập bản

đồ tuyết lở đã chuẩn bị cho

các khu vực khác nhau

Những bản đồ và tập bản đồ chứa tất cả các chi tiết liên quan đến dấu vết và các vị trí

dễ xảy ra lở tuyết

Nhưng thông tin này không thể được sử dụng một cách hiệu quả cho các ứng dụng tại thời gian thực tế, bởi vì hầu hết các đặc điểm của mặt đất

và các điểm kiểm soát của bản

đồ là không thể nhìn thấy và đang bị chôn vùi dưới tuyết

và các dịch vụ dựa trên vị trí (LBS) là có sẵn cho người sử dụng

Việc sử dụng chúng ở địa hìnhđồi núi Himalaya bị hạn chế

do một là không có các vị trítuyết lở đã được ghi nhậnchính xác với độ phân giải cao

và không có dữ liệu mạngđược theo dõi trên núi,

Hai là không có sẵn các mạngđiện thoại di động trong cáckhu vực này và

Ba là những LBS yêu cầungười sử dụng nhập vào mộtcách tương tác trong khi loạitương tác với người dùng nàyphải được giảm thiểu để tránhmất tập trung cho du kháchtrong khu vực dễ bị sạt lở.Nghiên cứu này trình bày sự phát triển của một ứng dụng và việc thực hiện nó trong một thiết bị GPS cầm tay để điều hướng tự động, định vị, theo dõi và thông báo cho người dùng về một vị trí tuyết lở ở gần nó

- Hệ thống này có khả năng tạo tin nhắn văn bản và tin nhắn thoại khác nhau và

cảnhbáo cho du khách phụ thuộc vào vị trí của các du khách và vị trí các con đường sạt lở

- Người dùng cũng có thể chụp lại dữ liệu trên bất kỳ con đường sạt lở mới nào bằng cách đo cấu trúc của nó sử dụng hệ thống GPS này và tương tự, dữ liệu tuyến đường hoặc dấu vết mới có thể được chụp Sau khi xác nhận, dữ liệu này có thể được sử dụng trong tương lai để chuyển hướng

Trang 4

- Thiết bị này cung cấp một phương tiện giá trị tiềm năng về việc xác định các khu vực nguy hiểm dễ sạt lở và tuyến đường an toàn trên khu vực núi lớn và cung cấp thông tin liên quan cho công tác phòng chống lạc đường và sự cố nguy hiểm sạt lở thông qua nhận dạng và tránh các địa hình tuyết lở.

- Hơn nữa, thiết bị này cung cấp một cách hiệu quả để cảnh báo và giáo dục người dân

về các khu vực sạt lở nguy hiểm Được sử dụng bởi các nhà quy hoạch sử dụng đất và

ra quyết định để phát triển bền vững trong khu vực có tuyết bao phủ ở dãy Himalaya

II.I Hệ thống điều hướng định vị toàn cầu:

Hầu hết các hệ thống định vị phổ biến sử dụng GPS để xác định vị trí GPS là một hệthống định vị toàn cầu, xách tay và dễ dàng

Hiệu quả mà hệ thống này mang lại là:

- Bây giờ có thể có được dữ liệu chính xác và liên tục trong cả mặt phẳng ngang vàthẳng đứng Nó giúp định vị cả ở trên không, dưới nước và trên cạn dựa trên cảnh báocon đường tuyết lở về thời gian thực tế

Do đó, GPS như một hệ thống định vị toàn cầu độc lập chính xác Việc cải thiện độ chínhxác về vị trí của một thiết bị GPS là quan trọng hàng đầu để điều hướng một cách chính xác Cáccông nghệ, mô hình khác nhau đã được thử riêng rẽ hoặc kết hợp để đạt được độ chính xác tốthơn:

Xuchu et al (2000) Phát triển một mô hình phi tuyến tính sử dụng bộ lọc Kalman

không mùi để ước lượng vị trí và vận tốcMục tiêu của nghiên cứu này là để đưa ra các vấn đề định vịGPS để điều khiển xe cộ trong những trường hợp mà ở đó có các

vệ tinh có thể nhìn thấy thường xuyên biến đổi hoặc ít hơn bốn.Cách tiếp cận này cung cấp các ước tính tốt hơn so với những giảipháp khác

Ma et al (2001) và Klukas

et al (2003) sự phát tán của các tín hiệu GPS vô tuyến theo các góc độ cao củaSử dụng Urban Three-State Fade Model (UTSFM) để mô tả

hình vệ tinh, dựa trên phân tích các phép đo công suất tín hiệu thu

vô tuyến ở các môi trường khác nhau

Trang 5

Li và Xi (2007) Thảo luận các phương pháp FFT kết hợp và chập tròn.

Phương pháp mới này có thể được sử dụng rộng rãi trong các tìnhhuống động kèm theo các yêu cầu cao về độc hính xác của vị trí,bởi vì nó làm giảm thời gian thu nhận

Ngoài ra, Tần số, thời gian định vị điểm chính xác đơn đã được sử dụng tại hội đồngGNSS Hiệu suất của các máy thu GPS tần số đơn để định vị điểm chính xác được cho là sửdụng mô hình tầng điện ly thực nghiệm và các bộ lọc khác nhau

Nghiên cứu do Øvstedal

(2002) Sử dụng sự điều chỉnh từ các dịch vụ GNSS quốc tế, mới có tạithời điểm đó Độ lệch chuẩn đạt khoảng 1 m

Le và Tiberius (2007) Nghiên cứu định vị điểm chính xác tĩnh bằng tần số đơn cũng như

các hoạt động học bằng việc sử dụng các sản phẩm cuối cùng đểđiều chỉnh các tuần có sẵn sau khi ghi

Van Bree và Tiberius (2012) Trình bày việc thực hiện thời gian thực định vị điểm chính xác tần

số đơn chứng minh về độ chính xác vị trí

Điều này kỹ thuật định vị điểm chính xác dựa trên các quỹ đạo vệtinh dự đoán, dự báo toàn cầu bản đồ tầng điện ly và đặc biệt về thời gian thực ước tính đồng hồ vệ tinh

Các kết quả được trình bày chỉ sử dụng các phép đo từ một máy thu dùng ở tần số L1- khoảng ba tháng dữ liệu 95% lỗi khoảng 0.30 m hướng ngang và 0.65 m theo hướng thẳng đứng là như nhau

Đây được xem như là một cải tiến đáng kể chính xác địa điểm bằng định vị điểm tần số thời gian thực đơn có thể được đạt được khi sử dụng một máy thu cao cấp tốt

II.I.I Hệ thống định vị dành cho người đi bộ

Hiện nay, các hệ thống định vị được biết đến nhiều nhất là hệ thống định vị trên các chiếc

xe Tuy nhiên, hệ thống định vị cho người đi bộ (PNSs) ít tiến bộ hơn đã được thực hiện

Có một số thành tựu nổi bật như PNS cho các khu vực được phân định rộng… Nhưngnhiệm vụ khó khăn nhất là phát triển PNS để hướng dẫn người dân ở các khu vực khác nhau, đặcbiệt là ở các vùng đồi núi phủ tuyết

Sự khác biệt chính giữa hệ thống định vị trên xe và PNS là mức độ di chuyển tự do vìchuyển động của người đi bộ có mức độ tự do cao hơn chuyển động của xe

Một điểm khác biệt nữa đó là sự sẵn có của dữ liệu cho định vị Hệ thống định vị trên xe

có dữ liệu mạng lưới các con đường có độ phân giải tốt và có bản đồ để định vị nhưng PNS thìkhông

Do đó, Hệ thống dẫn đường cho người đi bộ đã được báo cáo trong các nghiên cứu khácnhau

Trang 6

Tác giả Nghiên cứu Công dụng

Inoue và cộng sự (2009) Mô tả một hệ thống định vị

cho dịch vụ điều hướng người

đi bộ sử dụng điện thoại diđộng Hệ thống được làmbằng điện thoại thông minh vàthiết bị đèn hiệu radio

Trong hệ thống này, thiết bịcủa người sử dụng nhận đượctín hiệu đèn hiệu không dây từmôi trường và có thể phát hiện

vị trí của người sử dụng độclập bằng thiết bị đầu cuối củađiện thoại di động

Beeharee và Steed (2006) và

Hile và cộng sự (2008) Một nghiên cứu thăm dò về hệthống hướng dẫn sử dụng bộ

sưu tập ảnh địa lý từ điệnthoại di động để định hướng

Người sử dụng hệ thống cóthể thấy một mô tả về tuyếnđường bằng văn bản và bản đồ

đó đề cập đến một loạt cácbức ảnh Một thử nghiệm chothấy, việc đưa ra những bứcảnh đúng giúp hướng dẫn cụthể tuyến đường cho ngườidùng không quen khu vực đó.Golledge et al (1991) Báo cáo tiến độ phát triển về

cơ sở dữ liệu GIS và các công

cụ phân tích trong một hệthống

Hướng dẫn cá nhân cho dukhách mù

Loomis và cộng sự (1994) Đề xuất thiết kế về một hệ

thống dẫn đường cho ngườikhiếm thị và mô tả những tiến

bộ hướng tới một hệ thống diđộng, khép kín

Hệ thống được đề xuất có bathành phần: một bộ GPS, GISvới cơ sở dữ liệu và công cụphân tích cùng với một giaodiện sử dụng

Cho phép các cá nhân khiếmthị đi du lịch thông qua môitrường quen thuộc và khôngquen thuộc mà không có sựtrợ giúp của hướng dẫn viên

Golledge và cộng sự (1998) Mô tả quá trình xây dựng một

hệ GIS

Trong nghiên cứu này cácthành phần khác nhau của hệthống hướng dẫn cá nhânđược xác định và thực hiện vànhững hạn chế của hệ thốngGPS / GIS cũng đã được đưa

Giúp cho người đi bộ bằngcách nhận diện hướng kịp thời

Trang 7

theo một đường dẫn lý luậncấp cao để chọn hình ảnhthích hợp để định hướngđường dẫn và lý luận thấp hơn

để chọn những hình ảnh thíchhợp của địa danh đó

Stark et al (2007) Mô tả một lĩnh vực nghiên

cứu so sánh bốn khái niệmđịnh vị khác nhau nghĩa là Hướng dẫn thính giác cộngvới kỹ thuật số, tuyến đườngđộng (phương pháp âm thanh),

Kỹ thuật số, tuyến đườngđộng (phương pháp tuyến), Bản đồ với vị trí và hướng(phương hướng) và

Các tên đường phố bằng vănbản (phương pháp mô tả) chongười đi bộ

Tất cả các hệ thống này đềudựa trên cách tiếp cận hiện đạinhất và đã được đánh giá bởingười sử dụng thực tế

Nghiên cứu này kết thúc bằngmột đề nghị thiết kế cho người

đi bộ điện thoại di động có hệthống định vị

Toth et al (2007) Trình bày một mạng lưới thần

kinh nhân tạo và logic mờ dựatrên lý thuyết nền tảng và thựchiện các thuật toán, trong đó:

GPS tích hợp, đơn vị đo quántính điện cơ khí (MEMSIMU),

Thước đo kỹ thuật số,

La bàn điện tử Máy đo nhịp bước của conngười

Để cung cấp định vị và theodõi của quân đội với nhân viêngiải cứu mặt đất

Chen et al (2009) Đề xuất một GPS tích hợp và

hệ thống đa cảm biến định vịcho người đi bộ để làm cầunối những khoảng trống củatín hiệu GPS ngoài

Nó bao gồm một máy thu GPSOEM, một gia tốc MEMS 3trục và la bàn kỹ thuật số 2-trục cho việc định vị

Các thuật toán định vị là mộttích hợp lỏng lẻo của GPS vàcảm biến ước lượng người đi

bộ chết qua một bộ lọcKalman

Trang 8

Martin et al (2006) Đã đưa ra một cách tiếp cận

để cung cấp một giải pháp dựatrên phần mềm để định vịchính xác hơn cho một người

đi bộ sử dụng điện thoại diđộng bằng cách sử dụng GPSthu

Một máy tính bỏ túi gần nhưhoàn chỉnh của một nền tảngtương tác điện thoại di động

đa phương thức (M3I) chongười đi bộ được mô tả trongWasinger et al (2003) Nềntảng này dễ dàng hỗ trợ địnhhướng trong nhà và ngoàitrời

III.Mô tả hệ thống được đề xuất:

Các sơ đồ về giải pháp cho hệ thống được đề xuất đối với việc thiết lập định vị chính xác

và an toàn cho du khách leo núi qua vùng sạt lở, lốc xoáy được thể hiện trong hình 1

Du khách leo núi nhận được thông tin tại một khoảng thời gian được xác định trước, vềtình trạng tuyến đường của một trong ba tình huống sau đây:

a Tình huống tuyến đường an toàn (cập nhật)

b Tình huống gần vào tuyến đường sạt lở (cảnh báo)

c Tình huống tuyến đường sạt lở (cảnh báo)

Hình 1 Một sơ đồ định vị sử dụng hệ thống được đề nghị, các du khách được thông báo

về tình trạng tuyến đường theo một trong ba tình huống

Hệ thống cơ bản sử dụng một thiết bị GPS (GIS eXplorist Pro 10 GPS) cầm tay (hình 3 (a)) để theo dõi vị trí, thực hiện ứng dụng để phân tích trong chế độ thời gian thực và hiển thị kết quả dưới dạng vị trí hiện tại và tình trạng con đường

Các chi tiết kỹ thuật về các thiết bị hoàn chỉnh trong đó bao gồm bộ phận tiếp nhận, xử lý

và hiển thị của GPS được thể hiện trong bảng 1

Phía trong sạt lở Đường

an toàn

Trang 9

Bảng 1 Các chi tiết về bộ phận xử lý và hiển thị, GPS.

-2 Antenna Antenna GPS đa hướng

3 Độ chính xác  Độ chính xác trong thời gian thực tế từ 3-5 m với SBAS

 Độ chính xác trong thời gian thực tế nhỏ hơn đơn vị mét sửdụng sự hỗ trợ của Bluetooth

 Bộ phận ghi nhận GPS w/SBAS, DGPS/Beacon hoặcOmniSTAR

Trang 10

III.I Khu vực nghiên cứu và chuẩn bị dữ liệu:

Khu vực này rơi vào phạm vi khu vực Pir Panjal củadãy Himalaya ở miền tây Ấn Độ và độ cao từ 2000 mđến 3000 m so với mức nước biển trung bình

Phần lớn các sườn núi ở dãy Pir Panjal bị rừng baophủ và tuyết rơi dày và nhiệt độ môi trường thấp làđặc điểm của khu vực này

Chiều dài tuyến đường khảo sát khoảng 19 km

Có 10 vị trí sạt lở lớn ảnh hưởng đến giao thông trêntuyến đường giữa Manali và Dhundi này

Những vị trí lở tuyết diễn ra vào mùa đông do sự thayđổi trong điều kiện xảy ra tuyết và gây nguy hiểm dọctheo đường cao tốc

Hình ảnh về định vị và thử nghiệm trong khu vựcnghiên cứu sử dụng các hệ thống được đề xuất đượcthể hiện trong hình 3 (b) Hình ảnh trực quan vệ tinhCartosat-1 sử dụng như bản đồ cơ sở để định vị

Trang 11

Hình 2 Tổng quan về khu vực trên bản đồ cùng với hình ảnh vệ tinh Cartosat-1 của các khu vực

nghiên cứu, tuyến đường và các vị trí sạt lở được ghi nhận cho thử nghiệm

Hình 3 (a) Thiết bị GPS cầm tay được sử dụng để xác định vị trí, chạy các ứng dụng và hiển thị

kết quả (b) Hình ảnh của việc định vị và thử nghiệm trên thực tế của hệ thống được đề xuất

IIl.l.l Sự hình thành của hình ảnh trực quan.

Các hình ảnh trực quan chính xác của dữ liệu Cartosat là yêu cầu đầu tiên của ứng dụng

Bộ dữ liệu ghép với hình ảnh nổi có màu sắc lúc không có mây của khu vực nghiên cứu,được yêu cầu vào ngày 29 tháng chín năm 2006 từ vệ tinh Cartosat-1 (IRS-P5), được sử dụngcho mục đích này

Trang 12

Độ phân giải không gian của dữ liệu là 2.5 m trên mặt phẳng nằm ngang và vùng baoquanh khoảng 27 km Các thế hệ hình ảnh trực quan đòi hỏi các điểm điều khiển trên mặt đất(GCP) và DEM có độ phân giải cao Do đó, các phương pháp được áp dụng để tạo ra cácCartosat DEM liên quan đến dải stereo tam giác của các bộ âm thanh bằng cách sử dụng cácđiểm điều khiển chính xác cao trên mặt đất và tự động tao ra các bộ trục liên hợp bằng cách sử

dụng một cách tiếp cận phù hợp DEM tạo ra được đánh giá về chất lượng và chỉnh sửa để loại

bỏ dị thường.

Việc đánh giá DEM được thực hiện theo hai phương thức: đầu tiên, ở chế độ điểm (Kay

et al 2003; Nadeem et al 2007) Độ chính xác được kiểm tra tại các địa điểm GCP và RMSE được tính toán và thứ hai, ở chế độ bề mặt, DEM được so sánh với DEM tham chiếu được tạo từ toposheets (1:25000 Scale)

Hệ thống âm thanh nổi Cartosat-1 được thiết kế để cung cấp hình ảnh âm thanh nổi Hai hình ảnh của cùng một khu vực đã được lấy từ các góc độ khác nhau Âm thanh nổi tương quan

đã được áp dụng để trích xuất các điểm tương ứng trong hai ảnh nổi và một mô hình hình học cảm biến được sử dụng để tính toán Hệ số đa thức hợp lý (RPC) được cung cấp với các sản phẩm hình ảnh Những RPC và GCP được sử dụng bằng phần mềm quan trắc để chuyển đổi hiệuchỉnh hình học mặt đất sang hình ảnh Chín GCP đã được sử dụng để hiệu chỉnh hình học và sáu

đã được sử dụng để đánh giá các hình ảnh trực quan Cartosat-1

Hình 4 cho thấy sơ đồ các bước khác nhau liên quan đến việc tạo các ảnh trực quan Góiphần mềm ERDAS Image (LPS 9.3) được sử dụng để tạo ra các hình ảnh trực quan Độ phângiải không gian của DEM được tạo ra là 10 m và số liệu DEM được lấy mẫu tại 2.5 để tạo rahình ảnh trực quan ở độ phân giải không gian 2.5 m

Trang 13

(cái này để a dịch vẽ lại nha Đưa vào lấy chỗ )

III.I.I Các dữ liệu về con đường, dấu vết, vùng đệm, các vị trí lở tuyết đã ghi nhận:

Báo cáo sơ bộ về sự hình thành các nghiên cứu lở tuyết và tuyết trong đề án giảm rủi

ro sạt lở năm 2010 có 10 vị trí sạt lở chính được ghi nhận ảnh hưởng đến con đường trong khu vực nghiên cứu Tất cả các vị trí này đã được lập thành bản đồ bằng việc sử dụng một phương pháp kết hợp

Trong phương pháp này, dữ liệu thu thập từ nhiều nguồn khác nhau được sử dụng để phát họa bằng tay các phác thảo tuyết lở trên bản đồ địa hình Dữ liệu xảy ra sạt lở của 22 năm qua, việc đo đạc bằng tay đối với từng vị trí sạt lở sử dụng GPS đã được thực hiện trong suốt cuộc khảo sát trên mặt đất, các quan sát từ khảo sát trên không và dữ liệu địa hình kỹ thuật số được phân tích là dữ liệu đầu vào cho việc mô tả vị trí sạt lở

Hầu hết các vụ lở tuyết trong khu vực này thường xuyên xảy ra và bị kích hoạt mỗi năm Một lớp dữ liệu đa giác dạng vector về tất cả các vị trí sạt lở ánh xạ được tạo lập thành bản

Trang 14

đồ với tất cả các thuộc tính có liên quan, bao gồm cả kích thước vật lý của vị trí sạt lở và lịch sử của xảy ra trước đây (bảng 2).

Avalanche

site Length of avalanchepath (m) Zone AreaFormation

(ha)

Road-affectedLength (m) (number of times)Past occurrences

- Truy vấn vị trí trung bình hiện tại về trạng thái tuyến đường (tình huống tuyến đường

an toàn hoặc gần tuyến đường tuyết lở hoặc nằm trong tuyến đường sạc lở);

Trang 15

1 An toàn Vị trí hiện tại nằm ngoài

bất kì vị trí lở tuyết hayvùng đệm nào

Văn bản Tuyến đường là

an toàn ở thờiđiểm hiện tại

Cẩn thận, bạnđang tiếp cận 1

vị trí lở tuyết

Di chuyển mộtcách cẩn thận,bạn đang ở

đường tuyết lở

4 GPS không

hoạt động Dữ liệu GPS khôngnhận được Văn bản + Tinnhắn thoại GPS không hoạtđộng

Ứng dụng được phát triển bằng cách sử dụng tập lệnh ArcPad và VB Các tiến trình côngviệc để xác định tình trạng tuyến đường được thể hiện trong hình 5 Ngoài ra, ứng dụng có thểnắm bắt các tính năng mới trong quá trình điều hướng với tất cả các thuộc tính cần thiết trongmôi trường GIS Những tính năng mới sau khi xác nhận có thể được thêm vào cơ sở dữ liệu đểđịnh vị trong tương lai

Ngày đăng: 02/09/2017, 17:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Các chi tiết về bộ phận xử lý và hiển thị, GPS. - HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ VÀ CẢNH BÁO CÁC LỐI ĐI LỞ TUYẾT TRONG THỜI GIAN THỰC TẾ DỰA VÀO GPS
Bảng 1. Các chi tiết về bộ phận xử lý và hiển thị, GPS (Trang 8)
Hình 1. Một sơ đồ định vị sử dụng hệ thống được đề nghị, các du khách được thông báo - HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ VÀ CẢNH BÁO CÁC LỐI ĐI LỞ TUYẾT TRONG THỜI GIAN THỰC TẾ DỰA VÀO GPS
Hình 1. Một sơ đồ định vị sử dụng hệ thống được đề nghị, các du khách được thông báo (Trang 8)
Hình ảnh về định vị và thử nghiệm trong khu vực nghiên cứu sử dụng các hệ thống được đề xuất được thể hiện trong hình 3 (b) - HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ VÀ CẢNH BÁO CÁC LỐI ĐI LỞ TUYẾT TRONG THỜI GIAN THỰC TẾ DỰA VÀO GPS
nh ảnh về định vị và thử nghiệm trong khu vực nghiên cứu sử dụng các hệ thống được đề xuất được thể hiện trong hình 3 (b) (Trang 10)
Hình 2. Tổng quan về khu vực trên bản đồ cùng với hình ảnh vệ tinh Cartosat-1 của các khu vực - HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ VÀ CẢNH BÁO CÁC LỐI ĐI LỞ TUYẾT TRONG THỜI GIAN THỰC TẾ DỰA VÀO GPS
Hình 2. Tổng quan về khu vực trên bản đồ cùng với hình ảnh vệ tinh Cartosat-1 của các khu vực (Trang 11)
Hình 3. (a) Thiết bị GPS cầm tay được sử dụng để xác định vị trí, chạy các ứng dụng và hiển thị - HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ VÀ CẢNH BÁO CÁC LỐI ĐI LỞ TUYẾT TRONG THỜI GIAN THỰC TẾ DỰA VÀO GPS
Hình 3. (a) Thiết bị GPS cầm tay được sử dụng để xác định vị trí, chạy các ứng dụng và hiển thị (Trang 11)
Bảng 2. Các vị trí sạt lở về khu vực nghiên cứu với tất cả các thuộc tính (báo cáo của SASE - HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ VÀ CẢNH BÁO CÁC LỐI ĐI LỞ TUYẾT TRONG THỜI GIAN THỰC TẾ DỰA VÀO GPS
Bảng 2. Các vị trí sạt lở về khu vực nghiên cứu với tất cả các thuộc tính (báo cáo của SASE (Trang 13)
Bảng 3. Chi tiết về các tin nhắn và thông tin cho các tính huống đường - HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ VÀ CẢNH BÁO CÁC LỐI ĐI LỞ TUYẾT TRONG THỜI GIAN THỰC TẾ DỰA VÀO GPS
Bảng 3. Chi tiết về các tin nhắn và thông tin cho các tính huống đường (Trang 14)
Hình 7. Bản đồ thử nghiệm của các vùng thử nghiệm tại hiện trường - HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ VÀ CẢNH BÁO CÁC LỐI ĐI LỞ TUYẾT TRONG THỜI GIAN THỰC TẾ DỰA VÀO GPS
Hình 7. Bản đồ thử nghiệm của các vùng thử nghiệm tại hiện trường (Trang 21)
Hình 8. Quỹ đạo được theo dõi trong toàn bộ con đường nghiên cứu đã được định vị trong thử - HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ VÀ CẢNH BÁO CÁC LỐI ĐI LỞ TUYẾT TRONG THỜI GIAN THỰC TẾ DỰA VÀO GPS
Hình 8. Quỹ đạo được theo dõi trong toàn bộ con đường nghiên cứu đã được định vị trong thử (Trang 22)
Hình 9 (a) và (b) cho thấy các kết quả của các thử nghiệm khác nhau (thử nghiệm 6, 7, 8, 9, - HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ VÀ CẢNH BÁO CÁC LỐI ĐI LỞ TUYẾT TRONG THỜI GIAN THỰC TẾ DỰA VÀO GPS
Hình 9 (a) và (b) cho thấy các kết quả của các thử nghiệm khác nhau (thử nghiệm 6, 7, 8, 9, (Trang 22)
Hình 10. Đồ thị phân tán của các vị trí điểm riêng lẻ ở một vùng cố định trong một khu vực mở - HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ VÀ CẢNH BÁO CÁC LỐI ĐI LỞ TUYẾT TRONG THỜI GIAN THỰC TẾ DỰA VÀO GPS
Hình 10. Đồ thị phân tán của các vị trí điểm riêng lẻ ở một vùng cố định trong một khu vực mở (Trang 23)
Hình 11. Phân tích thống kê trong phép đo lường  lỗi và sự phụ thuộc số lượng vệ tinh để tính - HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ VÀ CẢNH BÁO CÁC LỐI ĐI LỞ TUYẾT TRONG THỜI GIAN THỰC TẾ DỰA VÀO GPS
Hình 11. Phân tích thống kê trong phép đo lường lỗi và sự phụ thuộc số lượng vệ tinh để tính (Trang 24)
Hình 12. Ba phép đo lường  được sử dụng trong việc mô tả độ chính xác của định vị: (i) độ chính xác nhiễu theo chiều ngang (HDOP), (ii) độ chính xác nhiễu theo chiều dọc (VDOP), (iii) - HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ VÀ CẢNH BÁO CÁC LỐI ĐI LỞ TUYẾT TRONG THỜI GIAN THỰC TẾ DỰA VÀO GPS
Hình 12. Ba phép đo lường được sử dụng trong việc mô tả độ chính xác của định vị: (i) độ chính xác nhiễu theo chiều ngang (HDOP), (ii) độ chính xác nhiễu theo chiều dọc (VDOP), (iii) (Trang 25)
Hình 13. Sự Thay đổi trong HDOP, VDOP và PDOP và đường trung bình của chúng với số lượng vệ tinh để dự toán định vị - HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ VÀ CẢNH BÁO CÁC LỐI ĐI LỞ TUYẾT TRONG THỜI GIAN THỰC TẾ DỰA VÀO GPS
Hình 13. Sự Thay đổi trong HDOP, VDOP và PDOP và đường trung bình của chúng với số lượng vệ tinh để dự toán định vị (Trang 26)
Hình 16. Sự thay đổi của lỗi tốc độ cập nhật (UPER) với tốc độ cập nhật khác nhau (t) của hệ - HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ VÀ CẢNH BÁO CÁC LỐI ĐI LỞ TUYẾT TRONG THỜI GIAN THỰC TẾ DỰA VÀO GPS
Hình 16. Sự thay đổi của lỗi tốc độ cập nhật (UPER) với tốc độ cập nhật khác nhau (t) của hệ (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w