Thẩm định tài sản đảm bảo Toàn bộ tài sản cố định hình thành từ vốn vay và vốn tự có thuộc dự án, giá trị tạm thời tính theo Khái toán của Silver Shore Hoàng Đạt như sau: Giá trị tài sả
Trang 1Trên địa bàn Đà Nẵng hiện nay có 42 dự án đầu tư du lịch được UBND Thành
phố có chủ trương cho phép đầu tư gồm 16 dự án được cấp phép đầu tư với tổng
vốn10.808 tỷ đồng và 26 dự án khác đã ký bản ghi nhớ và thoả thuận nguyên tắc
với tổng vốn 15.585 tỷ đồng Khi các dự án này hoàn thành một cách đồng bộ sẽ
biến Đà Nẵng trở thành một trung tâm du lịch chất lượng cấónh ngang với đảo Bali
ở Indonesia hay Phukhet ở ThaiLand So sánh với những quốc gia này, Việt Nam có
lợi thế ở tiềm năng du lịch rất lớn và môi trường kinh tế - chính trị ổn định hơn
Nhà thầu thiết kế
Nhà thầu thiết kế chính là Huazhu Design and Consultant Ltd.co (Shenzhen
Huazhu Engineering Design Ltd.co), trụ sở tại 2201 - tầng 22 – Tairan Cangsong
Plaza – Khu công nghiệp Gongmiao – Futian – Shenzen – Trung Quốc, đã được Sở
xây dựng thánh phố Đã Nẵng chấp thuận làm nhà thấu thiết kế dự án tại Giấy phép
thầu số 613/SXD – GPT ngày 18/06/2007 Đây là công ty được thành lập ngày
13/04/1994, có doanh thu đạt 23,963 tỷ VND và lợi nhuận sau thuế đạt 1,975 tỷ
VND năm 2006 Nhà thầu nhận thực hiện thiết kế chính toàn bộ các phần xây dựng
theo hợp đồng ký với Silver Shore Hoàng Đạt ngày 23/11/2006, giá trị dự kiến
khoảng 1.110.000 USD Tuy nhiên do yêu cầu về tiến độ của Silver Shore Hoàng
Đạt, đối với hạng mục Casino nhà thầu chỉ thực hiện bước thiết kế cơ sở, phần thiết
kế thi công được giao cho Beijing Dongfang Gouxing Architecture Design Co, Ltd
với giá trị hợp đồng khoảng 200.000 USD Báo cáo tài chính đã kiểm toán năm tài
chính 2005 và 2006 của nhà thầu thiết kế chính cho thấy công ty này kinh doanh có
hiệu quả
Nhà thầu thiết kế trang trí nội thất Casino là Beijing Quingshang Envỉomental
Art & Architecture Design Institude Co,Ltd, giá trị hợp đồng dự kiến khoảng
120.000USD
Theo Công ty báo cáo Huazhu (Thuộc tập đoàn thiết kế Thâm Quyến) sau khi
được Sở XD Đà Nẵng chấp thuận và ký hớp đồng thiết kế với Công ty đã cho ra
mặt bằng và phối cảnh dự án Sau đó Huazhu và Silver Shore Hoàng Đạt phải mang
phối cảnh và mặt bằng gặp Intercon để Intercon bổ sung ý tưởng cho phần mặt bằng
Trang 2và phối cảnh, các giai đoạn tiếp theo cho việc chọn nhà thiết kế nào hoặc Huazhu
tiếp tục thiết kế đối với từng hạng mục đều phải được Intercon đồng ý hoặc giới
thiệu
Tổng thầu xây dựng
Tổng thầu xây dựng là công ty TNHH Xây dựng công trình số 5 thuộc Tập
đoàn xây dựng Quảng Tây – Trung Quốc, trụ sở chính tại số 4 đường YouYi –
thành phố Liuzhou – Guangxi, đã được Sở XD Tp Đà Nẵng chấp thuận làm tổng
thầu tại Giấy phép thầu số 175/SXD – GPT bgày 02/02/2007 Nhà thầu chính có
phạm vi năng lực phù hợp, có vốn pháp định quy VND khoảng 645 tỷ, theo giấy
chứng nhận tư cách doanh nghiệp xây dựng do Bộ xây dựng Trung Quốc cấp Công
ty này được nhận thầu xây dựng công trình có giá trị lớn tới 5 lần vốn pháp định –
tương đương 3.227 tỷ VND Silver Shore Hoàng Đạt đã xem xét năng lực hoạt động
của Công ty TNHH xây dựng công trình số 5; Công ty này đã tham gia xây dựng
nhiều công trình lớn, trong đó có một khách sạn tiêu chuẩn 5 sao tại Móng Cái -
Việt Nam Một số công trình tiêu biểu gồm: Trung tâm thương mại Quốc tế Gubu –
Liuzhou – Trung Quốc, chủ đầu tư Công ty TNHH tập đoàn Zhenghe - Liễu Châu,
giá trị hợp đồng tổng thầu 50.000.000 USD, Toà nhà Zhuangcheng – Liuzhou, chủ
đầu tư Công ty TNHH phát triển địa ốc Zhuangcheng – Liuzhou, giá trị hợp đồng
tổng thầu 37.872.000 USD; Khu thương mại Yuzui – Liuzhou, chủ đầu tư Công ty
phát triển địa ốc Huanqui – Liuzhou, giá trị hợp đồng tổng thầu 30.000.000 USD
Theo điều khoản Hợp đồng thầu chính ký giữa Công ty TNHH Xây dựng công
trình số 5 và Silver Shore Hoàng Đạt, để đủ điều kiện làm nhà thầu chính Công ty
này phải xuất trình chứng thư, bảo lãnh thực hiện hợp đồng và các hợp đồng bảo
hiểm bắt buộc; Công ty này phải tự mua sắm thiết bị máy móc phục vụ thi công,
tuyển dụng và trả lương công nhân khi xây dựng dự án Báo cáo tài chính năm tài
chính 2004 và 2005 cho thấy công ty này làm kinh doanh có hiệu quả, doanh thu
năm 2005 đạt khoảng 3.709 tỷ VND Giá trị tạm tính hợp đồng tổng thầu xây dựng
là 20.096.153 USD
Nhà thầu quản lý
Trang 3Nhà thầu quản lý khách sạn của Dự án là Inter Continental Hotels Group
(Greater China) Ltd có trụ sở tại 230 Victoria Street, #13-00 Gugis Junction
Towers, Singapore 188024; thuộc tập đoàn Inter Continental Hotel Group, tập đoàn
quản lý khách sạn lớn nhất thế giới về số lượng phòng (đứng trên Wyndham
Worldwide, Mariott International, Hilton Hotel Corp và Accor), có cổ phiếu niêm
yết trên sàn Giao dịch chứng khoàn London và sàn Giao giao dịch chứng khoán
New York Công ty này đang quản lý hơn 3.800 khách sạn gồm khoảng 563.676
phòng ở trên 100 quốc gia trên thế giới; lượng khách nghỉ đạt khoảng 130.000.000
lượt hàng năm tương đương với công suất cho thuê phòng khoảng 64,06% Công ty
quản lý 7 thương hiệu khách sạn gồm:
- Inter Continental (hotel & resort): 147 hotels tương đương 49.132
viếc 4 năm tại 2 khách sạn tiêu chuẩn 4 sao và sao mang thương hiệu Holiday Inn
thuộc tập đoang này
Silver Shore Hoàng Đạt đã ký 2 hợp đồng quản lý với Inter Continental Hotels
Group (Greater China) Ltd, một hợp đồng cho khu khách sạn 9 tầng tiêu chuẩn 5
Trang 4sao và một hợp đồng cho khu biệt thự cao cấp; theo đó Inter Continental sẽ được
hưởng phí quản lý cơ bản là 2% doanh thu thuần từ hoạt động kinh doanh khách sạn
- biệt thự và Phí quản lý thưởng là 6% của Lợi nhuận hoạt động trừ Phí quản lý cơ
bản Bên cạnh đó theo điều khoản của 2 hợp đồng này, Công ty cũng ký 2 hợp đồng
phụ với 2 công ty con trong tập đoàn Inter Continental Hotels Group về dịch vụ
khai trương hoạt động và dịch vụ tư vấn trước hoạt động
Nguồn nhân lực
Theo Hợp đồng Quản lý khu Khách sạn và khu Biệt thự ký giữa Inter
Continental Hotels Group (Greater China) Ltd và Silver Shore Hoàng Đạt, công ty
quản lý sẽ có trách nhiệm giám sát mọi thủ tục liên quan đến việc tuyển dụng và
quản lý toàn bộ nhân sự khách sạn Giám đốc quản lý khách sạn và các nhân sự
chính người nước ngoài sẽ do công ty quản lý lựa chọn Theo Hợp đồng Hệ thống
nhóm hỗ trợ Quốc tế ký giữa Six Continents Hotels Inc – công ty thành viên của tập
đoàn Inter Continental Hotels Group và Silver Shore Hoàng Đạt, công ty này sẽ hỗ
trợ Silver Shore Hoàng Đạt trong việc đào tạo nhân viên, nghiên cứu mức độ hài
lòng của nhân viên với vị trí tuyển dụng Số lượng nhân viên cần tuyển dụng để vận
hành dự án theo ước tính là 861 người Dự án sẽ ưu tiên tuyển dụng và đào tạo lao
động tại địa phương
Đánh giá: Nhà thầu thiết kế chính, tổng thầu xây dựng và nhà thầu quản lý do
của dự án đều là những nhà thầu nước ngoài, có đầy đủ năng lực cũng như khả
năng để thực hiện dự án Tuy nhiên, chủ đầu tư cần phải bổ sung thêm vào hồ
sơ những thông tin như giải pháp xây dựng, thiết kế kiến trúc, thiết kế nội thất,
giải pháp về nguồn nhân lực của nhà thầu quản lý
e Thẩm định về hiệu quả tài chính
Trang 5Tổng mức đầu tư tính khấu
Cơ cấu tài trợ vốn dự kiến như sau:
Trang 6Furama Resort 3 ha 39.500.000 USD 200 197.500USD
47.432.435 USD -Khách sạn: 24.307.700 USD
Biệt thự: 23.124.735 USD
-Biệt thự: 13.349.408 USD
550
98
80.817 USD 136.218 USD
(*) Ghi chú: Tổng đầu tư chỉ gồm phần khách sạn và biệt thự, không bao gồm
phần Casino và 3.168.000 USD tiền thuê đất trả và phân bổ trong 10 năm kể từ
2009
Tổng đầu tư thực tế có thể tăng hoặc giảm theo yêu cầu về thiết bị của Nhà
thầu quản lý để đáp ứng thương hiệu của Crowne Plaza
Đánh giá: Suất đầu tư khái toán của dự án theo bảng trên là ở mức trung bình
so với một dự án khác trong cùng khu vực Tỷ lệ Vốn tự có/Tổng mức đầu tư
cố định là 39,54% thoả mãn điều kiện thế chấp tài sản hình thành từ dự án đầu
tư để vay vốn Tổng mức đầu tư cố định trên được lấy theo số kiệu khái toán
do Silver Shore Hoàng Đạt cung cấp Công ty đang hoàn thành thiết kế chi tiết
02 Giai đoạn của dự án và dự toán chi tiết, Phòng Đầu tư dự án sẽ yêu cầu
công ty cung cấp bổ sung dự toán chi tiết ngay sau khi hoàn thành
Trang 7 Hiệu quả tài chính và khả năng trả nợ của dự án
Các giả thiết tính toán hiệu quả tài chính của dự án được trình bày tại Bảng
tính Dự án Trung tâm Du lịch và Giải trí quốc tế đặc biệt Silver Shores Hoàng Đạt
và các giả thiết sau:
- Lãi vay vốn cố định là (Sibor + 2,1%)/năm tương đương 6.9%/năm
- Doanh thu khách sạn 5 sao: theo công suất cho thuê phòng năm 2010 là
30%, tăng 2% mỗi năm, giá thuê là 160 USD/ngày đêm bao gồm cả các
dịch vụ khác như ăn uống, spa…
- Doanh thu biệt thự: theo công suất cho thuê phòng năm 2010 là 30%, tăng
2% mỗi năm, giá thuê là 350 USD/ngày đêm bao gồm cả các dịch vụ khác
như ăn uống, spa…
- Doanh thu Casino: theo số lượng người tham gia/ngày năm 2010, tăng
5% mỗi năm
- Tỷ lệ tổng Giá vốn hàng bán, Chi phí hoạt động/Doanh thu thuần lớn hơn
mức 76,29% của Công ty cổ phần Quốc tế Hoàng Gia trung bình năm 2005
và 2006
- Chi phí tiền thuê đất còn lại được thanh toán và phân bổ chi phí mỗi năm
316.800 USD trong vòng 10 năm kể từ năm 2009
- Năm 2009 Silver Shore Hoàng Đạt chỉ hoạt động quý IV
Kết quả tính toán cho thấy Silver Shore Hoàng Đạt có khả năng hoàn trả đầy
đủ nợ lãi và nợ gốc cho ngân hàng trong thời gian cho vay là 12 năm, gồm 3 năm ân
hạn và 9 năm trả nợ; có khả năng chịu đựng khi công suất cho thuê năm đầu và
lượng khách tham gia vui chơi có thưởng năm đầu giảm Trường hợp các giả thiết
bình thường thì sau 12 năm Silver Shore Hoàng Đạt sẽ có dòng tiền tích luỹ sau khi
trả hết nợ là 43.800.272 USD
Đánh giá: Kết quả tính toán là đáng tin cậy do trên thực tế công suất cho thuê
của các khách sạn do Inter Continental Hotels Group quản lý hiện nay trung
bình đạt tới 64,06%, với mức công suất cho thuê ban đầu là 30% và tốc độ
tăng là 2% thì phải tới năm 2049 Silver Shore Hoàng Đạt mới đạt mức công
Trang 8suất 64,06% So sánh với mức giá của các khách sạn và khu nghỉ dưỡng ven
biển, mức giá khách sạn và biệt thự ước tính là hợp lý Doanh thu thu năm
2010 đạt 9.720.000 USD phù hợp với số lượng bàn Black Jack, Bách gia lạc,
Tìa sỉu và máy chơi điện tử Silver Shore Hoàng Đạt dự kiến sử dụng
f Tiến độ thực hiện
Tính đến 31/08/2007, Silver Shore Hoàng Đạt đã tiến hành xây dựng các
hạng mục gồm: Khu Casino Khu 1 và Khu 4 của khối khách sạn Khu Casino đã
hoàn thành việc đào móng, đổ bê tông lớp lót và đổ bê tông dầm móng; Khu 4 của
khối khách sạn đã hoàn thành việc đào móng, đổ bê tông lớp lót, Khu 1 của khách
sạn đã hoàn thành việc đào móng Cụ thể:
Theo kế hoạch tại báo cáo nghiên cứu khả thi dự án, tháng 1/2009 Công ty sẽ
đưa Khu 2 và Khu 4 khối khách sạn, khoảng 250 phòng vào khai thác trước cùng
Khu vui chơi có thưởng dành cho người nước ngoài Đến quý III năm 2009 Công ty
sẽ hoàn thành và khai thác toàn bộ khối khách sạn 5 sao Khu biệt thự và các công
trình phụ trợ sẽ được khởi công vào quý II năm 2008 và được khai thác vào cuối
quý IV năm 2009
Các khoản chi chủ đầu tư đã thực hiện cho Dự án như sau:
Trang 9Bảng 20: Các khoản chi đã thực hiện
g Thẩm định tài sản đảm bảo
Toàn bộ tài sản cố định hình thành từ vốn vay và vốn tự có thuộc dự án, giá trị
tạm thời tính theo Khái toán của Silver Shore Hoàng Đạt như sau:
Giá trị tài sản thế chấp để ký hợp đồng thế chấp và giá trị tài sản thế chấp sau
khi đầu tư hoàn thành sẽ được Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Silver Shore
Hoàng Đạt xác định khi có đủ điều kiện cần thiết
h Rủi ro có thể xảy ra và khả năng giảm thiểu
- Rủi ro pháp luật: Hoạt động vui chơi có thưởng tuy là một hoạt động đem
lại nguồn lợi nhuận cao, có đóng góp lớn cho Ngân sách Nhà nước, nhưng
Trang 10hoạt động này lại tiềm ẩn những tác động bất ổn đến môi trường văn hoá xã
hội Do vậy, hoạt động kinh doanh này sẽ chịu nhiều sự điều tiết, quy định
chặt chẽ của các văn bản pháp quy và sự kiểm tra, giám sát nghiêm ngặt
của các cơ quan chức năng Do kinh nghiệm của Việt Nam về việc quản lý
loại hình dịch vụ này còn chưa nhiều nên trong quá trình tổ chức thực hiện
có thể gây nhiều vướng mắc cho hoạt động kinh doanh của Công ty Tuy
nhiên, qua các năm các doanh nghiệp có các loại hình kinh doanh này tại
Việt Nam như kể trên vẫn trên đà phát triển tốt
- Rủi ro suy thoái kinh tế khu vực hoặc toàn cầu: Suy thoái kinh tế khu vực
hoặc toàn cầu sẽ tác động trực tiếp đến khả năng chi tiêu của người dân các
nước, một đợt suy thoái mạnh sẽ làm giảm nhu cầu du lịch của người dân
các nước và có khả năng làm giảm lượng khách lưu trú tại Trung tâm Du
lịch và Giải trí quốc tế đặc biệt Silver Shore Hoàng Đạt Hiện nay nền kinh
tế thế giới đang có khả năng đứng trước một đợt suy thoái do ảnh hưởng từ
đợt khủng hoảng thị trường tín dụng nhà của Mỹ Tuy nhiên, Chính phủ
Mỹ đang áp dụng nhiều giải pháp để khắc phục hậu quả và có thể trong 1
hoặc 2 năm tới, nền kinh tế thế giới sẽ có những biến chuyển tích cực Đây
là rủi ro bất khả kháng, tuy nhiên dự án có nhiều thế mạnh như đã trình
bày ở trên nên dự án sẽ có ảnh hưởng ít hơn so với các dự án khác bởi các
tác động này
- Rủi ro dịch bệnh: Rủi ro dịch bệnh có thể tác động mạnh đến nhu cầu du
lịch của người dân các nước, có thể làm giảm lượng khách lưu trú tại Trung
tâm Du lịch và Giải trí quốc tế đặc biệt Silver Shore Hoàng Đạt Tuy nhiên
rủi ro dịch bệnh có khi chỉ xảy ra theo khu vực, bên cạnh đó trong thời gian
qua thế giới nói chung và Việt Nam đã có nhiều kinh nghiệm trong việc xử
lý dịch bệnh, ví dụ như dịch Sars hay cúm gia cầm, và người dân các nước
đã quen với việc này nên tác động nếu có có thể sẽ ít trầm trọng hơn
Trang 11- Các rủi ro khác: bao gồm thiên tại, chiến tranh… là những rủi ro bất khả
kháng trong trường hợp xảy ra cũng có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động
của Silver Shore Hoàng Đạt
KẾT LUẬN:
Từ những phân tích đánh giá trên cho thấy Dự án khả thi, hiệu quả, thủ tục hồ
sơ đầy đủ, hợp lệ theo quy định hiện hành Dự án có khả năng trả nợ Ngân hàng
trong thời gian xin vay Do vậy Phòng Đầu tư dự án kính trình HĐTĐ xem xét tài
trợ dự án này với những nội dung chính sau:
- Phương thức cho vay: SGD và Chi nhánh Đà Nẵng đồng tài trợ, trong đó
Chi nhánh Đà Nẵng làm đầu mối
- Số tiền cho vay:
+ Đối với đầu tư cố định: Số tiền cho vay tối đa là 53 triệu USD trong tổng số
81 triệu USD vốn cố định của Dự án; trong đod SGD tham gia tối đa 30 triệu
USD, Chi nhánh Đà Nẵng tham gia tối đa 23 triệu USD Tổng số tiền cho vay
của cả hai Chi nhánh không quá tỷ lệ 53/81 tổng vốn đầu tư cố định của Dự án
+ Đối với vốn lưu động: Chi nhánh Đà Nẵng sẽ cho vay toàn bộ theo yêu cầu
thực tế phát sinh của dự án nhưng tối đa không quá 5 triệu USD
- Mục đích cho vay: Thanh toán cho chi phí đầu tư thực hiện dự án “ Trung
tâm Du lịch và Giải trí quốc tế đặc biệt Silver Shore Hoàng Đạt”
- Lãi suất cho vay: Theo đàm phán thoả thuận giữa SGD , Chi nhánh Đà
Nẵng và Công ty, và sẽ được quy định cụ thể trong Hợp đồng Tín dụng và
các văn kiện tín dụng liên quan
- Thời gian rút vốn: 36 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng
- Thời gian cho vay: 144 tháng kể từ ngày rút vốn đầu tiên, trong đó thời
gian ân hạn tối đa là 36 tháng nhưng không quá thời gian 3 tháng kể từ khi
dự án bắt đầu đi vào khai thác và khi dự án có nguồn thu thì Ngân hàng và
Công ty sẽ xác định kế hoạch trả nợ và lập lịch trả nợ
- Kỳ hạn trả nợ:
+ Kỳ hạn trả nợ gốc: 3 tháng một lần
Trang 12+ Kỳ hạn trả nợ lãi: 3 tháng một lần, kỳ hạn nợ lãi đầu tiên được bắt đầu ngay
sau ngày rút vốn đầu tiên là 3 tháng
- Phương thức rút vốn: Chuyển khoản và tiền mặt Hạn chế giải ngân bằng
tiền mặt
- Bảo đảm tiền vay:
+ Thế chấp toàn bộ tài sản thể hiện trên sổ sách kế toán của Dự án, bao gồm:
(i) Quyền sử dụng đất; (ii) Tất cả các công trình khu vui chơi giải trí có
thưởng, khách sạn, biệt thự và các hạng mục khác gắn liền với đất; (iii) Quyền,
lợi ích, khoản bồi hoàn, các khảon thanh toán khác liên quan đến tài sản thế
chấp
+ Thế chấp (i) Toàn bộ vốn pháp định; (ii) Toàn bộ các quyền, lợi ích phát
sinh từ các hợp đồng nhận quản lý, kinh doanh khách sạn và biệt thự… khu
vui chơi giải trí (nếu có) (iii) Các quyền, quyền sở hữu và lợi ích của Công ty
đối với các tài sản hữu hình và các quyền tài sản thể hiện trên bảng tổng kết tài
sản, bao gồm (nhưng không hạn chế bởi): tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn,
tài sản cố định và đầu tư dài hạn (trừ các khoản thế chấp ở trên)
- Điều kiện giải ngân:
+ Hợp đồng bảo đảm tiền vay đã được ký kết và có hiệu lực
+ Công ty bỏ vào trước 13 triệu USD vào dự án
- Điều kiện khác
+ Đối với phần vốn cố định, giải ngân song song giữa vốn tự có và vốn vay
theo tỷ lệ thích hợp
+ Trong thời gian xây dựng, định kỳ tối thiểu 3 tháng một lần, Công ty phải
cung cấp báo cáo tình hình thực hiện dự án trong đó cần thể hiện các nội dung
chủ yếu sau: Tổng khối lượng công trình, giá trị thực hiện so với dự toán, tổng
số tiền đã thanh toán theo từng hạng mục công trình, từng loại nguồn thanh
toán, tiến độ hoàn thành so với kế hoạch
Trang 13+ Công ty cam kết góp đủ phần vốn đối ứng tham gia vào dự án, trong trường
hợp tổng mức đầu tư tăng, Công ty phải tự thu xếp phần tăng đó đảm bảo dự
án được đưa vào vận hành đúng tiến độ đảm bảo tính khả thi của dự án
+ Trong thời gian hoạt động, toàn bộ phần thu tiền từ hoạt động của dự án
được chuyển về và thanh toán duy nhất qua tài khoản tiền gửi của Công ty tại
Chi nhánh Đà Nẵng Chi nhánh NHNT Đà Nẵng đồng là ngân hàng duy nhất
cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho dự án
+ Hợp đồng tín dụng và các văn kiện có liên quan do một văn phòng tư vấn
luật có uy tins tại Việt Nam soạn thảo được SGD và Chi nhánh Đà Nẵng đồng
ý, mọi chi phí do phía Công ty chịu
+ Toàn bộ khấu hao và một phần lợi nhuận sau thuế hàng năm của dự án được
ưu tiên dùng để trả nợ vay cho NHNT theo đúng kế hoạch Công ty chỉ được
phân chia lợi nhuận, trích lập các quỹ hàng năm sau khi đã hoàn thành kế
hoạch trả nợ trong năm cho ngân hàng
+ Các khoản nợ khác của Công ty nếu có được xem là thứ cấp so với nợ của
NHNT
+ Công ty phải mua bảo hiểm cho toàn bộ dự án với mức bồi thường tối thiểu
bằng dư nợ vay của Công ty tại NHNT, tại Công ty bảo hiểm được NHNT
chấp thuận, và người hưởng lợi ưu tiên số 1 là NHNT Thời hạn mua bảo
hiểm được duy trì đến khi toàn bộ nợ gốc, lãi và các khoản phí có liên quan
khác của NHNT đã được Công ty trả đầy đủ Công ty không được sử dụng tiền
bồi thường từ bảo hiểm (nếu có) trừ khi được NHNT chấp thuận, trong hợp
đồng bảo hiểm phải quy định việc thanh toán tiền bảo hiểm (nếu có) duy nhất
qua tài khoản tiền gửi của Công ty tại chi nhánh Đà Nẵng
+ Cung cấp đầy đủ báo cáo có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của Công ty và vốn vay của Ngân hàng theo định kỳ và khi có yêu cầu
+ Mọi thay đổi về quyền sở hữu hoặc loại hình doanh nghiệp phải được Ngân
hàng chấp thuận
Trang 14+ Kết thúc quá trình đầu tư xây dựng dự án, Công ty cung cấp quyết toán vốn
đầu tư xây dựng công trình có kiểm toán của một công ty kiểm toán độc lập có
uy tín hoạt động tại Việt Nam cho Ngân hàng trong thời hạn tối đa là 12 tháng
kể từ ngày công trình đi vào hoạt động (trong trường hợp chưa có kiểm toán
thì thời hạn cung cấp các tài liệu này là không muộn hơn 6 tháng kể từ ngày
công trình đi vào hoạt động)
Nhận xét: công tác thẩm định Dự án “Trung tâm Du lịch và Giải trí quốc tế
đặc biệt Silver Shores Hoàng Đạt”
- Các chỉ tiêu phân tích tài chính cơ bản như NPV, IRR, thời gian trả nợ đều
được tính đến và cơ sở để tính toán là đáng tin cậy
- Trong quá trình thẩm định đã tiến hành thu thập thông tin từ những nguồn
khác để làm cơ sở so sánh đối chiếu với những thông tin trong dự án
Những hạn chế còn tồn tại
- Hồ sơ của khách hàng cung cấp chưa đầy đủ như thông tin về những vị trí
lãnh đạo chủ chốt, thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp…Nên cần phải yêu cầu khách hàng bổ sung, sau đó lại tiến
hành thẩm định lại Điều này gây mất thời gian
- Trong quá trình thẩm định thì một số nội dung như phân tích, tính toán các
chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp, quan hệ của khách hàng với VCB và
các tổ chức tín dụng khác, thẩm định hiệu quả kinh tế xã hội, giải pháp kĩ
thuật xây dựng dự án là chưa có
Nội dung cần thẩm định Nội dung đã thẩm định Nhận xét
1.Thẩm định khách hàng
Trang 15a.Thông tin cơ bản về
Thẩm định còn xơ xài, thiếu nhiều nội dung
Chỉ mới thẩm định dựa trên thông tin sẵn có.Chưa đánh giá chất lượng của báo cáo tài chính, kế hoạch kinh doanh
Không có báo cáo kết quả kinh doanh của khách hàng, không tính toán các
Ngoài những thông tin khách hàng cung cấp, đã
Trang 16Mới chỉ đánh giá năng lực của các nhà thầu, chưa đánh giá được các giải pháp kĩ thuật để triển khai
dự án
Cơ sở tính toán là đáng tin cậy Tuy nhiên cần tính toán thêm các chỉ tiêu như
RR, B/C Mới chỉ dừng ở việc xem xét các thông tin do khách hàng cung cấp
Chưa đưa ra được những giải pháp cụ thể để phòng tránh rủi ro
1.3 Đánh giá về công tác thẩm định các dự án ngành du lịch - dịch vụ tại
SGD
1.3.1 Những kết quả đạt được
1.3.1.1 Về quy trình thẩm định
Kể từ khi tách ra hoạt động độc lập, SGD đã áp dụng một quy trình quản lý rủi
ro mới, phù hợp với hoạt động quản lý rủi ro của các ngân hàng trên thế giới, cụ thể
SGD đã tách 3 phòng: Quan hệ khách hàng, Thẩm định rủi ro và Quản lý nợ hoạt
động độc lập theo đúng chức năng của mình Ở các ngân hàng khác, việc tiệp nhận,
Trang 17đánh giá hồ sơ, cũng như quyết định cho vay dự án đều do một phòng đảm nhiệm,
nhưng tại SGD NHTMCP Ngoại Thương thì việc tiếp xúc trực tiếp với khách hàng
sẽ do phòng Đầu tư dự án đảm nhiệm đối với khách hàng xin vay vốn dưới 5 tỷ còn
những dự án trên 5 tỷ thì việc gặp mặt khách hàng, thu thập, xác minh các thông tin,
hồ sơ tài liệu liên quan đến dự án sẽ do phòng Quan hệ khách hàng đảm nhiệm Sau
khi phòng Quan hệ khách hàng đánh giá sơ bộ thì hồ sơ xin vay vốn của khách hàng
sẽ được chuyển lên phòng Đầu tư dự án để tiến hành thẩm định đánh giá chi tiết
Việc phân chia nhiệm vụ giữa các phòng không những giúp cho công tác thẩm định
được tiến hành nhanh chóng chính xác và tỉ mỉ mà còn tránh được rủi ro về đạo đức
khi cán bộ thẩm định và khách hàng có quan hệ với nhau Vì việc phân chia công
việc giữa các phòng sẽ tránh được hiện tượng quá tải công việc, cái mà thường diễn
ra khi một phòng phải đảm nhiệm toàn bộ các bước của công việc Chính vì vậy mà
hồ sơ vay vốn của khách hàng sẽ được xem xét và đánh giá kĩ lưỡng và đầy đủ hơn,
từ đó quyết định cấp tín dụng cũng chính xác hơn Đối với các dự án thuộc ngành
du lịch dịch vụ thì các dự án này thường là những dự án có vốn vay lớn thì trình tự
tiếp nhận hồ sơ cũng như thẩm định dự án đều được thực hiện theo quy định của
SGD
1.3.1.2 Về nội dung thẩm định
Nội dung thẩm định các dự án xin vay vốn tại SGD được quy định khá đầy đủ
và chi tiết trong công văn hướng dẫn thẩm định dự án đầu tư do Hội Sở chính ban
hành Có thể thấy rằng các nội dung thẩm định đã khái quát đầy đủ về mọi mặt của
một dự án đặc biệt là khía cạnh thị trường và hiệu quả tài chính của dự án Việc chú
trọng phân tích nội dung hai khía cạnh này của một dự án là hoàn toàn hợp lý bởi
Ngân hàng là người cho vay nên điều quan tâm nhất của Ngân hàng khi cho vay dự
án là khả năng trả nợ của dự án đó
Tuy nội dung thẩm định được quy định chung cho tất cả các dự án thuộc mọi
ngành nghề và lĩnh vực nhưng đối với mỗi dự án thuộc ngành nghề khác nhau thì
cán bộ thẩm định cũng có những quan tâm chú trọng thẩm định riêng đối với khía
cạnh mang tính đặc thù ảnh hưởng lớn đến dự án Ví dụ như đối với nhũng dự án
Trang 18thuộc lĩnh vực xây dựng thì cán bộ thẩm định chú trọng đến tiến độ thực hiện dự án,
chất lượng công trình, nhà thầu thiết kế, nhà thầu xây dựng…Còn đối với những dự
án sản xuất hàng hoá thì quan tâm nhiều đến thị trường, đầu ra, đầu vào của dự án,
chất lượng sản phẩm Hay như dự án xây dựng khách sạn, khu vui chơi giải trí
thuộc lĩnh vực du lịch dịch vụ thì cán bộ thẩm định lại tiến hành xem xét đánh giá kĩ
lưỡng đến phần thị trường, các đối thủ cạnh tranh của dự án
1.3.1.3 Về phương pháp thẩm định
Để thẩm định một dự án đầu tư, cán bộ thẩm định của SGD đã thực hiện sử
dụng đan xem, linh hoạt các phương pháp thẩm định Điều này thể hiện rõ nét ngay
từ việc phân công công việc giữa các phòng Việc phân công này là áp dụng phương
pháp thẩm định theo trình tự, phòng Quan hệ khách hàng sẽ đảm nhiệm việc thẩm
định tổng quát còn phòng Đầu tư dự án sẽ đảm nhiệm việc thẩm định chi tiết dự án
Trong quá trình thẩm định chi tiết dự án thì cán bộ thẩm định cũng vận dụng đan
xen phối hợp nhiều phương pháp thẩm định như phương pháp so sánh đối chiếu
dùng để thẩm định hồ sơ, năng lực pháp lý của chủ đầu tư cũng như những thông tin
chung về chủ đầu tư; sử dụng phương pháp phân tích độ nhạy để thẩm định hiệu
quả tài chính của dự án; sử dụng phương pháp đánh giá rủi ro để dự báo những rủi
ro có thể xảy ra…
1.3.1.4 Về thu thập và xử lý thông tin
Ngoài những thông tin mà khách hàng cung cấp trong hồ sơ xin vay vốn, cán
bộ thẩm định còn chủ động tìm kiếm thêm thông tin về khách hang, về dự án cũng
như ngành nghề có liên quan đến dự án thông qua nhiều nguồn như báo chí, các cơ
quan quản lý, internet…Mỗi một nhân viên trong phòng Đầu tư dự án tại SGD đều
được trang bị một máy tính cá nhân có nối mạng internet và bao gồm đầy đủ các
phần mềm hỗ trợ như word, excel… nhờ đó mà đã rút ngắn được thời gian thu thập
cũng như xử lý thông tin và thông tin có được cũng nhiều hơn, chất lượng hơn
1.3.2 Những hạn chế còn tồn tại
1.3.2.1 Quy trình thẩm định:
Trang 19Quy trình thẩm định các dự án được quy định rất chặt chẽ, nó tạo điều kiện cho
ngân hàng tránh được các rủi ro về tín dụng tuy nhiên cần phải khẳng định rằng
chính sự chặt chẽ của quy trình đã tạo nên sự rườm rà, cồng kênh Hầu hết các dự
án vay vốn tại SGD đều là những dự án lớn, số vốn lớn hơn 5 tỷ VND vì vậy mà hồ
sơ xin vay vốn của khách hàng chắc chắn sẽ phải được thông qua việc kiểm tra của
hai phòng đó là phòng Quan hệ khách hàng và phòng Đầu tư dự án Điều này sẽ
khiến cho khách hàng cảm thấy là không cần thiết, mất thời gian, tạo ra một tâm lý
không thoải mái cho khách hàng Đôi khi chính sự chặt chẽ này sẽ làm cho khách
hàng mất cơ hội kinh doanh
1.3.2.2 Nội dung thẩm định
Nội dung thẩm định cũng được hướng dẫn rất chi tiết trong các văn bản của
SGD tuy nhiên đững trên góc độ là người cho vay nên ngân hàng mới chỉ quan tâm
đến việc thẩm định hiệu quả tài chính cũng như khả năng, thời hạn trả nợ của dự án
còn những khía cạnh khác như kĩ thuật, rủi ro đặc biệt là khía cạnh lợi ích kinh tế xã
hội thì chưa được quan tâm thoả đáng Việc tiến hành thẩm định khía cạnh kĩ thuật,
tổ chức quản lý thực hiện dự án, nhân sự… chỉ mới dựa vào những thông tin mà
khách hàng cung cấp việc so sánh với các chỉ tiêu định mức kinh tế của ngành còn
hạn chế
Việc thẩm định khía cạnh tài chính như nhu cầu vốn vay, cơ cấu vốn, nguồn
trả nợ… chủ yếu là dựa trên những thông tin sẵn có do khách hàng cung cấp Bên
cạnh đó, để có thể vay vốn thì khách hàng thường “đánh bóng” bản thân và dự án
của mình khiến cho việc đánh giá của cán bộ tín dụng gặp khó khăn đặc biệt khi cán
bộ tín dụng thường chỉ dựạ vào những thông tin có sẵn để đánh giá
Khi đánh giá, phân tích độ nhạy của dự án thì cán bộ thẩm định thường cho
công suất, giá bán sản phẩm tăng dần theo thời gian mà không tính đến sự suy giảm
do suy thoái kinh tế hay do thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi
Các chỉ tiêu dùng để thẩm định khía cạnh tài chính như NPV, IRR, B/C…còn
chưa được đề cập đến trong văn bản hướng dẫn thẩm định dự án Điều này có thể
dẫn đến những thiếu sót trong đánh giá dự án Bên cạnh đó, những khoản mục như
Trang 20vốn lưu động được thu hồi cuối đời dự án, giá trị còn lại của máy móc trang thiết bị
hầu như không được đề cập đến trong quá trình thẩm định dự án
Các chỉ tiêu tài chính của dự án thì chỉ được tính toán, xem xét cho đến khi dự
án ngừng hoạt động hoặc cho đến khi trả hết nợ của ngân hàng mà chưa được tính
toán mang tính chất bình quân Vì vậy mà sẽ không có sự so sánh giữa các dự án
cùng một ngành với nhau nhằm tìm ra dự án tối ưu hoặc sự so sánh này còn rất hạn
chế
1.3.2.3 Chất lượng và số lượng thông tin phục vụ cho công tác thẩm định
chưa đầy đủ và chính xác Thông tin mà cán bộ thẩm định sử dụng chủ yếu là do khách hàng cung cấp vì
vậy mà những thông tin đó chắc chắn sẽ mang nhiều yếu tố chủ quan, khách hàng
sẽ chỉ cung cấp những thông tin có lợi cho mình Mặc dù những thông tin về tình
hình tài chính của khách hàng đều phải thông qua kiểm toán độc lập nhưng những
báo cáo tài chính đó vẫn chưa đủ độ tin cậy do trên thực tế việc kiểm toán độc lập
vẫn xuất hiện những tiêu cực
Hầu hết các doanh nghiệp xin vay vốn lại chưa có kinh nghiệm trong việc lập
hồ sơ xin vay vốn nên xảy ra nhiều trường hợp hồ sơ vay vốn của khách hàng thiếu
thông tin điều này gây ra những khó khăn nhất định cho công tác thẩm định cũng
như gây tốn thời gian cho việc bổ sung hoàn thiện hồ sơ
Việc thu thập tìm kiếm thông tin thông qua báo chí, mạng internet…cũng có
giúp ích cho công tác thẩm định tuy nhiên luồn thông tin này lại rất ít khi được các
cơ quan có thẩm quyền xác nhận tính xác thực của nó
Các cán bộ thẩm định thì còn hạn chế trong việc xem xét thực tế khách hàng,
đánh giá thực tế trong thời gian dự án được thực hiện và khi dự án đi vào hoạt động
1.3.2.4 Dòng tiền của dự án còn chưa được tính toán hợp lý
Cách xác định dòng tiền được dựa trên việc tính toán vốn đầu tư tại thời điểm
ban đầu Việc xác định này là chưa hợp lý do những dự án thuộc ngành du lịch -
dịch vụ xin vay vốn tại SGD thường là những dự án đòi hỏi số vốn lớn và được giải
ngân tại các thời điểm khác nhau Điều này dẫn đến việc chiết khấu dòng vốn đầu tư
Trang 21ban đầu là chưa chính xác, nó sẽ làm cho dòng chi phí tăng lên vì thế mà sẽ ảnh
hưởng đến các chỉ tiêu hiệu quả tài chính
Dòng chi phí cũng chưa được đánh giá chính xác Việc đánh giá này cũng gặp
nhiều khó khăn do các loại chi phí như chi phí nguyên vật liệu, điện, nước… chịu
sự biến động liên tục của thị trường và ảnh hưởng của lạm phát
Phần giá trị còn lại của dự án trong khi tính toán cũng thường bị loại bỏ do đó
sẽ làm giảm giá trị của chỉ tiêu NPV, IRR
1.3.2.5 Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính được sử dụng riêng rẽ mà chưa có sự
kết hợp hệ thống các chỉ tiêu Chỉ tiêu NPV là chỉ tiêu hiệu quả tài chính dễ tính toán nhất nên thường được
sử dụng để phân tích hiệu quả tài chính Ngoài ra trong quá trình thẩm định, cán bộ
thẩm định còn sử dụng chỉ tiêu IRR để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án Tuy
nhiên ngoài hai chỉ tiêu đó ra, để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án còn có rất
nhiều các chỉ tiêu khác như B/C, thời gian hoàn vốn T, hệ số hoàn vốn RR…để có
thể đánh giá chính xác thì cần phải sử dụng một cách tổng hợp các chỉ tiêu này
Nhưng trên thực tế thì trong quá trình thẩm định dự án, cán bộ thẩm định đã chưa
thực sự sử dụng các chỉ tiêu một cách có hệ thống Điều này dẫn đến hiệu quả thẩm
định dự án là chưa cao
1.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế
Có thể thấy rằng những hạn chế còn tồn tại trong công tác thẩm định dự án tại
SGD NHTMCP Ngoại Thương là do nhiều nguyên nhân, có thể kể ra những nguyên
nhân chủ yếu sau:
Kinh nghiệm, kiến thức của cán bộ thẩm định còn hạn chế Những cán
bộ thẩm định chủ yếu là những người được đào tạo trong khối ngành
kinh tế, có kiến thức chuyên sâu về tài chính, về phương pháp, cách
thức thẩm định nhưng những kiến thức về mặt kĩ thuật, về những lĩnh
vực ngành nghề mà các dự án có liên quan là còn thiếu Vì vậy mà việc
thẩm định khía cạnh kĩ thuật vẫn còn mang tính chung chung, chưa đi
sâu vào xem xét đánh giá
Trang 22 Hệ thống thông tin của SGD còn hạn chế do SGD mới tách ra hoạt động
riêng nên kho thông tin lưu trữ về các dự án đã được thẩm định là chưa
được đầy đủ Bên cạnh đó, để có được thông tin chính xác thì cũng phải
chi phí lớn trong khi ngân sách dành cho công tác thẩm định thì lại hạn
chế
Việc phân chia nhiệm vụ giữa phòng Quan hệ khách hàng và phòng
Đầu tư dự án cũng gây ra những hạn chế trong công tác thẩm định do
phòng Quan hệ khách hàng thì có cơ hội tiếpp xúc trực tiếp với khách
hàng nên có thể có những đánh giá khác so với những kết luận của
phòng Đầu tư dự án vì vậy mà có thể nảy sinh những nhận định ngược
chiều về dự án
Cơ chế chính sách cho vay của các ngân hàng thương mại co nhà nước
ban hành thì vẫn còn đanh trong quá trình sửa đổi, bổ sung và hoàn
thiện vì vậy mà các quy định này thường xuyên thay đổi nên việc áp
dụng cũng gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi cán bộ thẩm định phải thưỡng
xuyên cập nhập
Trình độ ngành ngân hàng trong nước nói chung là thấp hơn so với thế
giới Điều này thể hiện thông qua các tranh thiết bị phục vụ cho hoạt
động của ngân hàng còn lạc hậu, trình độ nhân viên ngân hàng còn chưa
cao
Trang 23Chương II: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác thẩm định
các dự án ngành du lịch - dịch vụ tại SGD
2.1 Định hướng phát triển của SGD NHTMCP Ngoại thương Việt Nam
2.1.1 Mục tiêu phát triển của SGD giai đoạn tiếp theo
- Hoàn thành công tác quyết toán năm 2008 đúng thời hạn quy định với số
liệu chính xác
- Hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch năm 2009 mà Ngân hàng thương mại cổ
phần Trung ương đã giao cho SGD:
Huy động vốn quy VND từ nền kinh tế đạt 47.109 tỷ VND tăng 18%
so với 31/12/2008
Dư nợ cho vay quy VND đạt 6.216 tỷ VND tăng 32% so với
31/12/2008
Số dư bảo lãnh đạt 1.485 tỷ VND
Tỷ lệ nợ xấu tối đa 3%
Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu: 5,91 tỷ USD
Phát hành 31.215 thẻ Connect 24, 14.015 thẻ ghi nợ quốc tế, 7.495 thẻ
tín dụng quốc tế, phát triển thêm 300 CSCNT
Trang 24- Tăng cường tiếp cận và cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
khách hàng thể nhân để tăng dần tỷ trọng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho
vay thể nhân trong tổng dự nợ
- Tìm kiếm các dự án tốt, hiệu quả để cho trung – dài hạn và tăng cường
quan hệ với các ngân hàng khác để cho vay đồng tài trợ
- Tiếp tục thực hiện việc rà soát, phân loại khách hàng,… để đảm bảo quản
lý rủi ro và quản lý hiệu quả danh mục các khoản vay Tiếp tục tìm kiếm và mở
rộng lượng khách hàng có quan hệ tín dụng, thanh toán trong và ngoài nước để có
chính sách khách hàng tổng thể Có các biện pháp để thu hút và hỗ trợ các khách
hàng doanh nghệp xuất nhập khẩu
- Đưa toàn bộ máy ATM còn lại vào hoạt động và đưa một số sản phẩm
mới như Kios và EDC không dây vào hoạt động Thực hiện quảng bá thẻ CUP
(Trung Quốc) và ký kết hợp đồng với các đơn vị chấp nhận thẻ để thanh toán thẻ
này do đây là loại thẻ mới liên kết với hệ thống thanh toán thẻ của Việt Nam
- Tìm kiếm và thuê mới địa điểm cho 10 máy ATM, 2-3 phòng giao dịch
tại các địa bàn đông dân cư và toà nhà lớn
- Nghiên cứu và lên kế hoạch lắp đặt hệ thống camera tại các quầy giao
dịch quỹ để đảm bảo an toàn ngân quỹ khi giao dịch tiền mặt với khách hàng với số
lượng lớn Phối hợp chặt chẽ giữa phòng Hối đoái và phòng Ngân quỹ để chủ động
nhập ngoại tệ để phục vụ khách hàng kịp thời
- Chú trọng công tác quảng bá hình ảnh của Vietcombank, quảng cáo rộng
rãi các sản phẩm của Vietcombank trên mọi phương tiện thông tin hoặc thông qua
các chương trình khuyến mại thường xuyên để thu hút khách hàng
- Tổ chức đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ nghiệp vụ, bồi dưỡng chuyên môn,
ngoại ngữ và kỹ năng giao tiếp và quan hệ khách hàng cho các cán bộ để đáp ứng
yêu cầu của công việc và nhu cầu của khách hàng
Trang 252.1.2 Định hướng của SGD trong công tác thẩm định các dự án ngành du
lịch - dịch vụ
2.1.2.1 Định hướng công tác thẩm định nói chung của SGD
- Đánh giá đúng vai trò của công tác thẩm định
Để nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án, trước hết cần phải có định
hướng và nhận thức đúng đắn về công tác thẩm định Thẩm định dự án là một phần
công việc không thể thiếu được trong mỗi một tổ chức tín dụng nào
Thẩm định dự án là việc tổ chức xem xét đánh giá một cách khách quan,
khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản có ảnh hưởng trực tiếp đến khả nưang
thực hiện và hiệu quả của dự án để từ đó đưa ra quyết định có cho vay hay không
Đây là một quá trình kiểm tra, đánh giá lại các nội dung cơ bản của dự án một cách
độc lập, tạo được cơ sở vững chắc cho hoạt động đầu tư có hiệu quả, hoạt động cho
vay có hiệu quả
Do vậy, đối với ngân hàng công tác thẩm định có vai trò tham mưu có hiệu
quả trước khi đưa ra quyết định tài trợ vốn Còn đối với bên khách hàng thẩm định
cần thực hiện vai trò tư vấn, xây dựng dự án phương án kinh doanh mang tính khả
thi và hiệu quả cao, thẩm đinh dự án cần đứng trên quan điểm phục vụ khách hàng
cho dù quyết định của ngân hàng có cho vay hay không
Công tác thẩm định của SGD phải được chú trọng để ngày càng hoàn thiện
và phát triển mạnh bởi những lý do sau:
Dự án kinh doanh vốn khá đa dạng, đối tượng, thành phần tín dụng cũng
phong phú Nhiệm vụ tín dụng đang trở nên phức tạp và do đó chứa đựng nhiều rủi
ro hơn Chính vì vậy tính chuyên môn hoá trong hoạt động này trở nên cấp thiết
Thẩm định dần trở nên quan trọng trong hoạt động tín dụng và thậm chí có xu
hướng rõ nét là tách ra trở thành một nghiệp vụ, một bộ phận riêng biệt so với tín
dụng