1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư tại NHVN a phần 2

50 171 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 634,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thẩm định tài sản đảm bảo Toàn bộ tài sản cố định hình thành từ vốn vay và vốn tự có thuộc dự án, giá trị tạm thời tính theo Khái toán của Silver Shore Hoàng Đạt như sau: Giá trị tài sả

Trang 1

Trên địa bàn Đà Nẵng hiện nay có 42 dự án đầu tư du lịch được UBND Thành

phố có chủ trương cho phép đầu tư gồm 16 dự án được cấp phép đầu tư với tổng

vốn10.808 tỷ đồng và 26 dự án khác đã ký bản ghi nhớ và thoả thuận nguyên tắc

với tổng vốn 15.585 tỷ đồng Khi các dự án này hoàn thành một cách đồng bộ sẽ

biến Đà Nẵng trở thành một trung tâm du lịch chất lượng cấónh ngang với đảo Bali

ở Indonesia hay Phukhet ở ThaiLand So sánh với những quốc gia này, Việt Nam có

lợi thế ở tiềm năng du lịch rất lớn và môi trường kinh tế - chính trị ổn định hơn

 Nhà thầu thiết kế

Nhà thầu thiết kế chính là Huazhu Design and Consultant Ltd.co (Shenzhen

Huazhu Engineering Design Ltd.co), trụ sở tại 2201 - tầng 22 – Tairan Cangsong

Plaza – Khu công nghiệp Gongmiao – Futian – Shenzen – Trung Quốc, đã được Sở

xây dựng thánh phố Đã Nẵng chấp thuận làm nhà thấu thiết kế dự án tại Giấy phép

thầu số 613/SXD – GPT ngày 18/06/2007 Đây là công ty được thành lập ngày

13/04/1994, có doanh thu đạt 23,963 tỷ VND và lợi nhuận sau thuế đạt 1,975 tỷ

VND năm 2006 Nhà thầu nhận thực hiện thiết kế chính toàn bộ các phần xây dựng

theo hợp đồng ký với Silver Shore Hoàng Đạt ngày 23/11/2006, giá trị dự kiến

khoảng 1.110.000 USD Tuy nhiên do yêu cầu về tiến độ của Silver Shore Hoàng

Đạt, đối với hạng mục Casino nhà thầu chỉ thực hiện bước thiết kế cơ sở, phần thiết

kế thi công được giao cho Beijing Dongfang Gouxing Architecture Design Co, Ltd

với giá trị hợp đồng khoảng 200.000 USD Báo cáo tài chính đã kiểm toán năm tài

chính 2005 và 2006 của nhà thầu thiết kế chính cho thấy công ty này kinh doanh có

hiệu quả

Nhà thầu thiết kế trang trí nội thất Casino là Beijing Quingshang Envỉomental

Art & Architecture Design Institude Co,Ltd, giá trị hợp đồng dự kiến khoảng

120.000USD

Theo Công ty báo cáo Huazhu (Thuộc tập đoàn thiết kế Thâm Quyến) sau khi

được Sở XD Đà Nẵng chấp thuận và ký hớp đồng thiết kế với Công ty đã cho ra

mặt bằng và phối cảnh dự án Sau đó Huazhu và Silver Shore Hoàng Đạt phải mang

phối cảnh và mặt bằng gặp Intercon để Intercon bổ sung ý tưởng cho phần mặt bằng

Trang 2

và phối cảnh, các giai đoạn tiếp theo cho việc chọn nhà thiết kế nào hoặc Huazhu

tiếp tục thiết kế đối với từng hạng mục đều phải được Intercon đồng ý hoặc giới

thiệu

 Tổng thầu xây dựng

Tổng thầu xây dựng là công ty TNHH Xây dựng công trình số 5 thuộc Tập

đoàn xây dựng Quảng Tây – Trung Quốc, trụ sở chính tại số 4 đường YouYi –

thành phố Liuzhou – Guangxi, đã được Sở XD Tp Đà Nẵng chấp thuận làm tổng

thầu tại Giấy phép thầu số 175/SXD – GPT bgày 02/02/2007 Nhà thầu chính có

phạm vi năng lực phù hợp, có vốn pháp định quy VND khoảng 645 tỷ, theo giấy

chứng nhận tư cách doanh nghiệp xây dựng do Bộ xây dựng Trung Quốc cấp Công

ty này được nhận thầu xây dựng công trình có giá trị lớn tới 5 lần vốn pháp định –

tương đương 3.227 tỷ VND Silver Shore Hoàng Đạt đã xem xét năng lực hoạt động

của Công ty TNHH xây dựng công trình số 5; Công ty này đã tham gia xây dựng

nhiều công trình lớn, trong đó có một khách sạn tiêu chuẩn 5 sao tại Móng Cái -

Việt Nam Một số công trình tiêu biểu gồm: Trung tâm thương mại Quốc tế Gubu –

Liuzhou – Trung Quốc, chủ đầu tư Công ty TNHH tập đoàn Zhenghe - Liễu Châu,

giá trị hợp đồng tổng thầu 50.000.000 USD, Toà nhà Zhuangcheng – Liuzhou, chủ

đầu tư Công ty TNHH phát triển địa ốc Zhuangcheng – Liuzhou, giá trị hợp đồng

tổng thầu 37.872.000 USD; Khu thương mại Yuzui – Liuzhou, chủ đầu tư Công ty

phát triển địa ốc Huanqui – Liuzhou, giá trị hợp đồng tổng thầu 30.000.000 USD

Theo điều khoản Hợp đồng thầu chính ký giữa Công ty TNHH Xây dựng công

trình số 5 và Silver Shore Hoàng Đạt, để đủ điều kiện làm nhà thầu chính Công ty

này phải xuất trình chứng thư, bảo lãnh thực hiện hợp đồng và các hợp đồng bảo

hiểm bắt buộc; Công ty này phải tự mua sắm thiết bị máy móc phục vụ thi công,

tuyển dụng và trả lương công nhân khi xây dựng dự án Báo cáo tài chính năm tài

chính 2004 và 2005 cho thấy công ty này làm kinh doanh có hiệu quả, doanh thu

năm 2005 đạt khoảng 3.709 tỷ VND Giá trị tạm tính hợp đồng tổng thầu xây dựng

là 20.096.153 USD

 Nhà thầu quản lý

Trang 3

Nhà thầu quản lý khách sạn của Dự án là Inter Continental Hotels Group

(Greater China) Ltd có trụ sở tại 230 Victoria Street, #13-00 Gugis Junction

Towers, Singapore 188024; thuộc tập đoàn Inter Continental Hotel Group, tập đoàn

quản lý khách sạn lớn nhất thế giới về số lượng phòng (đứng trên Wyndham

Worldwide, Mariott International, Hilton Hotel Corp và Accor), có cổ phiếu niêm

yết trên sàn Giao dịch chứng khoàn London và sàn Giao giao dịch chứng khoán

New York Công ty này đang quản lý hơn 3.800 khách sạn gồm khoảng 563.676

phòng ở trên 100 quốc gia trên thế giới; lượng khách nghỉ đạt khoảng 130.000.000

lượt hàng năm tương đương với công suất cho thuê phòng khoảng 64,06% Công ty

quản lý 7 thương hiệu khách sạn gồm:

- Inter Continental (hotel & resort): 147 hotels tương đương 49.132

viếc 4 năm tại 2 khách sạn tiêu chuẩn 4 sao và sao mang thương hiệu Holiday Inn

thuộc tập đoang này

Silver Shore Hoàng Đạt đã ký 2 hợp đồng quản lý với Inter Continental Hotels

Group (Greater China) Ltd, một hợp đồng cho khu khách sạn 9 tầng tiêu chuẩn 5

Trang 4

sao và một hợp đồng cho khu biệt thự cao cấp; theo đó Inter Continental sẽ được

hưởng phí quản lý cơ bản là 2% doanh thu thuần từ hoạt động kinh doanh khách sạn

- biệt thự và Phí quản lý thưởng là 6% của Lợi nhuận hoạt động trừ Phí quản lý cơ

bản Bên cạnh đó theo điều khoản của 2 hợp đồng này, Công ty cũng ký 2 hợp đồng

phụ với 2 công ty con trong tập đoàn Inter Continental Hotels Group về dịch vụ

khai trương hoạt động và dịch vụ tư vấn trước hoạt động

 Nguồn nhân lực

Theo Hợp đồng Quản lý khu Khách sạn và khu Biệt thự ký giữa Inter

Continental Hotels Group (Greater China) Ltd và Silver Shore Hoàng Đạt, công ty

quản lý sẽ có trách nhiệm giám sát mọi thủ tục liên quan đến việc tuyển dụng và

quản lý toàn bộ nhân sự khách sạn Giám đốc quản lý khách sạn và các nhân sự

chính người nước ngoài sẽ do công ty quản lý lựa chọn Theo Hợp đồng Hệ thống

nhóm hỗ trợ Quốc tế ký giữa Six Continents Hotels Inc – công ty thành viên của tập

đoàn Inter Continental Hotels Group và Silver Shore Hoàng Đạt, công ty này sẽ hỗ

trợ Silver Shore Hoàng Đạt trong việc đào tạo nhân viên, nghiên cứu mức độ hài

lòng của nhân viên với vị trí tuyển dụng Số lượng nhân viên cần tuyển dụng để vận

hành dự án theo ước tính là 861 người Dự án sẽ ưu tiên tuyển dụng và đào tạo lao

động tại địa phương

 Đánh giá: Nhà thầu thiết kế chính, tổng thầu xây dựng và nhà thầu quản lý do

của dự án đều là những nhà thầu nước ngoài, có đầy đủ năng lực cũng như khả

năng để thực hiện dự án Tuy nhiên, chủ đầu tư cần phải bổ sung thêm vào hồ

sơ những thông tin như giải pháp xây dựng, thiết kế kiến trúc, thiết kế nội thất,

giải pháp về nguồn nhân lực của nhà thầu quản lý

e Thẩm định về hiệu quả tài chính

Trang 5

Tổng mức đầu tư tính khấu

Cơ cấu tài trợ vốn dự kiến như sau:

Trang 6

Furama Resort 3 ha 39.500.000 USD 200 197.500USD

47.432.435 USD -Khách sạn: 24.307.700 USD

Biệt thự: 23.124.735 USD

-Biệt thự: 13.349.408 USD

550

98

80.817 USD 136.218 USD

(*) Ghi chú: Tổng đầu tư chỉ gồm phần khách sạn và biệt thự, không bao gồm

phần Casino và 3.168.000 USD tiền thuê đất trả và phân bổ trong 10 năm kể từ

2009

Tổng đầu tư thực tế có thể tăng hoặc giảm theo yêu cầu về thiết bị của Nhà

thầu quản lý để đáp ứng thương hiệu của Crowne Plaza

 Đánh giá: Suất đầu tư khái toán của dự án theo bảng trên là ở mức trung bình

so với một dự án khác trong cùng khu vực Tỷ lệ Vốn tự có/Tổng mức đầu tư

cố định là 39,54% thoả mãn điều kiện thế chấp tài sản hình thành từ dự án đầu

tư để vay vốn Tổng mức đầu tư cố định trên được lấy theo số kiệu khái toán

do Silver Shore Hoàng Đạt cung cấp Công ty đang hoàn thành thiết kế chi tiết

02 Giai đoạn của dự án và dự toán chi tiết, Phòng Đầu tư dự án sẽ yêu cầu

công ty cung cấp bổ sung dự toán chi tiết ngay sau khi hoàn thành

Trang 7

 Hiệu quả tài chính và khả năng trả nợ của dự án

Các giả thiết tính toán hiệu quả tài chính của dự án được trình bày tại Bảng

tính Dự án Trung tâm Du lịch và Giải trí quốc tế đặc biệt Silver Shores Hoàng Đạt

và các giả thiết sau:

- Lãi vay vốn cố định là (Sibor + 2,1%)/năm tương đương 6.9%/năm

- Doanh thu khách sạn 5 sao: theo công suất cho thuê phòng năm 2010 là

30%, tăng 2% mỗi năm, giá thuê là 160 USD/ngày đêm bao gồm cả các

dịch vụ khác như ăn uống, spa…

- Doanh thu biệt thự: theo công suất cho thuê phòng năm 2010 là 30%, tăng

2% mỗi năm, giá thuê là 350 USD/ngày đêm bao gồm cả các dịch vụ khác

như ăn uống, spa…

- Doanh thu Casino: theo số lượng người tham gia/ngày năm 2010, tăng

5% mỗi năm

- Tỷ lệ tổng Giá vốn hàng bán, Chi phí hoạt động/Doanh thu thuần lớn hơn

mức 76,29% của Công ty cổ phần Quốc tế Hoàng Gia trung bình năm 2005

và 2006

- Chi phí tiền thuê đất còn lại được thanh toán và phân bổ chi phí mỗi năm

316.800 USD trong vòng 10 năm kể từ năm 2009

- Năm 2009 Silver Shore Hoàng Đạt chỉ hoạt động quý IV

Kết quả tính toán cho thấy Silver Shore Hoàng Đạt có khả năng hoàn trả đầy

đủ nợ lãi và nợ gốc cho ngân hàng trong thời gian cho vay là 12 năm, gồm 3 năm ân

hạn và 9 năm trả nợ; có khả năng chịu đựng khi công suất cho thuê năm đầu và

lượng khách tham gia vui chơi có thưởng năm đầu giảm Trường hợp các giả thiết

bình thường thì sau 12 năm Silver Shore Hoàng Đạt sẽ có dòng tiền tích luỹ sau khi

trả hết nợ là 43.800.272 USD

 Đánh giá: Kết quả tính toán là đáng tin cậy do trên thực tế công suất cho thuê

của các khách sạn do Inter Continental Hotels Group quản lý hiện nay trung

bình đạt tới 64,06%, với mức công suất cho thuê ban đầu là 30% và tốc độ

tăng là 2% thì phải tới năm 2049 Silver Shore Hoàng Đạt mới đạt mức công

Trang 8

suất 64,06% So sánh với mức giá của các khách sạn và khu nghỉ dưỡng ven

biển, mức giá khách sạn và biệt thự ước tính là hợp lý Doanh thu thu năm

2010 đạt 9.720.000 USD phù hợp với số lượng bàn Black Jack, Bách gia lạc,

Tìa sỉu và máy chơi điện tử Silver Shore Hoàng Đạt dự kiến sử dụng

f Tiến độ thực hiện

Tính đến 31/08/2007, Silver Shore Hoàng Đạt đã tiến hành xây dựng các

hạng mục gồm: Khu Casino Khu 1 và Khu 4 của khối khách sạn Khu Casino đã

hoàn thành việc đào móng, đổ bê tông lớp lót và đổ bê tông dầm móng; Khu 4 của

khối khách sạn đã hoàn thành việc đào móng, đổ bê tông lớp lót, Khu 1 của khách

sạn đã hoàn thành việc đào móng Cụ thể:

Theo kế hoạch tại báo cáo nghiên cứu khả thi dự án, tháng 1/2009 Công ty sẽ

đưa Khu 2 và Khu 4 khối khách sạn, khoảng 250 phòng vào khai thác trước cùng

Khu vui chơi có thưởng dành cho người nước ngoài Đến quý III năm 2009 Công ty

sẽ hoàn thành và khai thác toàn bộ khối khách sạn 5 sao Khu biệt thự và các công

trình phụ trợ sẽ được khởi công vào quý II năm 2008 và được khai thác vào cuối

quý IV năm 2009

Các khoản chi chủ đầu tư đã thực hiện cho Dự án như sau:

Trang 9

Bảng 20: Các khoản chi đã thực hiện

g Thẩm định tài sản đảm bảo

Toàn bộ tài sản cố định hình thành từ vốn vay và vốn tự có thuộc dự án, giá trị

tạm thời tính theo Khái toán của Silver Shore Hoàng Đạt như sau:

Giá trị tài sản thế chấp để ký hợp đồng thế chấp và giá trị tài sản thế chấp sau

khi đầu tư hoàn thành sẽ được Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Silver Shore

Hoàng Đạt xác định khi có đủ điều kiện cần thiết

h Rủi ro có thể xảy ra và khả năng giảm thiểu

- Rủi ro pháp luật: Hoạt động vui chơi có thưởng tuy là một hoạt động đem

lại nguồn lợi nhuận cao, có đóng góp lớn cho Ngân sách Nhà nước, nhưng

Trang 10

hoạt động này lại tiềm ẩn những tác động bất ổn đến môi trường văn hoá xã

hội Do vậy, hoạt động kinh doanh này sẽ chịu nhiều sự điều tiết, quy định

chặt chẽ của các văn bản pháp quy và sự kiểm tra, giám sát nghiêm ngặt

của các cơ quan chức năng Do kinh nghiệm của Việt Nam về việc quản lý

loại hình dịch vụ này còn chưa nhiều nên trong quá trình tổ chức thực hiện

có thể gây nhiều vướng mắc cho hoạt động kinh doanh của Công ty Tuy

nhiên, qua các năm các doanh nghiệp có các loại hình kinh doanh này tại

Việt Nam như kể trên vẫn trên đà phát triển tốt

- Rủi ro suy thoái kinh tế khu vực hoặc toàn cầu: Suy thoái kinh tế khu vực

hoặc toàn cầu sẽ tác động trực tiếp đến khả năng chi tiêu của người dân các

nước, một đợt suy thoái mạnh sẽ làm giảm nhu cầu du lịch của người dân

các nước và có khả năng làm giảm lượng khách lưu trú tại Trung tâm Du

lịch và Giải trí quốc tế đặc biệt Silver Shore Hoàng Đạt Hiện nay nền kinh

tế thế giới đang có khả năng đứng trước một đợt suy thoái do ảnh hưởng từ

đợt khủng hoảng thị trường tín dụng nhà của Mỹ Tuy nhiên, Chính phủ

Mỹ đang áp dụng nhiều giải pháp để khắc phục hậu quả và có thể trong 1

hoặc 2 năm tới, nền kinh tế thế giới sẽ có những biến chuyển tích cực Đây

là rủi ro bất khả kháng, tuy nhiên dự án có nhiều thế mạnh như đã trình

bày ở trên nên dự án sẽ có ảnh hưởng ít hơn so với các dự án khác bởi các

tác động này

- Rủi ro dịch bệnh: Rủi ro dịch bệnh có thể tác động mạnh đến nhu cầu du

lịch của người dân các nước, có thể làm giảm lượng khách lưu trú tại Trung

tâm Du lịch và Giải trí quốc tế đặc biệt Silver Shore Hoàng Đạt Tuy nhiên

rủi ro dịch bệnh có khi chỉ xảy ra theo khu vực, bên cạnh đó trong thời gian

qua thế giới nói chung và Việt Nam đã có nhiều kinh nghiệm trong việc xử

lý dịch bệnh, ví dụ như dịch Sars hay cúm gia cầm, và người dân các nước

đã quen với việc này nên tác động nếu có có thể sẽ ít trầm trọng hơn

Trang 11

- Các rủi ro khác: bao gồm thiên tại, chiến tranh… là những rủi ro bất khả

kháng trong trường hợp xảy ra cũng có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động

của Silver Shore Hoàng Đạt

KẾT LUẬN:

Từ những phân tích đánh giá trên cho thấy Dự án khả thi, hiệu quả, thủ tục hồ

sơ đầy đủ, hợp lệ theo quy định hiện hành Dự án có khả năng trả nợ Ngân hàng

trong thời gian xin vay Do vậy Phòng Đầu tư dự án kính trình HĐTĐ xem xét tài

trợ dự án này với những nội dung chính sau:

- Phương thức cho vay: SGD và Chi nhánh Đà Nẵng đồng tài trợ, trong đó

Chi nhánh Đà Nẵng làm đầu mối

- Số tiền cho vay:

+ Đối với đầu tư cố định: Số tiền cho vay tối đa là 53 triệu USD trong tổng số

81 triệu USD vốn cố định của Dự án; trong đod SGD tham gia tối đa 30 triệu

USD, Chi nhánh Đà Nẵng tham gia tối đa 23 triệu USD Tổng số tiền cho vay

của cả hai Chi nhánh không quá tỷ lệ 53/81 tổng vốn đầu tư cố định của Dự án

+ Đối với vốn lưu động: Chi nhánh Đà Nẵng sẽ cho vay toàn bộ theo yêu cầu

thực tế phát sinh của dự án nhưng tối đa không quá 5 triệu USD

- Mục đích cho vay: Thanh toán cho chi phí đầu tư thực hiện dự án “ Trung

tâm Du lịch và Giải trí quốc tế đặc biệt Silver Shore Hoàng Đạt”

- Lãi suất cho vay: Theo đàm phán thoả thuận giữa SGD , Chi nhánh Đà

Nẵng và Công ty, và sẽ được quy định cụ thể trong Hợp đồng Tín dụng và

các văn kiện tín dụng liên quan

- Thời gian rút vốn: 36 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng

- Thời gian cho vay: 144 tháng kể từ ngày rút vốn đầu tiên, trong đó thời

gian ân hạn tối đa là 36 tháng nhưng không quá thời gian 3 tháng kể từ khi

dự án bắt đầu đi vào khai thác và khi dự án có nguồn thu thì Ngân hàng và

Công ty sẽ xác định kế hoạch trả nợ và lập lịch trả nợ

- Kỳ hạn trả nợ:

+ Kỳ hạn trả nợ gốc: 3 tháng một lần

Trang 12

+ Kỳ hạn trả nợ lãi: 3 tháng một lần, kỳ hạn nợ lãi đầu tiên được bắt đầu ngay

sau ngày rút vốn đầu tiên là 3 tháng

- Phương thức rút vốn: Chuyển khoản và tiền mặt Hạn chế giải ngân bằng

tiền mặt

- Bảo đảm tiền vay:

+ Thế chấp toàn bộ tài sản thể hiện trên sổ sách kế toán của Dự án, bao gồm:

(i) Quyền sử dụng đất; (ii) Tất cả các công trình khu vui chơi giải trí có

thưởng, khách sạn, biệt thự và các hạng mục khác gắn liền với đất; (iii) Quyền,

lợi ích, khoản bồi hoàn, các khảon thanh toán khác liên quan đến tài sản thế

chấp

+ Thế chấp (i) Toàn bộ vốn pháp định; (ii) Toàn bộ các quyền, lợi ích phát

sinh từ các hợp đồng nhận quản lý, kinh doanh khách sạn và biệt thự… khu

vui chơi giải trí (nếu có) (iii) Các quyền, quyền sở hữu và lợi ích của Công ty

đối với các tài sản hữu hình và các quyền tài sản thể hiện trên bảng tổng kết tài

sản, bao gồm (nhưng không hạn chế bởi): tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn,

tài sản cố định và đầu tư dài hạn (trừ các khoản thế chấp ở trên)

- Điều kiện giải ngân:

+ Hợp đồng bảo đảm tiền vay đã được ký kết và có hiệu lực

+ Công ty bỏ vào trước 13 triệu USD vào dự án

- Điều kiện khác

+ Đối với phần vốn cố định, giải ngân song song giữa vốn tự có và vốn vay

theo tỷ lệ thích hợp

+ Trong thời gian xây dựng, định kỳ tối thiểu 3 tháng một lần, Công ty phải

cung cấp báo cáo tình hình thực hiện dự án trong đó cần thể hiện các nội dung

chủ yếu sau: Tổng khối lượng công trình, giá trị thực hiện so với dự toán, tổng

số tiền đã thanh toán theo từng hạng mục công trình, từng loại nguồn thanh

toán, tiến độ hoàn thành so với kế hoạch

Trang 13

+ Công ty cam kết góp đủ phần vốn đối ứng tham gia vào dự án, trong trường

hợp tổng mức đầu tư tăng, Công ty phải tự thu xếp phần tăng đó đảm bảo dự

án được đưa vào vận hành đúng tiến độ đảm bảo tính khả thi của dự án

+ Trong thời gian hoạt động, toàn bộ phần thu tiền từ hoạt động của dự án

được chuyển về và thanh toán duy nhất qua tài khoản tiền gửi của Công ty tại

Chi nhánh Đà Nẵng Chi nhánh NHNT Đà Nẵng đồng là ngân hàng duy nhất

cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho dự án

+ Hợp đồng tín dụng và các văn kiện có liên quan do một văn phòng tư vấn

luật có uy tins tại Việt Nam soạn thảo được SGD và Chi nhánh Đà Nẵng đồng

ý, mọi chi phí do phía Công ty chịu

+ Toàn bộ khấu hao và một phần lợi nhuận sau thuế hàng năm của dự án được

ưu tiên dùng để trả nợ vay cho NHNT theo đúng kế hoạch Công ty chỉ được

phân chia lợi nhuận, trích lập các quỹ hàng năm sau khi đã hoàn thành kế

hoạch trả nợ trong năm cho ngân hàng

+ Các khoản nợ khác của Công ty nếu có được xem là thứ cấp so với nợ của

NHNT

+ Công ty phải mua bảo hiểm cho toàn bộ dự án với mức bồi thường tối thiểu

bằng dư nợ vay của Công ty tại NHNT, tại Công ty bảo hiểm được NHNT

chấp thuận, và người hưởng lợi ưu tiên số 1 là NHNT Thời hạn mua bảo

hiểm được duy trì đến khi toàn bộ nợ gốc, lãi và các khoản phí có liên quan

khác của NHNT đã được Công ty trả đầy đủ Công ty không được sử dụng tiền

bồi thường từ bảo hiểm (nếu có) trừ khi được NHNT chấp thuận, trong hợp

đồng bảo hiểm phải quy định việc thanh toán tiền bảo hiểm (nếu có) duy nhất

qua tài khoản tiền gửi của Công ty tại chi nhánh Đà Nẵng

+ Cung cấp đầy đủ báo cáo có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh

của Công ty và vốn vay của Ngân hàng theo định kỳ và khi có yêu cầu

+ Mọi thay đổi về quyền sở hữu hoặc loại hình doanh nghiệp phải được Ngân

hàng chấp thuận

Trang 14

+ Kết thúc quá trình đầu tư xây dựng dự án, Công ty cung cấp quyết toán vốn

đầu tư xây dựng công trình có kiểm toán của một công ty kiểm toán độc lập có

uy tín hoạt động tại Việt Nam cho Ngân hàng trong thời hạn tối đa là 12 tháng

kể từ ngày công trình đi vào hoạt động (trong trường hợp chưa có kiểm toán

thì thời hạn cung cấp các tài liệu này là không muộn hơn 6 tháng kể từ ngày

công trình đi vào hoạt động)

Nhận xét: công tác thẩm định Dự án “Trung tâm Du lịch và Giải trí quốc tế

đặc biệt Silver Shores Hoàng Đạt”

- Các chỉ tiêu phân tích tài chính cơ bản như NPV, IRR, thời gian trả nợ đều

được tính đến và cơ sở để tính toán là đáng tin cậy

- Trong quá trình thẩm định đã tiến hành thu thập thông tin từ những nguồn

khác để làm cơ sở so sánh đối chiếu với những thông tin trong dự án

 Những hạn chế còn tồn tại

- Hồ sơ của khách hàng cung cấp chưa đầy đủ như thông tin về những vị trí

lãnh đạo chủ chốt, thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp…Nên cần phải yêu cầu khách hàng bổ sung, sau đó lại tiến

hành thẩm định lại Điều này gây mất thời gian

- Trong quá trình thẩm định thì một số nội dung như phân tích, tính toán các

chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp, quan hệ của khách hàng với VCB và

các tổ chức tín dụng khác, thẩm định hiệu quả kinh tế xã hội, giải pháp kĩ

thuật xây dựng dự án là chưa có

Nội dung cần thẩm định Nội dung đã thẩm định Nhận xét

1.Thẩm định khách hàng

Trang 15

a.Thông tin cơ bản về

Thẩm định còn xơ xài, thiếu nhiều nội dung

Chỉ mới thẩm định dựa trên thông tin sẵn có.Chưa đánh giá chất lượng của báo cáo tài chính, kế hoạch kinh doanh

Không có báo cáo kết quả kinh doanh của khách hàng, không tính toán các

Ngoài những thông tin khách hàng cung cấp, đã

Trang 16

Mới chỉ đánh giá năng lực của các nhà thầu, chưa đánh giá được các giải pháp kĩ thuật để triển khai

dự án

Cơ sở tính toán là đáng tin cậy Tuy nhiên cần tính toán thêm các chỉ tiêu như

RR, B/C Mới chỉ dừng ở việc xem xét các thông tin do khách hàng cung cấp

Chưa đưa ra được những giải pháp cụ thể để phòng tránh rủi ro

1.3 Đánh giá về công tác thẩm định các dự án ngành du lịch - dịch vụ tại

SGD

1.3.1 Những kết quả đạt được

1.3.1.1 Về quy trình thẩm định

Kể từ khi tách ra hoạt động độc lập, SGD đã áp dụng một quy trình quản lý rủi

ro mới, phù hợp với hoạt động quản lý rủi ro của các ngân hàng trên thế giới, cụ thể

SGD đã tách 3 phòng: Quan hệ khách hàng, Thẩm định rủi ro và Quản lý nợ hoạt

động độc lập theo đúng chức năng của mình Ở các ngân hàng khác, việc tiệp nhận,

Trang 17

đánh giá hồ sơ, cũng như quyết định cho vay dự án đều do một phòng đảm nhiệm,

nhưng tại SGD NHTMCP Ngoại Thương thì việc tiếp xúc trực tiếp với khách hàng

sẽ do phòng Đầu tư dự án đảm nhiệm đối với khách hàng xin vay vốn dưới 5 tỷ còn

những dự án trên 5 tỷ thì việc gặp mặt khách hàng, thu thập, xác minh các thông tin,

hồ sơ tài liệu liên quan đến dự án sẽ do phòng Quan hệ khách hàng đảm nhiệm Sau

khi phòng Quan hệ khách hàng đánh giá sơ bộ thì hồ sơ xin vay vốn của khách hàng

sẽ được chuyển lên phòng Đầu tư dự án để tiến hành thẩm định đánh giá chi tiết

Việc phân chia nhiệm vụ giữa các phòng không những giúp cho công tác thẩm định

được tiến hành nhanh chóng chính xác và tỉ mỉ mà còn tránh được rủi ro về đạo đức

khi cán bộ thẩm định và khách hàng có quan hệ với nhau Vì việc phân chia công

việc giữa các phòng sẽ tránh được hiện tượng quá tải công việc, cái mà thường diễn

ra khi một phòng phải đảm nhiệm toàn bộ các bước của công việc Chính vì vậy mà

hồ sơ vay vốn của khách hàng sẽ được xem xét và đánh giá kĩ lưỡng và đầy đủ hơn,

từ đó quyết định cấp tín dụng cũng chính xác hơn Đối với các dự án thuộc ngành

du lịch dịch vụ thì các dự án này thường là những dự án có vốn vay lớn thì trình tự

tiếp nhận hồ sơ cũng như thẩm định dự án đều được thực hiện theo quy định của

SGD

1.3.1.2 Về nội dung thẩm định

Nội dung thẩm định các dự án xin vay vốn tại SGD được quy định khá đầy đủ

và chi tiết trong công văn hướng dẫn thẩm định dự án đầu tư do Hội Sở chính ban

hành Có thể thấy rằng các nội dung thẩm định đã khái quát đầy đủ về mọi mặt của

một dự án đặc biệt là khía cạnh thị trường và hiệu quả tài chính của dự án Việc chú

trọng phân tích nội dung hai khía cạnh này của một dự án là hoàn toàn hợp lý bởi

Ngân hàng là người cho vay nên điều quan tâm nhất của Ngân hàng khi cho vay dự

án là khả năng trả nợ của dự án đó

Tuy nội dung thẩm định được quy định chung cho tất cả các dự án thuộc mọi

ngành nghề và lĩnh vực nhưng đối với mỗi dự án thuộc ngành nghề khác nhau thì

cán bộ thẩm định cũng có những quan tâm chú trọng thẩm định riêng đối với khía

cạnh mang tính đặc thù ảnh hưởng lớn đến dự án Ví dụ như đối với nhũng dự án

Trang 18

thuộc lĩnh vực xây dựng thì cán bộ thẩm định chú trọng đến tiến độ thực hiện dự án,

chất lượng công trình, nhà thầu thiết kế, nhà thầu xây dựng…Còn đối với những dự

án sản xuất hàng hoá thì quan tâm nhiều đến thị trường, đầu ra, đầu vào của dự án,

chất lượng sản phẩm Hay như dự án xây dựng khách sạn, khu vui chơi giải trí

thuộc lĩnh vực du lịch dịch vụ thì cán bộ thẩm định lại tiến hành xem xét đánh giá kĩ

lưỡng đến phần thị trường, các đối thủ cạnh tranh của dự án

1.3.1.3 Về phương pháp thẩm định

Để thẩm định một dự án đầu tư, cán bộ thẩm định của SGD đã thực hiện sử

dụng đan xem, linh hoạt các phương pháp thẩm định Điều này thể hiện rõ nét ngay

từ việc phân công công việc giữa các phòng Việc phân công này là áp dụng phương

pháp thẩm định theo trình tự, phòng Quan hệ khách hàng sẽ đảm nhiệm việc thẩm

định tổng quát còn phòng Đầu tư dự án sẽ đảm nhiệm việc thẩm định chi tiết dự án

Trong quá trình thẩm định chi tiết dự án thì cán bộ thẩm định cũng vận dụng đan

xen phối hợp nhiều phương pháp thẩm định như phương pháp so sánh đối chiếu

dùng để thẩm định hồ sơ, năng lực pháp lý của chủ đầu tư cũng như những thông tin

chung về chủ đầu tư; sử dụng phương pháp phân tích độ nhạy để thẩm định hiệu

quả tài chính của dự án; sử dụng phương pháp đánh giá rủi ro để dự báo những rủi

ro có thể xảy ra…

1.3.1.4 Về thu thập và xử lý thông tin

Ngoài những thông tin mà khách hàng cung cấp trong hồ sơ xin vay vốn, cán

bộ thẩm định còn chủ động tìm kiếm thêm thông tin về khách hang, về dự án cũng

như ngành nghề có liên quan đến dự án thông qua nhiều nguồn như báo chí, các cơ

quan quản lý, internet…Mỗi một nhân viên trong phòng Đầu tư dự án tại SGD đều

được trang bị một máy tính cá nhân có nối mạng internet và bao gồm đầy đủ các

phần mềm hỗ trợ như word, excel… nhờ đó mà đã rút ngắn được thời gian thu thập

cũng như xử lý thông tin và thông tin có được cũng nhiều hơn, chất lượng hơn

1.3.2 Những hạn chế còn tồn tại

1.3.2.1 Quy trình thẩm định:

Trang 19

Quy trình thẩm định các dự án được quy định rất chặt chẽ, nó tạo điều kiện cho

ngân hàng tránh được các rủi ro về tín dụng tuy nhiên cần phải khẳng định rằng

chính sự chặt chẽ của quy trình đã tạo nên sự rườm rà, cồng kênh Hầu hết các dự

án vay vốn tại SGD đều là những dự án lớn, số vốn lớn hơn 5 tỷ VND vì vậy mà hồ

sơ xin vay vốn của khách hàng chắc chắn sẽ phải được thông qua việc kiểm tra của

hai phòng đó là phòng Quan hệ khách hàng và phòng Đầu tư dự án Điều này sẽ

khiến cho khách hàng cảm thấy là không cần thiết, mất thời gian, tạo ra một tâm lý

không thoải mái cho khách hàng Đôi khi chính sự chặt chẽ này sẽ làm cho khách

hàng mất cơ hội kinh doanh

1.3.2.2 Nội dung thẩm định

Nội dung thẩm định cũng được hướng dẫn rất chi tiết trong các văn bản của

SGD tuy nhiên đững trên góc độ là người cho vay nên ngân hàng mới chỉ quan tâm

đến việc thẩm định hiệu quả tài chính cũng như khả năng, thời hạn trả nợ của dự án

còn những khía cạnh khác như kĩ thuật, rủi ro đặc biệt là khía cạnh lợi ích kinh tế xã

hội thì chưa được quan tâm thoả đáng Việc tiến hành thẩm định khía cạnh kĩ thuật,

tổ chức quản lý thực hiện dự án, nhân sự… chỉ mới dựa vào những thông tin mà

khách hàng cung cấp việc so sánh với các chỉ tiêu định mức kinh tế của ngành còn

hạn chế

Việc thẩm định khía cạnh tài chính như nhu cầu vốn vay, cơ cấu vốn, nguồn

trả nợ… chủ yếu là dựa trên những thông tin sẵn có do khách hàng cung cấp Bên

cạnh đó, để có thể vay vốn thì khách hàng thường “đánh bóng” bản thân và dự án

của mình khiến cho việc đánh giá của cán bộ tín dụng gặp khó khăn đặc biệt khi cán

bộ tín dụng thường chỉ dựạ vào những thông tin có sẵn để đánh giá

Khi đánh giá, phân tích độ nhạy của dự án thì cán bộ thẩm định thường cho

công suất, giá bán sản phẩm tăng dần theo thời gian mà không tính đến sự suy giảm

do suy thoái kinh tế hay do thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi

Các chỉ tiêu dùng để thẩm định khía cạnh tài chính như NPV, IRR, B/C…còn

chưa được đề cập đến trong văn bản hướng dẫn thẩm định dự án Điều này có thể

dẫn đến những thiếu sót trong đánh giá dự án Bên cạnh đó, những khoản mục như

Trang 20

vốn lưu động được thu hồi cuối đời dự án, giá trị còn lại của máy móc trang thiết bị

hầu như không được đề cập đến trong quá trình thẩm định dự án

Các chỉ tiêu tài chính của dự án thì chỉ được tính toán, xem xét cho đến khi dự

án ngừng hoạt động hoặc cho đến khi trả hết nợ của ngân hàng mà chưa được tính

toán mang tính chất bình quân Vì vậy mà sẽ không có sự so sánh giữa các dự án

cùng một ngành với nhau nhằm tìm ra dự án tối ưu hoặc sự so sánh này còn rất hạn

chế

1.3.2.3 Chất lượng và số lượng thông tin phục vụ cho công tác thẩm định

chưa đầy đủ và chính xác Thông tin mà cán bộ thẩm định sử dụng chủ yếu là do khách hàng cung cấp vì

vậy mà những thông tin đó chắc chắn sẽ mang nhiều yếu tố chủ quan, khách hàng

sẽ chỉ cung cấp những thông tin có lợi cho mình Mặc dù những thông tin về tình

hình tài chính của khách hàng đều phải thông qua kiểm toán độc lập nhưng những

báo cáo tài chính đó vẫn chưa đủ độ tin cậy do trên thực tế việc kiểm toán độc lập

vẫn xuất hiện những tiêu cực

Hầu hết các doanh nghiệp xin vay vốn lại chưa có kinh nghiệm trong việc lập

hồ sơ xin vay vốn nên xảy ra nhiều trường hợp hồ sơ vay vốn của khách hàng thiếu

thông tin điều này gây ra những khó khăn nhất định cho công tác thẩm định cũng

như gây tốn thời gian cho việc bổ sung hoàn thiện hồ sơ

Việc thu thập tìm kiếm thông tin thông qua báo chí, mạng internet…cũng có

giúp ích cho công tác thẩm định tuy nhiên luồn thông tin này lại rất ít khi được các

cơ quan có thẩm quyền xác nhận tính xác thực của nó

Các cán bộ thẩm định thì còn hạn chế trong việc xem xét thực tế khách hàng,

đánh giá thực tế trong thời gian dự án được thực hiện và khi dự án đi vào hoạt động

1.3.2.4 Dòng tiền của dự án còn chưa được tính toán hợp lý

Cách xác định dòng tiền được dựa trên việc tính toán vốn đầu tư tại thời điểm

ban đầu Việc xác định này là chưa hợp lý do những dự án thuộc ngành du lịch -

dịch vụ xin vay vốn tại SGD thường là những dự án đòi hỏi số vốn lớn và được giải

ngân tại các thời điểm khác nhau Điều này dẫn đến việc chiết khấu dòng vốn đầu tư

Trang 21

ban đầu là chưa chính xác, nó sẽ làm cho dòng chi phí tăng lên vì thế mà sẽ ảnh

hưởng đến các chỉ tiêu hiệu quả tài chính

Dòng chi phí cũng chưa được đánh giá chính xác Việc đánh giá này cũng gặp

nhiều khó khăn do các loại chi phí như chi phí nguyên vật liệu, điện, nước… chịu

sự biến động liên tục của thị trường và ảnh hưởng của lạm phát

Phần giá trị còn lại của dự án trong khi tính toán cũng thường bị loại bỏ do đó

sẽ làm giảm giá trị của chỉ tiêu NPV, IRR

1.3.2.5 Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính được sử dụng riêng rẽ mà chưa có sự

kết hợp hệ thống các chỉ tiêu Chỉ tiêu NPV là chỉ tiêu hiệu quả tài chính dễ tính toán nhất nên thường được

sử dụng để phân tích hiệu quả tài chính Ngoài ra trong quá trình thẩm định, cán bộ

thẩm định còn sử dụng chỉ tiêu IRR để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án Tuy

nhiên ngoài hai chỉ tiêu đó ra, để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án còn có rất

nhiều các chỉ tiêu khác như B/C, thời gian hoàn vốn T, hệ số hoàn vốn RR…để có

thể đánh giá chính xác thì cần phải sử dụng một cách tổng hợp các chỉ tiêu này

Nhưng trên thực tế thì trong quá trình thẩm định dự án, cán bộ thẩm định đã chưa

thực sự sử dụng các chỉ tiêu một cách có hệ thống Điều này dẫn đến hiệu quả thẩm

định dự án là chưa cao

1.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế

Có thể thấy rằng những hạn chế còn tồn tại trong công tác thẩm định dự án tại

SGD NHTMCP Ngoại Thương là do nhiều nguyên nhân, có thể kể ra những nguyên

nhân chủ yếu sau:

 Kinh nghiệm, kiến thức của cán bộ thẩm định còn hạn chế Những cán

bộ thẩm định chủ yếu là những người được đào tạo trong khối ngành

kinh tế, có kiến thức chuyên sâu về tài chính, về phương pháp, cách

thức thẩm định nhưng những kiến thức về mặt kĩ thuật, về những lĩnh

vực ngành nghề mà các dự án có liên quan là còn thiếu Vì vậy mà việc

thẩm định khía cạnh kĩ thuật vẫn còn mang tính chung chung, chưa đi

sâu vào xem xét đánh giá

Trang 22

 Hệ thống thông tin của SGD còn hạn chế do SGD mới tách ra hoạt động

riêng nên kho thông tin lưu trữ về các dự án đã được thẩm định là chưa

được đầy đủ Bên cạnh đó, để có được thông tin chính xác thì cũng phải

chi phí lớn trong khi ngân sách dành cho công tác thẩm định thì lại hạn

chế

 Việc phân chia nhiệm vụ giữa phòng Quan hệ khách hàng và phòng

Đầu tư dự án cũng gây ra những hạn chế trong công tác thẩm định do

phòng Quan hệ khách hàng thì có cơ hội tiếpp xúc trực tiếp với khách

hàng nên có thể có những đánh giá khác so với những kết luận của

phòng Đầu tư dự án vì vậy mà có thể nảy sinh những nhận định ngược

chiều về dự án

 Cơ chế chính sách cho vay của các ngân hàng thương mại co nhà nước

ban hành thì vẫn còn đanh trong quá trình sửa đổi, bổ sung và hoàn

thiện vì vậy mà các quy định này thường xuyên thay đổi nên việc áp

dụng cũng gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi cán bộ thẩm định phải thưỡng

xuyên cập nhập

 Trình độ ngành ngân hàng trong nước nói chung là thấp hơn so với thế

giới Điều này thể hiện thông qua các tranh thiết bị phục vụ cho hoạt

động của ngân hàng còn lạc hậu, trình độ nhân viên ngân hàng còn chưa

cao

Trang 23

Chương II: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác thẩm định

các dự án ngành du lịch - dịch vụ tại SGD

2.1 Định hướng phát triển của SGD NHTMCP Ngoại thương Việt Nam

2.1.1 Mục tiêu phát triển của SGD giai đoạn tiếp theo

- Hoàn thành công tác quyết toán năm 2008 đúng thời hạn quy định với số

liệu chính xác

- Hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch năm 2009 mà Ngân hàng thương mại cổ

phần Trung ương đã giao cho SGD:

Huy động vốn quy VND từ nền kinh tế đạt 47.109 tỷ VND tăng 18%

so với 31/12/2008

Dư nợ cho vay quy VND đạt 6.216 tỷ VND tăng 32% so với

31/12/2008

Số dư bảo lãnh đạt 1.485 tỷ VND

Tỷ lệ nợ xấu tối đa 3%

Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu: 5,91 tỷ USD

Phát hành 31.215 thẻ Connect 24, 14.015 thẻ ghi nợ quốc tế, 7.495 thẻ

tín dụng quốc tế, phát triển thêm 300 CSCNT

Trang 24

- Tăng cường tiếp cận và cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ,

khách hàng thể nhân để tăng dần tỷ trọng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho

vay thể nhân trong tổng dự nợ

- Tìm kiếm các dự án tốt, hiệu quả để cho trung – dài hạn và tăng cường

quan hệ với các ngân hàng khác để cho vay đồng tài trợ

- Tiếp tục thực hiện việc rà soát, phân loại khách hàng,… để đảm bảo quản

lý rủi ro và quản lý hiệu quả danh mục các khoản vay Tiếp tục tìm kiếm và mở

rộng lượng khách hàng có quan hệ tín dụng, thanh toán trong và ngoài nước để có

chính sách khách hàng tổng thể Có các biện pháp để thu hút và hỗ trợ các khách

hàng doanh nghệp xuất nhập khẩu

- Đưa toàn bộ máy ATM còn lại vào hoạt động và đưa một số sản phẩm

mới như Kios và EDC không dây vào hoạt động Thực hiện quảng bá thẻ CUP

(Trung Quốc) và ký kết hợp đồng với các đơn vị chấp nhận thẻ để thanh toán thẻ

này do đây là loại thẻ mới liên kết với hệ thống thanh toán thẻ của Việt Nam

- Tìm kiếm và thuê mới địa điểm cho 10 máy ATM, 2-3 phòng giao dịch

tại các địa bàn đông dân cư và toà nhà lớn

- Nghiên cứu và lên kế hoạch lắp đặt hệ thống camera tại các quầy giao

dịch quỹ để đảm bảo an toàn ngân quỹ khi giao dịch tiền mặt với khách hàng với số

lượng lớn Phối hợp chặt chẽ giữa phòng Hối đoái và phòng Ngân quỹ để chủ động

nhập ngoại tệ để phục vụ khách hàng kịp thời

- Chú trọng công tác quảng bá hình ảnh của Vietcombank, quảng cáo rộng

rãi các sản phẩm của Vietcombank trên mọi phương tiện thông tin hoặc thông qua

các chương trình khuyến mại thường xuyên để thu hút khách hàng

- Tổ chức đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ nghiệp vụ, bồi dưỡng chuyên môn,

ngoại ngữ và kỹ năng giao tiếp và quan hệ khách hàng cho các cán bộ để đáp ứng

yêu cầu của công việc và nhu cầu của khách hàng

Trang 25

2.1.2 Định hướng của SGD trong công tác thẩm định các dự án ngành du

lịch - dịch vụ

2.1.2.1 Định hướng công tác thẩm định nói chung của SGD

- Đánh giá đúng vai trò của công tác thẩm định

Để nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án, trước hết cần phải có định

hướng và nhận thức đúng đắn về công tác thẩm định Thẩm định dự án là một phần

công việc không thể thiếu được trong mỗi một tổ chức tín dụng nào

Thẩm định dự án là việc tổ chức xem xét đánh giá một cách khách quan,

khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản có ảnh hưởng trực tiếp đến khả nưang

thực hiện và hiệu quả của dự án để từ đó đưa ra quyết định có cho vay hay không

Đây là một quá trình kiểm tra, đánh giá lại các nội dung cơ bản của dự án một cách

độc lập, tạo được cơ sở vững chắc cho hoạt động đầu tư có hiệu quả, hoạt động cho

vay có hiệu quả

Do vậy, đối với ngân hàng công tác thẩm định có vai trò tham mưu có hiệu

quả trước khi đưa ra quyết định tài trợ vốn Còn đối với bên khách hàng thẩm định

cần thực hiện vai trò tư vấn, xây dựng dự án phương án kinh doanh mang tính khả

thi và hiệu quả cao, thẩm đinh dự án cần đứng trên quan điểm phục vụ khách hàng

cho dù quyết định của ngân hàng có cho vay hay không

Công tác thẩm định của SGD phải được chú trọng để ngày càng hoàn thiện

và phát triển mạnh bởi những lý do sau:

Dự án kinh doanh vốn khá đa dạng, đối tượng, thành phần tín dụng cũng

phong phú Nhiệm vụ tín dụng đang trở nên phức tạp và do đó chứa đựng nhiều rủi

ro hơn Chính vì vậy tính chuyên môn hoá trong hoạt động này trở nên cấp thiết

Thẩm định dần trở nên quan trọng trong hoạt động tín dụng và thậm chí có xu

hướng rõ nét là tách ra trở thành một nghiệp vụ, một bộ phận riêng biệt so với tín

dụng

Ngày đăng: 01/09/2017, 21:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 19: Tiến độ thực hiện dự án - Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư tại NHVN a  phần 2
Bảng 19 Tiến độ thực hiện dự án (Trang 8)
Bảng 20: Các khoản chi đã thực hiện - Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư tại NHVN a  phần 2
Bảng 20 Các khoản chi đã thực hiện (Trang 9)
Bảng 1: thông số dự án - Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư tại NHVN a  phần 2
Bảng 1 thông số dự án (Trang 42)
Bảng 2:    Kế hoạch khấu hao của dự án - Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư tại NHVN a  phần 2
Bảng 2 Kế hoạch khấu hao của dự án (Trang 43)
Bảng 3:    Kế hoạch vay nợ của dự án - Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư tại NHVN a  phần 2
Bảng 3 Kế hoạch vay nợ của dự án (Trang 44)
Bảng 4:     Kế hoạch kinh doanh và lợi nhuận của dự án - Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư tại NHVN a  phần 2
Bảng 4 Kế hoạch kinh doanh và lợi nhuận của dự án (Trang 45)
Bảng 5:     Khả năng trả nợ của dự án - Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư tại NHVN a  phần 2
Bảng 5 Khả năng trả nợ của dự án (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w