1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư tại NHVN p2

40 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 533,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua báo cáo thẩm định tài chính dự án Công trình thủy điện Srepok em đưa ra một số nhận xét sau về công tác thẩm định nói chung và thẩm định tài chính dự án nói riêng là : - Về quy trình

Trang 1

1.3.5.5 Tính các chỉ tiêu hiệu quả tài chính dự án

Trên cơ sở tổng mức đầu tư tính lại, hiêu quả tài chính của dự án theo quan điểm tổng mức đầu tư như sau:

 NPV25 năm = 826,014 triệu triệu đồng

 IRR25 năm = 12.36%

 Thời gian thu hồi vốn vay:7.87 năm

 Phân tích độ nhạy của dự án: Việc phân tích độ nhạy được thực hiện với các thông số đầu vào gồm: tổng mức đầu tư, giá bán điện và sản lượng điện bình quân Kết quả khảo sát như sau:

- Trường hợp thau đổi tổng mức đầu tư: dự án có NPV= 0 khi tổng mức đầu tư tăng tới 357% , thời gian hoàn trả vốn vay tương ứng tăng lên 10.09 năm

- Trường hợp thay đổi giá bán điện: dự án có 10.43 so với mức giá tính toán), thời gian hoàn trả vốn vay tương ứng tăng lên 10.43 năm Với mức giá bán điện thấp hơn 3.96 UScent/kWh thời gian trả nợ của dự án trên 8 năm

- Trường hợp thay đổi sản lượng điện bình quân: dự án sẽ không có hiêu quả nếu sản lượng điện bình quân giảm trên 10.39% so với thiết kế

- Trường hợp nhiều biến cùng thay đổi: khảo sát ở các phương án giá bán, tổng mức đầu tư, công suất huy động ban đầu thay đổi cho thấy các chỉ tiêu tài chính và khả năng trả nợ trong các trường hợp giả định đều ở mức chấp nhận được

V - -Chi phí trích trước SCL 1.00% TB

1 - cp thuê đất 100 Trđ/năm

2 - mức tăng giảm sản lượng điện 0 %

Thuế thu nhập DN (>12 năm) : 28.00%

Trang 2

 Tóm lại, dự án có hiệu quả tài chính và có khả năng chịu đựng rủi ro ở mức chấp nhận được khi các giả định đầu vào trọng yếu thay đổi, thời gian thu hồi vốn nhanh

 Phân tích rủi ro của dự án

Khoản vay được đảm bảo bằng tài sản hình thành từ nguồn vốn tự có, vốn vay các ngân hàng thương mại và các nguồn vốn khác (nếu đủ điều kiện) Ngoài ra, toàn bộ các quyền hưởng thụ của chủ đầu tư từ dự án (quyền thụ hưởng các hợp đồng bảo hiểm, quyền khai thác tài nguyên…) cũng phải được

sử dụng để làm bảo đảm tiền vay cho các ngân hàng

Do đặc thù của các công trình thủy điệnc ó diện tích đất sử dụng rất lớn, thuộc nhiều địa bàn khác nhau, công tác đền bù, giải phóng mặt bằng và

di dân tái định cư kéo dài trong thời gian nhiều năm và được tiến hành dần cùng với tiến độ thực hiện công trình nên tại thời điểm thẩm định cũng như trong thời kỳ xây dựng dự án, các dự án thường chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Do vậy, để nhận các tài sản này làm tài sản đảm bảo

nợ vay cho các khoản vay tại các ngân hàng đồng tài trợ, chủ đẩu tư phải cam kết sẽ hoàn thành các thr tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong thời gian sớm nhất có thể và ngay khi được cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất phải phối hợp với các ngân hàng ĐTT để hoàn thành thủ tục thế chấp tài sản Trong trường hợp phần tài sản hình thành từ các nguồn vốn khác

có thể thé chấp, cầm cố cho các NHĐTT, ngân hàng đầu mối chủ động đàm phán với các nhà tài trợ khác để thống nhất tỷ lệ chia tài sản đảm bảo

1.3.5.6 Đề xuất của cán bộ tín dụng:

Trang 3

Tổng công ty điện lực VIệt Nam là DNNN có tư cách pháp nhân, có tình hình tài chính lành mạnh, doanh thu và lợi nhuận hàng năm cao, tăng trưởng ổn định, vững chắc Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn cho thấy sự chủ động về nguồn vốn trong kinh doanh của Tổng công ty

Dự án thủy điện Srepok 3 nằm trong quy hoạch chiến lược phát triển ngành điện của Chính phủ và được sự ủng hộ của chính quyền địa phương Theo tính toán dự án có tính khả thi, tính hiệu quả về mặt tài chính, có khả năng trả nợ

- Mục đích: thanh toán một phần chi phí đầu tư thực hiện dự án thủy điện Srepok 3

- Thời gian vay vốn: tối đa 12 năm, trong đó thời gian ân hạn là 4 năm Thời hạn cụ thể sẽ được thỏa thuận và ghe tại HĐTD Kỳ hạn trả nợ (gốc + lãi) dự kiến 06 tháng/kỳ

Trang 4

- Lãi suất: bằng lãi suất tiết kiệm bình quân 1 tháng trả sau của các ngân hàng Đồng tài trợ +tối thiểu 3%/năm (chưa kể các loại phí) 06 tháng điều chỉnh một lần kể từ ngày rút vốn đầu tiên

- Phí cam kết rút vốn: 0.2%/năm trên số vốn chưa rút, tính 6 tháng một lần

- Phí đầu mối: 0.05%/ năm trên dư nợ thực té

- Các loại phí khác: sẽ thỏa thuận với chủ đầu tư sau và được quy định

cụ thể tại hợp đồng tín dụng

- Bảo đảm tiền vay: bằng chính tài sản hình thành từ vốn tự có, vốn vay các ngân hàng thương mại, các nguồn khác (nếu đủ điều kiện) và toàn bộ các quyền hưởng thụ của chủ đầu tư từ dự án (quyền hưởng thụ các hợp đồng bảo hiểm, quyền khai thác tài nguyên )

a Điều kiện khác

- Chủ đầu tư cam kết:

+ Tham gia đủ vốn tự có tối thiểu tương ứng 30% tổng vốn đầu tư Trường hợp khi phát sịnh tăng tổng mức đầu tư, chủ đầu tư chịu trách nhiệm huy động và tham gia đủ số vốn phát sinh tăng, đảm bảo cho dự án được đầu tư hoàn chỉnh và vận hành đúng tiến bộ

+ Dùng toàn bộ nguồn KHCB và lợi nhuận sau thues hàng năm của dự

án để trả nợ vốn vay Chủ đầu tư cam kết dùng các nguồn thu khác để trả nợ cho các ngân hàng trong trường hợp nguồn thu từ dự án không đảm bảo trả

nợ

+ Chuyển toàn bộ doanh thu của dự án qua TKTG mở tại các ngân hang đóng tài trợ Đồng thời toàn bộ nguồn vốn tự có của chủ đầu tư được giải ngân qua TKTG tại ngân hàng đầu mối để quản lý, giám sát

Trang 5

+ Có kết quả về việc thu xếp phần vốn vay nước ngoài, vốn vay quỹ HTPT hoặc các nguồn vốn khác đảm bảo đủ vốn để thực hiện dự án

+ Tổng công ty Điện lực VIệt Nam là chủ đầu tư của dự án trong suốt quá trình còn nợ vay các ngân hàng Trong trường hợp có sự thay đổi chủ sở hữu của dự án (Dự án thủy điện Srepok3) phải được các ngân hàng đồng tài trợ chấp thuận bằng văn bản EVN phải giữ tối thiểu 51% vốn điều lệ của pháp nhân mới Ngoài ra, tại thời điểm chuyển đổi, EVN và pháp nhân mới phải thỏa thuận một mực giá mua bán điện phù hợp, đảm bảo khả năng trả

nợ các ngân hàng và phải được các ngân hàng tham gia đồng tài trợ chấp nhận

+ Chủ đầu tư thực hiện đúng các quy định hiện hành về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

 Khoản vay của các ngân hàng đồng tài trợ trong nước phải được trả

nợ theo nguyên tắc tương ứng tỷ lệ vốn tham gia của bên tham gia tài trợ (gồm khoản vay quỹ HTPT, khoản vay nước ngoài và khoản vay các ngân hàng thương mại trong nước)

 Toàn bộ tài sản hình thành sau đầu tư của dự án phải được mua bảo hiểm theo quy định trong suốt thời gian còn dư nợ vay các ngân hàng với giá trị bảo hiểm Hợp đồng bảo hiểm ghi rõ trong trường hợp xảy ra rủi ro, các ngân hàng đồng tài trợ là người thụ hưởng đầu tiên Hợp đồng bảo hiểm, phụ lục hợp đồng bảo hiểm (nếu có) phải được sự chấp thuận của các ngân hàng

 Các hợp đồng liên quan tới việc tài trợ cho dự án được soạn thảo bởi một công ty tư vấn luật được cá ngân hàng đồng tài trợ chấp thuận với chi phí

do bên vay chịu

Trang 6

 Các điều kiện khác sẽ được thỏa thuận trong giai đoạn đàm phán hợp đồng

 Trước khi ký Hợp động tín dụng, chủ đầu tư bổ sung đầy đủ tài liệu theo quy định hiện hành

1.3.5.7 Đánh giá về công tác thẩm định tài chính dự án vốn vay Srepok

Qua báo cáo thẩm định tài chính dự án Công trình thủy điện Srepok em đưa ra một số nhận xét sau về công tác thẩm định nói chung và thẩm định tài chính dự án nói riêng là :

- Về quy trình thẩm định : thực hiện đầy đủ theo quy trình, tức là phòng quan hệ khách hàng tiếp nhận hồ sơ vay vốn, sau đó phòng Đầu tư dự án tiến hành thẩm định

- Về nội dung : thẩm định tương đối đầy đủ các nội dung và các chỉ tiêu tài chính Trong thẩm định tổng vốn đầu tư đã có sự tính toán lại và đưa ra con số tổng vốn đầu tư chính xác hơn cho dự án Tuy nhiên tiến độ bỏ vốn thì vẫn chưa được thẩm định Các loại chi phí, doanh thu được tính toán cụ thể,

có bảng biểu phân tích rõ ràng Tuy nhiên, khi phân tích các chỉ tiêu tài chính thì mới chỉ tính đến hai yếu tố NPV và IRR mà vẫn chưa tính đến các chỉ tiêu khác Bên cạnh đó vẫn chưa có sự phân tích đánh giá các chỉ tiêu

- Về phương pháp thẩm định : các cán bộ thẩm định đã sử dụng các phương pháp một cách khoa học Các nội dung, chỉ tiêu thẩm định tài chính được so sánh với các quy chuẩn, tiêu chuẩn của ngành, dự án khác, và các tiêu chuẩn hiệu quả Đặc biệt là phương pháp phân tích độ nhạy rất được chú ý

Trang 7

Các yếu tố được phân tích có ảnh hưởng đến các chỉ tiêu tài chính bao gồm : sản lượng, giá bán và tổng vốn đầu tư Đặc biệt là đã có sự phân tích ảnh hưởng đồng thời đến hai yếu tố Phương pháp phân tích rủi ro thì mới chỉ đưa

ra được các rủi ro có thể xảy ra mà chưa định lượng được và đưa ra có giải pháp cụ thể đối với các rủi ro

1.3.6 Đánh giá về công tác thẩm định tài chính tại sở giao dịch thời gian qua

1.3.6.1 Những mặt đạt được:

1.3.6.1.1 Về công tác tổ chức điều hành: Hoạt động thẩm định tài chính tại

SGD được phân cấp một cách rõ ràng Khác với các chi nhánh khác của NHNT, thực hiện công tác thẩm định được chia thành 2 phòng: phòng quan

hệ khách hàng và phòng đầu tư dự án Trong đó, phòng quan hệ khách hàng

có nhiệm vụ trực tiếp tiếp xúc và thu thập các thông tin về khách hàng còn phòng đầu tư dự án sẽ thẩm định chi tiết Việc phân cấp trong thẩm định giúp chuyên môn hóa hơn, mang lại hiệu quả tốt hơn và mang tính khách quan hơn Với những dự án dưới 5 tỷ đồng thì phòng quan hệ khách hàng sẽ tiến hành xem xét hồ sơ và thẩm định dự án Đối với những dự án có vốn đầu tư lớn hơn 5 tỷ đồng thì phòng quan hệ khách hàng sẽ chuyển cho phòng Đầu tư

dự án Việc phân cấp một mặt tạo sự chuyên môn hóa, mặt khác đỡ tốn thời gian cho các cán bộ thẩm định bởi với những dự án lớn thì phòng quan hệ khách hàng sẽ xem xét về mặt hồ sơ và tính pháp lý Nếu không đủ điều kiện thì sẽ loại bỏ còn nếu đủ điều kiện sẽ chuyển sang phòng Đầu tư dự án

1.3.6.1.2 Về phương pháp thẩm định: trong quá trình thẩm định, các cán bộ

thẩm định đã áp dụng nhiều phương pháp thẩm định khác nhau giúp cho công tác thẩm định mang tính khoa học và chính xác hơn

Trang 8

Những phương pháp được áp dụng trong quá trình thẩm định tại sở giao dịch bao gồm thẩm định từ tổng quát đến chi tiết, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp dự báo, phân tích độ nhạy, đo lường rủi ro Dự án được đánh giá một cách tổng thể về về quy mô đầu tư, tiến độ thực hiện… Khi xem xét một cách tổng thể mà dự án vẫn mang tính khả thi thì tiếp tục đi vào thẩm định chi tiết Công việc thẩm định chi tiết bao gồm xem xét các khía cạnh như thị trường, kỹ thuật để tính toán các chỉ tiêu tài chính Như vậy khía cạnh tài chính của dự án được đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện, có sự liên hệ với các nội dung thẩm định khác như thẩm định thị trường, thẩm định kỹ thuật… Phương pháp so sánh đối chiếu được sử dụng trong việc xác định các định mức, tiêu chuẩn và đánh giá tính hiệu quả về tài chính của dự án Đây là một phương pháp thường xuyên được sử dụng trong việc thẩm định tài chính tài sở giao dịch ngân hàng ngoại thương

Phương pháp dự báo chủ yếu được dùng trong việc xác định các yếu tố đầu vào và đầu ra cho dự án, trên cơ sở đó mà tính toán được dòng tiền và đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả cũng như khả năng trả nợ của dự án

Phương pháp phân tích độ nhạy cũng đã được sử dụng nhiều trong phân tích tài chính Đây là một phương pháp hết sức quan trọng nhằm đánh giá độ

an toàn đối với dự án vay vốn Thông qua phương pháp này có thể biết được giới hạn an toàn về tài chính khi các yếu tố thay đổi Thông thường các yếu tố được cho thay đổi khi phân tích tại sở giao dịch bao gồm giá bán, sản lượng, thuế… Phương pháp này thường xem xét sự thay đổi của các yếu tố này khi

dự án đạt hòa vốn Phương pháp phân tích độ nhạy ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công tác thẩm định tài chính tại sở giao dịch

Trang 9

Phương pháp đo lường rủi ro dùng để đánh giá các rủi ro có thể xảy ra đối với dự án để từ đó xem xét tính khả thi và hiệu quả và đưa ra các giải pháp hạn chế tính rủi ro

Dùng hai phương pháp sau giúp hạn chế được tác động của các yếu tố thường xuyên thay đổi tới dự án nhằm giúp ngân hàng đưa ra các quyết định tài trợ vốn chính xác hơn

1.3.6.1.3 Nội dung thẩm định: được đưa ra một cách đầy đủ và dần tiến đến

chuẩn mực quốc tế và ngày càng có mối quan hệ chặt chẽ với các nội dung thẩm định khác hơn

Thẩm định tài chính bao gồm các nội dung như thẩm định tổng vốn đầu

tư, thẩm định khả năng thực hiện của vốn, thẩm định các yếu tố như chi phí, doanh thu, tính toán các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án Ngân hàng đã đưa ra một hệ thống khá đầy đủ các chỉ tiêu trong công tác thẩm định Giá trị thời gian của tiền cũng được quan tâm thông qua việc tính toán các chỉ tiêu như NPV, IRR, Trong quá trình tính toán các chỉ tiêu thì cán bộ thẩm định

đã xây dựng nên các bảng biểu nhằm tăng thêm tính chính xác và tỷ mỷ cho các chỉ tiêu Đồng thời nội dung của công tác thẩm định tài chính ngày càng kết hợp chặt chẽ với các nội dung khác như thẩm định khía cạnh pháp lý, thẩm định kỹ thuật hay thẩm định thị trường Việc kết hợp với các thông số ở các khâu thẩm định khác sẽ tạo nên tính chính xác, tránh sai sót trong quá trình tính toán

1.3.6.1.4 Yếu tố con người trong thẩm định dự án: đội ngũ cán bộ ngân

hàng có trình độ và tinh thần với công việc Đồng thời đội ngũ cán bộ thẩm định là những người trẻ trung, nắm bắt nhanh công việc, sáng tạo và tiếp thu nhanh nhạy những phương pháp thẩm định tiên tiến Bên cạnh đó, thì các cán

bộ cũng được trang bị đầy đủ những kiến thức liên quan đến thẩm định như kiến thức về pháp luật, kinh doanh, thị trường Tuy phòng đầu tư dự án mới

Trang 10

được thành lập cách đây 4 năm nhưng đã mang lại nhiều dự án vốn vay quan trọng cho SGD Bên cạnh đó, hàng năm SGD cũng tổ chức các lớp bồi dưỡng, huấn luyện nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ phục vụ cho công tác thẩm định

1.3.6.1.5 Nguồn thông tin và trang thiết bị phục vụ cho công tác thẩm định

Trang thiết bị phục vụ cho công tác thẩm định được trang bị khá đầy

đủ Vị trí mới của SGD đã được chuyển sang 31/33 Ngô Quyền ở vị trí trung tâm Trong phòng làm việc, các cán bộ được trang bị máy tính, máy fax, máy

in, máy photocopy, và chỗ làm việc với khách hàng So với trước năm 2008, khi SGD hoạt động cùng tòa nhà với hội sở chính thì các phòng ban đã có diện tích làm việc riêng biệt, cơ sở hiện đại hơn

1.3.6.1.6 Về nguồn thông tin phục vụ cho công tác thẩm định: Do hệ thống

trang thiết bị đầy đủ nên dễ dàng cho việc thu thập thập dự trữ thông tin Ngoài thông tin mà khách hàng cung cấp thì phòng còn thu thập thông tin về thông tin và dự án qua internet, báo chí và hệ thống thông tin dự trữ của chính ngân hàng, nhờ đó mà công tác thẩm được rút ngắn và tính chính xác của thông tin cũng được tăng cường

1.3.6.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân

1.3.6.2.1 Những mặt hạn chế

a Về phương pháp thẩm định: Tuy đã áp dụng các phương pháp thẩm định khoa học nhưng nhìn chung vẫn còn sơ sài Phương pháp dự báo nhìn chung vẫn chỉ được áp dụng một cách hình thức mà chưa thực tế Phương pháp này được sử dụng trong khâu phân tích thị trường, đưa ra dự báo cung cầu từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng dòng tiền các năm Trên thực tế

Trang 11

phương pháp dự báo chủ yếu là lấy số liệu dự báo mà khách hàng đưa ra, dựa vào kinh nghiệm và hỏi ý kiến chuyên gia

Về phương pháp so sánh đối chiếu chủ yếu là nhằm kiểm tra các kết quả tính toán và so sánh với các dự án tương tự cũng như tiêu chuẩn tài chính Phương pháp phân tích độ nhạy đối với nhiều dự án còn chưa được chú trọng, chỉ chú trọng một số yếu tố cơ bản như giá bán, sản lượng, chi phí Trên thực tế còn rất nhiều yếu tố có ảnh hưởng tới các chỉ tiêu tài chính như thuế, sự thay đổi về cầu sản phẩm,

Về phương pháp quán triệt rủi ro thì cán bộ thẩm định mới chỉ đưa ra các rủi ro mang tính chất định lượng mà vẫn chưa mang tính định tính Đồng thời các rủi ro này vẫn chưa được phân loại và đưa ra phân cấp rủi ro cụ thể nhằm đưa ra những giải pháp tốt để đề phòng rủi ro

b Về nội dung thẩm định:

- Tuy nội dung công tác thẩm định tài chính đã được đề cập khá đầy đủ nhưng do bản chất của ngân hàng là định chế tài chính cho vay vốn nên chỉ chú trọng vào việc phân tích dòng tiền các năm, xây dựng bảng trả nợ vốn vay, Một số chỉ tiêu khá quan trọng để phân tích dự án như B/C, RR, nhưng trên thực tế vẫn rất ít được đề cập

- Khi thẩm định nguồn vốn đầu tư thì trong thời gian xây dựng tổng chi phí đầu tư của dự án, chi phí lãi vay dài hạn cần được tính vào vì trong thời gian này vẫn chưa tạo ra được sản phẩm dịch vụ Thế nhưng trong quá trình thẩm định các cán bộ đầu tư đã không tính vào và các chi phí dự phòng cũng không được đề cập đến Việc thiếu sót trong tính toán sẽ dẫn đến phân bổ chi phí không chính xác sau này

Trang 12

- Việc tính toán doanh thu dự kiến hàng năm: thông thường cán bộ thẩm định thường cho nó phụ thuộc vào sản lượng dự kiến và giá bán sản phẩm dự kiến Nhưng sản lượng dự kiến lại phụ thuộc vào nhu cầu thị trường

và công suất thực tế của máy móc thiết bị Nhưng công tác dự báo về nhu cầu sản phẩm của dự án vẫn chưa thực sự hiệu quả Việc xác định thị phần tiêu thụ của dự án chỉ lấy thông tin chung chung, chỉ đánh giá cảm tính xem thị trường những năm tới sẽ tăng bao nhiêu % Đồng thời việc tính toán cũng chỉ tính đến giá trị thời gian của tiền mà chưa đề cập tới yếu tố lạm phát Yếu tố lạm phát có ảnh hưởng rất lớn tới tính hiệu quả của dự án Nhất là trong tình trạng hiện nay, nền kinh tế rơi vào lạm phát cao trong nhiều giai đoạn

- Việc tính toán các khoản mục chi phí chủ yếu là do khách hàng đưa ra các số liệu mà nhiều khi không có sự tính toán lại

- Khi tiến hành phân tích độ nhạy thì mới chỉ đề cập tới một số yếu tố

có ảnh hưởng lớn như giá bán, tổng vốn đầu tư mà chưa phân tích đầy đủ các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả dự án như chi phí dự án, thuế thu nhập doanh nghiệp

- Việc phân tích rủi ro: thực tế ngoài phương pháp phân tích độ nhạy cũng không có phương pháp nào khác Các rủi ro mà cán bộ thẩm định đưa ra cũng chỉ mang tính chất định tính mà chưa đưa ra các số liệu tính toán cụ thể

và các biện pháp giảm thiểu rủi ro cũng chưa thực sự được chú trọng

c Quy trình thẩm định: Việc phân cấp trong thẩm định một mặt dẫn tới chuyên môn hóa trong quá trình thẩm định nhưng mặt khác nếu không biết cách kết hợp hoạt động giữa các phòng ban thì cũng có thể gây kém hiệu quả hơn Bởi cán bộ trực tiếp thực hiện thẩm định tài chính là cán bộ phòng đầu tư

dự án không được trực tiếp tiếp xúc khách hàng mà chỉ nhận thông tin từ phòng quan hệ khách hàng Do vậy tính chính xác của thông tin đưa ra sẽ phụ

Trang 13

thuộc vào phòng quan hệ khách hàng Phòng Đầu tư dự án chỉ đánh giá dự án dựa trên hồ sơ khách hàng cung cấp nên khó tránh khỏi chủ quan Bên cạnh

đó việc phân cấp cũng sẽ dễ dẫn đến tình trạng các nhận định ngược chiều từ hai phòng ban này

d Về cán bộ thẩm định: phòng đầu tư dự án mới chỉ được thành lập 3 năm và các cán bộ thẩm định còn trẻ nên kinh nghiệm công tác thẩm định tài chính còn khiêm tốn Với thời gian tách ra khỏi phòng quan hệ khách hàng mới chỉ hơn 3 năm nên việc kết hợp tốt với các phòng ban khác được Đội ngũ cán bộ thẩm định vẫn chưa đủ mạnh về số lượng và chất lượng cho công tác thẩm định tài chính Mặc dù SGD đã thường xuyên tổ chức các các khóa đào tạo về pháp luật, kỹ thuật nhưng do trình độ của đội ngũ cán bộ thẩm định chủ yếu là cử nhân và thạc sỹ kinh tế mà các dự án vay vốn là đa dạng ngành nghề, yêu cầu cán bộ phải có kiến thức tổng hợp nên đội ngũ cán bộ vẫn chưa đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu của công việc Việc phân công thẩm định dự án thì phần lớn là mỗi cán bộ là một số khách hàng nhất định chứ không phải phân công theo ngành, lĩnh vực Như vậy sẽ gây khó khăn hơn cho công tác thẩm định do một cán bộ sẽ không thể có hiểu biết sâu sắc về tất

cả các lĩnh vực được Bên cạnh đó thì trình độ về ngoại ngữ, tin học của cán

bộ tín dụng còn hạn chế nên gặp phải những khó khăn trong một số dự án liên quan đến nước ngoài

e Hạn chế trong việc thu thập và xử lý thông tin: nguồn thông tin phục

vụ chủ yếu cho quá trình thẩm định là do khách hàng đưa ra, thông tin trên hệ thống internet, báo chí Hệ thống thông tin chuyên ngành còn hạn chế, chưa phát huy hết tác dụng với công tác thẩm định tài chính Thông tin trên hệ thống internet và báo chí còn thiếu tính nhất quán và không thể đảm bảo tính chính xác được Đồng thời hệ thống thông tin mà khách hàng đưa ra không

Trang 14

phải lúc nào cũng chuẩn xác do khách hàng muốn được vay vốn nên nhiều trường hợp đưa ra thông tin còn sai lệch

f Về công tác tổ chức:

- Cơ chế chính sách còn chồng chéo, không rõ ràng, nhiều quy định còn

vô lý, nhất là trong chính sách đất đai, thế chấp, cầm cố

- Công tác khách hàng chưa hỗ trợ nhiều cho công tác phát triển tín dụng trung hạn Số dự án trung dài hạn hiệu quả, khả thi mà phòng quan hệ khách hàng tiếp cận còn hạn chế

- Khó khăn trên địa bàn hoạt động: Hà Nội là địa bàn có tính cạnh tranh cao Số lượng ngân hàng quá nhiều, số lượng các doanh nghiệp sản xuất lớn tập trung không đông bằng các tỉnh lân cận ngoại trừ một số doanh nghiệp lớn nước ngoài lại không có nhu cầu vay vốn hoặc đề nghị vay vốn với mức lãi suất thấp không thể đáp ứng

- Về thời gian thẩm định: do phân cấp trong thẩm định nên phải qua nhiều phòng ban, do đó mà thời gian thẩm định thường kéo dài Điều này thường dẫn đến khách hàng bị bỏ lỡ mất cơ hội đầu tư Do ngân hàng thẩm định lâu, trong đó thẩm định tài chính chiếm phần lớn thời gian, trong khi kết quả thẩm định chưa chắc đã cho khách hàng vay tiền Nếu khách hàng có đi vay ở ngân hàng khác thì cơ hội đầu tư cũng chưa chắc đã còn

1.3.6.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế trên

a Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, số lượng ngân hàng thương mại xuất hiện ngày càng nhiều

gây nên cạnh tranh ngày càng lớn Trong khi đó nền kinh tế đang rơi vào khủng hoảng nên số lượng dự án vay vốn cũng giảm theo Không phải là khách hàng tự tìm đến với ngân hàng mà chính những ngân hàng chủ động

Trang 15

tìm đến với khách hàng Chính vì thế mà để tăng doanh số cho vay thì chất lượng công tác thẩm định không phải lúc nào cũng đảm bảo tốt được

Thứ hai, mặc dù ngân hàng Nhà nước đã chú trọng xem xét, thường

xuyên sửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật và quy định về công tác tín dụng nhưng không tránh khỏi tình trạng chung là chồng chéo, không có sự nhất quán và rõ ràng trong các chính sách, gây nên sự hoang mang trong quá trình thẩm định của cán bộ bởi văn bản này chưa kịp quen thì đã ra văn bản khác

Thứ ba, là về thông tin trong quá trình thẩm định Trên thực tế khách

hàng có thể liên hệ với nhiều ngân hàng khác nhau để vay vốn cho dự án Do vậy rất cần thiết có sự phối hợp giữa các ngân hàng với nhau Nhưng việc liên

hệ giữa Sở giao dịch và các ngân hàng khác vẫn còn hạn hẹp SGD chủ yếu là tìm kiếm thông tin về khách hàng trên trung tâm thông tin của ngân hàng Nhà nước Thế nhưng thông tin ở trung tâm là do các ngân hàng tự giác cung cấp nên chưa chắc đã chính xác Bên cạnh đó, do khách hàng muốn vay được tiền nên những thông tin cung cấp cho ngân hàng chưa chắc đã hoàn toàn đúng

Thứ tư, là về năng lực của chủ đầu tư trong quá trình lập dự án Thực tế

trình độ của nhiều cán bộ lập dự án còn yếu kém nên chất lượng dự án không được tốt Do vậy mà thông tin khách hàng cung cấp cho ngân hàng thường thiếu chính xác và không đầy đủ Bên cạnh đó, việc lập dự án là đứng trên quan điểm của chủ đầu tư nên thường đưa ra nhiều điểm mạnh và hạn chế bớt điểm yếu của mình Đây chính là những nguyên nhân gây nên tình trạng thông tin thiếu và không chính xác trong quá trình thẩm định tài chính tại SGD

b Nguyên nhân chủ quan

Trang 16

Thứ nhất, việc phân cấp trong thẩm định quá nhiều, một mặt dẫn đến

kéo dài thời gian thẩm định, mặt khác nếu thiếu sự kết hợp giữa các phòng ban khác nhau thì sẽ dẫn tới tình trạng kém hiệu quả trong thẩm định

Thứ hai, do bản chất của ngân hàng do định chế tài chính cho vay nên

quan tâm nhiều tới việc hoàn trả vốn vay Do vậy cán bộ thẩm định thường chú trọng vào thẩm định khả năng cân đối trả nợ, tài sản đảm bảo, thế chấp

mà ít quan tâm tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như các chỉ tiêu hiệu quả tài chính khác

Thứ ba, là do hệ thống trang thiết bị phục vụ cho công tác thẩm định tài

chính chưa thực sự tốt Địa điểm mới tại 31/33 Ngô Quyền được trang bị khá đầy đủ về hệ thống phương tiện làm việc nhưng vẫn còn thiếu Những phương tiện phục vụ cho công tác dự báo vẫn chưa có Đồng thời số lượng cán bộ thẩm định trong toàn hệ thống vẫn tương đối mỏng, nên để đáp ứng khối lượng công việc lớn thì nhiều công đoạn trong quá trình thẩm định không thất

sự tốt, dẫn đến hiệu quả không cao Bên cạnh đó, do mỗi dự án liên quan đến nhiều khía cạnh như thị trường, kỹ thuật, pháp luật, mà mỗi khía cạnh đều liên quan đến thẩm định tài chính trong khi đó trình độ của cán bộ lại hạn chế, không thế có sự hiểu biết chuyên sâu về mọi lĩnh vực được

Trang 17

Chương II Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác thẩm định tài chính dự án vốn vay tại sỏ giao dịch

thời gian tới

2.1 Định hướng chung về hoạt động tại sỏ giao dịch trong thời gian tới

2.1.1 Định hướng chung đối với các hoạt động

- Đối với năm 2009: Hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch năm 2009 mà

NH TMCP TƯ đã giao cho SGD:

+ Huy động vốn quy VND từ nền kinh tế đạt 47.109 tỷ VND tăng 18%

so với 31/12/2008

+ Dư nợ cho vay quy VND đạt 6.216 tỷ VND tăng 32% so với 31/12/2008

+ Số dư bảo lãnh đạt 1.485 tỷ VND

+ Tỷ lệ nợ xấu tối đa 3%

+ Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu: 5,91 tỷ USD

+ Phát hành 31.215 thẻ Connect 24, 14.015 thẻ ghi nợ quốc tế, 7.495 thẻ tín dụng quốc tế, phát triển thêm 300 CSCNT

Trang 18

- Tăng cường tiếp cận và cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng thể nhân để tăng dần tỷ trọng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho vay thể nhân trong tổng dư nợ

- Tìm kiếm các dự án tốt, hiệu quả để cho vay trung-dài hạn và tăng cường quan hệ với các ngân hàng khác để cho vay đồng tài trợ

- Tiếp tục thực hiện việc rà soát, phân loại khách hàng,… để đảm bảo quản lý rủi ro và quản lý hiệu quả danh mục các khoản vay Tiếp tục tìm kiếm

và mở rộng lượng khách hàng có quan hệ tín dụng, thanh toán trong và ngoài nước để có chính sách khách hàng tổng thể Có các biện pháp để thu hút và hỗ trợ các khách hàng doanh nghiệp xuất nhập khẩu

- Đưa toàn bộ máy ATM còn lại vào hoạt động và đưa một số sản phẩm mới như Kios và EDC không dây vào hoạt động Thực hiện quảng bá thẻ CUP (Trung Quốc) và ký kết hợp đồng với các đơn vị chấp nhận thẻ để thanh toán thẻ này do đây là loại thẻ mới liên kết với hệ thống thanh toán thẻ của Việt Nam

- Tìm kiếm và thuê mới địa điểm cho 10 máy ATM, 2-3 phòng giao dịch tại các địa bàn đông dân cư và toà nhà lớn

- Nghiên cứu và lên kế hoạch lắp đặt hệ thống camera tại các quầy giao dịch quỹ để đảm bảo an toàn ngân quỹ khi giao dịch tiền mặt với khách hàng với số lượng lớn Phối hợp chặt chẽ giữa phòng Hối đoái và phòng Ngân quỹ

để chủ động nhập ngoại tệ để phục vụ khách hàng kịp thời

- Chú trọng công tác quảng bá hình ảnh của Vietcombank, quảng cáo rộng rãi các sản phẩm của Vietcombank trên mọi phương tiện thông tin hoặc thông qua các chương trình khuyến mại thường xuyên để thu hút khách hàng

Trang 19

- Tổ chức đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ nghiệp vụ, bồi dưỡng chuyên môn, ngoại ngữ và kỹ năng giao tiếp và quan hệ khách hàng cho các cán bộ

để đáp ứng yêu cầu của công việc và nhu cầu của khách hàng

2.1.2 Định hướng đối với công tác thẩm định nói chung và thẩm định tài chính nói riêng

Trong hoạt động tín dụng thì thẩm định nói chung và thẩm định tài chính nói riêng là một trong những hoạt động quan trọng nhất Trong những năm tới, nhằm nâng cao chất lượng công tác thẩm định tài chính thì SGD NHNT đã đề ra một số mục tiêu chính sau:

- Ngày càng nâng cao hiệu quả chất lượng công tác thẩm định tài chính thông qua việc hoàn thiện về nội dung, quy trình, cải tiến phương pháp thẩm định:

+ Tiếp tục áp dụng quy trinh thẩm định và ngày càng hoàn thiện hơn Chủ động quyết định và thông báo thời gian thẩm định, có quyết định cho vay đối với khách hàng nhằm đảm bảo dự án hoạt động theo đúng tiến độ và hiệu quả cho dự án

+ Bồi dưỡng và nâng cao trình độ của các cán bộ thẩm định

+ Tăng cường áp dụng các phương pháp thẩm định khoa học, đặc biệt

là các phương pháp phân tích độ nhạy

- Phối hợp với phòng quan hệ khách hàng để thực hiện tốt công tác thẩm định, đồng thời có quan hệ tốt với các ngân hàng khác để thực hiện đồng tài trợ cho các dự án

- Hoàn thành tốt các chỉ tiêu mà sở giao dịch đề ra

- Thực hiện thẩm định và cho vay trên cơ sở tính khả thi và tính hiệu quả của dự án chứ không phải trên cơ sở tài sản đảm bảo và uy tín của khách hàng

Trang 20

2.2 Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thẩm định tài chính dự án vốn vay tại sở giao dịch

2.2.1 Đối với công tác tổ chức và điều hành thẩm định tài chính

Công tác tổ chức, điều hành có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công tác thẩm định Một cách tổ chức khoa học và hợp lý sẽ giúp phát huy tối đa tính sáng tạo của các cá nhân cũng như tính đoàn kết tập thể của toàn bộ nhân viên Để công tác tổ chức và điều hành tốt thì có thể xem xét một số giải pháp sau:

- Kiện toàn lại hệ thống tổ chức, điều hành vừa đảm bảo dễ kiểm tra, kiểm soát đồng thời tạo cơ sở, điều kiện thông thoáng cho cán bộ thẩm định phát huy năng lực của mình

- Bộ máy tổ chức phải đảm bảo tinh giản, gọn nhẹ nhưng vẫn phải đầy đủ cán bộ phục vụ cho công tác thẩm định

- Thực hiện nghiêm túc công tác phân quyền phán quyết và phân quyền thẩm định

- Phân chia công tác thẩm định dự án theo ngành nghề lĩnh vực nhằm chuyên môn hóa công tác thẩm định mà vẫn đảm bảo đa dạng hóa đầu tư nhằm giảm chi phí trong thẩm định cũng như tạo nên mối quan hệ lâu dài với khách hàng

- Cập nhật và ban hành quy chế mới của NHNT cho phù hợp với tình hình mới và vẫn đảm bảo phát huy tính sáng tạo của cán bộ thẩm định

Về quy trình thẩm định: hoàn thiện quy trình thẩm định theo hướng ngày càng rõ ràng và hiệu quả hơn

Quy trình thẩm định rõ ràng sẽ tạo điều kiện cho công tác thẩm định có hiệu quả Với mỗi ngân hàng thì sẽ có quy trình thẩm định riêng biệt tùy theo quy định Với SGD thì quy trình thẩm định được quy định trong cẩm nang tín dụng do Hội sở chính ban hành Tuy nhiên, nhìn chung việc hướng dẫn đối

Ngày đăng: 01/09/2017, 21:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS. Từ Quang Phương, “Giáo trình kinh tế đầu tư”, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc Dân 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế đầu tư
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc Dân 2008
2. PGS.TS. Nguyễn Thị Bạch Nguyệt, “Giáo trình lập dự án đầu tư”, Nhà xuất bản Thống kê 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lập dự án đầu tư
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê 2005
3. PGS.TS Mai Văn Bưu, “Hướng dẫ lập, thẩm định và quản lý các dự án đầu tư”, Nhà xuất bản Thống kê Hà Nội năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫ lập, thẩm định và quản lý các dự án đầu tư
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê Hà Nội năm 2003
4. “Cẩm nang tín dụng” – ngân hàng ngoại thương 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang tín dụng
5. Báo cáo hoạt động kinh doanh của SGD năm 2008 Khác
6. Báo cáo về hoạt động của phòng Đầu tư dự án năm 2008 Khác
7. Các trang Web: vietcombank.com.vn Diendannganhang.com.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.11. BẢNG TÍNH CÁC CHỈ TIấU DỰ ÁN - Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư tại NHVN p2
Bảng 1.11. BẢNG TÍNH CÁC CHỈ TIấU DỰ ÁN (Trang 29)
BẢNG 1.12. BẢNG CÂN ĐỐI KHẢ NĂNG TRẢ NỢ - Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư tại NHVN p2
BẢNG 1.12. BẢNG CÂN ĐỐI KHẢ NĂNG TRẢ NỢ (Trang 31)
BẢNG 1.13. BẢNG TÍNH VỐN ĐẦU TƯ CHO CÁC NĂM. - Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư tại NHVN p2
BẢNG 1.13. BẢNG TÍNH VỐN ĐẦU TƯ CHO CÁC NĂM (Trang 32)
BẢNG 1.14. TÍNH ĐỘ NHẠY CỦA DỰ ÁN KHI 1 BIẾN THAY ĐỔI - Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư tại NHVN p2
BẢNG 1.14. TÍNH ĐỘ NHẠY CỦA DỰ ÁN KHI 1 BIẾN THAY ĐỔI (Trang 33)
BẢNG 1.14. TÍNH ĐỘ NHẠY DỰ ÁN KHI NHIỀU BIẾN THAY ĐỔI - Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn đầu tư tại NHVN p2
BẢNG 1.14. TÍNH ĐỘ NHẠY DỰ ÁN KHI NHIỀU BIẾN THAY ĐỔI (Trang 35)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w