MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Xuất phát từ sự phát triển tất yếu về kinh tế, mục tiêu và con đường đi lên CNXH mà Đảng và Nhà nước ta đã lựa chọn, tiến hành CNH, HĐH đất nước trở thành một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược. Tháng 9 năm 1960, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 3 của Đảng đề ra chủ trương CNH xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Tháng 7 năm 1991, chủ trương này được mở rộng trên phạm vi cả nước. Từ đây, Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân ta đồng tâm hiệp lực thực hiện CNH, HĐH với một quyết tâm cao độ. Mặc dù có nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, nhưng nước ta vẫn là một nước nông nghiệp truyền thống lạc hậu, kinh tế chậm phát triển.Việc giải quyết những vấn đề trọng tâm trong nông nghiệp, nông thôn trở thành điều tất yếu của quá trình CNH, HĐH ở nước ta. Nhận thức được vai trò đó, trong suốt hơn 20 năm Đổi mới cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn là mặt trận hàng đầu trong toàn bộ nội dung của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Với sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, nông nghiệp nông thôn nước ta đã có những đổi mới và phát triển vượt bậc, trước hết là ở sự đổi mới về tư duy kinh tế nông nghiệp. Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa 4 (tháng 1/1981) với nội dung cải tiến và mở rộng công tác khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX nông nghiệp đã bắt đầu khẳng định vai trò làm chủ của hộ nông dân. Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (tháng 4/1988) một lần nữa nhấn mạnh tính tự chủ của người nông dân trong phát triển kinh tế hộ với quan điểm “ Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”. Thành tựu đạt được của công cuộc Đổi mới (1986) đã thúc đẩy nông nghiệp nước ta có những bước tiến đáng kể, nhiều hộ nông dân bắt đầu có tích lũy vốn. Đặc biệt, sự ra đời của Luật đất đai năm 1993 đánh dấu hộ nông dân từ đây có quyền tự chủ, sử dụng ruộng đất lâu dài và ổn định trên ruộng đất của mình; có thể thừa kế, chuyển đổi, cho thuê, thế chấp ruộng đất mình sở hữu. Những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về khuyến nông, tín dụng, quy hoạch đất đai,…đã tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển; thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH.Diện mạo nông nghiệp nước ta đã có nhiều thay đổi. Đặc biệt những năm gần đây, nhiều nhân tố và mô hình tổ chức sản xuất mới trong nông nghiệp hình thành và phát triển, đem lại hiệu quả thiết thực. Sự hình thành và phát triển của KTTT ở nước ta là một trong những biểu hiện chứng minh cụ thể. Sự ra đời của KTTT trên nền tảng kinh tế hộ gia đình là một tất yếu của nền kinh tế hàng hóa, góp phần phát huy những tiềm năng của đất nước trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH Nghệ An là một tỉnh miền Trung, có diện tích rộng nhất cả nước, nguồn lao động dồi dào, chủ yếu làm nông nghiệp. Với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khá thuận lợi, Nghệ An có khả năng phát triển kinh tế nông nghiệp cao, đặc biệt là mô hình KTTT. Trong nhiều năm qua, KTTT ở Nghệ An đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng, có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh nhà, sớm khẳng định vai trò và triển vọng phát triển của nó trong tương lai. KTTT ở Nghệ An hiện nay đang phát triển theo hướng chuyển mình cùng với quá trình CNH, HĐH đất nước. Do đó, việc áp dụng KHCN mới vào sản xuất trở thành một trong những điểm sáng cần phát huy hơn nữa đối với trang trại ở Nghệ An. Mặc dù Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An đã nhận thức được vai trò quan trọng của KTTT đối với sự phát triển nông nghiệp, song việc phát huy lợi thế đó vẫn còn hạn chế. Các trang trại quy mô lớn, phương thức tổ chức sản xuất hiện đại còn ít, chủ yếu là nhỏ lẻ, phân tán. Việc giải quyết các vấn đề về ruộng đất, quy hoạch, tín dụng, thị trường, ứng dụng KHCN…vẫn còn tỏ rõ sự lúng túng, thiếu kinh nghiệm. Nguyên nhân nảy sinh những vấn đề đó là từ đâu? Làm thế nào để có những giải pháp phù hợp giải quyết những vấn đề còn tồn tại? Làm thế nào để người nông dân Nghệ An ngày càng gắn bó và tâm huyết với KTTT? Làm thế nào để đưa KTTT ở Nghệ An trở thành một bộ phận không thể thiếu của nông nghiệp tỉnh nhà? Mong muốn trả lời được những vấn đề trên, tìm ra giải pháp đưa KTTT ở Nghệ An phát triển hơn nữa là lý do khiến tôi suy nghĩ và mạnh dạn lựa chọn một đề tài cũ mà không cũ, đó là: “Phát triển kinh tế trang trại theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
Trang 1Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Kinh tế - Học viện Báo chí và Tuyên truyền Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo, tiến sĩ Vũ Văn Yên Cảm ơn thầy đã nhiệt tình giúp đỡ, hướng dẫn
em trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và thực hiện khóa luận
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới UBND, Sở Nông nghiệp
và phát triển nông thôn, Sở thống kê tỉnh Nghệ An đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, thu nhập số liệu phục vụ cho việc hoàn thành khóa luận tốt nghiệp:
“Phát triển kinh tế trang trại theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay”.
Hà Nội, tháng 05 năm 2013
Tác giả Nguyễn Thị Phương Mai
Trang 2DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Nguyên nghĩa
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xuất phát từ sự phát triển tất yếu về kinh tế, mục tiêu và con đường đilên CNXH mà Đảng và Nhà nước ta đã lựa chọn, tiến hành CNH, HĐH đấtnước trở thành một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược Tháng 9 năm 1960, Đạihội Đại biểu toàn quốc lần thứ 3 của Đảng đề ra chủ trương CNH xã hội chủnghĩa ở miền Bắc Tháng 7 năm 1991, chủ trương này được mở rộng trênphạm vi cả nước Từ đây, Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân ta đồng tâmhiệp lực thực hiện CNH, HĐH với một quyết tâm cao độ
Mặc dù có nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, nhưng nước ta vẫn làmột nước nông nghiệp truyền thống lạc hậu, kinh tế chậm phát triển.Việcgiải quyết những vấn đề trọng tâm trong nông nghiệp, nông thôn trở thànhđiều tất yếu của quá trình CNH, HĐH ở nước ta Nhận thức được vai trò đó,trong suốt hơn 20 năm Đổi mới cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coiCNH, HĐH nông nghiệp nông thôn là mặt trận hàng đầu trong toàn bộ nộidung của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Với sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, nông nghiệp nôngthôn nước ta đã có những đổi mới và phát triển vượt bậc, trước hết là ở sựđổi mới về tư duy kinh tế nông nghiệp
Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa 4 (tháng 1/1981)với nội dung cải tiến và mở rộng công tác khoán sản phẩm đến nhóm vàngười lao động trong HTX nông nghiệp đã bắt đầu khẳng định vai trò làmchủ của hộ nông dân Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (tháng 4/1988) một lầnnữa nhấn mạnh tính tự chủ của người nông dân trong phát triển kinh tế hộvới quan điểm “ Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” Thành tựu đạt đượccủa công cuộc Đổi mới (1986) đã thúc đẩy nông nghiệp nước ta có nhữngbước tiến đáng kể, nhiều hộ nông dân bắt đầu có tích lũy vốn Đặc biệt, sự ra
Trang 4đời của Luật đất đai năm 1993 đánh dấu hộ nông dân từ đây có quyền tựchủ, sử dụng ruộng đất lâu dài và ổn định trên ruộng đất của mình; có thểthừa kế, chuyển đổi, cho thuê, thế chấp ruộng đất mình sở hữu Những chủtrương, chính sách của Đảng, Nhà nước về khuyến nông, tín dụng, quyhoạch đất đai,…đã tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sản xuất hàng hóa pháttriển; thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôntheo hướng CNH, HĐH Diện mạo nông nghiệp nước ta đã có nhiều thayđổi Đặc biệt những năm gần đây, nhiều nhân tố và mô hình tổ chức sản xuấtmới trong nông nghiệp hình thành và phát triển, đem lại hiệu quả thiết thực.
Sự hình thành và phát triển của KTTT ở nước ta là một trong những biểuhiện chứng minh cụ thể
Sự ra đời của KTTT trên nền tảng kinh tế hộ gia đình là một tất yếucủa nền kinh tế hàng hóa, góp phần phát huy những tiềm năng của đất nướctrong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH
Nghệ An là một tỉnh miền Trung, có diện tích rộng nhất cả nước,nguồn lao động dồi dào, chủ yếu làm nông nghiệp Với điều kiện tự nhiên,kinh tế xã hội khá thuận lợi, Nghệ An có khả năng phát triển kinh tế nôngnghiệp cao, đặc biệt là mô hình KTTT Trong nhiều năm qua, KTTT ở Nghệ
An đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng, có ý nghĩa đối với sựphát triển kinh tế của tỉnh nhà, sớm khẳng định vai trò và triển vọng pháttriển của nó trong tương lai KTTT ở Nghệ An hiện nay đang phát triển theohướng chuyển mình cùng với quá trình CNH, HĐH đất nước Do đó, việc ápdụng KHCN mới vào sản xuất trở thành một trong những điểm sáng cầnphát huy hơn nữa đối với trang trại ở Nghệ An
Mặc dù Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An đã nhận thức được vai tròquan trọng của KTTT đối với sự phát triển nông nghiệp, song việc phát huylợi thế đó vẫn còn hạn chế Các trang trại quy mô lớn, phương thức tổ chức
Trang 5sản xuất hiện đại còn ít, chủ yếu là nhỏ lẻ, phân tán Việc giải quyết các vấn
đề về ruộng đất, quy hoạch, tín dụng, thị trường, ứng dụng KHCN…vẫn còn
tỏ rõ sự lúng túng, thiếu kinh nghiệm
Nguyên nhân nảy sinh những vấn đề đó là từ đâu? Làm thế nào để cónhững giải pháp phù hợp giải quyết những vấn đề còn tồn tại? Làm thế nào
để người nông dân Nghệ An ngày càng gắn bó và tâm huyết với KTTT?Làm thế nào để đưa KTTT ở Nghệ An trở thành một bộ phận không thểthiếu của nông nghiệp tỉnh nhà? Mong muốn trả lời được những vấn đề trên,tìm ra giải pháp đưa KTTT ở Nghệ An phát triển hơn nữa là lý do khiến tôisuy nghĩ và mạnh dạn lựa chọn một đề tài cũ mà không cũ, đó là: “Phát triểnkinh tế trang trại theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ Antrong giai đoạn hiện nay” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1 Trên thế giới
KTTT đã xuất hiện từ lâu, trải qua hàng trăm năm tồn tại và pháttriển KTTT là đối tượng được nhiều chuyên gia kinh tế, học giả nghiên cứu,được in thành sách, trên các tạp chí, tài liệu khoa học, góp phần bổ sung vào
hệ thống lý luận về KTTT những nội dung quan trọng, có ý nghĩa trong thựctiễn đời sống Điển hình là các tác phẩm:
- FAO (1989), “Farming Systems Development”, Rome, nghiên cứu
về sự phát triển hệ thống của trang trại
- New Letter West Bengal (9/1990), “Farming systems research and extension”, Ấn Độ
- FAO (1990), “Ways forward for farming systems Approach is Asiaand the Pacific”, Rome đã nghiên cứu về sự xuất hiện và xu hướng phát triểnKTTT ở Châu Á – Thái Bình Dương…
Trang 6Ngoài ra, có hàng loạt đề tài, tổng kết, báo cáo về KTTT ở từng địaphương trong phạm vi vùng, khu vực, quốc gia cung cấp thông tin chínhxác, khoa học cho các nhà lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách quốcgia làm căn cứ đưa ra chủ trương, chính sách kinh tế phù hợp thúc đẩyKTTT phát triển.
2.2 Ở Việt Nam
KTTT đã xuất hiện từ lâu, nhưng việc nghiên cứu khoa học về nóchưa thực sự được quan tâm, nhất là thời điểm trước chủ trương CNH,HĐH Từ khi Đảng, Nhà nước tiến hành đổi mới, thực hiện chủ trương đẩymạnh CNH, HĐH, KTTT bắt đầu được nói đến nhiều KTTT trở thành mộttrong những nội dung quan trọng được thừa nhận và khẳng định trong cácvăn kiện, Nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước Nhiều tập thể, cánhân các nhà nghiên cứu, chuyên gia kinh tế,…bắt đầu hướng đến đối tượng
là KTTT với nhiều công trình tiêu biểu xuất hiện:
- Phạm Quang Lê, 1999, “Kinh tế trang trại đột phá mới trong nông
nghiệp”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 12.
- GS TS Nguyễn Thế Nhã, 1999, “Thực trạng phát triển kinh tế trang
trại ở nước ta”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 257.
- Nguyễn Điền, Trần Đức, 1993, Kinh tế trang trại gia đình trên thế giới và châu Á, Nxb Thống Kê, Hà Nội.
- Trần Đức, 1995, Trang trại gia đình ở Việt Nam và trên thế giới,
NXB chính trị quốc gia, 1995
Ở Nghệ An, KTTT được lãnh đạo cũng như các cá nhân đặc biệt quantâm, làm xuất hiện một số công trình nghiên cứu khá công phu dưới nhiềugóc độ Tuy nhiên, dưới góc độ kinh tế chính trị và quản lý kinh tế thì chưa
có một công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện Trên cơ sở khảo sátthực tiễn phát triển KTTT ở Nghệ An, kế thừa những thành tựu mà các nhà
Trang 7khoa học, các chuyên gia đã nghiên cứu, khóa luận: “Phát triển kinh tế trangtrại theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ An trong giaiđoạn hiện nay” sẽ đi sâu nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn củaKTTT, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy sự phát triểnKTTT ở Nghệ An thời gian tới.
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ lý luận về KTTT và thực tiễn đặt ra trong quá trìnhphát triển KTTT ở Nghệ An, khóa luận đề xuất các giải pháp cụ thể nhằmphát triển KTTT tương xứng với tiềm năng của tỉnh cũng như phù hợp vớiđịnh hướng CNH, HĐH mà Đảng và Nhà nước đã đề ra
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích nghiên cứu, khóa luận cần thực hiện những nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về KTTT
- Đánh giá tình hình phát triển KTTT theo hướng CNH, HĐH ở Nghệ
An trong giai đoạn hiện nay
- Đề xuất phương hướng, giải pháp thúc đẩy sự phát triển KTTT theohướng CNH, HĐH ở Nghệ An trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài lấy sự phát triển KTTT theo hướng CNH, HĐH ở Nghệ An làmđối tượng nghiên cứu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Dưới góc độ kinh tế chính trị và quản lý kinh tế, đề tài nghiên cứu tìnhhình phát triển KTTT theo hướng CNH, HĐH trong giai đoạn hiện nay ởNghệ An trên quy mô toàn tỉnh Từ đó đặt ra phương hướng, mục tiêu, giảipháp phát triển mô hình kinh tế này ở tỉnh Nghệ An
Trang 85 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tưtưởng Hồ Chí Minh làm phương pháp nghiên cứu của đề tài Bên cạnh đó,còn vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp nghiên cứu khác: lôgic kết hợpvới lịch sử, thống kê, phân tích tổng hợp, bảng biểu…để làm rõ những vấn
đề lý luận và thực tiễn phát triển KTTT ở Nghệ An
6 Những đóng góp mới của khóa luận
- Khóa luận làm sáng rõ hơn nữa những vấn đề lý luận và thực tiễn về
sự phát triển KTTT theo hướng CNH, HĐH ở nước ta
- Đánh giá tổng thể về sự phát triển KTTT theo hướng CNH, HĐH ởNghệ An trong giai đoạn hiện nay Từ đó phát hiện ra những hạn chế đangtồn tại hoặc sẽ nảy sinh cần giải quyết
- Đưa ra được một số giải pháp khoa học, khả thi thúc đẩy sự pháttriển KTTT ở Nghệ An trong thời gian tới
7 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung khóa luận gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về KTTT
Chương 2: Thực trạng phát triển KTTT trong nông nghiệp ở tỉnh Nghệ AnChương 3: Mục tiêu, phương hướng và giải pháp phát triển
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
KINH TẾ TRANG TRẠI
Trang 91.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Đảng Cộng sản Việt Nam
về kinh tế trang trại
1.1.1 Quan điểm của Mác, Ăng - ghen, Lênin
Qúa trình CNH tư bản chủ nghĩa diễn ra khá sớm trên thế giới Anh lànước đầu tiên thực hiện quá trình đó CNH dẫn đến sự ra đời các ngành côngnghiệp mới, các xí nghiệp tập trung với quy mô lớn, đông đảo lao động làmthuê CNH tác động mạnh mẽ đến nhiều ngành kinh tế khác nhau trong cơcấu kinh tế, đặc biệt là công nghiệp Sự tác động đó đã khiến cho nhiềungười lầm tưởng rằng, để có thể trụ được trong nền kinh tế hàng hóa đangdiễn ra sôi động như vậy thì bản thân nông nghiệp cũng phải xây dựng nhưcông nghiệp theo hướng tập trung có quy mô lớn Vì thế người ta đã cónhiều biện pháp khác nhau để tích tụ, tập trung ruộng đất, xây dựng hàngloạt xí nghiệp nông nghiệp tư bản Đồng thời xóa bỏ hệ thống các trang trạigia đình với hy vọng mô hình sản xuất nông nghiệp này sẽ cho hiệu quả caohơn nhiều lần so với mô hình trang trại gia đình cũ trước đó
Thực tế, đối tượng của nông nghiệp là cây trồng và vật nuôi khác vớicông nghiệp Đặc điểm này không phù hợp với hình thức sản xuất tập trungquy mô lớn và sử dụng nhiều nhân công của ngành công nghiệp C.Máccũng đã từng lầm tưởng vấn đề này Mác nhận thấy một trong những conđường tất yếu của ngành nông nghiệp trong quá trình CNH tư bản chủ nghĩa
là xây dựng xí nghiệp nông nghiệp theo hướng tập trung quy mô lớn Sau
đó, bằng thực tiễn phát triển của ngành nông nghiệp, C.Mác khẳng địnhquan điểm đó là sai Với nền công nghiệp phát triển như Anh, hình thức sảnxuất nông nghiệp có lợi nhất lại là các trang trại gia đình không dùng laođộng làm thuê Thực ra, chủ nghĩa tư bản cũng không thích thú đầu tư nôngnghiệp vì đó là ngành phụ thuộc vào thiên nhiên, kinh doanh nhiều rủi ro,
Trang 10mà tỷ suất lợi nhuận và giá trị lao động thấp Điều đó chứng tỏ trang trại giađình là mô hình kinh tế phù hợp với hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Cuối thế kỷ 20, mô hình sản xuất phổ biến trong nền nông nghiệp thếgiới vẫn là trang trại gia đình - có sức chống đỡ lớn trong các cuộc khủnghoảng Đến nay, KTTT vẫn được đánh giá cao và là lựa chọn đúng đắn củanhiều gia đình muốn làm giàu từ nông nghiệp
Khi đưa ra quan điểm về KTTT, Mác so sánh với kinh tế tiểu nông.Điểm cơ bản của trang trại gia đình là sản xuất hàng hóa, khác với kinh tếtiểu nông là tự cấp tự túc, giống nhau là lấy gia đình làm nòng cốt Sự tồn tạicủa KTTT gia đình trước hết phù hợp với một trong những đặc điểm cơ bảncủa sản xuất nông nghiệp là lấy sinh vật làm đối tượng Người chủ trực tiếptác động vào cây trồng, vật nuôi với trách nhiệm và tình cảm của mình
KTTT có khả năng dung nạp các hình thức sở hữu khác nhau (cá thể,HTX, quốc doanh); qui mô sản xuất khác nhau; trình độ KHCN khác nhau(từ thô sơ đến hiện đại) C.Mác nhấn mạnh việc phát triển KTTT là một tấtyếu KTTT bán đại bộ phận nông sản được sản xuất ra thị trường, còn hộnông dân thì bán ra càng ít bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu Cùng quan điểmnày, Lê nin nói: “Người chủ trang trại bán ra thị trường hầu hết các sảnphẩm làm ra, còn người tiểu nông thì dùng đại bộ phận sản xuất được, muabán càng ít càng tốt” Như vậy, kinh tế hộ chỉ dừng lại ở sản xuất tự cung tựcấp Để có nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, phải chuyển kinh tế hộsang KTTT Quan điểm của Mác, Lê nin về KTTT đã chỉ ra bản chất KTTT
là hộ nông dân nhưng còn ở dạng khái quát, nhiều vấn đề chưa được đề cậpnhư vị trí của chủ trang trại trong quá trình tái sản xuất sản phẩm, cách thức
tổ chức quản lý sản xuất…Tuy nhiên, những quan điểm này đã khẳng địnhtính tất yếu của phát triển KTTT, manh nha sự quan tâm nghiên cứu chonhững người muốn tìm hiểu về KTTT hiện nay
Trang 111.1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
Suốt hơn 20 năm Đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn coi CNH, HĐHnông nghiệp nông thôn là mặt trận hàng đầu trong toàn bộ nội dung của sựnghiệp CNH, HĐH đất nước, đặc biệt nhấn mạnh phát triển mô hình KTTT.Nước ta đã có nhiều chính sách tạo điều kiện cho KTTT phát triển nhất là từnăm 2000 đến nay Chỉ thị 100 của Ban bí thư Trung ương (31/10/1981)đánh dấu việc coi trọng sự phát triển KTTT Chỉ thị về khoán sản phẩm đếnngười lao động, giúp hộ gia đình chủ động sử dụng lao động và thu nhậpcủa mình để phát triển kinh tế Đây là cơ sở cho sự phát triển KTTT ở nước
ta Tháng 4/1988, Nghị quyết 10 của Bộ chính trị nâng cao hơn nữa mức tựchủ kinh doanh của xã viên trên cả ba mặt Về TLSX, giao khoán ruộng đất
từ 15 năm trở lên, không hạn chế việc mua sắm TLSX khác Các xã viên trởthành chủ thể chính trong sản xuất nông nghiệp Đảng và Nhà nước thừanhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ tạo môi trường thể chế thuận lợicho kinh tế hộ tự do phát triển sản xuất, bình đẳng trong quan hệ kinh tế
Ngày 14/7/1993, Luật đất đai được Quốc hội thông qua thực hiện giaođất lâu dài cho nông dân, thừa nhận năm quyền sử dụng đất của nông dân.Nghị quyết 03/2000/NQ - CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về KTTT đãđưa ra nhiều nội dung phát triển KTTT lâu dài: khuyến khích phát triển vàbảo hộ KTTT; giao và cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
ổn định, lâu dài theo pháp luật; khuyến khích phát triển KTTT sử dụng ítđất, nhiều lao động, thâm canh gắn với chế biến và thương mại, dịch vụ…
Đảng và Nhà nước ta thấy được sự xuất hiện, tồn tại và phát triển tấtyếu của KTTT theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay.KTTT ở nước ta có vai trò quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo, khaithác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực góp phần phát triển nông nghiệp bền
Trang 12vững, chuyển dịch lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp, thúc đẩy tiếntrình CNH nông nghiệp, nông thôn.
Quan điểm của Mác, Lê nin cũng như của Đảng và Nhà nước ta đãchứng tỏ vị trí và xu thế phát triển của KTTT đối với sự phát triển nôngnghiệp của các quốc gia trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng.Trên cơ sở những quan điểm đó, chúng ta có cái nhìn khách quan, khoa học
để tìm hiểu KTTT dưới góc độ kinh tế chính trị và quản lý kinh tế
1.2 Kinh tế trang trại – đặc trưng và tiêu chí nhận dạng
1.2.1 Khái niệm
KTTT ở nước ta phát triển chứng tỏ sự ra đời của nó đã đáp ứng yêucầu khách quan của nền nông nghiệp, chứng tỏ chủ trương đưa nông nghiệpnước ta tiến lên nền sản xuất lớn theo hướng CNH, HĐH là đúng đắn Sựphát triển KTTT là một bước đột phá quan trọng trong phát triển kinh tếnông nghiệp, nông thôn Những năm gần đây, nhiều cơ quan nghiên cứu,quản lý Nhà nước, các nhà khoa học đã tìm hiểu, nghiên cứu KTTT Cáchthức tiếp cận, phương pháp phân tích khác nhau, nên vẫn chưa có thống nhấttrong xác định khái niệm KTTT Việc làm rõ khái niệm KTTT là vấn đề cầnthiết, có ý nghĩa trong nghiên cứu KTTT mà khóa luận này phải giải quyết
KTTT là một khái niệm không mới với nhiều quốc gia Sự ra đời, tồntại và phát triển KTTT ở mỗi quốc gia, khu vực quy định đặc điểm KTTT ởmỗi nơi là khác nhau Việc hình thành một khái niệm chung về KTTT cònkhá khó khăn Trên thế giới, người ta dùng thuật ngữ Fermer (tiếng Pháp),Farm (tiếng Anh) để chỉ trang trại, nông trại,…Ở các nước tư bản phát triển
và một số vùng lãnh thổ châu Á quan điểm trang trại là loại hình sản xuấtnông lâm ngư của hộ gia đình nông dân sau khi phá vỡ vỏ bọc sản xuất tựcấp tự túc của hộ tiểu nông, vươn lên sản xuất nông sản hàng hóa, tiếp cậnvới thị trường, từng bước thích nghi với nền kinh tế cạnh tranh Quan điểm
Trang 13này thể hiện đặc trưng của KTTT là sản xuất nông sản hàng hóa nhưng chưanói được đặc điểm lao động và cách thức tổ chức sản xuất của KTTT
Trong từ điển kinh tế, khi trình bày khái niệm kinh tế nhiều ngành củanông trang tập thể, Côdơlốp và S.P Pêrơvusưn đã chỉ ra đặc điểm củaKTTT: “Nền kinh tế kết hợp đúng đắn các ngành khác nhau của sản xuấtnông nghiệp, trước hết là ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi nhằm đảmbảo đạt được sản lượng nông nghiệp tối đa trên một héc ta ruộng đất và năngsuất lao động được nâng lên mức cao hơn(…) Kinh tế nhiều ngành cũngthúc đẩy việc sử dụng tốt hơn kỹ thuật, ruộng đất và tư liệu sản xuất củanông trang tập thể (…) Kinh tế nhiều ngành đòi hỏi các nông trang tập thểtiến hành chuyên môn hóa theo các ngành chủ đạo, các loại cây trồng và súcvật nhằm lợi dụng được hết mọi điều kiện tự nhiên và kinh tế của từng nôngtrang tập thể, cũng như các nguồn lao động và kinh nghiệm sản xuất củatừng nông trang” [1, 259]
Ở nước ta cũng có nhiều khái niệm khác nhau về KTTT Nhóm tácgiả Nguyễn Điền, Trần Đức, Trần Huy Năng: “Trang trại gia đình là loạihình cơ sở sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân, hình thành và pháttriển trong điều kiện của nền kinh tế thị trường từ khi phương thức sản xuất
tư bản thay thế cho phương thức sản xuất phong kiến, khi bắt đầu cuộc cáchmạng công nghiệp lần thứ nhất ở các nước châu Âu” [2, 5] GS.TS NguyễnĐình Hương, tập thể các cán bộ khoa học của trường Đại học Kinh tế quốcdân: “Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngưnghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa TLSX thuộc quyền sởhữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hànhtrên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cáchthức tổ chức và quản lý tiên tiến, trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ vàluôn gắn với thị trường” [3, 19] Khái niệm đã chỉ ra được KTTT là hình
Trang 14thức tổ chức sản xuất cơ sở, trực tiếp tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu của
xã hội, các khâu trong quá trình tái sản xuất của trang trại (sản xuất, phânphối, trao đổi, tiêu dùng) và một số đặc điểm của trang trại (mục đích sảnxuất, TLSX, phương thức sản xuất)
Dưới góc độ xã hội, trang trại được coi là một tổ chức cơ sở xã hội,trong đó các quan hệ xã hội đan xen nhau giữa các thành viên của trang trại,giữa chủ trang trại và người lao động làm thuê, giữa người làm thuê cho chủtrang trại với nhau
Dưới góc độ môi trường, trang trại là một không gian sinh thái, trong
đó diễn ra các quan hệ sinh thái đa dạng Không gian sinh thái trang trạiquan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng trực tiếp hệ sinh thái của vùng
Dưới góc độ pháp luật, KTTT là “hình thức sản xuất hàng hóa trongnông nghiệp, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nângcao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủysản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản”
Qua phân tích một số khái niệm về KTTT cho thấy mỗi khái niệm đềuđưa ra được những vấn đề khá hợp lý, tương quan với nhau Tuy nhiên, một
số nội dung chưa phù hợp tình hình phát triển KTTT nước ta hiện nay Dướigóc độ kinh tế chính trị, KTTT được định nghĩa: “Kinh tế trang trại là mộthình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, ra đời phổbiến từ kinh tế hộ, phát triển dựa trên cơ sở nền sản xuất hàng hóa Sản xuấtđược tiến hành trên cơ sở sự tập trung đủ lớn về vốn, đất đai, lao động vàcác yếu tố sản xuất khác với các hình thức tổ chức quản lý tiến bộ, trình độ
kỹ thuật cao phù hợp với cây trồng vật nuôi TLSX thuộc quyền sở hữu hoặcquyền sử dụng của một người chủ độc lập, hoạt động tự chủ, sản xuất vàkinh doanh theo cơ chế thị trường vì mục tiêu lợi nhuận” [5] Định nghĩa này
đề cập khá trọn vẹn, đầy đủ ý nghĩa khoa học về lý luận và thực tiễn Đồng
Trang 15thời phản ánh bản chất, đặc điểm, mục đích KTTT phù hợp với giai đoạnhiện nay Dù ở góc độ nghiên cứu nào, KTTT cũng có bản chất và đặc điểmkhông đổi Đi sâu nghiên cứu bản chất, đặc điểm đó góp phần quan trọng về
lý luận, thực tiễn cho khóa luận
1.2.2 Đặc trưng
C.Mác là người đầu tiên chỉ ra đặc trưng cơ bản của KTTT so vớikinh tế tiểu nông Chủ trang trại sản xuất và bán tất cả, kể cả thóc giống.Tiểu nông sản xuất và tự tiêu thụ sản phẩm làm ra, mua bán càng ít càng tốt.Như vậy, đặc trưng cơ bản của KTTT là ở mục đích sản xuất KTTT sảnxuất nông sản hàng hóa theo nhu cầu thị trường Đặc trưng này chi phối cácđặc trưng khác của KTTT Tính chất và trình độ sản xuất hàng hóa củaKTTT đã thu hẹp tính tự cấp tự túc của kinh tế hộ Mục đích sản xuất hànghóa được đánh giá thông qua một số tiêu chí như tổng giá trị sản xuất hànghóa sản xuất trong năm, sản lượng nông sản hàng hóa sản xuất trong năm, tỷsuất hàng hóa của trang trại,…
KTTT còn có một số đặc trưng khác như sau:
- Nhu cầu lao động của trang trại vượt quá khả năng về nguồn laođộng của hộ gia đình, làm xuất hiện tình trạng thuê mướn lao động Thuêmướn lao động gồm hai hình thức thuê thường xuyên và thuê thời vụ Việclựa chọn hình thức nào là phụ thuộc vào qui mô và trình độ sản xuất củatrang trại
- TLSX trong trang trại thuộc về quyền sở hữu hoặc quyền sử dụngcủa một người chủ độc lập Chủ trang trại hoàn toàn có quyền tự chủ quyếtđịnh mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại Sự hoàn toàn quyếtđịnh đó không có nghĩa là phân lập, là tách biệt mối quan hệ liên kết mậtthiết với các HTX, các tổ chức nông nghiệp, các trang trại khác Mối quan
hệ giữa các đối tượng này vẫn ngày càng được thiết lập chặt chẽ
Trang 16- Chủ trang trại là người trực tiếp sản xuất và quản lý, có ý chí vànăng lực tổ chức quản lý, có kiến thức và kinh nghiệm sản xuất và nhữnghiểu biết nhất định về kinh doanh nông nghiệp Đây là những tố chất cầnthiết để tổ chức và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại Nókhông có ở những chủ nông hộ sản xuất tự cấp, tự túc Những tố chất màchủ trang trại có được là kết quả của quá trình lao động nghiêm túc, nhữngkhó khăn mà trang trại đã từng vấp phải làm cho họ đúc kết thành nhữngkinh nghiệm thực tiễn quí báu Những đặc điểm này đã chứng tỏ sự trưởngthành có ý nghĩa mang tính chất bước ngoặt trong tư duy kinh tế cũng nhưphương thức sản xuất kinh doanh của chủ trang trại so với chủ nông hộ Đó
là một sự thay đổi phát triển, vươn lên một tầm cao mới của nền kinh tếnông nghiệp hàng hóa so với nền kinh tế tự cung, tự cấp
- Sản xuất mang tính chuyên môn hóa cao, áp dụng nhiều tiến bộ khoahọc kỹ thuật, thâm canh tăng năng suất, thường xuyên tiếp cận thị trường vàđiều hành sản xuất một cách hợp lý do đó, giá trị sản phẩm thu nhập và giátrị sản phẩm hàng hóa ngày càng tăng Chuyên môn hóa sản xuất của trangtrại gắn liền với việc chuyển hướng sản xuất từ đa canh, đa dạng về sảnphẩm sang hướng sản xuất tập trung chủ yếu ở một hoặc một vài nông sảnhàng hóa nhằm phát huy được những lợi thế so sánh của trang trại cũng nhưđạt được mục tiêu lợi nhuận cao Thâm canh tăng năng suất thể hiện ở hiệuquả đầu tư trên một đơn vị sản xuất Có nhiều hình thức thâm canh, thay thếnhau cùng với quá trình phát triển kinh tế (thâm canh truyền thống, thâmcanh kết hợp truyền thống và hiện đại, thâm canh hiện đại) Việc tiếp cậnthường xuyên thị trường thể hiện ở việc chủ trang trại thường quan tâm đếndiễn biến của thị trường, quen thuộc dần với các phạm trù kinh tế hoặc cónhững chiến lược marketing tìm kiếm thị trường (quảng cáo, giới thiệu sảnphẩm,…)
Trang 17- KTTT có sự tập trung tích tụ cao hơn so với mức bình quân của hộkinh tế ở từng vùng về điều kiện sản xuất Qúa trình tích tụ và tập trung cácyếu tố sản xuất này ở một giới hạn nhất định, diễn ra trước và trong quá trìnhsản xuất kinh doanh của trang trại.
1.2.3 Phân loại
Có nhiều loại KTTT khác nhau căn cứ vào đặc điểm, điều kiện cụ thểcủa từng nước, từng vùng trong từng giai đoạn nhất định Khóa luận này đềcập đến bốn cách phân loại KTTT:
1.2.3.1 Phân loại theo cơ cấu sản xuất
Trang trại kinh doanh tổng hợp: sản xuất kinh doanh nhiều sản phẩmkết hợp trồng trọt với chăn nuôi, nông nghiệp với tiểu thủ công nghiệp, nôngnghiệp với lâm nghiệp, phổ biến ở nhiều nước châu Á và Bắc Âu
Trang trại sản xuất theo hướng chuyên môn hóa: sản xuất một loại sảnphẩm nhất định, như trang trại chăn nuôi bò sữa, chuyên trồng cây ăn quả,trang trại chăn nuôi thủy sản,…và khá phổ biến ở các nước phát triển như
Mỹ, Ca-na-đa, Tây Âu,…
Trang trại chuyên sản xuất nông sản hoặc lâm sản làm nguyên liệucho công nghiệp chế biến: có khi còn kết hợp sản xuất với chế biến nông,lâm sản ở trình độ sơ chế hoặc tinh chế
1.2.3.2 Phân loại theo hình thức sở hữu tư liệu sản xuất
Dựa theo hình thức sở hữu TLSX, trang trại được chia theo ba loạihình Chủ trang trại sở hữu toàn bộ TLSX: gồm đất đai, máy móc, chuồngtrại, kho bãi,…Đối với từng TLSX khác nhau, ở mỗi nước có một tỷ lệ sởhữu khác nhau Tỷ lệ sở hữu hoàn toàn ruộng đất của chủ trang trại ở Mỹnăm 1982 là 59.0%, nhưng Thụy Điển lại chỉ có khoảng 30%
Trang 18Chủ trang trại sở hữu một phần TLSX, còn một phần đi thuê củangười khác Có những trang trại, chủ sở hữu có đất đai nhưng phải thuê máymóc, nhà xưởng,…để sản xuất
Chủ trang trại thuê toàn bộ TLSX: chủ sở hữu trang trại hoàn toànkhông có TLSX, phải thuê toàn bộ cơ sở của một trang trại nào đó để sảnxuất
Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì vấn đề về sở hữuTLSX không phải là yếu tố quyết định đến sự thành đạt của một trang trại.Trong thực tế, có rất nhiều chủ trang trại đi thuê mà vẫn thu được lợi nhuậncao không thua kém các chủ trang trại có sở hữu về TLSX
1.2.3.3 Phân loại theo qui mô đầu tư
Gồm trang trại có qui mô lớn, trang trại có qui mô vừa và trang trại cóqui mô nhỏ (Qui mô đầu tư gồm vốn đầu tư, sử dụng lao động, diện tích đất,
…)
1.2.3.4 Phân loại theo hình thức tổ chức quản lý
Trang trại gia đình: là loại hình trang trại sản xuất kinh doanh độc lậpcủa từng gia đình, có tư cách pháp nhân, do chủ hộ hay một người thay mặtgia đình quản lý, các thành viên khác trong gia đình tham gia sản xuất Đây
là loại hình trang trại phổ biến nhất ở các nước Riêng ở Mỹ, hiện nay có86% trang trại gia đình trong tổng số trang trại của cả nước
Trang trại liên doanh: là loại hình trang trại do 2 đến 3 gia đình hợplại trên cơ sở tự nguyện liên doanh với nhau thành một trang trại lớn nhằmtăng năng lực về vốn và TLSX, tạo sức cạnh tranh lớn hơn Hoặc cũng cóthể là do chủ trang trại có đất nhưng thiếu vốn hoặc ngược lại nên đã liêndoanh với người có vốn để sản xuất kinh doanh chung Trong đó, mỗi trangtrại thành viên vẫn có quyền tự chủ sản xuất Đối tượng liên doanh chủ yếu
là anh em, họ hàng hay bạn bè thân thiết Ở châu Á, qui mô trang trại thường
Trang 19nhỏ, nên số trang trại theo loại hình này có rất ít Ở Mỹ, Anh cũng chỉ chiếmmột tỷ lệ thấp, xấp xỉ 10% tổng số trang trại.
Trang trại hợp doanh theo cổ phần: là loại hình trang trại được tổ chứctheo nguyên tắc cổ phần, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, và tiêuthụ nông sản Loại trang trại này thường có qui mô lớn, thực hiện chuyênmôn hóa sản xuất, sử dụng lao động làm thuê là chủ yếu Có hai loại hợpdoanh là hợp doanh gia đình và hợp doanh phi gia đình (là loại hình xínghiệp nông nghiệp lớn nhất ở Mỹ) Loại trang trại này chiếm từ 3 đến 5%trong tổng số trang trại hiện nay, phổ biến nhất là ở Mỹ
Cách phân loại thứ nhất là phổ biến ở nhiều nước, trong đó có ViệtNam Tuy nhiên, để phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển KTTT ởnước ta, các nhà quản lý kinh tế, nhà nghiên cứu đã phân loại lại dựa vàotính chất và qui mô sở hữu của trang trại Theo đó, ở nước ta có ba loại hìnhtrang trại chủ yếu sau:
- Trang trại gia đình: sử dụng lao động gia đình là chủ yếu
- Trang trại tiểu chủ: sử dụng lao động thuê mướn là chính
- Trang trại tư nhân: sử dụng hoàn toàn lao động làm thuê
Ở nước ta hiện nay, cần ưu tiên khuyến khích, thúc đẩy sự phát triểnKTTT gia đình Đó là con đường tất yếu, quan trọng nhằm đưa KTTT ởnước ta tiến lên sản xuất hàng hóa, góp phần thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐHnông nghiệp nông thôn Nghệ An là một tỉnh có KTTT khá phát triển Trangtrại gia đình là loại hình trang trại chủ yếu, quy mô vừa và nhỏ Quy hoạchđất đai gặp khó khăn ảnh hưởng đến việc mở rộng quy mô trang trại Cácchủ trang trại ở Nghệ An chủ yếu là nông dân tự vay vốn làm ăn, không cóhoặc ít người có trình độ quản lý, kiến thức hạn chế, thiếu kinh nghiệm,không có những ý tưởng đầu tư táo bạo hướng vào phát triển KTTT mà chỉ
áp dụng mô hình quen thuộc là trang trại gia đình vừa đủ sức, ít nhiều có
Trang 20kinh nghiệm Sự quan tâm đến KTTT hiện nay ở Nghệ An là một việc làmđúng đắn của lãnh đạo tỉnh, khẳng định con đường phát triển đúng đắn, hợp
lý của địa phương theo hướng CNH, HĐH
Ở Việt Nam:
Kết hợp cả hai mặt định tính và định lượng để nhận dạng trang trại.Mặt định tính là một mô hình kinh tế sản xuất nông sản hàng hóa Mặt địnhlượng được xác định thông qua một số chỉ tiêu như tỷ suất hàng hóa, gía trịsản lượng hàng hóa so với hộ nông dân trung bình trong nước, vùng vàngành, qui mô các yếu tố sản xuất của trang trại…Do chưa có quy địnhthống nhất của các Bộ, ngành Trung ương về tiêu chí trang trại nên các địa
Trang 21phương tự đặt ra những tiêu chí về trang trại dựa vào tính chất sản xuất hànghoá, quy mô yếu tố sản xuất, để thống kê số liệu KTTT của địa phương Vìvậy, số liệu thống kê chưa thật chuẩn xác, ranh giới giữa kinh tế hộ nông dân
và KTTT không rõ ràng, khó khăn trong đánh giá thực trạng, xây dựng chínhsách đối với KTTT Ngày 02/02/2000, Chính phủ có Nghị quyết03/2000/NQ-CP về KTTT Liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,Tổng cục Thống kê đã thi hành Nghị quyết của Chính phủ, quy định hướngdẫn tiêu chí về xác định KTTT như sau:
- Các đối tượng và ngành sản xuất được xem xét xác định là KTTTgồm hộ nông dân, công nhân viên Nhà nước, lực lượng vũ trang đã nghỉhưu, các hộ thành thị và cá nhân chuyên sản xuất hoặc sản xuất nông nghiệp
là chính, kiêm nhiệm các hoạt động dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn
- Các đặc trưng chủ yếu của KTTT: sản xuất nông sản hàng hoá vớiquy mô lớn Mức độ tập trung hoá và chuyên môn hoá các yếu tố sản xuấtcao hơn so với sản xuất nông hộ Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệmtrực tiếp điều hành sản xuất, biết áp dụng khoa học kỹ thuật; sử dụng laođộng gia đình và bên ngoài, hiệu quả cao, thu nhập vượt trội so với kinh tếhộ
- Tiêu chí định lượng xác định KTTT:
+ Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản đượcxác định là trang trại phải đạt cả hai tiêu chí định lượng: Giá trị sản lượnghàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hảimiền Trung từ 40 triệu đồng trở lên và từ 50 triệu đồng trở lên với các tỉnhphía Nam và Tây Nguyên Quy mô sản xuất tương đối lớn, vượt trội so vớikinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế
+ Đối với trang trại trồng trọt: Trang trại trồng cây hàng năm từ 2 hatrở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung, từ 3 ha trở lên
Trang 22đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên Trang trại trồng cây lâu năm từ 3
ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung, từ 5 ha trở lênđối với ở các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên Riêng trang trại trồng hồ tiêu từ0,5 ha trở lên Trang trại lâm nghiệp từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong
cả nước
+ Đối với trang trại chăn nuôi: Chăn nuôi đại gia súc là sinh sản, lấysữa thường xuyên từ 10 con trở lên, lấy thịt thường xuyên từ 50 con trở lên.Chăn nuôi gia súc sinh sản thường xuyên có từ 20 con trở lên, đối với dê vàcừu từ 100 con trở lên, lợn thịt thường xuyên từ 100 con trở lên, dê thịt từ
200 con trở lên Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng,…thường xuyên từ2.000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)
+ Đối với trang trại nuôi trồng thuỷ sản có diện tích mặt nước để nuôitrồng từ 2 ha trở lên (riêng tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)
+ Đối với sản phẩm nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản có tính chấtđặc thù như hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thủy sản thì tiêu chíxác định là giá trị sản lượng hàng hoá
1.3 Vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại
1.3.1 Vai trò của kinh tế trang trại
KTTT là một hình thức tổ chức sản xuất quan trọng Ở các nước đangphát triển, trang trại gia đình có vai trò quyết định trong sản xuất nôngnghiệp Ở những nước phát triển, đại bộ phận nông sản cung cấp cho xã hộiđược sản xuất ra từ các trang trại gia đình Ở Mỹ, KTTT gia đình tạo ra khốilượng nông sản chiếm 70% giá trị sản lượng nông nghiệp của cả nước
Ở Việt Nam, KTTT thể hiện vai trò tích cực của mình trong quá trìnhCNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, biểu hiện trên ba mặt
1.3.1.1 Về kinh tế
Trang 23KTTT thúc đẩy quá trình sản xuất nông sản hàng hóa, nâng cao năngsuất lao động nông nghiệp Trang trại sản xuất một khối lượng hàng hóanông sản lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu Đặc biệtphải kể đến trang trại cà phê, hồ tiêu, cao su, chè, chăn nuôi bò sữa, gia súc,
gia cầm cung cấp hàng hóa với số lượng lớn KTTT đang ngày càng được
chú trọng đầu tư KHCN và ứng dụng thành công, đem lại hiệu quả bất ngờ.KTTT đang đi vào quá trình hiện đại hóa sản xuất Hàng hóa nông sản ngàycàng có sức cạnh tranh trên trị trường trong nước, khu vực và thế giới
KTTT góp phần tạo nên những vùng chuyên môn hóa cao và chuyểndịch cơ cấu kinh tế KTTT thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến, dịch vụsản xuất nông nghiệp Sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn tạo ranhiều vùng sản xuất nông lâm ngư nghiệp hàng hóa tập trung, tạo điều kiệncho công nghiệp chế biến nông sản phát triển, đa dạng các ngành dịch vụ phinông nghiệp KTTT sản xuất ra những nông sản có chất lượng, tạo nênthương hiệu, thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường nông sản thế giới Từ đó,KTTT góp phần thúc đẩy nền kinh tế quốc dân
1.3.1.2 Về xã hội
KTTT đã góp phần làm tăng số hộ giàu trong nông thôn Hiệu quả màKTTT đem lại làm tăng sự tin tưởng của người nông dân, trên cơ sở đó cóđiều kiện thuận lợi huy động nguồn vốn dân cư xây dựng kết cấu tầng, đầu
tư mở rộng sản xuất, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn
KTTT có vai trò quan trọng trong giải quyết vấn đề lao động và việclàm đang bức thiết hiện nay ở nước ta Năm 2000, nước ta có khoảng113.000 trang trại, giải quyết việc làm cho khoảng 30 vạn lao động, thuêmướn 30 triệu ngày công lao động mỗi năm Đây là động lực quan trọng gópphần thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, làm giàu cho
gia đình và đất nước Phát triển KTTT đem lại bài học cho các chủ trang trại
Trang 24về cách thức tổ chức quản lý và sản xuất kinh doanh, phát huy quyền tự chủ,tính sáng tạo, năng động, độc lập trong kinh doanh.
1.3.1.3 Về môi trường
KTTT khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn lựcTNTN Quá trình đó có tác dụng tận dụng và sử dụng hiệu quả đất trống đồitrọc, vùng đất hoang hóa,…Năm 2000, diện tích đất sử dụng của cả nước lên
đến con số 20-30 vạn ha Phát triển KTTT góp phần quan trọng vào việc
trồng và bảo vệ rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc, sử dụng hiệu quả các loạiTNTN nhằm cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái Nguyên nhân là do cácchủ trang trại sản xuất kinh doanh vì lợi ích thiết thực lâu dài của mình nêncũng khá chú ý đến vấn đề môi trường
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại
1.3.2.1 Nhân tố bên trong
Sự phát triển KTTT chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố bên trong nhưsau:
Một là, vị trí và vai trò của ngành sản xuất nông nghiệp trong cơ cấu
kinh tế nông thôn:
Nhận thức vị trí, vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dântrong giai đoạn mới của CNH, HĐH đất nước có liên quan đến nhận thức,thái độ và trách nhiệm cuả toàn xã hội đối với nông nghiệ,p nông thôn Đểtạo nên sự chuyển biến căn bản của nông nghiệp nông thôn theo hướng sảnxuất hàng hóa lớn, trước tiên phải dựa trêncơ sở sự nỗ lực của bản thânngười nông dân Phát triển nông nghiệp trước hết là vì cuộc sống và tươnglai của bản thân dân cư nông thôn và trên cơ sở đó góp phần vào việc thựchiện sự nghiệp CNH, HĐH chung của cả nước Đây là một nhân tố bêntrong, lấy nội lực của nông nghiệp tạo ra sự phân công lao động mới.Chính
sự nỗ lực của người nông dân và nền sản xuất nông nghiệp sẽ góp phần tích
Trang 25cực và trực tiếp vào việc phát triển nông nghiệp Vì vậy, trong quá trìnhCNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn cần tiếp tục đẩy mạnh phát triển cácngành sản xuất nông,, lâm thủy sản; phải xây dựng những mô hình KTTTsản xuất hàng hóa lớn và đề cao trách nhiệm của bản thân những người nôngdân
Hai là, nhân tố con người:
Vai trò của nhân tố con người là điều đã được khẳng định – con ngườithực sự trở thành nhân tố bao trùm và quyết định nhất của các nhân tố hợpthành, qui định thành bại của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp và nôngthôn
Với tư cách chủ thể trực tiếp thực hiện quá trình CNH, HĐH nôngnghiệp và nông thôn, con người được xem xét ở đây phải đảm bảo nhữngyêu cầu toàn diện sau:
- Có nhận thức đúng đắn về vai trò và trách nhiệm với quá trình CNH,HĐH nông nghiệp và nông thôn
- Có tri thức và kỹ năng cần thiết tương xứng với yêu cầu áp dụng vàphát triển KHCN
- Xóa bỏ tư duy kiểu tiểu nông, có tư duy và phương pháp lao độngmới, gồm cả phương pháp tổ chức quá trình lao động và quá trình quản lýđáp ứng yêu cầu phát triển theo hướng CNH, HĐH
- Có sức khỏe tốt, thích ứng với yêu cầu của sự phát triển
Ba là nhân tố thể chế:
Thể chế cần được xem xét đến như một mảng phạm trù rộng lớn, baogồm các luật lệ, chủ trương, chính sách, tổ chứ, quy chế, điều lệ, tập tục…được qui định, qui ước thành văn bản để thực hiện phát triển kinh tế xã hội.Thể chế phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn là các hành vi tác độngqua lại giữa ba chủ thể: nhà nướ, dân cư và thị trường, trong đó nhà nước có
Trang 26vai trò đặc biệt quan trọng Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN, nhà nước là người nhạc trưởng tổ chức và điều phốihoạt động của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Chính vì vậy, trong nhiều Nghịquyết của Đảng đều nhấn mạnh khuyến khích phát triển hình thức trang trạigia đình cũng như các loại hình sản xuất khác của kinh tế hộ nông dân Đặcbiệt khuyến khích các hộ nông dân, các trang trại gia đình và các thành phầnkinh tế khác liên kết với nhau hình thành các tổ chức, các hình thức kinh tếhợp tác để mở rộng qui mô sản xuất, kinh doanh
1.3.2.2 Nhân tố bên ngoài
Bên cạnh những nhân tố bên trong, sự phát triển KTTT còn chịu ảnhhưởng của các nhân tố bên ngoài như sau:
Một là, tiến bộ khoa học và công nghệ
Tiến bộ KHCN, tuy là nhân tố bên ngoài nhưng có ảnh hưởng to lớn
và sâu rộng đến quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, trong đó
có sự phát triển của KTTT Sự ảnh hưởng của nhân tố tiến bộ KHCN đếntiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và KTTT thể hiện tập trungtrên các mặt sau:
- việc áp dụng các thành tựu của tiến bộ KHCN là điều kiện tiên quyết
để khai thác các lợi thế do tự nhiên mang lại
- việc áp dụng các thành tựu của tiến bộ KHCN vừa là nhiệm vụ tấtyếu của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, vừa là một yêu cầucấp thiết đối với KTTT để phát triển sản xuất hành hóa lớn
- việc áp dụng các thành tựu của tiến bộ KHCN khoogn chỉ trong lĩnhvực sản xuất mà trong cả hoạt động quản lý của các chủ trang trại Tuy nhiêncũng cần xác định được những lĩnh vực mũi nhọn ưu tiên trong từng thời kỳ
và điều kiện cụ thể
Hai là, xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế
Trang 27Dưới tác động của tiến bộ KHCN và việc mở rộng phạm vi phân cônglao động xã hội, việc quốc tế hóa đời sống kinh tế đã thực sự trở thành một
xu thế khách quan và có những ảnh hưởng đến sự phát triển các hoạt độngkinh tế của mỗi quốc gia Sự ảnh hưởng này sâu rộng đến mức không chỉ ởtầm vĩ mô, mà đã trực tiếp tới từng tế bào kinh tế trong hệ thống kinh tế củaquốc gia
Qúa trình quốc tế hóa đời sống kinh tế có ảnh hưởng to lớn và trựctiếp đến việc thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, trong đó có
cả sự phát triển của KTTT Quốc tế hóa đời sống kinh tế sẽ tạo ra nhữngthuận lợi nhất định trong việc tạo ra khả năng mở rộng thị trường và đẩymạnh hợp tác quốc tế Song những thách thức mới sẽ nảy sinh, trong đóthách thức lớn nhất là tình trạng cạnh tranh ngày càng gay gắt Trong bốicảnh đó, việc nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hóa trở thànhmột yêu cầu cấp thiết đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và KTTT nóiriêng
1.4 Qúa trình hình thành và kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại
1.4.1 Khái quát quá trình phát triển kinh tế trang trại trên thế giới
và bài học kinh nghiệm
KTTT trên thế giới ra đời từ lâu Các chuyên gia sử học và kinh tế họcthế giới đã chứng minh từ thời đế quốc La mã đã hình thành trang trại, trong
đó lực lượng sản xuất chủ yếu là nô lệ KTTT phát triển mạnh mẽ khi chế độ
tư bản chủ nghĩa ra đời Năm 1802 ở Pháp đã có 5.672 triệu trang trại Năm
1882 ở Tây Đức có 5.278 triệu trang trại Mỗi quốc gia có điều kiện tựnhiên, phong tục tập quán khác nhau qui định sự khác nhau của trang trại
Mô hình sản xuất phổ biến của nông nghiệp thế giới là trang trại gia đình, cóthuê nhân công theo mùa vụ Châu Âu là cái nôi của cuộc cách mạng côngnghiệp lần thứ nhất Nơi đây đã xuất hiện hình thức tổ chức trang trại nông
Trang 28nghiệp sản xuất hàng hóa thay thế cho hình thức sản xuất tiểu nông và điềntrang của các quý tộc Ở châu Á, cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20, tư bảnphương Tây xâm nhập, sự du nhập phương thức sản xuất kinh doanh tư bảnchủ nghĩa làm xuất hiện hình thức KTTT trong nông nghiệp.
Sự phát triển KTTT trên thế giới có nhiều biến động lớn Khi côngnghiệp phát triển mạnh mẽ, số lượng trang trại giảm nhưng diện tích, sảnlượng và doanh thu đều tăng Ở Pháp, số trang trại giảm từ 2,3 triệu trangtrại (1955) xuống còn 801.400 trang trại (1993) nhưng diện tích mỗi trangtrại lại tăng từ 14 ha (1955) lên 35 ha (1993) Ở Nhật Bản, diện tích trangtrại bình quân là 0,8 ha (1950), tăng lên 1,38 ha (1993) Thái Lan, Ấn Độ,Phi-lip-pin là những nước mới CNH, KTTT đang trong thời kỳ tăng dần về
số lượng Về sản lượng: ở Pháp có khoảng 0,98 triệu trang trại, sản xuấtlượng nông sản gấp 2,2 lần nhu cầu trong nước Ở Nhật bản có 4 triệu laođộng trong các trang trại, chiếm 3,7% dân số, bảo đảm lương thực cho hơn
100 triệu người Nguyên nhân là vào thời điểm bắt đầu CNH, sản xuất nôngnghiệp có sự tác động tích cực làm cho số trang trại tăng lên Khi CNH tăngcao, công nghiệp thu hút lao động từ nông nghiệp sang Nông nghiệp đượctrang bị máy móc, thiết bị thay thế lao động thủ công làm cho số lượng trangtrại giảm, đồng thời qui mô diện tích của mỗi trang trại tăng lên
Các trang trại sản xuất trên ruộng đất thuộc sở hữu của gia đình Vốnsản xuất của các trang trại gồm vốn tự có, vốn vay của ngân hàng Nhà nước
và tư nhân Năm 1960, vốn vay tín dụng của các trang trại ở Mỹ là 20 tỷUSD Đến năm 1985, nguồn vốn này gấp 6 lần thu nhập của các trang trại.Máy móc và trang thiết bị phục vụ sản xuất ngày càng được nâng cao cả về
số lượng và chất lượng Ở các nước châu Âu, người ta còn sử dụng cả máytính điện tử để tổ chức sử dụng, kinh doanh trang trại Lao động trong cáctrang trại trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển chỉ chiếm 10% tổng số
Trang 29lao động xã hội Ở Mỹ, những trang trại có thu nhập 1.000 USD/năm khôngthuê lao động; thu nhập từ 100.000 đến 500.000 USD /năm thì thuê từ 1 đến
2 lao động Ở Nhật Bản chỉ có 3 lao động/ trang trại (năm 1990),…
Cơ cấu trong tổng thu nhập của các trang trại cũng có sự biến đổi.Trong đó, trang trại chuyên làm nông nghiệp giảm, trang trại chuyên làmnông nghiệp và trang trại một phần lâm nghiệp hoặc kết hợp phi nôngnghiệp tăng Ở Nhật Bản, năm 1945 có 53,4 % trang trại chuyên làm nôngnghiệp, 46,5 % trang trại làm một phần nông nghiệp Cơ cấu thu nhập ở ĐàiLoan năm 1955 có 60% trang trại làm một phần nông nghiệp, đến năm 1980
có 91% làm một phần nông nghiệp kết hợp với phi nông nghiệp
Về quan hệ của trang trại trong cộng đồng: Sự phát triển của trang trạichịu tác động lớn của chính sách và pháp luật của Chính phủ Ở Nhật Bản,Nhà nước thường cho trang trại vay vốn tín dụng với lãi suất thấp từ 3,5%đến 7,5%/ năm để tái tạo đồng ruộng và mua sắm máy móc Nhà nước còntrợ cấp cho các nông trại từ 1/2 đến 1/3 giá bán máy móc nông nghiệp.Ngoài ra có các chính sách ổn định và giảm tô để khuyến khích sản xuấtnông nghiệp, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tiện lợi cho việc pháttriển kinh tế Các trang trại có mối quan hệ ngày càng chặt chẽ với hợp tác
xã nhằm cung ứng đầu vào, tiêu thụ sản phẩm cho trang trại, hình thành hệthống đưa tiến bộ khoa học về từng địa phương Ở Mỹ, trang trại có mốiquan hệ với hệ thống tổ hợp công – nông – nghiệp AGRYBUSYNESS, baogồm các ngành sản xuất, chế biến, dịch vụ kỹ thuật và tiêu thụ nông sản.Bên cạnh đó còn có mối quan hệ với HTX tín dụng để cung ứng vật tư kỹthuật, tiêu thụ nông sản,…nhằm cung cấp cho các trang trại 30% lượng phânbón, 27% lượng thức ăn gia súc, tiêu thụ 30% nông sản do trang trại sản xuấtra
Trang 30Đặc điểm KTTT trên thế giới là kinh nghiệm quan trọng đối với pháttriển KTTT ở nước ta cũng như ở Nghệ An:
Về loại hình trang trại: KTTT là hình thức phù hợp và mang lại hiệu
quả cao về kinh tế, đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo lương thực thựcphẩm cho quốc gia, tạo ra khối lượng hàng hóa lớn cho xuất khẩu Đại bộphận trang trại của các nước trên thế giới là trang trại gia đình Năng suất laođộng của trang trại ở các nước phát triển thường cao hơn so với các nướcđang phát triển Sự phát triển của trang trại gắn liền với quá trình CNH từthấp đến cao, là bước tiến mới trong tổ chức sản xuất nông nghiệp của nhânloại, có vị trí tiên phong trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn,trở thành lực lượng chủ lực khi nền kinh tế phát triển ở giai đoạn cao
Về qui mô trang trại: Qui mô trang trại ở mỗi nước là khác nhau,
nhưng xu hướng chung là tăng lên Qui mô sản xuất mở rộng gắn với quátrình CNH, HĐH
Về trình độ cơ giới hóa: Diễn ra ở hầu hết các vùng, quốc gia Các
trang trại ứng dụng ngày càng nhiều tiến bộ KHCN trên nhiều lĩnh Hệ thốngdịch vụ cung ứng đầu vào, đầu ra tương đối tiện lợi, thị trường rộng khắp,đảm bảo cho các trang trại đi sâu vào sản xuất chuyên môn hóa Đây là mộttrong những yếu tố quan trọng để đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh
Về cơ cấu thu nhập: Có sự thay đổi, lúc đầu là thu nhập từ nông
nghiệp, sau đó là thu từ hoạt động phi nông nghiệp tăng
Về sở hữu: Đặc điểm trang trại là thuộc nhiều loại sở hữu, chủ yếu là
sở hữu hộ gia đình Chủ trang trại có quyền quyết định cách sử dụng đất đai
đó sao cho hiệu quả Chính quyền các nước luôn có những biện pháp cụ thể
để quản lý ruộng đất của Nhà nước và tư nhân
Về lao động: Các trang trại sử dụng lao động làm thuê Chủ trang trại
cũng là lao động có trình độ văn hóa, kinh nghiệm sản xuất Lao động trang
Trang 31trại gồm lao động gia đình và lao động làm thuê Nhiều nước qui định mứclương tối thiểu cho lao động làm thuê trong nông nghiệp Nhu cầu lao độngtrong nông nghiệp ngày càng có xu hướng khan hiếm cả về số lượng và chấtlượng Nhà nước luôn có chính sách kinh tế, giáo dục tổng hợp nhằm đápứng nhu cầu lao động trong nền nông nghiệp hiện đại
Về vai trò của Nhà nước: Chính phủ có vai trò quan trọng tạo điều
kiện cho trang trại hình thành và phát triển, tác động thông qua hệ thốngchính sách, pháp luật, nhưng không can thiệp trực tiếp vào hoạt động củatrang trại Trang trại được coi là một doanh nghiệp trong nền kinh tế thịtrường, đối xử bình đẳng trước pháp luật như các doanh nghiệp khác Hầuhết mọi Nhà nước đều có chính sách hỗ trợ KTTT
1.4.2 Khái quát quá trình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam
KTTT ở nước ta đã xuất hiện từ thời kỳ phong kiến dân tộc, mặc dùđược gọi với những tên gọi khác nhau
Thời kỳ phong kiến dân tộc (thế kỷ X - XIX), một số triều đại đã thựchiện chính sách khai khẩn đất hoang bằng cách lập đồn điền, doanh điền,điền trang, thái ấp,… Đó là những vùng đất riêng của quí tộc, lao động phầnlớn là gia nô Riêng điền trang hình thành từ thế kỷ IX, khi nhà Trần cho cácvương hầu, công chúa,…chiêu tập người xiêu tán không có sản nghiệp làm
nô tỳ để khai khẩn đất hoang Ngoài ra còn có ruộng đất của nhà chùa dovua chúa cấp để nuôi tăng ni, thiện nam tín nữ bỏ tiền cúng ruộng đất chonhà chùa Chùa trở thành một địa chủ lớn Thời Lê, Nguyễn gọi là các trại ấp
do quan lại và công thần cai quản Đồn điền được chú trọng phát triển, đóngvai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế, có ý nghĩa về mặt quân sự
Thời kỳ Pháp thuộc (1858 - 1954), với chính sách bóc lột thuộc địa,thực dân Pháp lập đồn điền, trang trại với mục đích khai thác vùng lãnh thổrộng lớn làm tăng sức sản xuất ở các thuộc địa Đồn điền gắn với sản xuất
Trang 32hàng hóa bắt đầu xuất hiện Điền chủ hầu hết là người Pháp Hướng sản xuấtchính là độc canh cây lúa, còn lại là cao su, cà phê,…Các đồn điền có qui
mô lớn, dưới 50 ha (31,5%), trên 2000 ha (9%) Năm 1943, Pháp chiếm hơn
1 triệu ha đất tổ chức thành 3.928 đồn điền
Từ năm 1954 đến 1975, miền Bắc tiến hành CNH xã hội chủ nghĩa.Hình thức tổ chức sản xuất kiểu trang trại chủ yếu là nông lâm trường quốcdoanh, HTX nông nghiệp Năm 1975, có 367 lâm trường, 250 xí nghiệptrang trại Đây là thời kỳ các chính sách phát triển kinh tế còn mang nặngtính kế hoạch hóa tập trung, hiệu quả sản xuất nông nghiệp kém Ở miềnNam, hình thức tổ chức sản xuất ở vùng tạm chiến là các đồn điền, HTX,kinh tế hộ gia đình sản xuất hàng hóa,…
vị kinh tế tự chủ, chú trọng đến phát triển kinh tế hộ, đã mở ra một hướng đimới cho nông nghiệp nói chung và KTTT nói riêng Nhiều nghị quyết, luậtđất đai, dân sự, đầu tư,…đã thể chế hóa chính sách đối với kinh tế tư nhântrong nông nghiệp Nghị quyết Hội nghị TW 5 khóa 7 năm 1993 khuyếnkhích phát triển trang trại với qui mô thích hợp
- Cùng với sự cởi mở của hệ thống chính sách, lực lượng sản xuất củađất nước, hệ thống dịch vụ ở giai đoạn này cũng được phát triển mạnh mẽ
Trang 33Những người nông dân giỏi đã mạnh dạn phát triển sản xuất theo hướngtrang trại Nhà nước chủ động tạo ra các điều kiện cho KTTT phát triểntrong nông nghiệp nông thôn Việt Nam:
+ Về mặt pháp lý, Nhà nước công nhận hộ gia đình nông dân là đơn vịkinh tế tự chủ, hộ gia đình nông dân có tư cách pháp nhân như bất cứ mộtdoanh nghiệp hay tổ chức sản xuất nào khác và được Nhà nước bảo hộ, kinh
tế gia đình nông dân mặc sức phát triển sản xuất và làm giàu chính đáng
+ Về kinh tế, Nhà nước tiến hành giao quyền sử dụng ruộng đất lâudài cho các hộ nông dân, cho người nông dân được quyền chuyển nhượng,thừa kế đất đai…tạo điều kiện cho các hộ gia đình nông dân có đất, gắn bólâu dài với đất đai, tích tụ ruộng đất phát triển sản xuất nông nghiệp với qui
mô lớn Nhà nước còn ban hành luật Đất đai, Luật Đất đai sửa đổi, LuậtDoanh nghiệp, Luật Đầu tư…tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các hộgia đình nông dân phát triển mạnh mẽ theo hướng sản xuất hàng hóa với qui
mô lớn Nhà nước cho các hộ gia đình nông dân vay vốn với lãi suất ưu đãi,miễn giảm thuế sử dụng đất, hỗ trợ các khâu giống, KHCN…Hệ thống dịch
vụ phát triển đi liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội
- Để đáp ứng yêu cầu của đất nước trong gia đoạn CNH, HĐH, đòihỏi sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa trên qui
mô lớn, mô hình thích hợp là KTTT Thực tế trong nông thôn Việt Nam đãxuất hiện một bộ phận các hộ gia đình nông dân đi vào sản xuất hàng hóa,đạt được những kết quả nhất định: tích tụ ruộng đất, mở rộng vốn…tăng qui
mô sản xuất kinh doanh, có kinh ngiệm sản xuất kinh doanh trong nền kinh
tế thị trường , mặc dù với qui mô còn nhỏ, song đây là những nhân tố mới,tiếp nhận những ưu đãi của Chính phủ để mở rộng và phát triển sản xuấttheo hướng KTTT
Sau năm 1999 đến nay, KTTT đã phát triển khá mạnh mẽ:
Trang 34- Trong những năm qua, KTTT đã đem lại kết quả to lớn: từng bướcxóa bỏ được lối sản xuất nhỏ, manh mún, phân tán, tự cung tự cấp của ngườinông dân, đa phần người nông dân đi vào con đường sản xuất lớn theohướng CNH, HĐH gắn với thị trường Sử dụng có hiệu quả các nguồn lựcđặc biệt là đất trống đồi trọc, tạo nhiều việc làm cho người lao động, khaithác được lợi thế so sánh, bảo vệ môi trường, cân bằng sinh thái, phân bố lạidân cư, góp phần củng cố an ninh quốc phòng, tạo nhiều nông sản hàng hóađáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong nước và cho xuất khẩu, thực hiện đượcphương châm dân giàu, nước mạnh KTTT sử dụng hơn 370.000ha đất đaixây dựng cơ sở sản xuất hàng hóa tập trung với qui mô lớn Tạo công ănviệc làm cho 380.000 lao động Thu hút hơn 7.600 tỷ đồng, tạo ra hơn 2.000
tỷ đồng gía trị sản phẩm hàng hóa cho đất nước
- Thực tế đã chứng minh ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới,trang trại là mô hình phát triển tất yếu, trong kinh doanh nông nghiệp vớinhững ưu thế của mình, trang trại đã tự khẳng định được chỗ đứng trong sựphát triển của nhân loại
- Tuy nhiên, KTTT ở Việt Nam mới chỉ được coi như một hình thức
tổ chức sản xuất mới, gắn nông dân với đất đai và các điều kiện sản xuấtkhác Đa số nông dân đi vào sản xuất hàng hóa với qui mô lớn, xóa bỏ dầncách làm ăn manh mún, tự cung, tự cấp của người nông dân KTTT chưađược coi là một doanh nghiệp hoạt động sản xuât kinh doanh nông nghiệp,
do vậy, KTTT chưa chịu sự điều chỉnh của một bộ luật nào Về mặt nguyếntắc, trang trại phải được coi như là một doanh nghiệp tư nhân và phải đượcđiều chỉnh bằng luật doanh nghiệp, thụ hưởng những ưu đãi như doanhnghiệp tư nhân Nhưng hiện nay, nước ta chưa làm được điều đó Vì thế, cáctrang trại ở nước ta hiện đang gặp rất nhiều khó khăn và lúng túng tronghướng tháo gỡ và phát triển Vấn đề này cần sớm được Nhà nước giải quyết
Trang 35Tóm lại, trang trại ở nước ta có một số đặc điểm cơ bản sau:
- KTTT ở Việt Nam ra đời và phát triển là một kết quả tất yếu của nềnkinh tế thị trường Là kết quả của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nôngthôn KTTT ở Việt Nam ra đời trên nền tảng của quá trình phát triển kinh tế
hộ gia đình nông dân đi vào sản xuất hàng hóa, đi vào nền kinh tế thị trường,CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
- Về số lượng trang trại: có trên 130 000 trang trại, 5 đến 6 ha/trang
trại, chủ yếu là trang trại gia đình (năm 2001), tập trung nhiều ở đồng bằngsông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và trung du miền núi phía Bắc
- Về qui mô trang trại: Qui mô của các trang trại ở nước ta phần lớn là
nhỏ với xuất phát điểm thấp (nghèo, thiếu vốn, thiếu hiểu biết về nền kinh tếthị trường, về hội nhập,…) Qui mô đất canh tác miền Bắc thường nhỏ hơnmiền Nam Ở miền Bắc từ 4ha/trang trại, trang trại khoảng 2ha chiếm 56%,10ha chiếm 38.3%, từ 10ha đến 30ha chỉ chiếm 0.6% Ở miền Nam, một sốtỉnh như Gia Lai là 4.29 ha/ trang trại, Đắc Lắc là 6.3 ha/trang trại, BìnhĐịnh là 8 ha/trang trại,… Nước ta chưa có những trang trại vài trăm ha Do
đó, sức cạnh tranh thấp: năng suất thấp, chất lượng sản phẩm thấp, giá thànhcao…
- Về lao động trong trang trại: Chủ trang trại chủ yếu là nông dân,
chiếm trên 60% Ở miền Bắc có 2 - 40 lao động thời vụ, 3 - 40 lao độngthường xuyên với mức lương 250000 - 300 000đ/tháng Đối với trang trại 2 -
5 ha thường thuê 2 - 3 lao động, từ 5 -10 ha thường thuê từ 3 - 5 lao động, và
từ 10 - 20 ha thường thuê từ 6 - 10 lao động Ở miền Nam có từ 8 - 10 laođộng thường xuyên/trang trại với mức lương 500000 - 600 000đ/tháng
- Về vốn đầu tư: xấp xỉ 97 triệu đồng/trang trại Vốn đầu tư trang trại
ở miền Nam thường lớn hơn miền Bắc Ở miền Bắc từ 50 đến 80 triệu đồng/
Trang 36trang trại Miền Nam ít nhất là 50 triệu đồng, cao nhất hiện nay là 4 tỷ đồng,trong đó vốn tự có thường trên 81%, vốn vay ngân hàng từ 3 đến 5%
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI
TRONG NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH NGHỆ AN
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ở tỉnh Nghệ An
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Nghệ An nằm ở vĩ độ 180 33' đến 200 01' vĩ độ Bắc, kinh độ 1030 52' đến
1050 48' kinh độ Đông, trung tâm vùng Bắc Trung Bộ Phía Bắc giáp Thanh
Hoá với đường biên dài 196.13 km Phía Nam giáp Hà Tĩnh với đường biên
dài 92.6 km Phía Tây giáp Lào với đường biên dài 419 km Phía Đông giáp
biển Đông với bờ biển dài 82 km Bờ biển ở phía Đông Nghệ An dài 82km
nên Nghệ An có vai trò quan trọng trong giao lưu kinh tế, xã hội Bắc - Nam,
phát triển kinh tế biển, kinh tế đối ngoại Nghệ An nằm trên các tuyến đườngquốc lộ Bắc - Nam chạy từ phía Đông lên phía Tây và nằm trong hành langkinh tế Đông - Tây nối liền My-an-ma, Thái Lan, Lào, Việt Nam và BiểnĐông đến cảng Cửa Lò
Tỉnh Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn Địa hình đa dạng, phứctạp, bị chia cắt bởi hệ thống đồi núi, sông suối hướng từ Tây - Bắc xuốngĐông - Nam Đỉnh núi cao nhất là Pulaileng (2711m) ở huyện Kỳ Sơn Đồinúi chiếm 83% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh
Trang 37Tỉnh Nghệ An có 1 thành phố loại 2, 2 thị xã và 17 huyện Trong đó
có 10 huyện miền núi và 7 huyện đồng bằng, ven biển Nghệ An là tỉnh códiện tích rộng nhất cả nước, chiếm gần 5% diện tích cả nước
2.1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
Về tài nguyên khí hậu: Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 - 24oC,tổng lượng nhiệt năm là 8700o C Số giờ nắng trung bình/năm là 1500 - 1700
giờ Lượng mưa trung bình so với các tỉnh ở miền Bắc Mùa mưa kèm theo
gió bão Lượng mưa bình quân hàng năm từ 1200 - 2000 mm, chia làm haimùa rõ rệt Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, chiếm 15 - 20%lượng mưa cả năm Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80 - 85%lượng mưa cả năm Độ ẩm trung bình năm từ 80 - 90% Lượng bốc hơi từ
700 - 940 mm/năm Nghệ An chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió
phơn Tây Nam Gió mùa Đông Bắc xuất hiện vào mùa Đông, khoảng 30đợt/năm, mang theo không khí lạnh, khô, nhiệt độ giảm xuống 5 - 10oC sovới nhiệt độ trung bình năm Gió phơn Tây Nam là một đặc trưng cho mùa
hạ của Bắc Trung Bộ, xuất hiện vào mùa hè, khô, nóng
Về tài nguyên nước: Nghệ An có 7 lưu vực sông, chủ yếu là sông ngắn
ven biển có chiều dài dưới 50 km Mạng lưới sông suối khá phát triển, mật
độ trung bình 0.62 km/km2 phân bố không đều Vùng núi có độ dốc địa hìnhlớn, chia cắt mạnh, mạng lưới sông suối phát triển mạnh trên 1 km/km2 Khuvực trung du địa hình gò đồi, mạng lưới sông suối kém phát triển, dưới 0.5km/km2 Lưu vực sông nhỏ, điềukiện địa hình dốc Việc khai thác sử dụngnguồn nước gặp nhiều khó khăn Nhìn chung nguồn nước khá dồi dào, đủđáp ứng cho sản xuất và sinh hoạt của người dân
Về tài nguyên biển: Bờ biển Nghệ An dài 82 km Hải phận rộng 4.230
hải lý vuông Từ độ sâu 40m trở vào, đáy biển tương đối bằng phẳng Từ độsâu 40m trở ra có nhiều đá ngầm, cồn cát Biển Nghệ An có nhiều hải sản có
Trang 38giá trị kinh tế cao Bãi biển Cửa Lò là một trong những bãi tắm đẹp, lợi thếcho phát triển du lịch
Về tài nguyên đất: Nghệ An có diện tích tự nhiên là 16.490,25 km2.Phân chia theo nguồn gốc hình thành thì có các nhóm đất sau:
- Đất thuỷ thành: có khoảng 189.000 ha đất phù sa và đất cát Riêngđất phù sa có 163.202 ha ở đồng bằng, thích hợp trồng lúa nước và màu;21.428 ha đất cát cũ ven biển, thích hợp trồng rau, lạc, đỗ,
- Đất địa thành: Đất đỏ vàng ở vùng núi thấp như Tương Dương,Con Cuông, Tân Kỳ, phù hợp với cây công nghiệp và cây ăn quả Đây làthế mạnh của Nghệ An để phát triển cây công nghiệp và cây ăn quả Đấtvàng nhạt khoảng 315055 ha ở một số huyện như Thanh Chương, Anh Sơn,Tương Dương…thường nghèo dinh dưỡng, có khả năng trồng một số câycông nghiệp Đất vàng đỏ khoảng 217101 ha ở các huyện Anh Sơn, ConCuông, Quỳ Châu…để trồng rừng.Đất đỏ nâu trên đá vôi với khoảng 34.064
ha, ở các huyện Tân Kỳ, Nam Đàn, Quỳ Hợp trồng cây lâu năm Diện tíchkhông lớn, phân bố manh mún, có thể kết hợp với đất khác để tạo nên những
vùng cây trồng có hiệu quả kinh tế cao Đất nâu đỏ trên bazan với khoảng
14.711 ha, chủ yếu ở vùng kinh tế Phủ Quỳ, thích hợp với cây công nghiệpdài ngày Đất feralit đỏ vàng, đất mùn trên núi cao chiếm gần 20% diện tíchthổ nhưỡng, độ phì cao thích hợp cho sản xuất lâm nghiệp.
Nghệ An có nhiều điều kiện thuận lợi đối với sự phát triển KTTT.Tuy nhiên, Nghệ An cũng gặp không ít những khó khăn, như khí hậu nắngnóng, hạn hán xảy ra liên miên, thường xuyên xảy ra bão lớn, lũ lụt,…có ảnhhưởng nghiêm trọng đến tình hình sản xuất cây trồng vật nuôi Đó là mộtthách thức mà muốn phát triển KTTT ở Nghệ An cần có biện pháp tích cực
để đối phó, giảm đến mức thấp nhất hậu quả do điều kiện khí hậu tác động
Trang 392.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Lao động là yếu tố cần thiết của mọi quá trình sản xuất Không có laođộng thì không có hoạt động sản xuất Lao động có chất lượng cao là nhân
tố quyết định sự phát triển kinh tế và hưng thịnh của quốc gia, đảm bảo thựchiện thành công quá trình hội nhập, hợp tác kinh tế quốc tế
Về dân số : Nghệ An là tỉnh đông dân Năm 2010, dân số của Nghệ
An là 2.929.107 người, chiếm 3.4% dân số cả nước, đứng thứ 4 trong 63tỉnh, thành phố Bên cạnh dân tộc Kinh là chủ yếu, Nghệ An còn là địa bànsinh sống của nhiều dân tộc thiểu số (Khơ Mú, Sán Dìu, Thái, H'Mông, ).
Dân cư Nghệ An phân bố không đồng đều theo khu vực thành thị và nông thôn.Năm 2011, tỷ lệ dân thành thị chiếm 13.33%, nông thôn 86.67%
Về lao động : Năm 2009, lực lượng lao động của tỉnh Nghệ An chiếm56.7% tổng dân số của tỉnh Tỉ lệ tham gia lực lượng lao động khu vực nôngthôn là 78.97% cao hơn thành thị (61.4%) Lao động của Nghệ An chủ yếu ởnông thôn, chiếm 89.14% lao động toàn tỉnh.Kết cấu lao động theo giới tínhđang có sự thay đổi đáng kể Năm 1999, tỉ trọng nữ trong lực lượng lao độngchiếm 52%, nam là 48% Đến năm 2009, tỉ trọng nữ trong lực lượng laođộng giảm chỉ còn chiếm 49.7%, lao động nam chiếm 50.3% Nghệ An làtỉnh có lực lượng lao động trẻ Năm 2009, lực lượng lao động trong độtuổi từ 20-39 chiếm 51.65% tổng lực lượng lao động Lực lượng lao độngdồi dào là một lợi thế của tỉnh Nghệ An Tuy nhiên, trình độ chuyên môn
kỹ thuật của lao động Nghệ An còn thấp, gây khó khăn không nhỏ choquá trình CNH, HĐH Năm 2009, lao động qua đào tạo chiếm 13.98%tổng lực lượng lao động Trong đó trình độ đại học trở lên chỉ chiếm3.79%, cao đẳng 1.93%, trung cấp 6.16% và sơ cấp 2.1% Lực lượng laođộng nông thôn đã qua đào tạo chiếm 10.32%, chủ yếu là sơ cấp và trung
Trang 40cấp Năng suất lao động nông nghiệp thấp hơn lao động công nghiệp xâydựng và dịch vụ Năm 2010, năng suất lao động nông nghiệp là 10.37 triệuđồng/lao động, công nghiệp là 74.16 triệu đồng/lao động.
Về việc làm: Việc làm là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh
giá sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương, vùng lãnh thổ Năm 2009,Nghệ An có 1.609.433 lao động có việc làm, chiếm 97.45% lực lượng laođộng của cả tỉnh Phần lớn là lao động nông, lâm, ngư nghiệp và lao độnglàm nghề giản đơn, trong đó phải kể đến một phần lao động trong các trangtrại Nguồn lao động nhìn chung năng lực tiếp nhận, xử lý, những kỹ nănglàm việc theo yêu cầu CNH, HĐH còn hạn chế Điều đó chứng tỏ thịtrường lao động Nghệ An đang ở mức thấp, vấn đề đào tạo nguồn lao động
có trình độ chuyên môn kỹ thuật được đặt ra cấp bách Nghiên cứu chấtlượng lao động và việc làm để đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực
để thực hiện thành công quá trình CNH, HĐH là một đòi hỏi tất yếu
Về kinh tế xã hội: Tốc độ tăng trưởng rất khá, cơ cấu kinh tế nội
ngành chuyển dịch theo hướng tích cực Đầu năm 2006 và 2007, kinh tế tăng
trưởng khá cao, trên 10.5% Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong 5 năm
2006 – 2010 đạt 9.7% Năm 2010, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 10.4%, là con
số ấn tượng nhất trong năm khi mà tốc độ tăng trưởng GDP cả nước chỉ đạt6.78% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Từ năm 1996 đến
năm 2011, tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực I tăng liên tục từ 2.68% lên5.36% Tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 34.41% (2005) xuống còn 28.46%(2010) Trong khu vực I, nông nghiệp tăng 5.30%, lâm nghiệp tăng 4.70%,ngư nghiệp tăng 9.00%
Về cơ sở hạ tầng: Mạng lưới bưu chính viễn thông hiện đại đáp ứng
nhanh chóng nhu cầu trao đổi thông tin, liên lạc trong nước và quốc tế Nghệ
An có tương đối đầy đủ chi nhánh của hầu hết các ngân hàng, tổ chức tài