Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa được một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững; - Đánh
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều
đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Vịnh
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này, tôi đã nhận được sự quant âm giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sau sắc đến:
Tập thể các thầy, cô giáo Khoa kinh tế, Khoa Sau đại học – Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành Luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Trần Văn Dư – người đã tận tình hướng
dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Lãnh đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường; Lãnh đạo phòng Thống kê, Lãnh đạo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Lãnh đạo phòng Kinh
tế và hạ tầng; Chi cục bảo vệ thực vật; Lãnh đạo các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
Lãnh đạo UBND huyện Lương Sơn và tập thể đồng nghiệp và cơ quan chủ quản của tôi đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi về thời gian, tinh thần, vật chất để học tập và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn các tập thể, cơ quan, ban, ngành đã tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi trong quá tình thu thập tài liệu và nghiên cứu Đặc biệt, tôi xin cảm ơn tập thể lớp Cao học Kinh tế nông nghiệp 19B1.1 đã cùng chia sẻ với tôi trong quá trình học tập
Bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành Luận văn này
Bà con nông dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành Luận văn này
Một lần nữa tôi xin chân thành cản ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân đã dành cho tôi
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Vịnh
Trang 3MỤC LỤC
Trang TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 5
1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững 5
1.1.1 Khái niệm về đất nông nghiệp và sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững 5
1.1.2 Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 13
1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững 19
1.2 Những nghiên cứu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững ở trên thế giới và ở Việt Nam 22
1.2.1 Những nghiên cứu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững ở trên thế giới 22
1.2.2 Hiệu quả đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững ở Việt Nam 24
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
Trang 42.1 Đặc điển tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Lương Sơn 30
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 30
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội - môi trường 35
2.1.3 Những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội đến hiệu quả sử dụng đất bền vững trên của huyện Lương Sơn 45
2.2 Phương pháp nghiên cứu 48
2.2.1 Phương pháp khảo sát thực tiễn 48
2.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu 51
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 52
2.3 Các chỉ tiêu đánh giá 53
2.3.1 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá tính bền vững 53
2.3.2 Hệ thống chỉ tiêu kinh tế phản ánh hiệu quả sử dụng đất 54
23.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện theo hướng sinh thái và phát triển bền vững 55
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 56
3.1 Tình hình sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện Lương Sơn gia đoạn 2010- 2012 56
3.1.1 Tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện Lương Sơn gia đoạn 2010- 2012 56
3.1.2 Các loại hình sử dụng đất chính của huyện Lương Sơn 60
3.1.3 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Lương Sơn 67
3.2 Tình hình sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất của các nông hộ vùng nghiên cứu 69
3.2.1 Thông tin cơ bản về hộ nghiên cứu 69
3.2.2 Thực trạng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của các nông hộ vùng nghiên cứu 70
3.2.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất về mặt kinh tế 77
Trang 53.2.5 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất về mặt xã hội 89
3.2.5 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất về mặt môi trường 90
3.3 Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu qủa sử dụng đất theo hướng bền vững 94
3.3.1 Nhóm các yếu tố về kinh tế xã hội 94
3.3.2 Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên 94
3.3.3 Nhóm yếu tố về tổ chức sản xuất, kỹ thuật 95
3.4 Những thành công và tồn tại trong sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Lương Sơn 95
3.4.1 Những kết quả đạt đượcc trong sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 95
3.4.2 Những hạn chế trong sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 96
3.5 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững 96
3.5.1 Quan điểm phát triển nông nghiệp và hướng tới sử dụng đất nông nghiệp trên quan điểm phát triển bền vững 96
3.5.2 Phương hướng phát triển ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản 97
3.5.3 Mục tiêu phát triển ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản 98
3.5.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Cơ cấu đất đai của huyện Lương Sơn năm 2012 32
2.2 Giá trị sản xuất Cơ cấu kinh tế của huyện Lương Sơn giai đoạn 2010
2.3 Cơ cấu giá trị sản xuất huyện Lương Sơn giai đoạn 2010 – 2012 37
2.4 Giá trị sản xuất và cơ cấu GTSX ngành nông lâm nghiệp giai đoạn
2.5 Thực trạng diện tích được tưới tiêu trên địa bàn huyện Lương Sơn 41 2.6 Cơ sở vật chất kỹ thuật điện lực của huyện Lương Sơn 42 2.7 Dân số, lao động huyện Lương Sơn năm 2011 và 2012 43 2.8 Mẫu điều tra kiểu sử dụng đất theo vùng và loại hình sử dụng đất 49 2.9 Mẫu điều tra kiểu sử dụng đất của các nông hộ theo vùng nghiên cứu 50 3.1 Hiện trạng sử dụng đất nông lâm nghiệp huyện Lương Sơn năm 2012 56
3.2 Biến động sử dụng đất nông lâm nghiệp của Lương Sơn giai đoạn
3.3 Diện tích gieo trồng và cơ cấu cây trồng chính ở huyện Lương Sơn
3.4 Năng suất, sản lượng của một số cây trồng chính của huyện Lương
3.5 Hiệu quả kinh tế trên 1ha của một số cây trồng chính Huyện Lương
3.6 Tình hình thông tin về nhóm hộ điều tra 70
3.7 Các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của các nông hộ vùng
Trang 83.10 Năng suất của một số cây trồng chính vùng nghiên cứu 76
3.11 Cơ cấu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn điều tra nghiên
3.12 Giá trị sản xuất của một số cây trồng chính vùng nghiên cứu 80
3.13 Chi phí trung gian trong sản xuất của một số cây trồng chính trong
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
2.1 Cơ cấu đất đai của huyện Lương Sơn năm 2012 33 2.2 GTSX của một số ngành của huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa
Bình
36
2.3 Cơ cấu kinh tế của huyện Lương Sơn giai đoạn 2010 - 2012 38
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo luật: “Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa,
xã hội, an ninh quốc phòng”
Sau hơn 25 năm đổi mới, đất nước ta đang trên đà phát triển Kinh tế nông nghiệp có sự tăng trưởng khá, sức sản xuất ở nông thôn được giải phóng, tiềm năng đất nông nghiệp dần được khai thác Nền sản xuất nông nghiệp đã thoát khỏi tình trạng tự cung, tự cấp và chuyển sang sản xuất hàng hóa Nông nghiệp phát triển với nhịp độ khá cao theo hướng tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia; xuất khẩu nông, lâm thuỷ sản tăng nhanh; trình độ khoa học công nghệ được nâng cao hơn Cơ cấu sử dụng đất được chuyển đổi cùng với quá trình chuyển đổi
cơ cấu kinh tế Diện tích đất dành cho phát triển công nghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng đô thị tăng nhanh đáp ứng phần lớn nhu cầu
sử dụng đất của giai đoạn đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước Cùng với đó, công tác quản lý, sử dụng đất nông nghiệp đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết
Những thập kỷ trước, nhiều diện tích đất canh tác sử dụng không hợp
lý đã bị suy thoái, xói mòn, bạc màu, làm giảm độ phì nhiêu của đất… Ngày nay, xã hội phát triển, quá trình phát triển của công nghiệp hoá - hiện đại hoá, quá trình đô thị hoá, sự bùng nổ dân số diện tích đất nông nghiệp đã giảm rất nhiều do chuyển sang các mục đích sử dụng khác Do đó, để đảm bảo vấn đề
an ninh lương thực cần phải có những loại hình sử dụng đất cho hiệu quả kinh
tế cao Cho nên, việc đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp hiện tại là rất quan trọng để lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả nhất theo hướng phát triển bền vững (kinh tế, xã hội, môi trường)
Trang 11Lương sơn là huyện miền núi của tỉnh Hòa Bình, nằm giáp ranh thủ đô
Hà Nội, chuỗi đô thị Hòa Lạc – Xuân Mai – Miếu Môn, với các khu công nghiệp, trường học đang hình thành và phát triển Trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp đã có bước phát triển mới, mặc dù huyện cũng đã dành nhiều quan tâm để phát triển nông nghiệp nông thôn, nhưng nông nghiệp và nông thôn vẫn chưa phát triển đúng tiềm năng và mục tiêu đặt ra, sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp; đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp và bị bỏ hoang do thu nhập từ sản xuất nông nghiệp thấp Môi trường nông nghiệp và nông thôn trên phạm vi của tỉnh Hòa Bình và cả nước nói chung, khu vực Lương Sơn nói riêng đều chịu sức ép ô nhiễm ngày càng lớn từ việc tập quán canh tác, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật bừa bãi, đang là những vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu
Vấn đề đặt ra là sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên các loại hình đất theo hướng bền vững sẽ diễn ra như thế nào? Thực trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở huyện trong những năm qua đạt hiệu quả ra sao? Giải pháp nào
để có thể nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững? Đó là những vấn đề được các cấp ủy Đảng, chính quyền và người dân
quan tâm Xuất phát từ những vấn đề trên, em chọn đề tài: “Những giải pháp
chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững ở huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình” làm luận văn tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, phân tích hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất, đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
Trang 12hiệu quả sử dụng đất theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa được một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững;
- Đánh giá được thực trạng sử dụng hiệu quả đất đai trong sản xuất nông nghiệp huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình trong những năm qua;
- Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững và rút ra những vấn đề cần giải quyết nhằm nâng cao hiệu qủa sử dụng đất
- Đề xuất được những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình trong những năm tới
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, các loại hình sử dụng đất, các kiểu sử dụng đất chính trong nông nghiệp trên địa bàn huyện Lương Sơn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu bao gồm phạm vi về không gian và thời gian nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu về sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên
địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Về thời gian: Chúng tôi nghiên cứu về tình hình sử dụng đất sản xuất
nông nghiệp trên địa bàn huyện Lương Sơn qua số liệu thu thập được từ các
Trang 13tài liệu đã công bố trong khoảng thời gian 2010 - 2012, số liệu khảo sát điều tra năm 2013
4 Nội dung nghiên cứu
4.1 Nội dung về lý luận
Những vấn đề lý luận về sử dụng đất theo hướng bền vững và hiệu quả
sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp; Nội dung của các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất sản xuất nghiệp nông nghiệp theo hướng bền vững
4.2 Nội dung về thực trạng
- Nghiên cứu tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp nông nghiệp trên địa bàn huyện Lương Sơn
Các loại hình sử dụng đất
Các kiểu sử dụng đất chính trong sản xuất nông nghiệp
- Nghiên cứu mô hình sử dụng đất có hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp
- Phân tích hiệu quả kinh tế trong việc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
- Tóm lược những vấn đề đặt ra trong việc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững ở huyện Lương Sơn
4.3 Nội dung về giải pháp
Những nội dung về quan điểm; định hướng và giải pháp, chính sách sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
Trang 14
a) Khái niệm đất nông nghiệp
Theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam thì đất nông nghiệp thường được hiểu là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu như: ngô, khoai, sắm và những loại cây được coi là cây lương thực Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng đất nông nghiệp tương đối phong phú, không chỉ đơn thuần là để trồng lúa, hoa màu mà còn dùng vào mục đích chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản hay để trồng cây lâu năm
Trước đây Luật đất đai năm 1993 quy định về đất nông nghiệp tại Điều
42 như sau: “Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp”[13]
Với quy định của Luật đất đai năm 1993, đất đai của Việt Nam chia làm sáu loại: đất nông nghiệp; đất lâm nghiệp; đất khu dân cư nông thôn; đất
đô thị; đất chuyên dùng; đất chưa sử dụng
Theo sự phân chia này đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được tách riêng thành hai loại riêng Tuy nhiên, sự phân loại này dựa theo nhiêu tiêu chí khác nhau, vừa căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, vừa chủ yếu, vừa căn cứ vào
Trang 15địa bàn sử dụng đất đã dẫn đến sự đan xen, chồng chéo giữa các loại đất, không có sự tách bạch về mặt pháp lý gây khó khăn cho công quản lý đất đai
Để khắc phục những hạn chế đó, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất thực hiện các quyền của mình trong việc sử dụng đất Luật đất đai năm 2003 đã chia đất đai làm ba loại với tiêu chí phân loại duy nhất đó
là căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu Trên cơ sở đó, đất đai được chia theo ba phân nhóm là: Nhóm đất nông nghiệp; Nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng;
Như vậy, chúng ta đã mở rộng khái niệm đất nông nghiệp với tên gọi
“Nhóm đất nông nghiệp” thay cho “Đất nông nghiệp” trước đây Theo quy định của Luật đất đai năm 2003 có thể hiểu nhóm đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất có đặc tính sử dụng giống nhau, với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, khoanh nuôi tu bổ bảo vệ rừng, nghiên cứu thí nghiệp về nông nghiệp, lâm nghiệp
b) Phân loại đất nông nghiệp
Đất sản xuất nông nghiệp là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp
Theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật đất đai năm 2003 nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất: Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thuỷ sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ.[25]
Như vậy, có thể thấy nhóm đất nông nghiệp bao gồm những loại đất sử dụng chủ yếu vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp
c) Vai trò và ý nghĩa của đất nông nghiệp
Trang 16Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, đất đai là điều kiện cho sự sống của con người và động thực vật trên trái đất Đất đai là cơ sở tự nhiên, là tiền
đề đầu tiên của mọi quá trình sản xuất
Đất đai còn là tư liệu sản xuất chủ yếu, tư liệu sản xuất đặc biệt, tư liệu sản xuất không thể thay thế được Nếu trong công nghiệp, thương mại, giao thông đất đai là cơ sở, nền móng để trên đó xây dựng nhà xưởng, cửa hàng, mạng lưới đường giao thông, thì ngược lại trong công nghiệp ruộng đất tham gia với tư cách là yếu tố tích cực của sản xuất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt vì đất vừa là đối tượng lao động vừa
là tư liệu lao động Đất đai là tư liệu sản xuất vì nó chịu sự tác động của con người trong quá trình sản xuất như: cầy, bừa, xới để có môi trường tốt cho sinh vật pháp triển Đất đai là tư liệu lao động vì đất đai phát huy tác dụng như một công cụ lao động
Con người từ lâu đã biết sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi Chính vì thế không có đất đai thì không có ngành sản xuất nông nghiệp Đất đai còn là môi trường sống của nhiều sinh vật, vi sinh vật sống ở dưới đất, đất đai là nơi cung cấp nhiều dinh dưỡng cho cây trồng và sinh vất sống Đất đai
có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất cây trồng.[19]
Diện tích, chất lượng của đất đai quy định lợi thế từng vùng cũng như
cơ cấu sản xuất của từng vùng Do vậy, việc quản lý đất đai nói chung cũng như đất nông nghiệp nói riêng một các đúng hướng, có hiệu quả sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội
Đất nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc lọc nước thải, điều hòa dòng chảy (giảm lũ lụt và hạn hán), điều hòa khí hậu địa phương, chống xói lở ở bờ biển, ổn định mạch nước ngầm cho nguồn sản xuất nông nghiệp, tích lũy nước ngầm, là nơi cư trú của các loài chim, phát triển du lịch
Trang 17Chỉ có thông qua đất, các tư liệu sản xuất mới tác động đến hầu hết các cây trồng, vật nuôi Vì vậy, muốn làm tăng năng suất đất đai, giữ gìn và bảo
vệ đất đai để đảm bảo cả lợi thế trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài, cần sử dụng đất tiết kiệm có hiệu quả, cần có việc bảo vệ bền nguồn tài nguyên vô giá là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách đối với mỗi quốc gia.[10]
d) Đặc điểm kinh tế của đất đai trong sản xuất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất vật chất Trên phương diện kinh tế, đất nông nghiệp có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế được
Đất đai là tư liệu sản xuất vì nó vừa là tư liệu lao động khi đất đai sản xuất ra sản phẩm, vừa là đối tượng lao động khi đất đai chịu tác động của công cụ lao động Con người sử dụng hệ thống công cụ tác động vào đất để làm ra sản phẩm Đất là tư liệu sản xuất chủ yếu bởi vì không có đất thì không
có sản xuất nông nghiệp, không có các công trình xây dựng, không có các nhà máy công nghiệp Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, với các loại tư liệu sản xuất khác trong quá trình sử dụng chúng bị hao mòn, nhưng đối với đât nếu biết sử dụng hợp lý thì đất có thể ngày càng tốt hơn Tùy theo mục đích khác nhau, người ta chia độ phì nhiêu thành các loại khác nhau
Độ phì nhiêu tự nhiên: là được tạo ra do quá trình phong hóa Độ phì nhiêu loại này gắn với thuộc tính lý – hóa – sinh học của đất và môi trường xung quanh
Độ phì nhiêu nhân tạo: là do kết quả của sự tác động có ý thức của con người, bằng cách áp dụng hệ thống canh tác hợp lý, có căn cứ khoa học để thỏa mãn mục đích của con người (làm đất, chăm sóc, luân canh, xen canh cây trồng và tưới tiêu)
Trang 18Độ phì nhiêu tiền tàng: là hàm lượng các chất dinh dưỡng có trong đất
ở một thời điểm nhất định Độ phì nhiêu loại này là kết quả của sự tác động tổng hợp các nhân tố tự nhiên và nhân tạo
Từ những đặc điểm trên cho thấy cần phải bố trí sản xuất nông nghiệp một cách hợp lý, thực hiện tốt chế độ canh tác thích hợp để tăng năng suất đất đai, giữ gìn và bảo vệ tài nguyên đất.[10]
- Đất đai có vị trí cố định
Đất gắn liền với các vị trí địa lý, địa hình cố định, không giống như các
tư liệu sản xuất khác có thể di chuyển được trong quá trình sử dụng từ vị trí này sang vị trí khác thuận lợi hơn Đất gắn chặt với các điều kiện tự nhiê, kinh
tế của từng vùng và chịu ảnh hưởng bởi khí hậu, thời tiết vùng đó
Từ nghiên cứu đặc điểm này cần phải bố trí sản xuất hợp lý cho từng vùng đất phù hợp với lợi thế so sánh và những hạn chế của vùng, thực hiện quy hoạch, phân bổ đất đai cho các mục tiêu sử dụng một cách thích hợp, xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống thủy lợi, giao thông cho từng vùng để tạo điều kiện sử dụng đất tốt hơn.[10]
- Diện tích đất có hạn
Đất có giới hạn sẵn của diện tích bề mặt quả cầu, diện tích đất đai gắn với diện tích của vỏ Trái đất Xét trên góc độ kinh tế đường cung của diện tích đất đai tuân theo quy luật cung - cầu trong thị trường
Diện tích đất là có hạn do giới hạn của từng nông trại, từng hộ nông dân, từng vùng và phạm vi lãnh thổ của từng quốc gia Sự giới hạn về đất nông nghiệp còn thể hiện ở khả năng có hạn của hoạt động khai hoang, khả năng tăng vụ trong điều kiện cụ thể Quỹ đát nông nghiệp là có hạn và ngày càng trở nên khan hiếm do nhu cầu ngày càng cao về đất đai của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa cũng như đáp ứng nhu cầu đất ở khi dân số ngày một
Trang 19gia tăng Đặc điểm này ảnh hưởng đến khả năng duy trì và mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp.[8]
- Đất xuất hiện tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của con người
Bởi lẽ, đất là một trong những yếu tố tự nhiên cấu tạo nên Trái Đất Khi con người xuất hiện thì đất đã có rồi Đất đai thực chất là của cải của tự nhiên, không do lao động sáng tạo ra
- Đất thuộc sở hữu chung của toàn xã hội không riêng một ai
Theo Luật Đất đai năm 2003, thì đất thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho các tổ chức xã hội,
hộ gia đình và cá nhân sử dụng lâu dài dưới hình thức giao đất Nhà nước có thể thu tiền hoặc không thu tiền sử dụng đất.[25]
1.1.1.2 Sử dụng đất và nguyên tắc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
a) Sử dụng đất nông nghiệp và nguyên tắc sử dụng đất nông nghiêp
- Sử dụng đất nông nghiệp
Sử dụng đất nông nghiệp là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ giữa người – đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Để kinh tế - xã hỗi phát triển một cách bền vững về môi trường cũng như hệ sinh thái sẽ quyết định phương hướng chung và mục tiêu
sử dụng đất hợp lý, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới lợi ích sinh thái, xã hội cao Với vai trò là nhân tố cơ bản của sản xuất, các nhiệm vụ
và nội dung sử dụng đất nông nghiệp được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Trang 20Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất
Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất đai được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất
Quy mô sử dụng đất đai thích hợp, hình thành quy mô kinh tế sử dụng đất Giữ mật độ sử dụng đất đai thích hợp, hình thành việc sử dụng đất đai một cách kinh tế, tập trung, thâm canh.[4]
- Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp cần được sử dụng đầy đủ và hợp lý: Sử dụng đầy đủ
và hợp lý đất nông nghiệp có ý nghĩa là đất nông nghiệp cần được sử dụng hết
và mọi diện tích đất nông nghiệp đều được bố trí sử dụng phù hợp với đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của từng loại đất để vừa nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi vừa duy trì được độ phì nhiêu của đất.[16]
Đất nông nghiệp cần được sử dụng có hiệu quả kinh tế cao: đây là kết
quả của nguyên tắc thứ nhất trong sử dụng đất nông nghiệp Nguyên tắc chung là đầu tư vào đất nông nghiệp đến khi sản phẩm thu thêm trên một đơn
vị diện tích bằng mức chi phí tăng trên một đơn vị diện tích đó
Đất nông nghiệp cần được quản lý và sử dụng một cách bền vững: Sự
bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp có nghĩa là cả số lượng và chất lượng đất nông nghiệp phải được bảo tồn không những để đáp ứng mục đích trước mắt của thế hệ mà còn phải đáp ứng được cả nhu cầu ngày càng tăng của các thế hệ mai sau Sự bền vững của đất nông nghiệp gắn liền với điều kiện sinh thái môi trường Vì vậy, cần áp dụng các phương thức sử dụng đất
nông nghiệp kết hợp hài hòa lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài [17]
b) Sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững
Đất là một hệ sinh thái, con người đã tác động vào hệ sinh thái đó nhằm phục vụ chính con người Các tác động của con người đôi khi lại làm cho hệ
Trang 21sinh thái biến đổi vượt khả năng tự điều chỉnh của đất Con người sử dụng đất đai để tạo ra lương thực, thực phẩm ngày càng nhiều mà không chú trọng đến hoạt động cải tạo đất đúng mức thì đất đai sẽ ngày càng bị thay đổi theo chiều hướng xấu
Khi hệ sinh thái thay đổi không những ảnh hưởng đến đất đai mà còn ảnh hưởng đến cả khí quyển, nguồn nước ngày nay nhiều vùng đất đai trước kia màu mỡ thì nay đị bị thoái hóa nghiêm trọng kéo theo sự xói mòn đất và suy giảm nguồn nước đi kèm với hạn hán, lũ lụt
Để đảm bảo cho sự sống hiện tại và tương lai chúng ta cần phải có cách
sử dụng đất hợp lý để duy trì khả năng hiện có của đất và khôi phục những
khả năng đã mất Thuận ngữ “sử dụng đất bền vững” ra đời trên cơ sở của
những mong muốn trên [28]
c) Các loại hình sử dụng đất
Trong đánh giá đất, FAO đã đưa ra những khái niệm về loại hình sử dụng đất, đưa việc xác định loại hình sử dụng đất vào nội dung các bước đánh giá đấ và coi loại hình sử dụng đất là một đối tượng của quá trình đánh giá đất Loại hình sử dụng đất (land use type – LUT) là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đát của mỗi vùng với những phương thức sản xuất và quản lý sản xuất trong điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và kỹ thuật được xác
định.[34]
Yêu cầu của các LUT là những đòi hỏi về đặc điểm và tính chất đất đai
để bảo vệ mỗi LUT phát triển bền vững Đó là những yêu cầu sinh trưởng, quản lý, chăm sóc, các yêu cầu bảo vệ đất và môi trường
Có thể liệt kê một số LUT khá phổ biến trong nông nghiệp, đó là:
- Chuyên trồng lúa: có thể canh tác nhờ nước mưa hay có nước chủ
động, trồng 1 vụ, 2 vụ hay 3 vụ trong năm
Trang 22- Chuyên trồng màu: thường được áp dụng cho những vùng đất cao
thiếu nước tưới, đất có thành phần cơ giới nhẹ
- Kết hợp trồng lúa với cây trồng cạn, thực hiện những công thức luân
canh nhiều vụ trong năm nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu cuộc sống con người, đồng thời còn có tác dụng cải tạo độ phì của đất Cũng có thể nhằm khắc phục những hạn chế về điều kiện không chủ động một số tháng trong năm, nhất là mùa khô
- Trồng cỏ chăn nuôi
- Nuôi trồng thủy sản
- Trồng rừng.[34]
1.1.2 Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm hiệu quả, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả
- Khái niệm về hiệu quả
Khái niệm về hiệu quả được sử dụng nhiều trong đời sống xã hội, nói đến hiệu quả người ta sẽ nghĩ đến công việc đạt kết quả tốt Như vậy hiệu quả
là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người mong đợi và hướng tới Nó có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau Trong sản xuất hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, năng suất Trong kinh doanh hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm hoặc là bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian Trong
xã hội, hiệu quả xã hội là có tác động tích cực đối với một lĩnh vực xã hội nào đó.[10]
Vậy, hiệu quả là một phạm trù khoa học phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó trong một thời kỳ nhất định
- Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả
Trang 23Việc nâng cao hiệu quả là mục tiêu chung, chủ yếu xuyên suốt mọi quá trình sản xuất của xã hội Tùy theo nội dung của hiệu quả mà có những tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả khác nhau ở mỗi thời kỳ phát triển KT –XH khác nhau Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là một vấn đề phức tạp và có nhiều ý kiến chưa thống nhất Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu
xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các nguồn tài nguyên, sự
ổn định lâu của hiệu quả
Trên cơ sở đó tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có thể xem xét ở các mặt sau:
- Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đối với nông nghiệp là mức đạt được các mục tiêu KT –XH, môi trường do xã hội đặt ra như tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thỏa mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có đặc thù riêng, trên 1 đơn vị đất nông nghiệp nhất định có thể sản xuất đạt được những kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra ít nhất, ảnh hưởng ít nhất tới môi trường Đó là phần kết quả quá trình đầu tư sử dụng các nguồn lực thông qua đất, cây trồng, thực hiện quá trình sinh học để tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường xã hội với hiệu quả cao
- Các tiêu chuẩn đó được xem xét với việc ứng dụng lý thuyết sản xuất
cơ bản theo nguyên tắc tối đa hóa có ràng buộc Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hóa chi phí các yếu tố đầu vào, theo nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một lượng nông sản nhất định, hoặc thực hiện cực đại hóa lượng nông sản khi có một lượng nhất định đất nông nghiệp và các yếu tố đầu vào khác
Trang 24- Các tiêu chuẩn đó được xem xét với việc ứng dụng lý thuyết sản xuất
cơ bản theo nguyên tắc tối đa hóa có ràng buộc Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hóa chi phí các yếu tố đầu vào, theo nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một lượng nông sản nhất định, hoặc thực hiện cực đại hóa lượng nông sản khi có một lượng nhất định đất nông nghiệp và các yếu tố đầu vào khác
- Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đến hệ thống môi trường, đến những người lao động ngành nông nghiệp Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào 3 tiêu chuẩn chung là bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt xã hội và bảo vệ môi trường.[7]
Bền vững về mặt kinh tế
Loại cây trồng nào cho hiệu quả kinh tế cao, phát triển ổn định thì được thị trường chấp nhận Do đó, phát triển sản xuất nông nghiệp là thực hiện tập trung, chuyên canh kết hợp với đa dạng hóa sản phẩm
Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quan vùng có cùng điều kiện đất đai
Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất
Bền vững về mặt xã hội
Thu hút được nguồn lao động trong nông nghiệp, tăng thu nhập, tăng năng suất lao động, đảm bảo đời sống xã hội như vậy, việc đáp ứng được các nhu cầu của người dân là điều cần quan tâm trước tiên nếu muốn họ quan tâm đển lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường…) Sản phẩm thu được phải thỏa mãn cái ăn, cái mặc và nhu cầu hàng ngày của người nông dân
Bảo vệ môi trường
Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ phì đất, ngăn ngừa sự thoái hóa đất, bảo vệ môi trường sinh thái Độ phì nhiêu của đất tăng dần là yêu cầu
Trang 25bắt buộc đối với việc quản lý và sử dụng đất nông nghiệp bền vững Độ che phủ phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn độc canh,…)
Như vậy, hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường, hiệu quả xã hội có quan hệ mật thiết với nhau, có ý nghĩa quan trọng đối với mục tiêu phát triển trong sản xuất nông nghiệp bền vững Mặt khác, hiệu quả kinh tế chỉ thể hiện mục đích của người sản xuất là tối đa hóa lợi nhuận Nhưng muốn sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững cần quan tâm đến cả hiệu quả về mặt xã hội và môi trường.[10]
Quan điểm về hiệu quả sử dụng đất bền vững được khái quát qua hình 1.1
Hình 1.1: Quan điểm về hiệu quả sử dụng đất
1.1.2.2 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế
Nghiên cứu về hiệu quả kinh tế, chúng tôi nhận thấy đã có hai quan điểm khác nhau:
a) Quan điểm truyền thống
Quan điểm truyền thống cho rằng, nói đến hiệu quả kinh tế là nói đến phần còn lại của kết quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ chi phí Hiệu quả
HQXH
HQMT HQKT
Bền vững
Trang 26kinh tế được đo bằng các chi phí và lãi Nhiều tác giả theo quan điểm này cho rằng hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí
bỏ ra, hay ngược lại là chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm Những chỉ tiêu trên hiệu quả này thường là giá thành sản phẩm hay mức sinh lời của đồng vốn được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh
Quan điểm truyền thống chưa thật toàn diện khi xem xét đến hiệu quả kinh tế Sự thiếu toàn diện được thể hiện qua những khía cạnh sau:
Thứ nhất, hiệu quả kinh tế được xem xét với quá trình sản xuất kinh
doanh trong trạng thái tĩnh, chỉ xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tư Trong khi
đó, hiệu quả kinh tế lại là một vấn đề rất quan trọng không những cho phép chúng ta biết được kết quả đầu tư còn giúp chúng ta xem xét trước khi giải quyết có nên tiếp tục đầu tư hay không nên đầu tư bao nhiêu, đến mức độ nào Trên phương diện này, quan điểm truyền thống chưa đáp ứng được đầy đủ
Thứ hai, quan điểm truyền thống không tính yếu tố thời gian khi tính
toán thu và chi cho một hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó, thu và chi trong tính toán hiệu quả kinh tế là chưa đầy đủ và chính xác
Thứ ba, hiệu quả kinh tế chỉ bao gồm hai phạm trù có bản thu và chi
Hai phạm trù chủ yếu liên quan đến yếu tố tài chính đơn thuần như chi phí về vốn, lao động, thu về sản phẩm và giá cả Trong khi đó, các hoạt động đầu tư
và phát triển lại có những tác động không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà còn trên cả các phương diện khác nữa Bên cạnh đó, có những phần thu lợi hoặc những khoản chi phí mà lúc đầu khó hoặc không lượng hóa được nhưng lại đáng kể khi lại không được phản ánh theo quan điểm truyền thống này
b) Quan điểm hiện đại
Các nhà kinh tế đã đưa ra quan niệm hiện đại về hiệu quả kinh tế nhằm khắc phục những hạn chế của quan điểm truyền thống
Trang 27Theo quan điểm hiện đại, khi tính hiệu quả kinh tế phải căn cứ vào tổ hợp các yếu tố như: Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra
Về mối quan hệ này cần phân biệt rõ ba phạm trù: hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm (O) thu thêm trên một đơn vị đầu tư vào (I) đầu tư thêm Tỷ số ∂O/∂I được gọi là sản phẩm biên
Hiệu quả phân bổ nguồn lực là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn
vị chi phí đầu tư thêm Thực chất nó là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu
tố giá đầu vào và giá sản phẩm Hiệu quả phân bổ đạt tối đa khi doanh thu biên bằng chi phí biên
Hiệu quả kinh tế là phần thu thêm trên một đơn vị đầu tư thêm Chỉ đạt được hiệu quả kinh tế khi cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả sử dụng nguồn lực
1.1.2.3 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế
a) Về nội dung của hiệu quả kinh tế
Cho dù theo quan điểm hiện đại hay quan điểm truyền thống, hiệu quả kinh tế luôn liên quan đến các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh Nội dung xác định hiệu quả kinh tế bao gồm:
- Xác định yếu tố đầu vào: là chi phí trung gian, chi phí sản xuất, chi phí lao động và dịch vụ, chi phí vốn đầu tư và đất đai, v.v
- Xác định các yếu tố đầu ra (mục tiêu đạt được): trước hết hiệu quả kinh tế là các mục tiêu đạt được của từng hộ gia đình, từng cơ sở sản xuất phải phù hợp với mục tiêu chung của nền kinh tế quốc dân, hàng hóa sản xuất
Trang 28ra phải trao đổi được trên thị trường, các kết quả đạt được là: khối lượng sản phẩm, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, lợi nhuận, v.v
b) Bản chất của hiệu quả kinh tế
Về mặt định lượng là xem xét, so sánh kết quả thu được và chi phí bỏ
ra, người ta chỉ thu được hiệu quả kinh tế khi kết quả thu được lớn hơn chi phí
bỏ ra, chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại
Về mặt định tính, mức độ hiệu quả kinh tế cao là phản ánh nỗ lực quản
lý sản xuất kinh doanh Sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị xã hội.[16]
Như vậy, hai mặt định tính và định lượng là cặp phạm trù của hiệu quả
kinh tế có quan hệ mặt thiết với nhau
1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững
1.1.3.1 Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, không khí, địa hình, thổ nhưỡng ) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, các yếu tố này là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối Vì vậy, khi xác định vùng sản xuất nông nghiệp cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên, trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp, định hướng đầu tư thâm canh đúng
Khí hậu, thời tiết: Yếu tố khí hậu, thời tiết ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Nhiệt độ bình quân,
sự sai khác nhiệt độ ánh sáng, lượng mưa, độ ẩm, số giờ nắng, trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi Lượng mưa có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho quá trình sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi [4]
Trang 291.1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế - xã hội bao gồm: Hệ thống thị trường và sự hình thành thị trường đất nông nghiệp, thị trường nông sản phẩm Ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là: năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất và thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra.[25]
Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất và điều kiện tự nhiên – xã hội: khác nhau đã tác động đến việc quản lý sử dụng đất nông nghiệp, khống chế phương thức và hiệu quả sử dụng đất Trình độ phát triển và kinh tế khác nhau dấn đến trình độ sử dụng đất nông nghiệp cũng khác nhau Nền kinh tế
và khoa học kỹ thuật nông nghiệp càng phát triển thì khả năng sử dụng đất nông nghiệp của con người càng được nâng cao
Hệ thống chính sách và những quy định của Nhà nước là nhân tố ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Có bốn nhóm chính sách có tác động gián tiếp đến hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp:
Nhóm thứ nhất: Các chính sách liên quan đến quyền sử dụng đất nông
nghiệp;
Nhóm thứ hai: Các chính sách liên quan đến giá sản phẩm, giá đầu vào;
Nhóm thứ ba: Chính sách phát triển cơ sở hạ tầng: giao thông, thủy lợi,
giáo dục, thông tin, nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ;
Nhóm thứ tư: Các chính sách liên quan đến tín dụng và lãi suất
Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của Nhà nước Những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp, trình độ năng lực của các chủ thế kinh doanh, trình độ đầu tư
1.1.3.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất
Đây là nhân tố cơ bản quy định hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp Cơ sở hạ tầng bao gồm: giao thông, thủy lợi, thông tin liên lạc, các
Trang 30dịch vụ về sản xuất và khoa học – kỹ thuật Những yếu tố này tác động cả trực tiếp và gián tiếp đến hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp
Hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp nói chung và hiệu qủa sử dụng đất nông nghiệp nói riêng phụ thuộc nhiều vào công nghệ áp dụng trong sản xuất Có khi cùng chủng loại và số lượng đầu vào nhưng đổi mới cách thức, kỹ năng sử dụng cũng có thể dẫn đến sự thay đổi lớn trong kết quả cũng như hiệu quả kinh tế.[21]
Biện pháp canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố của các quá trình sản xuất để hình thành, phân bổ và tích lũy năng suất kinh tế Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng đầu vào nhằm đạt các mục tiêu sử dụng đất đề ra Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có
ý nghĩa quan trọng trong quá trìnnh khai thác đất đai theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.[31]
1.1.3.5 Điều kiện sản xuất của nông hộ
Kiến thức và kỹ năng của nông dân góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp Khả năng tiếp thu kỹ thuật và năng suất cây trồng, vật nuôi có liên quan chặt chẽ đến kiến thức và
kỹ năng canh tác của nông dân Trình độ văn hóa và kinh nghiệm có thể được
Trang 31coi là những biến độc loạp quy định đến năng suất và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp.[32]
1.2 Những nghiên cứu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững ở trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Những nghiên cứu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững ở trên thế giới
Diện tích đất đai có hạn trong khi dân số ngày càng tăng, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dầu là vấn đề quan trọng, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới
- Nhật Bản: Các nhà khoa học Nhật Bản cho rằng quá trình phát triển
của hệ thống nông nghiệp nói chung và hệ thống cây trồng nói riêng là sự phát triển đồng ruộng đi từ đất cao đến đất thấp Điều đó có nghĩa là hệ thống cây trồng đã phát triển trên đất cao trước, sau đó mới đến đất thấp Đó là quá trình hình thành của hệ sinh thái đồng ruộng Nhà khoa học Otak Tanaka đã nêu lên những vấn đề cơ bản về sự hình thành của sinh thái đồng ruồng và từ
đó cho rằng yếu tố quyết định của hệ thống nông nghiệp là sự thay dổi về kỹ thuật, kinh tế - xã hội
Các nhà khoa học Nhật Bản cho rằng, hiệu quả sử dụng đất thông qua
hệ thống cây trồng trên các loại đất canh tác là sự phối hợp giữa các cây trồng
và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi, cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hóa của sản phẩm.[23]
- Trung Quốc: Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, việc khai thác
và sử dụng đất đai là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế xã hội nông thôn Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai,
ổn định chế độ sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất Thực hiện chủ
Trang 32trương “ly nông ly hương”, đã thúc đẩy phát triển KT –XH nông thôn phát triển toàn diện và nâng cao hiệu qủa sử dụng đất nông nghiệp
Ở Trung Quốc, việc lập quy hoạch sử dụng đất phải bảo đảm tuân thủ triệt để nhiều nguyên tắc, như: sử dụng đất phải tiết kiệm, đem lại hiệu quả sử dụng cao nhất; bảo đảm sự cân bằng giữa nhu cầu và lợi ích sử dụng đất của các ngành kinh tế, xã hội và các địa phương; tăng cường bảo vệ môi trường, phát triển sinh thái tự nhiên nhằm duy trì và nâng cao chất lượng sống cho người dân của cả nước… Tuy nhiên, nguyên tắc quan trọng nhất là bảo vệ nghiêm ngặt 120 triệu ha đất canh tác Điều này được thể hiện rõ và xuyên suốt trong hệ thống pháp luật về đất đai của Trung Quốc Theo đó, trong quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải xác định được diện tích đất canh tác cần bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định của Nhà nước, trong đó phải chỉ rõ diện tích đất canh tác cơ bản (chiếm 80% tổng diện tích canh tác) có chất lượng tốt nhất cần được duy trì vĩnh cửu và không được phép chuyển đổi mục đích sử dụng dưới bất cứ lý do gì
- Thái Lan, Ủy ban chính sách Quốc gia đã có nhiều quy chế mới ngoài
hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích hợp trên từng loại đất nhằm quản lý việc sử dụng và bảo vệ đất tốt hơn
Một trong những chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệp quan trọng nhất là đầu tư vào sản xuất nông nghiệp Ở Mỹ tổng số tiền trợ cấp
là 66,2 tỉ USD (chiếm 28,3% tổng thu nhập nông nghiệp) Tại Canada là 5,7 tỉ USD (chiếm 14,5% tổng thu nhập nông nghiệp) Cộng đồng Châu Âu là 67,2
tỉ USD (chiếm 42,1%), Nhật Bản là 42,3 tỉ USD (chiếm 68,9% tổng thu nhập nông nghiệp)
Những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước đã gắn phương thức sử dụng đất truyền thống với phương pháp hiện đại và chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn Các nước Châu Á
Trang 33đã rất chú trọng việc đẩy mạnh công tác thủy lợi, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón, các công thức luân canh để ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Một mặt phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản, gắn sự phát triển công nghiệp với bảo vệ môi sinh, môi trường
1.2.2 Hiệu quả đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững ở Việt Nam
1.2.2.1 Những chủ trương của Đảng và Nhà nước về sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững
a) Những chủ trương của Đảng và Nhà nước về sử dụng đất nông
Chế độ sở hữu đất nông nghiệp ở Việt Nam được phân chia thành hai quyền là quyền sở hữu và quyền sử dụng Hai quyền ấy được phân cho hai chủ thể khác nhau là Nhà nước (đại diệm cho chủ sở hữu toàn dân) và người
sử dụng, chủ yếu là nông dân.[18]
Điều 70 Luật Đất đai năm 2003 về hạn mức giao đất nông nghiệp quy định: Hạn mức giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 3 hecta đối với mỗi loại đất Hạn mức giao đất trồng cây lâu năm cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá
Trang 3410 hecta đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 30 hecta đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi
Hạn mức giao đất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 30 hecta đối với đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao nhiều loại đất bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất làm muối thì tổng hạn mức giao đất không quá 5 hecta
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất trồng cây lâu năm thì hạn mức đất trồng cây lâu năm là không quá 5 hecta đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 25 hecta đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du miền núi Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất rừng sản xuất thì tổng hạn mức giao đất rừng sản xuất là không quá 25 hecta Việc quy định khống chế hạn mức giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân tại điều 70 Luật đất đai 2003 gây khó khăn trong việc mở rộng diện tích canh tác và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sản phẩm
b) Những chính sách của Đảng và Nhà nước về sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững
- Chính sách giá đất nông nghiệp
Chính sách giá đất nông nghiệp được quy đinh tại Điều 12 Luật Đất đai năm 2003 và mới nhất là Nhị quyết số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ Theo đó, có hai phương pháp xác định giá đất: theo giá thị trường
và theo thu chính sách giá đất nông nghiệp được quy định tại Điều 12 Luật Đất đai năm 2003 và mới nhất là Nghị định số 188/2004/NĐ-Cp ngày 16/11/2004 của Chính phủ nhập từ đất Quyền xác định giá đất được phân cấp rộng rãi cho chính quyền cấp tỉnh Chế độ điều chỉnh giá cũng linh hoạt hơn trước và bám sát giá thị trường
Trang 35Với việc chính thức công nhận giá đất thị trường và điều chỉnh giá Nhà nướ theo giá thị trường, Nhà nước Việt Nam đã gián tiếp thừa nhận quyền sử dụng đất có giá cả, tồn tại thị trường quyền sử dụng đất và là một trong những
cơ sở sử dụng đất có giả cả, tồn tại thị trường quyền sử dụng đất và là một trong những cơ sở để Nhà nước xác định giá giao dịch đất giữa Nhà nước và người dân
- Chính sách khuyến khích tích tụ và tập trung đất
Khi tiến hành giao đất lần đầu cho hộ nông dân vào những năm đầu thập niên 90, thế kỷ XX, để giảm xung đột Nhà nước đã giao đất cho hộ theo chế độ bình quân cả về diện tích lẫn hạng đất Hệ quả nguyên là đất nông nghiệp được giao cho hộ gia đình nông dân rất manh mún Để khuyến khích nông dân tập trung đất nông nghiệp phục vụ sản xuất quy mô lớn, Nhà nước sau đó có chính sách khuyến khích nông dân “dồn điền, đổi thửa”, chuyển đổi, chuyển nhượng đất cho nhau
- Chính sách thu hồi và đền bù đất nông nghiệp
Nhà nước tiến hành thu hồi nhiều diện tích đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị tập trung Chính vì thế, chính sách thu hồi, đền
bù đất nông nghiệp tác động lớn đến hiệu quả sử dụng đất của nông dân
Luật Đất đai của Việt Nam quy định: “Nhà nước có quyền thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất ở của nông dân để sử dụng cho các mục đích công cộng hoặc phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Khi thu hồi đất nông nghiệp, đất ở của nông dân, Nhà nước phải đền bù cho nông dân đất mới theo diện tích và hạng đất tương đương Nếu không có đất đền bù hoặc đất đền bù ít hơn đất bị thu hồi, Nhà nước đền tiền cho nông dân theo giá đất do Nhà nước quy định tại từng thời điểm
- Chính sách thuế đất nông nghiệp
Trang 36Từ năm 2003 đến năm 2010, chính phủ đã quyết định miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trong hạn điều cho tất cả hộ nông dân và miễn hoàn toàn thuế sử dụng đất cho hộ nông dân nghèo, giảm 50% cho diện tích vượt hạn điền Tiền thuế đất chỉ áp dụng đối với diện tích đất vượt hạn điền hoặc đất đấu thầu Xét tổng thể, chính sách thuế đất nông nghiệp của Việt Nam được giảm nhẹ ở nhiều khâu, kể cả việc Nhà nước không thu thuế chuyển nhượng đất nông nghiệp giữa những người nông dân với nhau nhằm khuyến khích tập trung đất và chưa thu thuế giá trị gia tăng từ đất
1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững ở Việt Nam
Theo dự báo nếu tốc độ tăng dân số là 1,2% năm thì dân số Việt Nam sẽ
là 100,8 triệu người vào năm 2015 Vì thế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là yêu cầu cân thiết đối với Việt Nam trong những năm tới
Trong những năm qua các nhà khoa học nước ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề kỹ thuật và kinh tế nhiều công trình nghiên cứu cấp quốc gia đã được tiến hành, việc nghiên cứu và ứng dụng được tập trung và ngày càng phát huy hiệu quả các vấn đề như: Lai tạo các giống cây trồng mới có năng suất cao,
bố trí luân canh cây trồng, vật nuôi với từng loại đất, thực hiện thâm canh toàn diện, liên tục trên cơ sở ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
Năm 1960, GS.Bùi Huy Đáp đã nghiên cứu đưa cây lúa xuân giống ngắn ngày và tập đoàn cây vụ đông vào sản xuất, do đó đã tạo ra sự chuyển biến rõ nét trong sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng
Vấn đề luân canh bố trí hệ thống cây trồng tăng vụ, gối vụ, trồng xen
để sử dụng tốt hơn nguồn lực đất đai, khí hậu được nhiều tác giả như Bùi Huy Đáp (1979), Ngô Thế Dân (1982), Vũ Tuyên Hoàng (1987) đề cập đến
Trang 37Trong những năm gần đây, chương trình quy hoạc tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng (VIE/89/032) đã nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đa dạng sản xuất nông nghiệp đồng bằng sông Hồng
Công trình nghiên cứu phân vùng sinh thái và hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng do GS.VS Đào Thế Tuấn chủ trì và hệ thống cây trồng đồng bằng sông Cửa Long do GS.VS Nguyễn Văn Luật chủ trì cũng đưa ra một số kết luận về phân vùng sinh thái khác nhau nhằm khai thác sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế cao
Chương trình đồng trũng (1985 – 1987) do Ủy ban kế hoạch Nhà nước chủ trì Chương trình bản đồ canh tác (1988 – 1990) do Ủy ban khoa học Nhà nước chủ trì đã đưa ra những quy trình hướng dẫn sử dụng giống và phân bón
có hiệu quả trên các chân ruộng vùng úng trũng đồng bằng sông Hồng góp phần tăng năng suất, sản lượng cây trồng ở các vùng sinh thái
Các đề tài nghiên cứu trong chương trình KN – 01 (1991 – 1995) do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng núi và trung du phía Bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long… nhằm đánh giá hiệu quả các hệ thống cây trồng trên từng vùng đất đó
Bên cạnh đó, vấn đề luân canh tăng vụ, trồng gối, trồng xen nhằm sử dụng nguồn lực đất đai, khi hậu, để bố trí cây trồng, nâng cao hiệu qủa sử dụng đất cũng được nhiều tác giả đề cập Đề tài đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hóa cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng của Vũ Năng Dũng –
1997 cho thấy, ở vùng này đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh 3 – 4 vụ/1 năm đạt hiệu quả kinh tế cao Đặc biệt ở vùng ven đô, vùng tưới tiêu chủ động đã có những điển hình về sử dụng đất đai đạt hiệu quả kinh tế rất cao Nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế lớn đã được bố trí trong các phương thức luân canh như cây ăn quả, hoa, cây thực phẩm cao cấp…Nhìn
Trang 38chung, các công trình nghiên cứu mới chỉ giải quyết được phần nào những vấn đề được đặt ra trong việc sử dụng đất đai hiện nay Có những giá trị mô hình cho năng suất cây trồng cao, bảo vệ môi trường nhưng hiệu quả kinh tế thấp, có mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao trước mặt, song chưa có gì đảm bảo cho việc khai thác lâu dài, ổn định, đặc biết có nơi còn làm hủy hoại môi trường, phá hủy đất Vì vậy, cần có các công trình nghiên cứu ở từng điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương để đưa ra các giải pháp thích
hợp hướng tới một nền nông nghiệp phát triển bền vững
Trang 39Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điển tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Lương Sơn
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Lương Sơn là cửa ngõ của tỉnh miền núi Hoà Bình và miền Τây Bắc Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 40 km, biên giới liền kề với khu công nghệ cao Hoà Lạc, khu đô thị Phú Cát, Miếu Môn, Đại học Quốc gia, Làng văn hoá các dân tộc
Huyện Lương Sơn nằm ở phần phía nam của dãy núi Ba Vì, nơi có một phần của Vườn quốc gia Ba Vì Phía tây giáp huyện Kỳ Sơn Phía nam giáp các huyện Kim Bôi và Lạc Thủy Phía đông giáp các huyện Mỹ Đức, Chương
Mỹ Phía bắc giáp huyện Quốc Oai
Lương Sơn là một huyện vùng thấp bán sơn địa của tỉnh Hoà Bình, có địa hình phổ biến là núi thấp và đồng bằng, có vị trí địa lý từ 20017 – 20038 vĩ
độ Bắc và 105029 – 105040 kinh độ Đông
2.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Lương sơn là một huyện vùng thấp của tỉnh Hòa Bình, có địa hình phổ biến là núi thấp và đồng bằng Độ cao trung bình của toàn huyện so với mực nước biển là 251m, có địa thế nghiêng đều theo chiều từ tây xuống đông nam Đặc điểm nổi bặt của địa hình nơi đây là những dãy núi thấp chạy dài xen kẽ các khối núi đã vôi với những hang động
2.1.1.3 Thời tiết khí hậu
Huyện Lương Sơn nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu nên cũng như các huyện khác trong tỉnh, khí hậu của huyện Lương Sơn mang tính chất
Trang 40của khí hậu nhiệt đới gió mùa
Trong năm có hai mùa rõ rệt: mùa nóng (mưa nhiều) từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa lạnh (mưa ít) từ tháng 11 đến tháng 3
- Nhiệt độ không khí trung bình năm: 230c
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình năm 1.769 mm
- Độ ẩm không khí: Độ ẩm trung bình hàng năm là 84,5%, trung bình cao là 97,7%, trung bình thấp là 46,4%
Qua các yếu tố khí hậu thời tiết huyện Lương Sơn nói chung là thuận lợi cho nhiều loại cây trồng và gia súc phát triển có khả năng cho năng suất cao Song cần bố trí cây trồng thích hợp để tránh lũ quét, mua bão xói mòn rửa trôi đất để trồng cây đạt năng suất cao
2.1.1.4 Điều kiện thủy văn
Trong huyên Lương Sơn không có sông lớn mà chỉ có 2 con sông nhỏ (thực chất là suối) là sông Bùi với chiều dài 12 km bắt nguồn từ dãy núi cao Trường Sơn chảy qua Cao Răm, Tân Vinh, Thị trấn, Nhuận Trạch và chảy ra huyện Chương Mỹ - Hà Nội Lưu lượng kiệt hàng năm là 900l/s Đây là con sông nhỏ, ngắn và dốc nên thường gây ra lũ quét hàng năm; Sông Cò bắt nguồn từ xã Yên Quang chảy qua Yên Trung, Yên Bình và đổ ra đập Đông
Mô, Ngải Sơn, lưu lượng kiệt hàng năm là 400l/s
Ngoài ra còn 18 con suối nhỏ phân bổ khắp 3 vùng của huyện Thường bắt nguồn từ dãy núi phía Tây và Tây Bắc chảy xuống phía Đông Nam Các suối thường ngắn và dốc, mùa cạn thì không có nước hoạc có thì rất ít, còn mùa mưa thì lượng nước lại lớn lên thường gây ra lũ, rửa trôi đất làm ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp
Ngoài sống suối, trên địa bàn Lương Sơn còn có hệ thống hồ đập cũng góp phần cung cấp nước phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân (20 hồ đập lớn nhỏ)