1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu kỹ thuật trồng và tái sinh chồi cây bời lời đỏ (litsea glutinosa) tại một số huyện thuộc tỉnh gia lai

96 356 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 3,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Thị Chuyền Trung tâm Nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ đã tạo điều kiện cho tôi kế thừa PPNC trong nội dung một số kỹ thuật tái sinh và nuôi dưỡng chồi Bời lời của đề tài “Nghiên cứu ch

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu

và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Người cam đoan

Nguyễn Thị Tâm

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành lâm học tại trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, tôi xin chân thành cảm ơn đến:

ThS Nguyễn Thị Chuyền (Trung tâm Nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ)

đã tạo điều kiện cho tôi kế thừa PPNC trong nội dung một số kỹ thuật tái sinh

và nuôi dưỡng chồi Bời lời của đề tài “Nghiên cứu chọn giống & kỹ thuật gây

trồng cây Sơn huyết & Bời lời cho vùng Nam Trung Bộ & Tây Nguyên” của

Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam giai đoạn 2012 – 2016

Quý thầy cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Khoa Lâm học, Phòng Đào tạo Sau đại học, Ban giám hiệu nhà trường đã tận tình giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian khoá học

Ban Lãnh đạo và các CBCNVC của Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Gia Lai, Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Chư Păh, Đăk Đoa, Trung tâm Lâm nghiệp nhiệt đới và Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ

Các cán bộ tại UBND các xã trên địa bàn các huyện Chư Păh, Đăk Đoa Cảm ơn các hộ nông dân có mô hình trồng Bời lời đỏ, các đại lý thu mua Bời lời đã tham gia cung cấp thông tin, cùng thu thập số liệu hiện trường

Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Phạm Xuân Hoàn đã dành nhiều thời gian quý báu, tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập

và hoàn thành luận văn này

Cám ơn gia đình và những người thân, bạn bè đã giúp đỡ về mọi mặt để tôi hoàn thành được khoá học này

Hà Nội, tháng 10 năm 2015

Học viên

Nguyễn Thị Tâm

Trang 3

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU ……….1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU …2

1.1 Trên thế giới ……2

1.2 Ở Việt Nam ….3

1.2.1 Nghiên cứu về cây Bời lời đỏ … 3

1.2.2 Nghiên cứu về tái sinh chồi, tái sinh chồi gốc … 12

1.3 Thảo luận 21

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .23

2.1 Mục tiêu nghiên cứu ……23

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……23

2.3 Nội dung nghiên cứu … 23

2.3.1 Tổng kết, đánh giá các biện pháp kỹ thuật nhân giống, gây trồng, khai thác Bời lời đã và đang áp dụng tại địa phương … 23

2.3.2 Nghiên cứu một số kỹ thuật tái sinh và nuôi dưỡng chồi Bời lời … 23

2.3.3 Đánh giá sinh trưởng của Bời lời trong các mô hình kinh doanh tại địa phương …….23

2.3.4 Nghiên cứu bổ sung hướng dẫn kỹ thuật trồng Bời lời đỏ ….24

2.4 Phương pháp nghiên cứu ……24

Trang 4

2.4.1 Phương pháp kế thừa các tài liệu có liên quan ……24

2.4.2 Phương pháp điều tra chi tiết … 24

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu …29

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU ……31

3.1 Điều kiện tự nhiên ……31

3.1.1 Vị trí địa lý … 31

3.1.2 Đặc điểm địa hình ……32

3.1.3 Khí hậu – thủy văn ……32

3.1.4 Tài nguyên thiên nhiên ….32

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội … 33

3.2.1 Kinh tế … 33

3.2.2 Dân số ….34

3.2.3 Văn hóa – du lịch ….35

3.2.4 Giao thông … 35

3.3 Nhận xét, đánh giá chung … 35

3.3.1 Thuận lợi ……35

3.3.2 Khó khăn ……36

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ….37

4.1 Tổng kết, đánh giá các biện pháp kỹ thuật nhân giống, gây trồng, khai thác Bời lời đã và đang áp dụng tại địa phương … 37

4.1.1 Kỹ thuật nhân giống ……37

4.1.2 Kỹ thuật gây trồng … 40

4.1.3 Kỹ thuật khai thác … 43

4.1.4 Năng suất và giá bán vỏ khô … 43

4.2 Nghiên cứu một số kỹ thuật tái sinh và nuôi dưỡng chồi Bời lời … 46

4.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật chặt khai thác tới sinh trưởng chồi 46

Trang 5

4.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến sinh trưởng chồi 57

4.2.3 Đề xuất kỹ thuật tái sinh và nuôi dưỡng rừng chồi Bời lời đỏ 63

4.3 Đánh giá sinh trưởng của Bời lời trong các mô hình kinh doanh tại địa phương … 63

4.3.1 Đánh giá một số kỹ thuật khai thác lần đầu để tái sinh chồi 63

4.3.2 Đánh giá sinh trưởng của Bời lời trong mô hình kinh doanh rừng chồi 65

4.3.3 Đánh giá sinh trưởng của cây Bời lời trồng từ hạt … 67

4.3.4 So sánh sinh trưởng của cây chồi có tuổi chồi tương đương với tuổi cây trồng từ hạt … 70

4.4 Nghiên cứu bổ sung hướng dẫn kỹ thuật trồng Bời lời đỏ … 71

4.4.1 Những quy định chung 71

4.4.2 Điều kiện gây trồng …… 72

4.4.3 Trồng rừng … 72

4.4.4 Chăm sóc rừng trồng … 74

4.4.5 Bảo vệ rừng ………75

4.4.6 Khai thác … 75

4.4.7 Một số kỹ thuật tái sinh và nuôi dưỡng chồi Bời lời …….76

KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ ……….……… 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

ΔHvn (m/năm) Tăng trưởng chiều cao vút ngọn (m/năm)

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

4.3 Ảnh hưởng của phương thức chặt đến sinh trưởng

cây chồi 13 tháng tuổi

48

4.4 Ảnh hưởng của chiều cao gốc chặt đến sinh trưởng

cây chồi 13 tháng tuổi

51

4.5 Ảnh hưởng số chồi để lại/gốc đến sinh trưởng cây

chồi 13 tháng tuổi

53

4.6 Ảnh hưởng của tuổi cây lúc khai thác đến sinh

trưởng cây chồi 13 tháng tuổi

55

4.7 Ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến sinh trưởng

chồi cây chồi 20 tháng tuổi

đương với tuổi cây trồng từ hạt

70

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Số hiệu

4.1 Một số hình ảnh về kỹ thuật nhân giống 39 4.2 Một số hình ảnh về kỹ thuật khai thác 45 4.3 Ảnh hưởng của phương thức khai thác chọn (a) và khai

thác trắng (b) đến sinh trưởng của cây chồi 13 tháng tuổi

47

4.4 Ảnh hưởng của chiều cao gốc chặt 10 cm (a) và 5 cm (b)

đến sinh trưởng của cây chồi 13 tháng tuổi

50

4.5 Ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến sinh trưởng của cây

chồi 20 tháng tuổi

58

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

4.1 Ảnh hưởng của phương thức chặt chọn (a) và chặt trắng

(b) đến chất lượng cây tái sinh chồi Bời lời 13 tháng tuổi

49

4.2 Ảnh hưởng của chiều cao gốc chặt là 10 cm (a) và 5 cm

(b) đến chất lượng cây tái sinh chồi Bời lời 13 tháng tuổi

51

4.3 Ảnh hưởng của số chồi/gốc là 2 chồi/gốc (a) và 3 chồi/gốc

(b) đến chất lượng cây tái sinh chồi Bời lời 13 tháng tuổi

54

4.4 Ảnh hưởng của tuổi cây lúc khai thác là 4 tuổi (a), 5 tuổi

(b) và 6 tuổi (c) đến chất lượng cây tái sinh chồi Bời lời

13 tháng tuổi

56

4.5 Ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến sinh trưởng chiều

cao vút ngọn (Hvn) của cây chồi Bời lời đỏ 20 tháng tuổi

60

4.6 Ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến sinh trưởng đường

kính gốc (D00)của cây chồi Bời lời đỏ 20 tháng tuổi

61

4.7 Ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến chất lượng cây tái

sinh chồi Bời lời đỏ 20 tháng tuổi ở các công thức: bón

với cây trồng từ hạt

71

Trang 10

MỞ ĐẦU

Bời lời đỏ (Litsea glutinosa) là một trong những loài cây đã và đang

được trồng khá phổ biến ở nhiều địa phương thuộc tỉnh Gia Lai Qua nghiên cứu và đánh giá cho thấy đây là loài cây đa tác dụng, có kỹ thuật trồng đơn giản, chu kỳ sinh trưởng và phát triển nhanh, sản phẩm có giá bán cao trên thị trường và có thể bán ở bất kỳ độ tuổi nào, bất cứ lúc nào trong năm Hiện nay trên thị trường trong nước, ngoài giá trị kinh tế chủ yếu là thu hoạch vỏ người

ta còn tận dụng cả cành nhỏ, lá để làm bột nhang Gỗ làm giàn giáo, làm vật liệu xây dựng dân dụng, làm nguyên liệu cho nhà máy giấy Trồng Bời lời sau

5 - 7 năm là có thể thu hoạch từ 5 - 10 kg vỏ/cây tuỳ theo điều kiện sinh trưởng của nơi trồng Sau khi thu hoạch cây có thể tái sinh chồi nhiều lần mà không cần gây trồng lại

Trước kia, Bời lời đỏ được khai thác trong rừng tự nhiên, ngày nay Bời lời được coi là cây “làm giàu” của người dân địa phương và được trồng dưới nhiều dạng quy mô vườn hộ, vườn rừng ở nhiều huyện trên địa bàn tỉnh Gia Lai Việc trồng cây Bời lời đỏ ở Gia Lai có nhiều thuận lợi: sẵn nguồn giống, phù hợp với điều kiện đất đai tại chỗ, gần gũi với tập quán canh tác của đồng bào các dân tộc Tuy nhiên, nó chỉ được trồng tại những nơi mà Cà phê, Cao

su không trồng được

Đã có nghiên cứu biện pháp kỹ thuật trồng rừng Bời lời, song hầu hết các tác giả chưa quan tâm tới nuôi dưỡng tái sinh chồi ở các luân kỳ sau, nghiên cứu và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong nuôi dưỡng tái sinh chồi để tăng năng suất và hiệu quả rừng trồng cũng chưa được quan tâm

Như vậy, vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu kỹ thuật tái sinh chồi sau khai thác để góp phần tăng năng suất và hiệu quả trồng rừng kinh tế

Để khắc phục những vấn đề tồn tại trên, đề tài: “Nghiên cứu kỹ thuật trồng và tái sinh chồi cây Bời lời đỏ (Litsea glutinosa) tại một số huyện thuộc tỉnh Gia Lai” đã được thực hiện

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới

Bời lời được nghiên cứu trong đề tài là Bời lời đỏ hay còn gọi là Bời

lời nhớt (Litsea glutinosa) thuộc họ Long não (Lauraceae)

Những nghiên cứu về cây Bời lời đỏ trên thế giới còn rất ít, chủ yếu chỉ tập trung vào nghiên cứu giá trị dược liệu được lấy từ vỏ cây, cụ thể:

Tại Ấn Độ các nhà khoa học: Radhkrishman, Ramasany và Arfins (1989) đã tách được chất sufoof-e musummin từ vỏ cây Bời lời dùng làm dược liệu trong y học Vỏ Bời lời còn được sử dụng như là một chất giảm đau: áp lên vết thương, lở loét để tạo điều kiện thuận lợi chữa vết thương Lá được dùng

chữa nôn mửa và tiêu chảy, nước ép từ lá có thể chữa bệnh đau mắt,… (theo

Bảo Huy, 2009) [28]

Ở Indonesia bằng phương pháp quang phổ, Rizan Helmi và Zamri Adel (1989) đã chiết xuất từ cành, rễ và vỏ cây các chất 2,9 Dihydroxy; 1,10 Dimethoxyaporhine; 6 Methoxyphenanthrene 9% và một vài chất khác được

sử dụng trong y học (theo Bảo Huy, 2009) [28]

Tại hội nghị Quốc tế về y học dân tộc và những cây thuốc họp tại Indonesia (1990) đã xác nhận từ cây Bời lời đỏ có thể chiết suất một số hóa

chất dùng trong y dược (theo Bảo Huy, 2009) [28]

Tại Bangalore, các tác giả Somashekhar, Manju Sharma (2002) đã tổng kết, mô tả thực vật và phân loại những bộ phận dùng để làm thuốc và sản xuất biệt dược của những loài cây trong khu vực Trong đó, đã xác nhận bộ phận dùng để làm thuốc và sản xuất ra biệt dược của cây Bời lời đỏ là thân và vỏ thân [47]

Năm 2009 tại Ấn Độ, các tác giả S.P.Singh và Dipti Singh đã công bố những nghiên cứu về việc tìm nguồn nguyên liệu sinh học, đặc tính của các

Trang 12

loại dầu sinh học từ những nguồn thực vật khác nhau như là nguồn nguyên liệu thay thế và mô tả đặc tính nguyên liệu dầu sinh học của cây Bời lời đỏ được chế biến từ hạt cây [48]

Tháng 9 năm 2011, Yun-Song Wang ở Đại học Vân Nam, Côn Minh, Trung Quốc đã công bố và mô tả cấu trúc hóa học về những chiết suất biệt dược mới từ cây Bời lời có tác dụng trong việc chữa bệnh [49]

Năm 2009 tại Ấn Độ, các tác giả S.P.Singh và Dipti Singh đã công bố những nghiên cứu về việc tìm nguồn nguyên liệu sinh học, đặc tính của các loại dầu sinh học từ những nguồn thực vật khác nhau như là nguồn nguyên liệu thay thế cũng đã mô tả đặc tính nguyên liệu dầu sinh học của cây Bời lời

đỏ được chế biến từ hạt cây Bời lời (theo Mai Minh Tuấn, 2011) [43]

Các thông tin trên cho phép khẳng định một cách chắc chắn về giá trị kinh tế của cây Bời lời đỏ nhất là trong lĩnh vực y dược

1.2 Ở Việt Nam

1.2.1 Nghiên cứu về cây Bời lời đỏ

1.2.1.1 Đặc điểm hình thái

Bời lời đỏ là cây gỗ trung bình hay gỗ lớn, thường xanh, cao 25 – 35

m, đường kính có thể đạt tới 40 – 60 cm Thân tròn thẳng, tán hình trứng hẹp, cành nhỏ và ít, gốc có bạnh vè nhỏ và thấp Vỏ thân màu xám trắng đến nâu xám, phía ngoài có nhiều biểu bì không nổi rõ, thịt vỏ màu vàng nhạt, dày 8 –

10 mm, có mùi thơm Cành khi non hơi xanh, sau chuyển sang nâu nhạt, nhẵn

Lá đơn mọc cách, phiến lá dai, có mùi thơm nhẹ, hình mác dài 12 – 15

cm, rộng 3 - 3,5 cm, đầu lá hơi nhọn, gốc hình nêm, hai mặt nhẵn, mặt trên màu xanh bóng, mặt dưới xanh nhạt, có 7 - 10 đôi gân bên, cuống lá mảnh, dài 7 – 15 mm

Trang 13

Cụm hoa hình chùy, dài bằng

hoặc vượt chiều dài của lá, gốc trục

hoa có lông Hoa lưỡng tính màu

vàng nhạt, bao hoa 6 thùy bằng nhau

hình trái xoan thuôn, ngoài có phủ

lông ngắn Nhị 9 xếp thành 3 vòng, 6

nhị ngoài không tuyến, bao phấn 4 ô,

3 nhị trong có 2 tuyến ở gốc, nhị lép

3 Nhụy có bầu hình cầu, nhẵn, vòi

dài, núm hình cầu hay hình gần cầu

Quả hình cầu, đường kính 10 -

20 mm, có bao hoa tồn tại và hơi xòe

ra Khi non có màu xanh lục, chín

quả màu tím đen, ngoài có phủ lớp Hình 1.1 Cây Bời lời đỏ

phấn trắng Vỏ quả mềm có chứa dịch màu vàng, mang 1 hạt, cuống quả màu

đỏ nhạt [21]

1.2.1.2 Đặc điểm sinh thái, kỹ thuật gây trồng

(1) Đặc điểm sinh thái

Bời lời đỏ phân bố cả ở rừng nguyên sinh và thứ sinh Trong rừng nguyên sinh thường mọc cùng các loài Sến, Vù hương, Dẻ đỏ,… Trong rừng thứ sinh thường mọc cùng Trám, Ràng ràng, Vạng trứng, Lim xẹt,…

Bời lời đỏ là cây ưa sáng, thường mọc nơi đất có tầng dày, nhiều mùn

và thoát nước Bời lời có khả năng tái sinh hạt, chồi mạnh

Ở Việt Nam loài cây này gặp ở Lào Cai, Sơn La, Hà Giang, Yên Bái, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai, Đắc Lắc, Kon Tum, Đồng Nai, Phú Quốc,…

Mùa hoa tháng 5 - 6, mùa quả tháng 10 - 11 Cây cho nhiều quả và hạt

Trang 14

Bời lời đỏ phù hợp với những khu vực có các điều kiện sau: lượng mưa hàng năm 2.000 – 3.000 mm Nhiệt độ bình quân hàng năm 23 - 250C, nhiệt

độ tối thấp không dưới 12 - 160C

Có thể trồng Bời lời đỏ ở nhiều loại đất khác nhau (trừ đất cát, đất ngập úng và đất trơ sỏi đá) Đất trồng Bời lời phải là đất có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, tầng đất dày trên 50 cm, đất ẩm và thoát nước, ở

độ cao 200 – 500 m so với mặt nước biển, độ dốc < 30% [21]

(2) Kỹ thuật gây trồng

+ Phương thức trồng: cũng như nhiều loài cây bản địa khác Bời lời đỏ

có thể trồng theo các phương thức sau đây:

- Trồng theo băng: đối tượng là các rừng thứ sinh nghèo kiệt, còn cây

gỗ rải rác, rừng non mới phục hồi, có chiều cao tán rừng > 6 m Băng chặt 10 – 20 m, băng chừa 15 – 20 m, tùy theo chiều cao của tán rừng

- Trồng theo rạch: đối tượng trồng là các thảm cây bụi còn tốt, cao trên

4 m, dễ điều chỉnh tán Kích thước rạch là 4 m, chừa 4 m Có thể trồng hỗn giao với các loài cây lá rộng bản địa khác

- Trồng theo đám: trồng thuần loại trên các ô trống trong rừng Các ô này có diện tích < 1 ha

+ Mật độ trồng: từ 600 - 1.000 cây/ha tùy theo từng phương thức trồng

thuần loài hay hỗn giao Nếu trồng theo băng cự ly trồng là 4 x 4 m Nếu trồng theo rạch: đảm bảo mật độ không quá 625 cây/ha (cự ly 6 x 2,5 m, rạch rộng 4 m chia làm 2 m) Nếu trồng theo đám thì mật độ trồng không quá 833 cây/ha (3 x 4 m)

+ Thời vụ trồng: vào đầu mùa mưa (khoảng tháng 6 – 7 ở các tỉnh Tây

Nguyên) Các tỉnh phía Bắc có thể trồng vào vụ Xuân [21]

1.2.1.3 Giá trị sử dụng

(1) Giá trị các sản phẩm

Trang 15

Quả Bời lời đỏ chứa dầu béo đông đặc ở nhiệt độ thường, thành phần chủ yếu là laurin và olêin có thể dùng làm sáp và chế biến xà phòng

Hạt Bời lời đỏ là thức ăn ưa thích của nhiều loài chim

Vỏ cây ngoài có màu trắng xám, vỏ trong vàng nhạt, dày 8 – 10 cm, vỏ

là sản phẩm thu hoạch chính của cây Bời lời đỏ

Nước ngâm vỏ Bời lời bào thành từng mảng mỏng có thể dùng bôi đầu cho bóng tóc và vỏ cây còn được dùng làm nguyên liệu sản xuất keo dán

Vỏ cây Bời lời đỏ dùng làm hương thắp trong các ngày lễ Tết, được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng, ngoài ra vỏ còn được dùng làm chất phụ gia bê tông trong công nghiệp xây dựng Đây là sản phẩm chủ yếu và có giá trị cao của cây Bời lời đỏ

Sau khi trồng 3 năm là có thể khai thác vỏ, song càng để lâu càng tốt và thu hoạch vỏ sẽ được nhiều hơn; số lượng cũng như chất lượng tinh dầu trong

vỏ sẽ cao, do đó giá bán cao hơn và giá trị sử dụng của nó cũng cao hơn

Gỗ có lõi màu hồng nhạt, giác màu trắng, khá cứng (tỷ trọng 0,87), ít bị mối mọt, dùng trong công nghiệp đóng đồ gia dụng, nguyên liệu cho sản xuất giấy, xây dựng, trụ mỏ…

Lá cây Bời lời đỏ được dùng để chữa thiên đầu thống và làm thức ăn cho gia súc

Dầu Bời lời đỏ dùng làm sáp, chế xà phòng

Như vậy, Bời lời đỏ là một trong những cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị khá cao so với các loại lâm sản khác, cao hơn gấp nhiều lần so với Chai cục, nhựa Thông, Lồ ô…[21]

(2) Năng suất

Bời lời đỏ là cây bản địa, đa mục đích, mọc nhanh, lượng sinh trưởng hàng năm đạt 1 - 1,5 cm về đường kính và 80 – 100 cm về chiều cao

Trang 16

Đây là loài được lựa chọn làm nhóm cây bản địa để gây trồng và làm giàu rừng cho các tỉnh vùng Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Tây Bắc, Bắc Trung bộ trong chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng

Tại khu vực Gia Lai và Kon Tum, cây trồng 7 năm tuổi có thể đạt đường kính 15 cm, có thể khai thác được từ 13 – 15 kg vỏ khô tương đương với 39 – 45 kg vỏ tươi/cây Nếu trồng với mật độ 800 cây/ha thì sau 7 năm có thể khai thác trên khoảng 10 tấn vỏ khô/ha Nếu sau khai thác tiếp tục chăm sóc gây chồi thì có thể khai thác vỏ luân kỳ 2 [21]

Từ xa xưa, Bời lời đỏ đã được người dân vào rừng khai thác, xay vỏ làm chất keo dính trộn bột làm nhang Các gia đình giàu có thường dùng bột Bời lời đỏ trộn với vôi, mật mía để xây nhà, xây tường bao Ngày nay, cây Bời lời đỏ được dùng với rất nhiều mục đích như: vỏ, lá được bán cho các thương lái (làm bột nhang, công nghệ keo ), gỗ (thân và cành) được dùng làm gỗ sợi ép, làm giàn giáo, làm vỏ bút chì và các đồ gia dụng

Các công trình nghiên cứu về cây Bời lời đỏ ở nước ta được thể hiện như sau:

Năm 1967, Đỗ Tất Lợi khi nghiên cứu về cây Bời lời đã mô tả hình thái

và nêu tác dụng của loài cây này một cách tương đối tỷ mỉ và đầy đủ về giá trị

sử dụng: “…tất cả các bộ phận của cây, nhiều nhất là vỏ thân có chứa một chất nhầy (keo) và một ít tinh dầu nên người ta dùng vào công nghệ keo dán trong kỹ thuật làm giấy, phụ gia bê tông, làm hương nén Vỏ giã nát đắp lên nơi sưng, bỏng, vết thương, vỏ còn dùng sắc nước uống chữa bệnh đường ruột, lỵ… Nước ngâm vỏ Bời lời dùng bôi đầu làm cho tóc mượt Dầu Bời lời dùng làm sáp chế xà phòng Gỗ Bời lời làm giấy, đóng đồ gia dụng, làm nhà tạm…” [32]

Tổng cục Lâm nghiệp (1971) đã nêu qua về đặc điểm hình thái, phân

bố địa lý - sinh thái và giá trị kinh tế của cây Bời lời nhớt [45]

Trang 17

Lê Khả Kế (1971) đã mô tả và nêu một số công dụng của cây Bời lời

đỏ như vỏ có tác dụng làm dịu đau, chữa bệnh; quả chứa 45% chất béo dạng sáp gồm hầu hết là laurin và olêin dùng làm nến, điều chế xà phòng; gỗ dùng làm giấy, lá làm thức ăn cho Trâu, Bò [29]

Theo Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978), cây Bời lời nhớt có vỏ và

gỗ chứa nhựa dính, lá có mùi hắc; vỏ rễ có thể dùng làm thuốc, hạt cho một chất mỡ dùng để làm nến, làm xà phòng [10]

Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (1984) cũng đã đề cập đến loài Bời lời đỏ nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức độ mô tả và giới thiệu

Nguyễn Hiền (1991) đã giới thiệu một số nét cơ bản về kỹ thuật gieo ươm và trồng rừng Bời lời đỏ Song những đặc điểm sinh thái học của loài cây này thì hầu như tác giả chưa đề cập tới [23]

Năm 1993, theo Trần Đình Lý và cộng sự thì tinh dầu của cây Bời lời nhớt dùng để chữa tả, lỵ, sưng vú, sưng bắp chuối và gân bắp [34]

Trong tạp chí Lâm nghiệp tháng 7 năm 1994 có bài viết của Nguyễn Bá Chất đã đề cập đến một số vấn đề kỹ thuật trồng Bời lời nhưng chỉ dừng lại ở mức độ khái quát và mang tính chất định tính [8]

Theo Lê Văn Minh (1996), Bời lời đỏ là loại cây đa mục đích Vỏ Bời lời chứa tinh dầu thơm, được chiết tinh dầu dùng trong y học, làm hương thơm, nguyên liệu làm keo dán công nghiệp, sơn; ngoài ra nó còn được dùng làm nhang đốt trong tín ngưỡng tôn giáo của người dân Gỗ Bời lời có màu nâu vàng, cứng không mối mọt, có thể sử dụng đóng đồ dùng, làm nguyên liệu giấy hoặc làm gỗ củi Lá có thể làm thức ăn cho gia súc [35]

Năm 1997, Lê Thị Lý đã xác định được một số đặc điểm sinh học: mô tả thân, cành, lá, rễ, hoa, mùa và chu kỳ ra hoa, khả năng nẩy mầm, kỹ thuật gieo ươm, dự tính sản lượng vỏ trên mô hình trồng thuần và trồng xen với Cà phê Tuy nhiên, các dự tính sản lượng vỏ mới chỉ là tạm tính trên cơ sở giải tích một

Trang 18

số cây cụ thể mà chưa đưa ra được các ước lượng trên cơ sở hàm tương quan

về mối quan hệ giữa sản lượng vỏ với tuổi cây, mật độ trồng [33]

Phạm Hoàng Hộ (1999) có giới thiệu sơ qua về cây Bời lời nhớt [27]

Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000) [7] cũng đã nêu qua về đặc điểm nhận biết cây Bời lời đỏ

Trần Văn Con (2001) [11] trong báo cáo khoa học của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã đề xuất trồng Bời lời đỏ trên các dạng lập địa chính: đất đỏ nâu dưới trảng cây bụi, bằng phẳng tương đối ẩm và đất đỏ nâu dưới trảng cây bụi, cao nguyên bằng phẳng, khô nóng Trồng theo phương thức hỗn giao hay nông lâm kết hợp Trồng hỗn giao theo hàng hoặc theo đám, cự

ly hàng cách hàng 3 m và cây cách cây 3 m

Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam – Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (2002) đã mô tả một số đặc điểm hình thái, sinh thái, công dụng, đánh giá trồng rừng cũng như đã đưa ra một số khuyến nghị về cây Bời lời nhớt [46]

Đỗ Huy Bích và cộng sự (2003) đã nêu về công dụng của Bời lời nhớt:

vỏ rễ, vỏ thân Bời lời nhớt sắc uống chữa bệnh ruột, tiêu chảy, lỵ, viêm tuyến nước bọt, viêm tuyến vú Lớp bên trong của vỏ giã nát đắp tại chỗ là thuốc làm dịu da, chữa bong gân, sưng bầm tím, đau khớp Lá được coi là một thuốc giải co thắt, chữa nhức đầu, thiên đầu thống [4]

Nguyễn Ngọc Bình (2004) Bời lời đỏ được xếp vào danh mục các loài cây sử dụng trong các chương trình trồng cây gây rừng ở Việt Nam [5]

Chu Thị Thơm, Phan Thị Lài, Nguyễn Văn Tố (2006) đã nêu rất chi tiết

về giá trị của cây Bời lời đỏ Gỗ dùng để đóng đồ gia dụng, làm bột giấy, củi đun Tất cả các bộ phận của cây, nhiều nhất là vỏ có chứa chất nhầy dùng làm chất dịch trong công nghệ làm giấy và hương nén Hạt chứa 45% chất dầu béo, dùng làm sáp, bôi bóng tóc, chế xà phòng, thắp sáng Vỏ là sản phẩm ngoài gỗ có giá trị nhất vì vỏ là nguồn dược liệu quan trọng dùng đắp chữa

Trang 19

vết thương, sưng, bỏng hoặc sắc uống chữa ỉa chảy, kiết lỵ, thiên đầu thống Một cây Bời lời đỏ trồng 8 - 10 tuổi trung bình có thể cho 50 – 80 kg vỏ tươi, giá bán thường được 7.000 – 10.000 đồng/1kg vỏ khô [41]

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006) đã ban hành Quy trình

kỹ thuật trồng Bời lời đỏ, trong đó quy định nguyên tắc, nội dung và yêu cầu

kỹ thuật trồng Bời lời đỏ để lấy vỏ từ khâu xác định điều kiện gây trồng, tạo cây con, trồng, chăm sóc đến bảo vệ, nuôi dưỡng, khai thác và sơ chế với chu

kỳ kinh doanh từ 8 - 10 năm [3]

Năm 2007, Cục Lâm nghiệp đã ban hành bản hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng cây Bời lời đỏ Bản hướng dẫn quy định những nội dung, yêu cầu và kỹ thuật trồng rừng Bời lời đỏ, bao gồm các khâu từ xác định điều kiện gây trồng, giống, tạo cây con, trồng rừng, chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ rừng

để kinh doanh gỗ và khai thác vỏ, chu kỳ 7 - 30 năm Hướng dẫn này áp dụng cho Ban quản lý dự án “Khôi phục rừng và quản lý rừng bền vững tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên – KFW6” tại tất cả các cấp

để áp dụng, quản lý và giám sát [12]

Theo Cục Lâm nghiệp (2007) thì giá thành/1 cây giống (kể cả lãi) là

974 đồng Trồng thuần loài với mật độ là 1.667 cây/ha (3 x 2 m) thì tổng vốn đầu tư cho nhóm lập địa B là: 5.788.750 đồng/ha và tổng vốn đầu tư cho nhóm lập địa C, D2 là: 6.397.205 đồng/ha [13]

Trần Văn Đức (2007) khi nghiên cứu tập quán canh tác của đồng bào Băhnar làm cơ sở xây dựng các biện pháp phát triển lâm nghiệp xã hội Tác giả đã trồng thử nghiệm 3 ha Bời lời đỏ ở xã Ayun, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai Trong những năm đầu trồng xen Gừng, củ Tím (khi cây chưa khép tán) để tăng hiệu quả sử dụng đất, tăng thu nhập và cải thiện sinh kế cho người dân Mô hình cũng góp phần hạn chế tập tục đốt nương làm rẫy của người dân địa phương [18]

Trang 20

Theo Bảo Huy (2009) cho thấy đối với chu kỳ 2 và 3 cần để lại 2 – 3 chồi/gốc, Bời lời đỏ sẽ có hiệu quả cao nhất về sinh khối và lượng hấp thụ CO2, trong đó khả năng hấp thu CO2 tối ưu từ 3 - 84 tấn, tăng theo tuổi của mô hình

Mô hình này đã khắc phục được nhược điểm của canh tác cây Sắn độc canh trên đất nương rẫy Cây Sắn trồng độc canh chỉ qua 3 - 4 năm đã làm đất bạc màu và không thể tiếp tục canh tác Với sự đóng góp của cây Bời lời đỏ đã tạo nên việc sử dụng đất khá bền vững, nông dân có thể kinh doanh dài ngày và có thu nhập ổn định Bên cạnh giá trị về kinh tế và ổn định về đất đai, mô hình với cây Bời lời đỏ được kinh doanh theo nhiều chu kỳ đã giúp cho việc hấp thụ và lưu giữ một lượng carbon khá lớn, như vậy nó còn có ý nghĩa làm giảm khí gây hiệu ứng nhà kính, bảo vệ môi trường sinh thái [28]

Võ Đại Hải (2010) cho rằng nên trồng Bời lời với các mật độ: 660 cây/ha (5 x 3 m); 1.000 cây/ha (5 x 2 m); 1.660 cây/ha (3 x 2 m) hoặc 2.500 cây/ha (2 x 2 m) tùy theo phương thức trồng Có thể trồng thuần loài theo băng hay hỗn loài theo hàng hoặc băng với Cà phê, Điều, Tốt nhất nên trồng phân tán theo băng 2 - 3 hàng ven đường quanh nhà hay theo đám xen với cây

ăn quả trong vườn nhà [19]

Phạm Đức Tuấn, Nguyễn Quang Dương, Nhữ Văn Kỳ (2010) đã đưa cây Bời lời đỏ vào danh mục các loài cây trồng lấy lâm sản ngoài gỗ, các tác giả đã nêu khái quát về đặc điểm sinh học (hình thái, sinh thái), điều kiện gây trồng, giống và tạo cây con, trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng, tỉa thưa, khai thác và bảo quản sản phẩm [44]

Năm 2011, tác giả Mai Minh Tuấn đã nghiên cứu đánh giá sinh trưởng Bời lời đỏ và hiệu quả kinh tế mang lại từ việc trồng Bời lời theo ba phương thức trồng ở các địa phương khác nhau của tỉnh Gia Lai Đó là: Bời lời xen Sắn, Bời lời xen Cà phê và trồng rừng thuần loài Bời lời [43]

Trần Thị Thúy Hằng (2011) [22] thực hiện đề tài cấp cơ sở đã điều tra khảo sát quần thể rừng trồng và cây trồng phân tán Bời lời tại một số điểm

Trang 21

thuộc 5 tỉnh vùng Tây Nguyên, tác giả đã chọn được 60 cây trội dự tuyển Bời lời có vỏ dày Sử dụng phương pháp đo độ dày vỏ cây ở độ cao cây 1,3 m, đề tài đã điều tra chọn cây trội dự tuyển Bời lời có sinh trưởng tốt, không bị sâu bệnh hại, thân thẳng, tán đều và vỏ dày

Lê Thị Diên và cộng sự (2012), ngoài việc mô tả, nêu ra các đặc điểm sinh học, kỹ thuật tạo cây con, kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng và thu hoạch rừng Bời lời đỏ, các tác giả còn nêu ra một cách khá tỉ mỉ về các bài thuốc chữa bệnh dùng nguyên liệu từ lá hoặc từ vỏ cây Bời lời

Hiện tại 1 ha Bời lời đỏ trồng ở Tây Nguyên đến thời điểm thu hoạch cho thu nhập khoảng 130 đến 150 triệu đồng: 1 kg vỏ Bời lời đỏ khô bán được bình quân 20.000 đồng, giá 1 m3 gỗ Bời lời đỏ khoảng 1.500.000 đồng Thân cây Bời lời đỏ đường kính trên 20 cm, cao 8 m có giá từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng/cây Vì thế, những năm gần đây ở Gia Lai đã có phong trào trồng cây Bời lời đỏ trên vườn hộ, vườn rừng rất phát triển

Hiện nay, toàn tỉnh Gia Lai đã có trên 10.000 ha Bời lời đỏ chủ yếu là ở quy mô vườn hộ, điển hình nhất là huyện Chư Păh đã trồng khoảng 1.350 ha, huyện Đăk Đoa đã trồng khoảng 1.342 ha Các huyện vùng Tây Trường Sơn như Mang Yang, Ia Grai cũng gây trồng loài cây này và sinh trưởng của Bời lời ở đây khá tốt

1.2.2 Nghiên cứu về tái sinh chồi, tái sinh chồi gốc

1.2.2.1 Nghiên cứu tái sinh chồi

Khác với tái sinh hạt, tái sinh chồi diễn ra bằng con đường sinh sản vô tính – một cây mới là một bộ phận của cây mẹ được tách ra Hậu thế nhận được bằng con đường chồi được gọi là cây chồi, lúc còn nhỏ được gọi là cây tái sinh chồi Trong lâm học, sinh sản vô tính và tái sinh chồi ở nhiều loài cây

gỗ lớn thường ít có ý nghĩa Ngược lại, tái sinh chồi có thể chỉ có ý nghĩa đối với rừng giống, rừng gỗ nhỏ Hiện nay, nước ta có không ít rừng tái sinh nhân

Trang 22

tác được hình thành bằng con đường chồi Vì thế, vấn đề tái sinh chồi và kinh doanh rừng chồi cũng thu hút sự chú ý to lớn của các nhà lâm học

Để kinh doanh rừng chồi có hiệu quả, nhà lâm học nhất thiết phải quan tâm đến đặc điểm sinh học của loài cây, nhất là khả năng sinh sản bằng chồi

và các yếu tố sinh thái chủ đạo ảnh hưởng đến khả năng tái sinh chồi của chúng Trong tự nhiên, tái sinh vô tính của các loài cây gỗ có thể xảy ra qua các con đường: chồi gốc, chồi thân, chồi rễ, chồi cành… Trong đó, chồi gốc hình thành hoặc từ các chồi ngủ (chồi dự phòng) phân bố trên thân hoặc từ chồi phụ (xuất hiện ở lớp tượng tầng tiếp giáp giữa vỏ và gỗ) Trong lâm học ngoài 2 kiểu tái sinh chồi gốc và tái sinh chồi thân thì các kiểu tái sinh chồi khác ít có ý nghĩa [40]

Trên thực tế có rất nhiều các công trình nghiên cứu về mật độ cây tái sinh có nguồn gốc từ chồi nói chung Thể hiện ở một số công trình như sau:

Năm 2003, Nguyễn Ngọc Thanh cho biết số lượng cây có nguồn gốc tái sinh từ chồi là 2.960 cây/ha, chiếm tỷ lệ 51,39% lớn hơn có nguồn gốc tái sinh từ hạt là 2.800 cây/ha, chiếm tỷ lệ 48,61% Điều này chứng tỏ rằng, ở trạng thái rừng này đã bị khai thác quá mức nên số cây mẹ để lại gieo giống rất ít, hơn nữa những cây mẹ còn lại chủ yếu là những cây có phẩm chất gieo giống kém, năng lực ra hoa kém Ngoài ra, do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng rừng một số cây tái sinh đã bị phát, cho nên tỷ lệ tái sinh chồi cao [39]

Theo Nguyễn Công Hoan (2008) [24] thì trạng thái thảm thực vật tái sinh sau nương rẫy có nguồn gốc từ hạt chiếm 85,49%, từ chồi chiếm 14,51% Trạng thái thảm thực vật tái sinh sau khai thác kiệt có nguồn gốc từ hạt chiếm 82,35%, từ chồi chiếm 17,65% Như vậy, nguồn gốc cây tái sinh chủ yếu ở hai trạng thái thảm thực vật là tái sinh hạt, chỉ một phần nhỏ có nguồn gốc từ chồi Đặc điểm này thuận lợi cho việc hình thành tầng rừng chính trong tương

Trang 23

lai Vì trong cùng một loài, cây mọc từ hạt có đời sống dài hơn cây chồi, khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi của ngoại cảnh tốt hơn cây tái sinh chồi

Nguyễn Thị Thu Trang (2009) khi nghiên cứu về cây Dẻ gai Ấn Độ

(Castanopsis indica A.D.C) đã kết luận: số lượng và tỷ lệ cây tái sinh theo

nguồn gốc ở rừng Dẻ gai Ấn Độ thay đổi theo từng địa điểm, không tuân theo

quy luật, tỷ lệ tái sinh hạt và chồi gần như nhau Số cây có nguồn gốc tái sinh

từ chồi biến động từ 4.161 – 4.857 cây/ha, nhìn chung đều nhỏ hơn so với số cây có nguồn gốc tái sinh từ hạt biến động từ 4.381 - 5.393 cây/ha, điều này

chứng tỏ rằng Dẻ gai Ấn Độ có khả năng tái sinh hạt tương đối tốt [42]

Theo tác giả Phạm Thị Nga (2009) [36] khi nghiên cứu về cây Lim xẹt thì số cây có nguồn gốc tái sinh từ chồi biến động từ 5.188 - 9.270 cây/ha (chiếm 60,79 - 68,99%), nhìn chung đều lớn hơn so với số cây có nguồn gốc tái sinh từ hạt biến động từ 3.208 - 4.479 cây/ha (chiếm 38,21 - 41,75%) Điều đó chứng tỏ, đây là rừng thứ sinh phục hồi, có nguồn gốc tái sinh bằng chồi là chủ yếu

Năm 2010, Lê Thị Diên và cộng sự cho thấy số lượng cây tái sinh Re hương điều tra được ở mỗi trạng thái rất ít, chỉ có tổng số 7 cây trên 40 ô dạng bản có diện tích mỗi ô 25 m2 Trong tổng số 7 cây Re hương tái sinh điều tra được có 4 cây có nguồn gốc từ chồi và 3 cây có nguồn gốc từ hạt Tuy nhiên, trên thực tế số lượng chồi cây Re hương từ một gốc cây mẹ rất nhiều, điều này chứng tỏ năng lực tái sinh chồi của loài này rất mạnh Hầu hết các cây Re hương điều tra được có phẩm chất tốt, chỉ có 1 cây từ hạt có phẩm chất trung bình [14]

Theo Ngô Văn Cầm, Nguyễn Toàn Thắng, Nguyễn Bá Văn (2012) [6] thì Dẻ anh là loài cây có khả năng tái sinh tự nhiên chồi và hạt tốt Trong lâm phần thì 75% số OTC nghiên cứu (9/12) có tỷ lệ cây tái sinh có nguồn gốc hạt lớn hơn tỷ lệ cây tái sinh nguồn gốc từ chồi và chúng không tuân theo quy

Trang 24

luật nhất định mà thay đổi theo địa điểm nghiên cứu Tỷ lệ cây tái sinh chồi biến động từ 37,7 - 54,2%, trong khi đó tỷ lệ tái sinh hạt biến động từ 45,8 - 62,3%, điều này chứng tỏ rằng các loài trong địa điểm nghiên cứu có khả năng tái sinh hạt tốt hơn Đối với loài Dẻ anh cũng tương tự, đa số các địa điểm nghiên cứu có tỷ lệ cây tái sinh hạt cao hơn tái sinh chồi (chiếm 72,7%) Hơn nữa, có sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ cây tái sinh có nguồn gốc từ hạt và chồi Tỷ lệ cây tái sinh có nguồn gốc từ chồi biến động từ 36,4 - 80%, trong khi đó cây tái sinh có nguồn gốc từ hạt chiếm tỷ lệ từ 20 - 63,6%

Võ Đại Hải (2010) [20] cho thấy Vối thuốc là loài cây bản địa, gỗ lớn,

đa tác dụng, có khả năng tái sinh tự nhiên từ chồi và hạt rất tốt Tỷ lệ tái sinh của Vối thuốc trung bình ở các trạng thái rừng là 60 - 69% (đối với tái sinh bằng hạt), là 30 - 40% (đối với tái sinh chồi) Bên cạnh cây Vối thuốc, tác giả cũng thấy đề cập đến cây Bời lời, tuy nhiên, mật độ phân bố của cây Bời lời cũng như tỷ lệ nguồn gốc của cây tái sinh Bời lời có biến động rất lớn Tại khu vực Tân Sơn - Lục Ngạn thì trạng thái IIa có 500 cây/ha, tỷ lệ nguồn gốc chồi chiếm 91%, trạng thái IIb có 1.458 cây/ha, tỷ lệ nguồn gốc chồi chiếm 36%; Tại khu vực Lục Sơn - Lục Nam thì trạng thái IIa có 250 cây/ha, tỷ lệ nguồn gốc chồi chiếm 42%, trạng thái IIb không thấy Bời lời xuất hiện

Nguyễn Văn Sơn (2014) [38] đã kết luận: mật độ tái sinh hiện tại của các loài cây trong tổ thành là 3.066 cây/ha, có độ che phủ bình quân là 31,14% Trong đó: Sến mật: 1.839 cây (cả tái sinh chồi và tái sinh hạt), chiếm 61,74%; Lim xanh: 973 cây (chủ yếu tái sinh chồi), chiếm 31,73%; Dẻ: 158 cây (cả tái sinh chồi và tái sinh hạt), chiếm 5,15%; các loài cây còn lại: 42 cây (cả tái sinh chồi và tái sinh hạt), chiếm 5,15% Khả năng tái sinh của các loài cây trong quần thụ là tương đối tốt

Tóm lại: các công trình nghiên cứu về mật độ cây tái sinh có nguồn gốc

từ chồi rất nhiều, tuy nhiên chưa phân biệt rõ chồi gốc, chồi thân hay các loại

Trang 25

chồi khác, chưa có nghiên cứu nào về kỹ thuật nuôi dưỡng tái sinh chồi để kinh doanh rừng chồi có hiệu quả cao, trong đó có cây Bời lời đỏ

1.2.2.2 Nghiên cứu tái sinh chồi gốc

Đa số các loài cây gỗ ở rừng mưa đều có khả năng tái sinh chồi gốc từ các chồi ngủ (như Bạch đàn, Dầu song nàng, Dầu cát, Dầu trà beng, Dầu đồng ) và từ chồi phụ (như Bằng lăng, Phượng vĩ ) Cho đến nay, ở nước ta chưa có tài liệu thống kê chính xác về các loài cây tái sinh chồi và khả năng hình thành chồi của chúng Đây là một tài liệu quan trọng vì nó cho phép thấy được khả năng kinh doanh rừng chồi có hiệu quả Về mặt kỹ thuật chúng ta cần phân biệt rõ ý nghĩa của chồi gốc và chồi thân Chồi gốc là các chồi phát sinh trên các gốc cây mẹ bị đổ gãy do gió, do khai thác, do cháy rừng, Khả năng phát sinh chồi gốc và mức sinh trưởng của chúng phụ thuộc vào kích thước hay tuổi của gốc chặt

Căn cứ vào đặc điểm của gốc chặt trong quan hệ với sinh trưởng của

chồi, có thể phân biệt hai trường hợp sau đây: Một là, các gốc chặt tiếp tục

lớn lên cùng với sự tăng trưởng của cây chồi Ở trường hợp này các cây chồi sinh trưởng và phát triển tốt, hình thành quần thụ chồi năng suất cao tương tự như quần thụ hạt hoặc đôi khi cao hơn Tuy nhiên, gốc chặt chỉ lớn lên khi chúng nằm trong giới hạn tuổi nhất định Điều đó phụ thuộc vào loài cây và điều kiện thực vật rừng Đây là trường hợp có ý nghĩa lớn trong lâm học, đặc biệt trong kinh doanh rừng đồn điền và tạo lập rừng giống để lấy hạt và lấy

vật liệu sinh dưỡng Hai là, kích thước gốc chặt hầu như không lớn lên được

chút nào, còn cây chồi có thể sinh trưởng tốt hoặc xấu Điều đó tùy thuộc vào loài cây và lập địa Trong trường hợp cây chồi sinh trưởng kém, người ta không sử dụng chúng để tạo lập vườn chồi lấy gỗ, nhưng có thể sử dụng chúng để tạo rừng phòng hộ đồng ruộng, rừng chống cát bay, rừng sản xuất và lấy vỏ cây nhằm đáp ứng nguyên liệu cho các ngành mỹ phẩm, y học

Trang 26

- Những nhân tố ảnh hưởng tới tái sinh chồi:

+ Tái sinh chồi của các loài cây gỗ chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân

tố khác nhau Trước hết, khả năng tái sinh chồi phụ thuộc vào loài cây, tuổi cây và mùa trong năm

Đa số các loài cây lá kim không có khả năng tái sinh bằng chồi gốc sau khi chặt hay bị đổ gãy Nhiều loài cây lá rộng chỉ tái sinh chồi trong một giới hạn tuổi hay kích thước nhất định Chẳng hạn, đa số cây họ Dầu chỉ tái sinh chồi khi đường kính thân cây không vượt quá 25 – 30 cm Ngược lại, nhiều loài cây trong bộ Đậu lại có khả năng tái sinh chồi ở mọi kích thước Cây mọc trong tán rừng kín tái sinh kém hơn cây mọc ở ngoài trống, cây mọc trên đất

ẩm tái sinh tốt hơn cây mọc trên môi trường đất khô Loài cây ưa sáng có khả năng tái sinh chồi mạnh hơn loài cây chịu bóng Thời tiết đầu xuân và đầu hè (miền Nam) thích hợp cho cây nảy chồi hơn các mùa khác trong năm

+ Khả năng tái sinh chồi còn phụ thuộc vào chiều cao gốc chặt Nói chung chiều cao gốc chặt càng lớn thì số chồi càng nhiều nhưng cây chồi càng yếu Gốc chặt có chiều cao từ 5 – 20 cm đảm bảo cho cây chồi khỏe và sinh trưởng nhanh hơn Một đặc điểm dễ nhận thấy là những chồi được sinh ra gần gốc cây mẹ có sức sống tốt hơn và tuổi thọ cao hơn so với những chồi hình thành xa gốc cây mẹ (chồi càng gần mặt đất của gốc chặt càng tốt) Ngoài ra, việc khai thác để lại những gốc chặt có chiều cao thích hợp (10 – 20 cm) trong thời kỳ cây ra chồi khỏe không chỉ có ý nghĩa to lớn về mặt sinh học,

mà còn cả về kinh tế do không lãng phí gỗ khi chiều cao gốc chặt quá lớn

+ Sinh trưởng của cây chồi còn phụ thuộc vào hệ rễ của cây mẹ và tình trạng của gốc chặt Theo quy luật, khả năng thu nhận chất dinh dưỡng của gốc chặt càng lớn thì sinh trưởng của cây chồi trong những năm đầu càng nhanh, sức sống càng ổn định Hiện tượng mục ruột gỗ trên gốc cây mẹ không phải là nhân tố ảnh hưởng lớn đến khả năng tái sinh chồi Trái lại, điều đó có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng gỗ trên cây chồi (ruột gỗ xốp và hay bị mục)

Trang 27

Do đó, kỹ thuật khai thác và các biện pháp phòng chống sâu bệnh cho gốc chặt cần được đặc biệt quan tâm Nói chung, kỹ thuật khai thác phải đảm bảo không gây ra hiện tượng xước vỏ và vỡ ruột gỗ, bề mặt cắt ngang thân cây phải tạo ra một góc nghiêng 30 - 450 Trong trường hợp cho phép chúng ta có thể sử dụng hóa chất phòng chống sâu bệnh cho gốc chặt và cây tái sinh chồi

- Những đặc điểm của rừng chồi:

+ So với rừng hạt, rừng chồi có đời sống ngắn hơn, sinh trưởng nhanh hơn nhưng kém ổn định với tác động từ bên ngoài: hiện tượng sinh trưởng nhanh có liên hệ với sự cung cấp đầy đủ dinh dưỡng từ phía hệ rễ cây mẹ Trong thời kỳ đầu, cây chồi ít gặp phải trở ngại, nhưng càng về sau chúng thường bị sâu bệnh gây ra mục ruột gỗ Sức sinh trưởng của cây chồi trong một vài năm đầu có thể cao hơn cây hạt trung bình 5 - 10 lần, nhưng sau đó nhịp điệu tăng trưởng giảm nhanh

+ Rừng chồi có chu kỳ kinh doanh ngắn, có khả năng cung cấp rất nhanh gỗ và các lâm sản khác, nhưng gỗ nhỏ và kém giá trị Gỗ rừng chồi thường hay bị sâu hại; hiện tượng này xảy ra mạnh nếu rừng chồi được phát sinh lại lần thứ 2 - 3 trở đi Rừng chồi được sử dụng tốt vào mục đích kinh doanh gỗ nhỏ và có ý nghĩa lớn trong tạo lập rừng phòng hộ, rừng công viên bao quanh thành phố

+ Rừng chồi thích hợp với mục đích kinh doanh rừng giống lấy hạt và lấy vật liệu sinh dưỡng vì nó đảm bảo tính di truyền ổn định từ thế hệ cây mẹ Trong kinh doanh rừng đồn điền (lấy gỗ, vỏ, lá ) thì rừng chồi đem lại hiệu quả rất cao [40]

Các công trình nghiên cứu về tái sinh chồi gốc nói chung còn rất ít Thể hiện ở một số công trình như sau:

Năm 1985, tác giả Nguyễn Văn Định cho biết: nên chặt trắng rừng Mỡ

vào tháng 11, 12 hàng năm, để mùa xuân năm sau chồi đủ điều kiện phát sinh đồng đều trên gốc cây mẹ Phải sửa gốc cây mẹ sau khi chặt, không để vỡ,

Trang 28

dập, đọng nước, gốc chặt không cao quá 20 cm Chồi mọc được 5, 6 tháng nên tỉa bớt, chỉ để mỗi gốc 2 chồi Từ 1,5 tuổi đến 2 tuổi, chọn để lại mỗi gốc

1 chồi tốt nhất, không được làm tách vỏ ở gốc chồi tỉa Biện pháp kỹ thuật chăm sóc rừng chồi đơn giản, chỉ cần phát hết thảm tươi, cây bụi, dây leo trong 2 năm đầu, từ năm thứ 3 trở đi không cần chăm sóc [17]

Nguyễn Hữu Lộc (1990) đã cho biết tái sinh chồi còn gọi là tái sinh vô tính hoặc tái sinh sinh dưỡng Trong tái sinh chồi, rừng non mới được hình thành từ những chồi ngủ của gốc và rễ cây mẹ Chất lượng tái sinh chồi phụ thuộc vào loài cây, tuổi cây, vị trí phát sinh chồi, tính chất đất rừng và mùa khai thác Để tái sinh chồi đạt kết quả tốt, nên chọn những loài cây có khả năng tái sinh chồi tốt, cây mẹ có đường kính gốc nhất định hoặc tuổi còn tương đối nhỏ Nên khai thác rừng vào mùa rụng lá hoặc mùa ngừng sinh trưởng (mùa khô hoặc mùa đông) Đó là mùa gốc cây có nhiều chất dự trữ, sâu bệnh ít phát triển, sau khi nẩy, chồi có một thời gian để sinh trưởng đến mùa khô năm sau Phải chặt hạ cây thấp gốc, mặt cắt nhẵn và có độ nghiêng

để tránh đọng nước và hạn chế sâu bệnh xâm nhập Từ mỗi gốc cây có thể mọc lên nhiều chồi, cần chọn tỉa bớt, chỉ giữ lại 2 - 3 chồi tốt Nhờ các chất và

bộ rễ của gốc cây mẹ, thời gian đầu rừng tái sinh chồi sinh trưởng nhanh, sau chậm dần [31]

Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Kim (1992) [30] tái sinh chồi là tái sinh mà cây con sinh ra từ chồi của cây mẹ Chồi của cây tái sinh có thể là chồi gốc (do cây mẹ bị chặt) hoặc chồi cành Do cây tái sinh từ chồi gốc được thừa hưởng hệ rễ đồ sộ của cây mẹ để lại nên ngay từ đầu sinh trưởng của cây chồi nhanh hơn cây hạt Tuy nhiên, do sinh trưởng nhanh nên gỗ của cây chồi mềm, xốp, phẩm chất gỗ không bằng cây hạt Sau giai đoạn sinh trưởng nhanh, cây chồi phát triển chậm lại, chậm hơn cây hạt vì lúc này cây hạt đã trưởng thành, có tán cây và hệ rễ hoàn chỉnh Cây chồi không duy trì được

Trang 29

bản chất di truyền của cây mẹ nên không kinh doanh rừng chồi liên tục từ thế

hệ này sang thế hệ khác Thông thường chỉ kinh doanh rừng chồi từ 1 - 2 thế

hệ Cây chồi có đời sống ngắn hơn cây hạt Do vậy, kinh doanh rừng chồi không thích hợp với mục tiêu gỗ lớn Rừng chồi thích hợp với mục tiêu gỗ củi, gỗ nhỏ như gỗ lấy sợi, gỗ trụ mỏ Tuy nhiên, cần lưu ý không phải bất kỳ loài cây nào cũng có khả năng tái sinh chồi Những loài cây lá kim ít có khả năng tái sinh chồi so với loài lá rộng

Nguyễn Bá Chất trong Tạp chí Lâm nghiệp số 8 năm 1999 [9] cho biết ngoài tái sinh hạt, Sồi phảng tái sinh chồi khá phong phú, tái sinh từ chồi gốc

và chồi rễ Tỷ lệ tái sinh chồi ở cấp đường kính 17 – 21 cm là lớn nhất chiếm

95 - 98% Số chồi/gốc cũng có đặc điểm tương ứng, ở cấp đường kính 17 – 21

cm là lớn nhất đạt 5,2 - 5,7 chồi/gốc Đường kính gốc cây càng nhỏ thì các giá trị trên cũng giảm

Phạm Xuân Hoàn (2003) thì điều kiện để áp dụng tái sinh chồi là gốc chặt phải nằm trong độ tuổi có khả năng tái sinh chồi tốt nhất đối với rừng trồng thuần loài Việc khai thác được tiến hành trước mùa sinh trưởng ít nhất 4 tháng Chiều cao gốc chặt không vượt quá 1/3 đường kính gốc chặt Công cụ chặt ảnh hưởng rất lớn đến khả năng đâm chồi và chất lượng cây chồi Cần bảo đảm gốc chặt không bị nứt, “xước râu tôm”, bong vỏ Gốc chặt cần được sửa sang sau khai thác để tránh sâu, nấm xâm nhập [25]

Phạm Xuân Hoàn (2013) đã nói đến vấn đề tái sinh chồi gốc Cây chồi gốc tái sinh được phát triển từ chồi ngủ Chồi ngủ là chồi có sẵn trong cấu tạo thứ cấp của thân cây Thông thường các chồi ngủ này bị ức chế bởi dòng auxin từ trên tán cây đưa xuống gốc Sau khi chặt (hoặc cây bị uốn cong) các chồi ngủ được giải phóng khỏi sự ức chế đó và hình thành cây chồi Chồi ngủ

có thể có ở mọi tầm cao của thân cây nên nếu chặt sát mặt đất, chồi gốc có thể sinh ra hệ rễ mới và trở thành cây độc lập khi gốc chặt bị mục thối Do chồi

Trang 30

gốc phát triển từ chồi ngủ nên có ý nghĩa quan trọng trong phương thức tái

sinh rừng chồi [26]

Lê Đình Phương (2014) cho thấy ở các tuyến điều tra đã phát hiện Giổi tái sinh chồi từ gốc chặt rất tốt Tất cả các gốc chặt đều có cây chồi tái sinh Ở một số gốc chặt sau 3 năm cây chồi đã cao đến 3 m Điều này cho thấy khả năng tái sinh chồi của Giổi ăn quả là rất tốt, mở ra triển vọng trong việc nhân giống Giổi ăn quả bằng phương pháp giâm hom và xúc tiến tái sinh chồi cho loài cây trồng này [37]

Kiều Tuấn Đạt (2014) khi nghiên cứu tái sinh chồi ở trạm Thực nghiệm

Lâm nghiệp Thạnh Hóa - Long An cho 5 xuất xứ Tràm là Melaleuca

leucadendra (Weipa Queenland), Melaleuca leucadendra (Cambridge G

Western As), Melaleuca leucadendra (Bensbach, Papua New Guinea),

Melaleuca leucadendra (Kuru, Papua New Guinea) và Melaleuca cajuputi

(Tịnh Biên – An Giang) ở mật độ trồng 6.667 cây/ha, 10.000 cây/ha, 20.000 cây/ha và 40.000 cây/ha sau 7 năm khai thác trắng Kết quả cho thấy: xuất xứ Tràm Úc Cambridge G Western As (1206) và Tràm ta Tịnh Biên – An Giang (7V05) ở mật độ trồng từ 10.000 - 20.000 cây/ha, để chừa lại 2 chồi sẽ đem lại hiệu quả tối ưu trong kinh doanh rừng chồi sau khai thác trắng [16]

Tóm lại: đã có một số công trình nghiên cứu nói về tái sinh chồi gốc,

tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về các kỹ thuật nuôi dưỡng chồi gốc sau khai thác đối với cây Bời lời đỏ tại Tây Nguyên nói chung và tại Gia Lai nói riêng

1.3 Thảo luận

Qua các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước ở trên cho thấy:

- Cây Bời lời đỏ đã có một số nghiên cứu, song còn tản mạn, thiếu tính

hệ thống Một số nghiên cứu đã được thực hiện: trồng rừng theo hướng nông lâm kết hợp, đánh giá hiệu quả kinh tế, môi trường mà chưa có nghiên cứu cụ

Trang 31

thể về các biện pháp kỹ thuật nuôi dưỡng tái sinh chồi để rút ngắn chu kỳ kinh doanh, tăng năng suất và hiệu quả rừng trồng Mặc dù Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (năm 2006) đã ban hành quy trình kỹ thuật trồng Bời lời

đỏ, tuy nhiên chưa có hướng dẫn cụ thể về các kỹ thuật nuôi dưỡng chồi sau khai thác

- Các nghiên cứu về loài cây này trong thời gian qua chủ yếu tập trung vào mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái và tổng kết kỹ thuật gây trồng Đây là loài cây bản địa, đa mục đích và có phân bố tự nhiên khá rộng ở Gia Lai Thời gian vừa qua, người dân địa phương tại một số huyện ở Gia Lai đã tập trung gây trồng, phát triển cây Bời lời và nó được biết đến như là cây xóa đói giảm nghèo, thậm chí còn là cây làm giàu cho nhiều hộ gia đình người dân tộc thiểu

số tại địa phương

- Một số công trình nghiên cứu đã xác định mật độ cây tái sinh có nguồn gốc từ chồi, tuy nhiên chưa phân biệt rõ chồi gốc, chồi thân hay các loại chồi khác Chưa có công trình nào nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật nuôi dưỡng tái sinh chồi gốc để rút ngắn chu kỳ kinh doanh, tăng năng suất và hiệu quả rừng trồng, trong đó có cây Bời lời đỏ

Từ những phân tích trên, nghiên cứu này nhằm góp phần cung cấp thông tin để giải quyết những tồn tại đó trong thực tiễn kinh doanh cây Bời lời

đỏ tại Gia Lai nói riêng và vùng Tây Nguyên nói chung

Trang 32

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Tổng kết, đánh giá được các kỹ thuật trồng Bời lời đỏ phổ biến tại địa phương

- Xác định được một số kỹ thuật tái sinh rừng chồi Bời lời đỏ

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: loài cây Bời lời đỏ (Litsea glutinosa)

- Phạm vi nghiên cứu: đề tài được nghiên cứu tại hai huyện Chư Păh và

Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Tổng kết, đánh giá các biện pháp kỹ thuật nhân giống, gây trồng, khai thác Bời lời đã và đang áp dụng tại địa phương

- Tổng kết kỹ thuật nhân giống (hạt, hom, tách chồi)

- Tổng kết kỹ thuật gây trồng Bời lời đỏ

- Tổng kết kỹ thuật khai thác, sơ chế và bảo quản sản phẩm (vỏ, lá, quả )

2.3.2 Nghiên cứu một số kỹ thuật tái sinh và nuôi dưỡng rừng chồi Bời lời

- Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật chặt khai thác tới sinh trưởng chồi (phương thức chặt, chiều cao gốc chặt, số chồi để lại/gốc, tuổi cây lúc khai thác)

- Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến sinh trưởng chồi

- Đề xuất kỹ thuật tái sinh và nuôi dưỡng rừng chồi Bời lời đỏ

2.3.3 Đánh giá sinh trưởng của Bời lời trong các mô hình kinh doanh tại địa phương

- Đánh giá một số kỹ thuật khai thác lần đầu để tái sinh chồi

- Đánh giá sinh trưởng của Bời lời trong mô hình kinh doanh rừng chồi

- Đánh giá sinh trưởng của cây Bời lời trồng từ hạt

- So sánh sinh trưởng của cây chồi có tuổi chồi tương đương với tuổi cây trồng từ hạt

Trang 33

2.3.4 Nghiên cứu bổ sung hướng dẫn kỹ thuật trồng Bời lời đỏ

- Một số hạn chế của bản hướng dẫn kỹ thuật hiện hành

- Bổ sung hướng dẫn kỹ thuật trồng Bời lời đỏ tại địa phương

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa các tài liệu có liên quan

- Thu thập các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương

- Kế thừa các các tài liệu, số liệu có liên quan tới các biện pháp kỹ thuật thu hái hạt giống, xử lý hạt giống, gieo ươm, nhân giống, trồng rừng tới khai thác, sơ chế, bảo quản, sử dụng và bán sản phẩm

- Kế thừa phương pháp nghiên cứu trong nội dung: nghiên cứu một số

kỹ thuật tái sinh và nuôi dưỡng chồi của đề tài “Nghiên cứu chọn giống và kỹ

thuật gây trồng cây Sơn huyết và Bời lời cho vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên” của Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam giai đoạn 2012 – 2016

2.4.2 Phương pháp điều tra chi tiết

2.4.2.1 Tổng kết, đánh giá các biện pháp kỹ thuật nhân giống, gây trồng, khai thác Bời lời đã và đang áp dụng tại địa phương

Với nội dung này, các phương pháp nghiên cứu sau đã được thực hiện:

- Điều tra khảo sát tại hiện trường: đo đếm và quan sát trực tiếp tại hiện trường kết hợp với phỏng vấn các bên có liên quan: nhà quản lý, nhà sản xuất (người dân), nhà kinh doanh, người sử dụng về kỹ thuật thu hái hạt giống, xử

lý hạt giống, gieo ươm, nhân giống, trồng rừng tới khai thác, sơ chế, bảo quản, sử dụng và bán sản phẩm Điều tra kiến thức bản địa, sử dụng phương pháp điều tra nhanh nông thôn RRA lập phiếu điều tra và phỏng vấn các hộ dân trong khu vực nghiên cứu Mỗi huyện phỏng vấn 30 hộ

- Trên cơ sở tổng hợp kết quả điều tra để tổng kết lại các biện pháp kỹ thuật đã và đang áp dụng về nhân giống, gây trồng và khai thác Bời lời tại khu vực nghiên cứu

Trang 34

Kết quả điều tra được ghi vào mẫu biểu trong phụ biểu 01

2.4.2.2 Nghiên cứu một số kỹ thuật tái sinh và nuôi dưỡng chồi Bời lời

Áp dụng một số phương pháp nghiên cứu dưới đây:

(1) Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật chặt khai thác tới sinh trưởng chồi

+ Địa điểm: xã Ia Khươl, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai

+ Diện tích: 1 ha

+ Để nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật chặt khi khai thác tới sinh trưởng chồi, một số chỉ tiêu chính được nghiên cứu bao gồm: phương thức chặt, chiều cao gốc chặt, số chồi để lại/gốc chặt, tuổi cây lúc khai thác, cụ thể như sau:

Thí nghiệm 1: thí nghiệm ảnh hưởng của phương thức chặt đến sinh

trưởng chồi bao gồm:

- Phương thức chặt trắng

- Phương thức chặt chọn

Mỗi công thức thí nghiệm điều tra 100 cây, dung lượng mẫu đủ lớn n >

30 Các thí nghiệm được bố trí lặp lại 3 lần, mỗi lần lặp là 1 hàng của phương thức chặt trắng và 1 hàng của phương thức chặt chọn Tuổi cây chặt: 5 tuổi Thời điểm chặt: tháng 8 năm 2014 Trong phương thức chặt chọn thì chặt 50%, cứ 2 hàng chặt 1 hàng

Thí nghiệm 2: thí nghiệm ảnh hưởng của chiều cao gốc chặt đến sinh

trưởng chồi bao gồm:

- Chiều cao của gốc chặt là 5 cm

- Chiều cao của gốc chặt là 10 cm

Mỗi công thức thí nghiệm điều tra 100 cây, dung lượng mẫu đủ lớn n >

30 Các thí nghiệm được bố trí lặp lại 3 lần, mỗi lần lặp là 1 hàng của chiều cao của gốc chặt là 5 cm và 1 hàng của chiều cao của gốc chặt là 10 cm, 3 lần

Trang 35

lặp được xếp sát nhau Tuổi cây chặt: 5 tuổi Thời điểm chặt: tháng 8 năm

2014

Thí nghiệm 3: thí nghiệm ảnh hưởng số chồi để lại/gốc chặt đến sinh

trưởng chồi bao gồm:

- Số chồi để lại/gốc chặt là 2 chồi

- Số chồi để lại/gốc chặt là 3 chồi

Mỗi công thức thí nghiệm điều tra 100 cây, dung lượng mẫu đủ lớn n >

30 Các thí nghiệm được bố trí lặp lại 3 lần, mỗi lần lặp là 1 hàng của 2 chồi/gốc và 1 hàng của 3 chồi/gốc, 3 lần lặp được xếp sát nhau Tuổi cây chặt:

5 tuổi Thời điểm chặt: tháng 8 năm 2014

Thí nghiệm 4: thí nghiệm ảnh hưởng của tuổi cây lúc khai thác đến sinh

trưởng chồi bao gồm:

- Tuổi cây lúc khai thác là 4 tuổi

- Tuổi cây lúc khai thác là 5 tuổi

- Tuổi cây lúc khai thác là 6 tuổi

Mỗi công thức thí nghiệm điều tra 100 cây, dung lượng mẫu đủ lớn n >

30 Các thí nghiệm được bố trí lặp lại 3 lần, mỗi lần lặp là 1 hàng của tuổi cây lúc khai thác là 4 tuổi, 1 hàng của tuổi cây lúc khai thác là 5 tuổi và 1 hàng của tuổi cây lúc khai thác là 6 tuổi Thời điểm chặt: tháng 8 năm 2014

+ Đo đếm thu thập thông tin về các chỉ tiêu sinh trưởng của chồi: chiều cao vút ngọn, đường kính gốc chồi, tình hình sinh trưởng (tốt, trung bình, xấu), tình hình sâu bệnh hại

+ Phân cấp chất lượng cây theo 3 cấp:

Cây tốt: là cây có tán lá phát triển đều đặn, xanh biếc, thân tròn thẳng,

không bị khuyết tật, không bị sâu bệnh

Cây trung bình: là những cây không lệch tán, phẩm chất cây trung bình,

không có hoặc có ít khuyết tật

Trang 36

Cây xấu: là những cây cong queo, cụt ngọn hay tán lá lệch, sinh trưởng

kém, khuyết tật nhiều, bị sâu bệnh

+ Các số liệu điều tra, đo đếm vào tháng 9 năm 2015 được ghi vào mẫu

biểu trong phụ biểu 02

(2) Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến sinh trưởng chồi

+ Địa điểm: xã Ia Khươl, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai

+ Mỗi công thức thí nghiệm điều tra 100 cây, dung lượng mẫu đủ lớn n

> 30 Các thí nghiệm được bố trí lặp lại 3 lần, mỗi lần lặp là 1 hàng của công thức 1; 1 hàng của công thức 2; 1 hàng của công thức 3 và 1 hàng của công thức 4 Ngăn cách giữa các công thức là 1 hàng cây không đo (để tránh trường hợp khi bón phân, phân bị trôi từ hàng này sang hàng khác, gây ảnh hưởng đến độ chính xác của kết quả thí nghiệm) Các công thức thí nghiệm được xếp sát nhau Thời điểm chặt: tháng 01 năm 2014

+ Đo đếm thu thập thông tin về các chỉ tiêu sinh trưởng của chồi: chiều cao vút ngọn, đường kính gốc của chồi, tình hình sinh trưởng (tốt, trung bình, xấu), tình hình sâu bệnh hại

Trang 37

+ Phân cấp chất lượng cây theo 3 cấp:

Cây tốt: là cây có tán lá phát triển đều đặn, xanh biếc, thân tròn thẳng,

không bị khuyết tật, không bị sâu bệnh

Cây trung bình: là những cây không lệch tán, phẩm chất cây trung bình,

không có hoặc có ít khuyết tật

Cây xấu: là những cây cong queo, cụt ngọn hay tán lá lệch, sinh trưởng

kém, khuyết tật nhiều, bị sâu bệnh

+ Các số liệu điều tra, đo đếm vào tháng 9 năm 2015 được ghi vào mẫu

biểu trong phụ biểu 02

(3) Đề xuất kỹ thuật tái sinh và nuôi dưỡng rừng chồi Bời lời đỏ

Tổng hợp lại các kết quả của nội dung nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật chặt khai thác tới sinh trưởng chồi và nội dung nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến sinh trưởng chồi, đưa ra kết luận

2.4.2.3 Đánh giá sinh trưởng của Bời lời trong các mô hình kinh doanh tại địa phương

Nội dung này được áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

(1) Đánh giá một số kỹ thuật khai thác lần đầu để tái sinh chồi

Ở các khu vực mới khai thác Bời lời, chọn ra mô hình của các hộ có tính đại diện về chất lượng sinh trưởng của cây Bời lời trước khi khai thác để lập OTC nghiên cứu

Để thực hiện nội dung này, lập 3 OTC, diện tích OTC là 500 m2

Trong OTC: điều tra một số chỉ tiêu chính như: phương thức trồng, mật

độ trồng, đường kính gốc chặt (cm), chiều cao gốc chặt (cm), phương thức khai thác, tuổi cây khi khai thác…

(2) Đánh giá sinh trưởng của Bời lời trong mô hình kinh doanh rừng chồi

Trang 38

Ở các mô hình kinh doanh rừng chồi Bời lời, qua thảo luận với lãnh đạo và người dân địa phương, chọn ra mô hình của các hộ có tính đại diện về chất lượng sinh trưởng của cây trồng để lập OTC nghiên cứu

Ở mỗi cỡ tuổi của cây Bời lời tái sinh chồi lập 3 OTC, diện tích OTC là

100 m2 (do số lượng cây tái sinh chồi trong OTC lớn)

Trong OTC: điều tra về mật độ, đo đường kính ngang ngực (D1.3), chiều cao vút ngọn (Hvn)

(3) Đánh giá sinh trưởng của cây Bời lời trồng từ hạt

Ở các mô hình kinh doanh rừng Bời lời (trồng từ hạt), qua thảo luận với lãnh đạo và người dân địa phương, chọn ra mô hình của các hộ có tính đại diện về chất lượng sinh trưởng của cây trồng để lập OTC nghiên cứu

Ở mỗi cỡ tuổi của cây Bời lời đỏ trồng từ hạt lập 3 OTC, diện tích OTC

so sánh chính gồm mật độ, đường kính ngang ngực và chiều cao vút ngọn

2.4.2.4 Nghiên cứu bổ sung hướng dẫn kỹ thuật trồng Bời lời đỏ

- Sử dụng phương pháp so sánh bản hướng dẫn kỹ thuật hiện hành với các nội dung mà đề tài nghiên cứu

- Tham khảo ý kiến chuyên gia và các hộ trồng Bời lời điển hình; tổng hợp, đưa ra kết luận

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu thu thập được tổng hợp thành các bảng biểu

Trang 39

- Số liệu đo đếm trước khi đưa vào phân tích được kiểm tra lại nhằm loại bỏ các sai số nghi ngờ không hợp lý trong quá trình đo đếm Sau khi loại

bỏ các sai số thô, tiến hành tính toán xử lý nội nghiệp

- Trên cơ sở phân tích, tổng hợp các tài liệu đã thu thập được, xử lý tính toán các số liệu điều tra tại hiện trường gây trồng Bời lời ở các địa phương bằng các phần mềm thống kê chuyên dụng (Excel, SPSS), đảm bảo độ chính xác cho phép Cùng với kết quả thu được từ nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật chặt khai thác và chế độ chăm sóc (bón phân, xới vun gốc) tới sinh trưởng chồi của Bời lời Căn cứ kết quả tính toán có thể rút ra công thức về kỹ thuật chặt khi khai thác và chế độ chăm sóc tốt nhất cho sinh trưởng chồi của cây Bời lời Tham khảo thêm ý kiến của các chuyên gia để bổ sung hướng dẫn

kỹ thuật gây trồng Bời lời tại một số huyện thuộc tỉnh Gia Lai

Trang 40

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên

- Phía Bắc và phía Tây giáp tỉnh Kon Tum

- Phía Nam giáp các huyện Ia Grai, Chư Sê và thành phố Pleiku

- Phía Đông giáp các huyện Kbang và Mang Yang

Hình 3.1 Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu

Ngày đăng: 01/09/2017, 16:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp &amp; Phát triển nông thôn (2006), Đề án bảo tồn và phát triển LSNG giai đoạn 2006-2020, Quyết định số 2366/QĐ/BNN-LN ngày 17/8/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án bảo tồn và phát triển LSNG giai đoạn 2006-2020
Tác giả: Bộ Nông nghiệp &amp; Phát triển nông thôn
Năm: 2006
2. Bộ Nông nghiệp &amp; Phát triển nông thôn (2006), Tiêu chuẩn công nhận giống cây trồng lâm nghiệp, Tiêu chuẩn ngành 04 TCN 147 - 2006 (Ban hành kèm theo Quyết định số 4106/QĐ/BNN-KHCN ngày 29/12/2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn công nhận giống cây trồng lâm nghiệp
Tác giả: Bộ Nông nghiệp &amp; Phát triển nông thôn
Năm: 2006
3. Bộ Nông nghiệp &amp; Phát triển nông thôn (2006), Quy trình kỹ thuật trồng Bời lời đỏ, tiêu chuẩn ngành số 04TCN 141-2006, Quyết định số 4108/QĐ/BNN-KHCN, ngày 29/12/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình kỹ thuật trồng Bời lời đỏ
Tác giả: Bộ Nông nghiệp &amp; Phát triển nông thôn
Năm: 2006
4. Đỗ Huy Bích &amp; cộng sự (2003), Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập I, NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội, trang 266-267 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Huy Bích &amp; cộng sự
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội
Năm: 2003
5. Nguyễn Ngọc Bình (2004), Cẩm nang ngành lâm nghiệp, chương Chọn loài cây ưu tiên cho các chương trình trồng rừng tại Việt Nam, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội, trang 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang ngành lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bình
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2004
6. Ngô Văn Cầm, Nguyễn Toàn Thắng, Nguyễn Bá Văn (2012), Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên rừng Dẻ anh (Castanopsis piriformis Hickel&amp; A. camus) tại Lâm Đồng, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên rừng Dẻ anh (Castanopsis piriformis "Hickel & A. camus") tại Lâm Đồng
Tác giả: Ngô Văn Cầm, Nguyễn Toàn Thắng, Nguyễn Bá Văn
Năm: 2012
7. Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000), Thực vật rừng, Giáo trình Đại học Lâm nghiệp, NXB Nông nghiệp Hà Nội, trang 101-102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực vật rừng
Tác giả: Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
8. Nguyễn Bá Chất (1994), Trồng Bời lời nhớt, Tạp chí Lâm nghiệp (số 7), trang 12-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Bá Chất
Năm: 1994
9. Nguyễn Bá Chất (1999), Sồi phảng, loài cây trồng bổ sung trong khoanh nuôi phục hồi rừng, Tạp chí Lâm nghiệp (số 8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Bá Chất
Năm: 1999
11. Trần Văn Con (2001), Nghiên cứu bổ sung nhằm xác định một số loài cây trồng chính phục vụ trồng rừng sản xuất vùng Bắc Tây Nguyên. Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ Lâm nghiệp giai đoạn 1996-2000.NXB Nông nghiệp Hà Nội, trang 88-99 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bổ sung nhằm xác định một số loài cây trồng chính phục vụ trồng rừng sản xuất vùng Bắc Tây Nguyên
Tác giả: Trần Văn Con
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
12. Cục Lâm nghiệp (2007), Ban hành 24 bản hướng dẫn kỹ thuật thuộc lĩnh vực trồng rừng của Dự án KFW6, Quyết định số 1103/QĐ-LN-PTR ngày 30/7/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban hành 24 bản hướng dẫn kỹ thuật thuộc lĩnh vực trồng rừng của Dự án KFW6
Tác giả: Cục Lâm nghiệp
Năm: 2007
13. Cục Lâm nghiệp (2007), Phê duyệt suất đầu tư gieo ươm, suất đầu tư trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh thuộc Dự án Khôi phục rừng và quản lý rừng bền bền vững tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên – KfW6, Quyết định số 1291/QĐ-LN-PTR ngày 30/8/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê duyệt suất đầu tư gieo ươm, suất đầu tư trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh thuộc Dự án Khôi phục rừng và quản lý rừng bền bền vững tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên – KfW6
Tác giả: Cục Lâm nghiệp
Năm: 2007
14. Lê Thị Diên &amp; cộng sự (2010), Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh của loài Re hương (Cinnamomum parthenoxylon) tại Vườn quốc gia Bạch Mã, Tạp chí khoa học Đại học Huế, (số 63) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cinnamomum parthenoxylon") tại Vườn quốc gia Bạch Mã, "Tạp chí khoa học Đại học Huế
Tác giả: Lê Thị Diên &amp; cộng sự
Năm: 2010
15. Lê Thị Diên &amp; cộng sự (2012), Kỹ thuật gây trồng một số loài cây đặc sản rừng, NXB Nông nghiệp Hà Nội, trang 42-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật gây trồng một số loài cây đặc sản rừng
Tác giả: Lê Thị Diên &amp; cộng sự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2012
16. Kiều Tuấn Đạt (2014), Nghiên cứu tái sinh chồi trên một số xuất xứ Tràm (malaleuca sp.) sau khai thác trắng tại trạm Thực nghiệm Lâm nghiệp Thạnh Hóa – Long An, Báo cáo tổng kết dự án, đề tài, nhiệm vụ Khoa học công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tái sinh chồi trên một số xuất xứ Tràm (malaleuca sp.) sau khai thác trắng tại trạm Thực nghiệm Lâm nghiệp Thạnh Hóa – Long An
Tác giả: Kiều Tuấn Đạt
Năm: 2014
17. Nguyễn Văn Định (1985), Triển vọng tái sinh rừng chồi Mỡ phục vụ nguyên liệu gỗ mỏ, Tạp chí Lâm nghiệp (số 5), trang 33-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Định
Năm: 1985
18. Trần Văn Đức (2007), Nghiên cứu tập quán canh tác của đồng bào Băhnar làm cơ sở xây dựng các biện pháp phát triển lâm nghiệp xã hội ở xã Ayun, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai, báo cáo đề tài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tập quán canh tác của đồng bào Băhnar làm cơ sở xây dựng các biện pháp phát triển lâm nghiệp xã hội ở xã Ayun, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai
Tác giả: Trần Văn Đức
Năm: 2007
19. Võ Đại Hải (2010), Kỹ thuật gây trồng một số loài cây lâm nghiệp vùng Tây Nguyên, NXB Nông nghiệp Hà Nội, trang 40-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật gây trồng một số loài cây lâm nghiệp vùng Tây Nguyên
Tác giả: Võ Đại Hải
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2010
20. Võ Đại Hải (2010), Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên loài Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) ở các trạng thái rừng tự nhiên phục hồi tại huyện Lục Ngạn và Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên loài Vối thuốc (Schima wallichii "Choisy") ở các trạng thái rừng tự nhiên phục hồi tại huyện Lục Ngạn và Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Võ Đại Hải
Năm: 2010
21. Trần Ngọc Hải, Nguyễn Việt Khoa (2007), Bời lời đỏ, NXB Lao động, trang 5-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bời lời đỏ
Tác giả: Trần Ngọc Hải, Nguyễn Việt Khoa
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình vẽ  Tên hình vẽ  Trang - Nghiên cứu kỹ thuật trồng và tái sinh chồi cây bời lời đỏ (litsea glutinosa) tại một số huyện thuộc tỉnh gia lai
Hình v ẽ Tên hình vẽ Trang (Trang 8)
Hình  trái  xoan  thuôn,  ngoài  có  phủ - Nghiên cứu kỹ thuật trồng và tái sinh chồi cây bời lời đỏ (litsea glutinosa) tại một số huyện thuộc tỉnh gia lai
nh trái xoan thuôn, ngoài có phủ (Trang 13)
Hình 3.1. Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu kỹ thuật trồng và tái sinh chồi cây bời lời đỏ (litsea glutinosa) tại một số huyện thuộc tỉnh gia lai
Hình 3.1. Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu (Trang 40)
Hình 4.1. Một số hình ảnh về kỹ thuật nhân giống - Nghiên cứu kỹ thuật trồng và tái sinh chồi cây bời lời đỏ (litsea glutinosa) tại một số huyện thuộc tỉnh gia lai
Hình 4.1. Một số hình ảnh về kỹ thuật nhân giống (Trang 48)
Bảng 4.1. Kỹ thuật gây trồng cây Bời lời đỏ - Nghiên cứu kỹ thuật trồng và tái sinh chồi cây bời lời đỏ (litsea glutinosa) tại một số huyện thuộc tỉnh gia lai
Bảng 4.1. Kỹ thuật gây trồng cây Bời lời đỏ (Trang 49)
Bảng 4.2. Kỹ thuật khai thác cây Bời lời đỏ - Nghiên cứu kỹ thuật trồng và tái sinh chồi cây bời lời đỏ (litsea glutinosa) tại một số huyện thuộc tỉnh gia lai
Bảng 4.2. Kỹ thuật khai thác cây Bời lời đỏ (Trang 52)
Hình 4.2. Một số hình ảnh về kỹ thuật khai thác  4.1.3.2. Kỹ thuật khai thác lần đầu để nuôi dưỡng chồi - Nghiên cứu kỹ thuật trồng và tái sinh chồi cây bời lời đỏ (litsea glutinosa) tại một số huyện thuộc tỉnh gia lai
Hình 4.2. Một số hình ảnh về kỹ thuật khai thác 4.1.3.2. Kỹ thuật khai thác lần đầu để nuôi dưỡng chồi (Trang 54)
Hình 4.3. Ảnh hưởng của phương thức khai thác chọn (a) và - Nghiên cứu kỹ thuật trồng và tái sinh chồi cây bời lời đỏ (litsea glutinosa) tại một số huyện thuộc tỉnh gia lai
Hình 4.3. Ảnh hưởng của phương thức khai thác chọn (a) và (Trang 56)
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của phương thức chặt  đến sinh trưởng cây chồi 13 tháng tuổi - Nghiên cứu kỹ thuật trồng và tái sinh chồi cây bời lời đỏ (litsea glutinosa) tại một số huyện thuộc tỉnh gia lai
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của phương thức chặt đến sinh trưởng cây chồi 13 tháng tuổi (Trang 57)
Hình 4.4. Ảnh hưởng của chiều cao gốc chặt 10 cm (a) và - Nghiên cứu kỹ thuật trồng và tái sinh chồi cây bời lời đỏ (litsea glutinosa) tại một số huyện thuộc tỉnh gia lai
Hình 4.4. Ảnh hưởng của chiều cao gốc chặt 10 cm (a) và (Trang 59)
Hình 4.5. Ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến  sinh trưởng của cây chồi 20 tháng tuổi  Vun đất vào gốc cây: quá trình làm cỏ, xới đất thường kết hợp với vun - Nghiên cứu kỹ thuật trồng và tái sinh chồi cây bời lời đỏ (litsea glutinosa) tại một số huyện thuộc tỉnh gia lai
Hình 4.5. Ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến sinh trưởng của cây chồi 20 tháng tuổi Vun đất vào gốc cây: quá trình làm cỏ, xới đất thường kết hợp với vun (Trang 67)
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến - Nghiên cứu kỹ thuật trồng và tái sinh chồi cây bời lời đỏ (litsea glutinosa) tại một số huyện thuộc tỉnh gia lai
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến (Trang 68)
Hình 4.6. Kỹ thuật khai thác để tái sinh chồi - Nghiên cứu kỹ thuật trồng và tái sinh chồi cây bời lời đỏ (litsea glutinosa) tại một số huyện thuộc tỉnh gia lai
Hình 4.6. Kỹ thuật khai thác để tái sinh chồi (Trang 73)
Hình 4.7. Cây tái sinh chồi Bời lời - Nghiên cứu kỹ thuật trồng và tái sinh chồi cây bời lời đỏ (litsea glutinosa) tại một số huyện thuộc tỉnh gia lai
Hình 4.7. Cây tái sinh chồi Bời lời (Trang 74)
Hình 4.8. Cây Bời lời trồng từ hạt - Nghiên cứu kỹ thuật trồng và tái sinh chồi cây bời lời đỏ (litsea glutinosa) tại một số huyện thuộc tỉnh gia lai
Hình 4.8. Cây Bời lời trồng từ hạt (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm