1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kết cấu, luật thi, tứ thơ,ngôn ngữ, nhan đề vào dạy học tác phẩm thơ đường trong chương trình ngữ văn 10 nhằm kích thích hứng thú học tập của học sinh

21 290 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 201 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số cơ sở lí thuyết và thực tiễn về những hình thức sử dụngnhững nguyên lí: Kết cấu, luật thi, ngôn ngữ, tứ thơ, nhan đề vào việc dạy thơ Đờng nhằm kích thích hứng thú học tập của học

Trang 1

1 Một số cơ sở lí thuyết và thực tiễn về những hình thức sử dụng

những nguyên lí: Kết cấu, luật thi, ngôn ngữ, tứ thơ, nhan đề vào việc

dạy thơ Đờng nhằm kích thích hứng thú học tập của học sinh Lớp

10

4

2 Quan điểm cơ bản về phơng thức sử dụng các nguyên lí: Kết cấu,

luật thi, tứ thơ, ngôn ngữ, nhan đề vào dạy học thơ Đờng trong chơng

trình Ngữ văn 10 nhằm kích thích hứng thú học của học sinh

11

1 Thử xây dựng hệ thống các nguyên lí cho một tác phẩm cụ thể

trong chơng trình Ngữ văn lớp 10

12

A ĐẶT VẤN Đấ̀

I LỜI MỞ ĐẦU:

viợ̀c lớn của sự kinh tờ́”.

Đúng vọ̃y, dạy học mụn Ngữ văn trong Nhà trường THPT, đặc biợ̀tphõ̀n thơ Đường thực sự là mụ̣t vṍn đờ̀ khó Khó đụ́i với cả người dạyvà khó với cả người học Cái khó đụ́i với giáo viờn dạy văn là làm saotrong giờ học có thờ̉ tạo ra bõ̀u khụng khí văn chương Sẽ tẻ nhạt nờ́ugiờ học văn chỉ là mụ̣t giờ truyờ̀n đạt kiờ́n thức đơn thuõ̀n, thõ̀y nói tròghi, khụng khác gì giờ học Chính trị và như vọ̃y mụn văn đã bị thủ tiờutính nghợ̀ thuọ̃t mụ̣t cách khụng tuyờn bụ́ cho nờn những năm gõ̀n đõy sụ́học sinh yờu thích mụn văn khụng nhiờ̀u Do vọ̃y đờ́n lúc này chúng ta

Trang 2

phải coi trọng dạy học môn Ngữ văn vừa là một môn nghệ thuật phảilàm sao để tổ chức hướng dẫn học sinh cảm nhận được văn học nghệthuật có tác động mạnh mẽ đến con người, cái đẹp đánh thức ở mỗi conngười niềm mong muốn trở nên cao đẹp hơn, sống ngày càng tốt đẹphơn, có niềm tin và thực sự hăng say qua việc cảm thụ trực tiếp các tácphẩm Văn chương, văn học có khả năng giáo dục đạo đức, nhân cách,thẩm mỹ cho người đọc Bởi vậy để làm được điều này bên cạnh nhữngbiện pháp khởi động giờ học, giảng giải, giảng bình kết thúc giờ học tấtyếu phải dựa vào hệ thống những nguyên lí của thơ Đường Hiện nayđổi mới phương pháp giảng dạy trong bộ môn Ngữ văn đang là vấn đềcấp thiết nóng hổi Trong đó xây dựng được hệ thống câu hỏi tiếp cậnmảng thơ Đường là rất khó làm sao vừa đảm bảo tính khoa học, vừađảm bảo tính nghệ thuật, tạo hứng thú cho học sinh từng bước đi sâuvào cảm thụ tác phẩm thơ Đường như bóc dần từng cánh hoa để tìmthấy nhụy hoa là một yêu cầu mang tính quyết định tới sự thành bại củagiờ dạy văn học nói chung và giơ dạy thơ Đường nói riêng.

II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ

1 Thực trạng.

Như chúng ta đã biết trường THPT Thạch Thành IV là một trongtổng số 105 trường THPT trong tỉnh Thanh Hóa huyện Thạch Thành làmột trong 23 huyện Miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Thanh Hóa Đờisống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, dân trí cũng còn thấp cho nên việcgiáo dục còn gặp nhiều khó khăn Vấn đề vận động học sinh đi học đãkhó, khó hơn là làm sao cho học sinh say mê học, đặc biệt là học mônvăn Trường THPT Thạch Thành IV là trường mới thành lập cơ sở vậtchất còn thiếu thốn, đối tượng học sinh chủ yếu ở 6 xã vùng 135 trongđó có 4 xã Thạch Tượng, Thạch Lâm, Thành Mỹ và Thành Yên thuộcdiện đặc biệt khó khăn Đội ngũ giáo viên mới ra trường tuổi đời cònnon trẻ, kinh nghiệm giảng dạy chưa có nên vấn đề dạy và học là mộtvấn đề còn nan giải, đặc biệt là dạy phần thơ Đường làm sao để cho họcsinh yêu thích và hứng thú học là điều rất khó đối với giáo viên dạyvăn nói riêng, với giáo viên dạy các môn khác nói chung bởi vì lâu naytrong tiềm thức của các em nghĩ thơ Đường là rất khó Cho nên đã dẫnđến trong những năm gần đây số học sinh yêu thích môn văn khôngnhiều, đa số các em ngại học văn, thờ ơ với môn Ngữ văn cho dù các em

Trang 3

nhận thức được vai trò bổ trợ to lớn và thiết thực của văn học trong họctập cũng như trong cuộc sống.

Xuất phát từ tình hình khó khăn nói trên tôi đã mạnh dạn ápdụng phương pháp dạy học văn của tác giả Phan Trọng Luận Trongcuốn sách này tác giả đã tập trung vào nghiên cứu về mặt lý thuyết kháhệ thống tuy nhiên tác giả mới giải quyết vấn đề ở góc độ vĩ mô chungcho tất cả các cấp học Bởi vậy tôi đã chọn đề tài “Sử dụng những nguyên lí: Kết cấu, luật thi, tứ thơ, ngôn ngữ, nhan đề vào dạy học tác phẩm thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 10 nhằm kích thích hứng thú học tập của học sinh ” để nghiên cứu và cũng là gópthêm một tiếng nói tâm huyết vào hoạt động dạy học môn Ngữ văntheo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học

2 Kết quả và hiệu quả của thực trạng trên

Khi xây dựng đề tài này trên những định hướng chung về mặt phươngpháp của các tác giả, bản thân tôi mạnh dạn vận dụng kế thừa những kết quảđã đạt được của họ để đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu những nguyên lí củathơ Đường nhằm áp dụng cụ thể vào cấp học và tập chung vào việc thử xâydựng cho một giờ dạy tác phẩm cụ thể trong chương trình Ngữ văn lớp 10

Trong đề tài này phạm vi nghiên cứu của tôi giới hạn ở việc: Chỉ sửdụng những nghuyên lí: Kết câu, luật thi, tứ thơ, ngôn ngữ, nhan đề vào việcdạy học thơ Đường trong chương trình Ngư văn lớp 10 Trong đó chọn tácphẩm tiêu biểu trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 để thử xây dựng hệ thốngcâu hỏi dựa trên những nguyên lí nhằm giúp học sinh cảm thụ hiệu quả vănbản thơ Đường Sau đó tiến hành dạy thử hai tiết thực nghiệm ở bốn lớp nhắmđánh giá được hiệu quả khi sử dụng những nghuyên lí này

K t qu i u tra, kh o sát n ng l c h c t p c a h c sinh.ả điều tra, khảo sát năng lực học tập của học sinh điều tra, khảo sát năng lực học tập của học sinh ều tra, khảo sát năng lực học tập của học sinh ả điều tra, khảo sát năng lực học tập của học sinh ăng lực học tập của học sinh ực học tập của học sinh ọc tập của học sinh ập của học sinh ủa học sinh ọc tập của học sinh

STT Năng lực học tâp của học sinh

1 Xác định đúng kết cấu bài thơ

luật thi gồm ngũ luật, thất luật

2 Xác định đúng kết cấu bài thơ

tứ tuyệt

3 Nhận biết được niêm thơ và

luật bằng trắc

4 Khai thác bài thơ dựa vào tìm 18,5% 20,8% 17,3% 14,8%

Trang 4

hiểu luật đối

5 Nhận biết được vần trong thơ

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Một số cơ sở lý thuyết và thực tiễn về những hình thức sử dụng những nguyên lí: Kêt cấu, luật thi, ngôn ngữ, tứ thơ, nhan đề vao việc dạy thơ Đường nhằm kích thích hứng thú học của học sinh

Trên cơ sở tiếp thu những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trướcvà nhất là những tìm tòi đã được khẳng định của tác giả Nguyễn Bích Hải,bản thân tôi có thể hình dung và xác định được một hệ thống về mặt lý thuyếtvà thực tiễn như sau:

1.1 Khai thác bài thơ Đường từ việc tìm hiểu kết cấu.

1.1.1 Tìm hiểu kết cấu bài thơ luật thi

Luật thi gồm ngũ luật (8câu mỗi câu 5 chữ) và thất luật ( 8 câu mỗi câu 7 chữ ) Có một số cách phân chia bài thơ như sau:

Cách 1 : Phân tích bài thơ theo kêt cấu 4 phần đề, thực, luận, kết đồng thời

gắn cho mỗi phần một nhiệm vụ xác định Hai câu đề: Câu 1 phá đề: mở ra ýcủa bài; Câu 2 thừa đề: tiếp ý để chuyển vào thân bài; Hai câu thực: Giải thíchrõ ý đầu bài Đây là cách chia bố cục truyền thống khi phân tích bài thơĐường luật

Cách 2: Phân tích bài thơ theo hai phần kết cấu của bài thơ Mỗi một bài

thơ có 8 câu, chia làm hai phần, 4 câu đầu và 4 câu cuối tác giả Kim Thành

Thán gọi 4 câu đầu là tiền giải, 4 câu cuối là hậu giải bài luật thi gồm có hai

khía cạnh thứ nhất là cảnh sự việc, câu chuyện và thứ hai là tình cảm của tácgiả

Ví dụ : Khi dạy bài “Thu hứng” của ( Đỗ Phủ ) nhiều giáo viên đã chiabài thơ thành hai phần

1.1.2 Tìm hiểu kết cấu bài thơ tứ tuyệt.

Thơ tứ tuyệt gồm ngũ tuyệt (4 câu, mỗi câu 5 chữ) và thất tuyệt (4 câu, mỗi câu 7 chư) Tuy dung lượng câu chữ ít hơn bài thơ bát cú nhưng tự nó là một

Trang 5

kết cấu chỉnh thể có cấu trúc riêng Do vậy khi dạy loại thơ này chúng ta có thể vận dụng cách khai thác theo quá trình dàn dựng cấu tứ của bài thơ, tức là tìm hiểu theo kết cấu của nó

Theo tác giả Nguyễn Sĩ Cẩn trong mấy vấn đề phương pháp dạy học thơ cổ Việt Nam, bố cục bài thất ngôn tứ tuyệt gồm có bốn phần: khai, thừa,

chuyển, hợp Mỗi phần khai, thừa, chuyển, hợp là một câu có chức năng -Câu khai mở đầu để tạo ra “duyên cớ” để riển khai toàn bộ tứ thơ, nhưng ngay trong câu đầu đã hàm chứa nội dung, tình cảm tác giả

-Câu thừa có hai chức năng cơ bản: Cùng với câu 1 hoàn thiện một ý, và niêm liên 1 với liên 2 vừa hé lộ nội dung tư tưởng của bài thơ

- Câu chuyển là câu thứ 3 câu thơ có vị trí đặc biệt trong bài thơ tứ tuyệt nó vừa là sự chuyển của hai câu trước vừa đóng vai trò quyết định sự thành bại của bài thơ

Ví dụ: Bài thơ “Tĩnh dạ từ” của Lí Bạch có thể khai thác bài thơ theo hướng này

Ngoài ra có thể khai thác bài thơ theo mô hình kết cấu 2/2 Bởi

vì bài thơ thất ngôn tứ tuyệt được cấu tạo bởi hai liên thơ Chúng ta đã biết liên thơ là một đơn vị hết sức cơ bản của thơ luật đường Do vậy khi khai thácbài thơ dựa vào cơ sở này là điều cần thiết Nói như thế không phải cứ nhất nhất áp dụng cách giảng dạy thơ thất ngôn tứ tuyệt theo kết cấu 2/2 này Mà trong thực tiễn, trước một tác phẩm cụ thể, ta có thể vận dụng một cách linh hoạt các phương thức chiếm lĩnh để đạt hiệu quả cao trong giảng dạy Nhưng cần lưu ý khi phân tích bài thơ thất ngôn tứ tuyệt cũng phải định hướng cho học sinh chú trọng vào việc hiểu câu thơ thư 3 bởi đó là câu bản lề, trục kết nối hai phần của bài thơ đưa người đọc vào vấn đề chính yếu mà tác giả muốnđề cập

Ví dụ: Bài thơ “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” của Lí Bạch có thể khai thác theo hướng kết cấu này

1.2 Khai thác bài thơ Đường dựa vào các quy định khác của luật thi

1.2.1 Khai thác bài thơ Đường dựa vào niêm thơ và luật bằng trắc

Thơ Đường đã đúc kết kinh nghiệm quá khứ nâng lên thành luật bằng trắc

đối xứng, chính là mâu thuẫn thống nhất trong âm thanh, đối xứng càng cao

thì sự hài hoà càng lớn Nó thể hiện trước hết ở niêm thơ

1.2.1.1 Khai thác bài thơ dựa vào niêm thơ: Niêm nghĩa đen là dính, chỉ

quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau về âm luật giữa các câu theo hệ thống dọc

Trang 6

của bài thơ Trong mỗi cặp câu, tức mỗi “liên” thơ, các chữ câu số lẻ, số chẵnphải có thanh trái ngược nhau (trừ chữ thứ 5 chữ thứ 7 trong liên thơ)

Ví dụ: Bài thơ “Thu hứng” của Đỗ Phủ

“Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm

Vu sơn vu giáp khí tiêu sâm

Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng

Tái thượng phong vân tiếp địa âm”

Trong hai liên thơ trên, các chữ tương ứng ở hai câu số chẵn và câu số lẻthanh trái ngược nhau, trừ chữ thứ 3 ở liên 1 và chữ thứ 3 ở liên 2 Điều này

có thể chấp nhận được vì “ nhất, tam, ngũ bất luận- nhị, tứ, lục phân

minh”.

Trong hai cặp câu kề nhau, nhịp đi của liên trên phải khác nhịp đi củaliên dưới Muốn vậy chữ thứ 2 của câu chẵn thuộc liên trên phải cùng thanhvới chứ thứ 2 của câu lẻ thụôc liên dưới Sự giống nhau như thế về thanh đãtạo nên cái gọi là niêm vì nó đã làm cho hai câu thơ thuộc hai liên dính vàonhau Theo đó trong bài thơ thất ngôn bát cú câu 1 niêm với câu 8, câu 2 niêmvới câu 3, câu 4 niêm với câu 5, câu 6 niêm với câu 7, còn ở bài thơ thất ngôntứ tuyệt câu 1 niêm với câu 4, câu 2 niêm với câu 3

Ví dụ: Bài “Thu hứng” của Đỗ Phủ xem xét các từ thứ 2,4,6 đi dọcsuốt tác phẩm sẽ thấy:

- Liên 1: Câu 1 + câu 8

- Liên 2: Câu 2 + câu 3

- Liên 3: Câu 4 + câu5

- Liên 4: Câu 6 + câu 7

Ví dụ: Bài thơ “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” của Lí Bạch

- Liên 1: Câu 1 + câu 4

- Liên 2: Câu 2 + câu 3

1.2.1.2 Khai thác bài thơ dựa vào luật bằng trắc

Bài thơ Đường phải tuân thủ sự quy định về thanh bằng, thanh trắctrong từng câu và trong cả bài thơ theo hệ thống hàng ngang Nó quy định thểcủa bài thơ luật, muốn biết bài thơ luật bằng hay luật trắc thì phải căn cứ vàochữ thứ 2 của câu 1 Nếu chữ này thanh bằng thì bài thơ này thuộc luật bằng(và ngược lại) Trong mỗi câu xu hướng chung là các cặp bằng- trắc được bốtrí lần lượt nhau

Trang 7

Về sự xắp xếp các thanh bằng- trắc có công thức biểu diễn sự phân bốcủa từng câu cụ thể trong cả bài thơ luật thất ngôn bát cú ở dạng lí tưởng Cụthể các công thức sau:

+ Bài thơ luật bằng khởi vào vận: Chữ thứ 2 câu đầu thanh bằng, chữcuối câu thứ nhât, vần với chữ cuối câu thứ 2 Mô hình như sau:

Trang 8

Chính vì vậy khi dạy học phải xoáy sâu vào những điểm sáng nghệ thuậtnày, phân tích cho được tác dụng của nó trong việc chuyền tải tư tưởng củatác giả

Ví dụ: Trong bài thơ “ Thu hứng” của Đỗ Phủ đây là bài thơ được làmtheo luật trắc khởi vào vận (mô hình 3) Chữ thứ 2 câu 1 thanh trắc, chữ cuốicâu thứ nhất vần với chữ cuối của câu 2

Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm

Vu sơn vu giáp khí tiêu sâm

1.2.2 Khai thác bài thơ luật Đường dựa vào tìm hiểu luật đối

Trong bài thơ Đường làm theo luật đối trở thành nguyên tắc bắtbuộc, được quy định chặt chẽ, đòi hỏi phải có sự cân xứng cả thanh lẫn ý

+ Về thanh, các từ đối nhau phải cùng loại: danh từ đối với danh từ

+ Về ý: trong thơ Đường luật thanh đi đôi với ý nên khi tìm hiểu thanhthì phải luôn chú ý đến ý, khi được cả thanh lẫn ý mới đắt nếu gặp trường hợpcần giữ ý thì phải hi sinh từ Trường hợp này có thể phải đổi từ loại này với từloại kia dẫn đến hiện tượng đối không chỉnh

Ví dụ: Trong bài “Hoàng hạc lâu” Thôi Hiệu dùng từ “khứ” đốivới danh từ “lâu”

Theo nguyên tắc của luật đối, trong tác phẩm thơ luật thất ngôn bát cú thì 2liên giữa phải đối nhau, có nhà thơ sư dụng đối cả 2 liên đầu liên cuối khigiảng dạy không nên chỉ dừng lại ở việc phát hiện cách khai thác luật đối theo

Trang 9

quy định của thi nhân mà cần thiết phải lưu ý khai thác dụng ý nghệ thuật tạođiểm sáng trong sự phá cách, đồng thời định hướng cho học sinh vận dụngvốn hiểu biêt tổng hợp (kiến thức thi pháp, kiến thức ngữ pháp…) để lí giảithấu đáo hình thức nghệ thuật mà tác giả sử dụng nhằm diễn tả đắc lực nộidung ý tứ của bài thơ.

Ví dụ: Khi phân tích luật đối trong bài thơ “Hoàng Hạc lâu” nhànghiên cứu Nguyễn Khắc Phi đã có cách lí giải khá sâu sắc, hai câu thơ đầutác giả sử dụng hình thức đối thể hiện sự phá cách đầy dụng ý tái hiện thực

trong cái còn và cái mất Dùng( hoàng hạc) loài chim để đối với (Hoàng Hạc) tên lầu là một sự phá cách.

1.2.3 Tìm hiểu vần trong bài thơ Đường

Một bài thơ bát cú có năm vần Thơ Đường luật chỉ gieo được 4 Vầntrắc chỉ được dùng trong thơ cổ phong Theo quy định vần ở tác phẩm thơ luậtchỉ được đặt ở cuối câu

- Bài thất ngôn bát cú có 5 vần, vần ở các câu 1,2,4,6,8;

- Bài tuyệt cú có 3 vần ở các câu 1,2,4;

Nếu rơi vào trường hợp trốn vần thì thất ngôn bát cú 4 vần, tứ tuyệt 2 vần

Ví dụ: Bài thơ “Thu hứng” của Đỗ Phủ

Trong một bài thơ (cả thất ngôn và ngũ ngôn) có thể trốn vần(chiết vận)nhưng chỉ được phép “trốn” một vần ở câu đầu

1.3 Tìm hiểu tứ trong bài thơ Đường

Tìm hiểu tứ trong bài thơ Đường tức là tìm hiểu cảm xúc hoặc ý nghĩa hìnhảnh thơ trong baì thơ Có thể nói tứ trong bài thơ Đường luôn mới lạ độc đáo,điều này làm nên sự phong phú đa dạng trong sáng tác của các thi nhân.Chính nhờ sự sáng tạo đó mà trên một khung hình thức quy định chặt chẽ,khi cùng nói về một vấn đề nào đó, ta không hề thấy có sự lặp lại ở các tácgiả

Ví dụ: Khi viết về mùa thu, cũng là nguồn cảm xúc trước cảnh thunhưng cảm xúc của Đỗ Phủ là nỗi niềm xót xa trước cảnh thu bi thương,hoành tráng, đầy ắp âm thanh cuộc sống đời thường Còn với NguyễnKhuyến, cái gợi suy nghĩ trong ông là cảnh thu tươi tắn sắc màu của làng quêBắc Bộ Việt Nam và nỗi ưu thời mẫn thế của con người đầy trách nhiêm(Thu điếu)

Tìm hiểu bài thơ Đường dựa vào tìm hiểu tứ thơ, mục đích của chúngtôi là giúp các em nhận biết được sáng tạo của các nhà thơ trước cùng một

Trang 10

vần để hiện thực, và cho các em nhận biết được đặc điểm cách thức biểu hiệntứ thơ trong tác phẩm thơ Đường.

Trong tác phẩm thơ Đường, tứ thơ được nâng đỡ bởi ngôn ngữ hàmxúc, tinh luyện và được gửi gắm một cách kín đáo chứ không bộc lộ một cáchtrực tiếp như trong thơ hiện đại Khảo sát các bài thơ Đường chúng tôi thấytứ thơ trong bài thơ Đường thường ẩn dưới sự khái quát các mối quan hệ xưa

- nay; không gian - thời gian, tình - cảnh… Đặc biệt là mối quan hệ tình vàcảnh dùng nhiều trong khi chuyền tải tứ thơ Chính vì thế cảnh trong thơĐường là tâm cảnh, nhà thơ mượn cảnh để tả tình, mượn ngoại giới để bộc lộtâm trạng Đó chính là nét đặc sắc của thơ Đường

1.4 Khai thác bài thơ Đường dựa vào tìm hiểu ngôn ngữ thơ Lựa chọn từ ngữ công phu là dụng công của các thi nhân đặc biệt là

với các tác giả làm thơ luật Khảo sát các bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tuyệtcú, có thể thấy ngôn ngữ được các nhà thơ sử dụng hết sức tinh luyện Từ đặctrưng của tính hàm xúc trong ngôn ngữ thơ Đường, khi khai thác chúng ta cầnbám sát từ ngữ để phân tích quan trọng hơn là làm rõ dụng ý của nhà thơ khitổ chức xắp xếp câu chữ Đương nhiên đây là cách định hướng dựa trên bảnphiên âm chữ Hán bởi vì bản dịch thơ không chuyển tải hết thông tin trongnguyên tác

Ví dụ: Nêu ở chương trước về trường hợp bài (Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng) của Lí Bạch nếu bám vào bản dịch sẽgặp nguy cơ hiểu sai lệch văn bản

- Từ “Cố nhân” là (bạn cũ) lại chỉ dịch là (bạn), bạn với bạn cũ khácnhau hoàn toàn

- Từ “Cô phàm” là (cánh buồm cô đơn ) lại chỉ dịch là (bóng buồm)

nếu dịch như vậy chưa chở được cái cô đơn lẻ loi của nó

Từ thực tế này đòi hỏi giáo viên khi dạy tác phẩm thơ Đường phải giúp họcsinh nhận biết được mức độ chuyền tải nội dung trong câu thơ dịch thông quaviệc đối chiếu so sánh bản dịch thơ với bản phiên âm nguyên tác để nắm đượctinh thần tác phẩm

Một bài thơ Đường tuyệt tác luôn có ngôn ngữ đạt tới độ hàm xúc cao.Số lượng câu chữ giới hạn không hề mâu thuẫn với khả năng diễn đạt vôcùng tinh tế, phong phú Chính vì vậy khi phân tích thơ Đường, chúng ta phảihướng học sinh chú tâm vào việc nắm bắt các điển tích, điển cố, hệ thống từngữ thể hiện tư tưởng chủ đề, các hình ảnh ẩn dụ…, bởi nắm bắt được, chúng

ta có thể hiểu một cách sâu sắc các tầng ý nghĩa của bài thơ

Ngày đăng: 01/09/2017, 16:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w