Trong năm, cũng như VCB, doanh số sử dụng thẻ American Express tại Sở giao dịch cũng đạt mức tăng trưởng lớn nhất: tăng 87,3% so với năm 2004, đạt con số ấn tượng là 39,97 tỷ đồng, đứng
Trang 1Doanh số sử dụng thẻ năm 2005 đạt 778,8 tỷ đồng, tăng 20,78% so với năm 2004 Trong đó, đạt doanh số sử dụng thẻ ấn tượng nhất thuộc về thẻ American Express,với mức tăng trưởng 69,1%, mức tuyệt đối đạt 99,4 tỷ đồng so với 58,8 tỷ đồng năm 2004, đạt doanh số sử dụng trung bình 21,3 triệu/thẻ, hơn nữa, năm 2005 mới chỉ là năm thứ hai VCB phát hành thẻ American Express tiếp đến là mức tăng trưởng của thẻ Master card, với mức tăng tới 56,26% so với năm 2004, đạt số tuyệt đối 168,3 tỷ đồng So với mức tăng trưởng của toàn hệ thống, thì doanh số sử dụng thẻ tín dụng tại Sở giao dịch đạt mức tăng trưởng rất ấn tượng với mức tăng 50,15% so với năm 2004 Chiếm tỷ trọng 35,5% tổng doanh số sử dụng thẻ toàn hệ thống VCB Trong năm, cũng như VCB, doanh số sử dụng thẻ American Express tại Sở giao dịch cũng đạt mức tăng trưởng lớn nhất: tăng 87,3% so với năm 2004, đạt con
số ấn tượng là 39,97 tỷ đồng, đứng đầu hệ thống về doanh số chi tiêu qua thẻ Amex do VCB phát hành
Biểu 2.3 Tốc độ tăng trưởng doanh số sử dụng thẻ tín dụng tại Sở Giao dịch
( Nguồn: Báo cáo hoạt động dịch vụ thẻ tại Sở Giao dịch- VCB năm 2008)
Trang 22005-Doanh số sử dụng thẻ tín dụng tại Sở Giao dịch tiếp tục tăng trong các năm tiếp theo Năm 2006, doanh số tăng 11,62% so với năm 2005 Năm 2007 doanh số tăng 27,24% so với năm 2006, doanh số sử dụng thẻ tín dụng toàn
hệ thống đạt 1208,27 tỷ đồng, duy trì mức tăng 20% so với năm 2006 và tăng gần 90% so với năm 2004 Dẫn đầu mức tăng trưởng doanh số sử dụng trong những năm gần đây vẫn là thẻ Amex, luôn có mức tăng trưởng gần 100% Năm 2007, doanh số sử dụng thẻ Amex đạt 102,68 tỷ đồng so với 64,89 tỷ đồng của năm 2006 và 21,34 tỷ đồng của năm 2004
Tuy có sự tăng trưởng cao về doanh số sử dụng thẻ trong những năm qua, nhưng thẻ Amex cũng chỉ chiếm tỷ trọng bình quân gần 20% tổng doanh
số chi tiêu thẻ tín dụng Năm 2007, doanh số chi tiêu thẻ Amex của Sở Giao dịch đạt tỷ trọng cao nhất là 26,11% Trong khi đó, tuy có tốc độ tăng trưởng không cao qua các năm gần đây như thẻ Amex nhưng doanh số chi tiêu thẻ Visa vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ba loại thẻ tín dụng nói trên Năm
2007 doanh số chi tiêu thẻ Visa đạt con số 217,4 tỷ đồng chiếm 55,2% so với tổng doanh số 393,16 tỷ đồng của cả ba loại thẻ Tương tự như vậy, năm
2008, doanh số chi tiêu thẻ Visa vẫn chiếm hơn 52% trong tổng số chi tiêu thẻ tín dụng của cả ba loại thẻ
Biểu 2.4 Tỷ trọng doanh số sử dụng thẻ năm 2008 của từng loại thẻ tín dụng tại Sở Giao dịch
(Nguồn: Báo cáo hoạt động dịch vụ thẻ tại Sở Giao dịch- VCB năm
Trang 32005-Trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tín dụng của Sở Giao dịch không thể không nói đến yếu tố rủi ro thẻ tín dụng Từ năm 2005, theo khuyến cáo của TCTQT, rủi ro thẻ giả và giả mạo thẻ thông qua việc đánh
cắp dữ liệu thẻ (skimming) đang có chiều hướng gia tăng tại Việt Nam
Bảng 2.3 Tình hình rủi ro trong hoạt động phát hành thẻ tín dụng tại Sở Giao dịch
(Nguồn: Báo cáo giả mạo của Tổ chức thẻ Visa,Master,American Express và VCB 2005-2008)
Năm 2005, rủi ro thẻ của VCB chiếm 41,14% giá trị giả mạo trên cả nước Tuy nhiên nếu so với rủi tại khu vực châu Á Thái Bình Dương, rủi ro của VCB năm 2006 chỉ chiếm có 0,069% Trong đó, rủi ro thẻ giả mạo của Sở Giao dịch năm 2006 mất khoảng 25 220 USD chiếm 43,57% giá trị toàn hệ thống VCB Năm 2007, nhờ sự nỗ lực của các cán bộ trong công tác phát
Trang 4hành và quản lý rủi ro của Sở Giao dịch và VCB, rủi ro thẻ giả của toàn bộ VCB và Sở Giao dịch đều giảm trong khi rủi ro thẻ giả của toàn bộ ngân hàng Việt Nam tăng mạnh
Năm 2008, do hoạt động của các tổ chức thẻ ngày càng tinh vi, nên rủi
ro thẻ giả mạo của Sở Giao dịch lại tăng, gần gấp đôi năm 2007 chiếm 49,08% giá trị rủi ro toàn hệ thống VCB
Biểu 2.5 Tình hình giả mạo thẻ tại Sở Giao dịch giai đoạn 2005-2008
Trong các loại thẻ, rủi ro do thẻ Visa và MasterCard xảy ra tương đối thường xuyên.Thẻ Amex với đối tượng khách hàng là những người có địa vị cao trong xã hội, ĐVCNT cũng là các đơn vị lớn nên rủi ro hầu như không xảy ra
Bảng 2.4 Rủi ro phát hành tại Sở Giao dịch theo loại thẻ giả mạo
(Nguồn: Báo cáo giả mạo phòng thanh toán thẻ- Sở Giao dịch 2006-2008)
Trang 52.3 Đánh giá về phát triển dịch vụ thẻ tín dụng tại Sở Giao dịch
2.3.1 Những kết quả đạt được
Trong những năm gần đây, chiến lược kinh doanh của các NHTM đã
có những bước thay đổi mạnh mẽ Các ngân hàng đặt ra mục tiêu lớn về hoạt động kinh doanh bán lẻ VCB mà Sở Giao dịch là một đơn vị thành viên cũng đang ra sức thực hiện mục tiêu kinh doanh, chiếm lĩnh thị phần lớn trong mảng dịch vụ ngân hàng bán lẻ, đặc biệt là dịch vụ thẻ tín dụng, cụ thể :
Một là, trong những năm vừa qua, Sở Giao dịch đã góp phần cùng với
VCB khẳng định vị thế ngân hàng đứng đầu thị trường thẻ Việt Nam Dịch vụ thẻ của Sở giao dịch có sức cạnh tranh cao trên thị trường so với các ngân hàng đối thủ và son gay với cả các chi nhánh trong hệ thống VCB
Hai là, Sở Giao dịch luôn khẳng định là một trong ba chi nhánh tiên
phong và dẫn đầu về dịch vụ thẻ tín dụng trong toàn hệ thống (tỷ trọng trên dưới 30% toàn hệ thống VCB), là nơi được tập trung đầu tư công nghệ cao,
Sở giao dịch luôn là chi nhánh thử nghiệm toàn bộ hệ thống công nghệ mới về thẻ cho toàn bộ hệ thống Doanh số sử dụng của các thẻ tín dụng do Sở giao dịch phát hành luôn đứng đầu trong toàn bộ hệ thống Với mục tiêu không phát hành chạy theo số lượng, không phát hành thẻ ‘‘chết’’, chỉ phát hành cho đối tượng có nhu cầu Sở giao dịch đã thực sự phát huy được đúng tính năng của thẻ tín dụng
Ba là,dịch vụ thẻ của VCB với những sản phẩm thẻ truyền thống đa
dạng, phong phú, nhiều chủng loại Sản phẩm thẻ được phát triển trên nền tảng công nghệ cao tạo nên nhiều tiện ích và tính năng sử dụng cung cấp cho khách hàng Cơ sở mạng lưới ĐVCNT, mạng lưới máy rút tiền tự động của
Sở giao dịch không ngừng được mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ , trình độ thanh toán không ngừng được cải thiện để đáp ứng nhu cầu khách hàng (đến nay đã có 1400 máy POS trên 1600 ĐVCNT trên địa bàn Hà Nội)
Trang 6Bốn là, số lượng thẻ tín dụng và doanh số sử dụng thẻ tín dụng đều
tăng mạnh qua các năm, điều này đã góp phần tăng lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của Sở Giao dịch
Bảng 2.5 Phí thu được thông qua hoạt động phát hành thẻ tín dụng
( Nguồn : Báo cáo tình hình công tác của Sở Giao dịch từ 2006-2008)
Kể từ khi tách ra hoạt động độc lập, số lượng thẻ của Sở Giao dịch luôn tăng đều hàng năm Số phí thu đc thông qua hoạt động phát hành cũng tăng theo Tuy lượng phí phát hành chưa nhiều, nhưng cũng thể hiện được sản phẩm thẻ tín dụng của Sở Giao dịch đang dần đi vào tiềm thức của người dân Việt Nam
Bảng 2.6 Phí thu được thông qua hoạt động sử dụng thẻ của Sở Giao dịch
Trang 7Khoản phí thu được thông qua việc sử dụng thẻ của chủ thẻ so với các khoản lợi nhuận thu được từ các hoạt động tín dụng truyền thống của ngân hàng, nếu xét về trước mắt, thì hai khoản phí này chỉ là những con số khiêm tốn, nhưng nếu xét về lâu dài, các khoản phí này đều được tăng dần qua các năm, thể hiện sự phát triển của dịch vụ thẻ và chắc chắn trong tương lai sẽ đem lại khoản lợi nhuận lớn cho ngân hàng mà khoản lợi lớn nhất là đưa được thương hiệu của ngân hàng vào trong lòng công chúng, góp phần đáng kể cho
sự phát triển Kinh tế - Xã hội
Để có được kết quả như trên là do Sở giao dịch có những nhân tố tích cực thúc đẩy Sở Giao dịch là một ngân hàng lớn, có uy tín, có bề dày kinh nghiệm, được đông đảo khách hàng tin cậy Đội ngũ tin học và nghiệp vụ có trình độ cao, được đào tạo cơ bản Sở Giao dịch đã có một chiến lược kinh doanh, chiến lược công nghệ phù hợp đó là định hướng phát triển thẻ và mặt bằng công nghệ được chú trọng đầu tư
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân
2.3.2.1 Hạn chế
Một là, hoạt động Marketing giới thiệu sản phẩm còn chưa tốt Sở Giao
dịch hầu như chưa có một hoạt động Marketing độc lập nào, hầu hết phụ thuộc vào các chương trình Marketing của Hội sở chính Trong khi những hoạt động này của Hội sở chính thiếu tính chuyên nghiệp chỉ có nội dung mang tính chung chung không nêu bật được những tính năng vượt trội của các sản phẩm thẻ của VCB cũng như sự khác biệt ngay giữa các sản phẩm thẻ tín dụng của chính ngân hàng mình Việc phân đoạn thị trường, chiến lược phát triển và mở rộng thị phần đối với từng phân đoạn chưa được hoạch định cụ thể
Trang 8Hai là, hệ thống cơ sở hạ tầng chưa tương xứng, mạng lưới ĐVCNT
còn hạn chế Ngoài ra, tư tưởng “tiểu thương” của các ĐVCNT cũng gây khó
dễ cho khách hàng sử dụng thẻ để chi tiêu đó là các tư tưởng trốn thuế thông qua bán hàng không hoá đơn, thu phí cao của chủ thẻ khi chi tiêu tại ĐVCNT
Ba là, rủi ro trong thanh toán thẻ còn rất cao (1.2.2.2) trong khi kinh
nghiệm quản lý và kiểm soát còn nhiều hạn chế
Bốn là, đối tượng, phạm vi phát hành nhỏ hẹp (những đối tượng là cán
bộ từ cấp trưởng phòng trở lên của các cơ quan ban ngành, trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam), thời gian sử dụng của chủ thẻ rất ngắn (hết 2 năm phải gia hạn)
Năm là, lợi nhuận thu được từ dịch vụ thẻ tín dụng quốc tế của ngân
hàng thấp nhưng lại yêu cầu phải có một hệ thống trang thiết bị hiện đại
2.3.2.2 Nguyên nhân
Một là, thói quen dùng tiền mặt của người dân
Hai là, thu nhập bình quân trên đầu người Việt Nam thấp so với các
nước trong khu vực
Ba là, xác định phí và lãi suất, phí rút tiền mặt là 4% trên tổng số tiền
giao dịch phát sinh cộng với khoản lãi cho vay và khoản phí phát sinh (nếu có) tại nơi rút tiền đã làm cho thẻ tín dụng đắt hơn nhiều so với tiền mặt Tại thị trường Việt Nam, các cơ sở bán hàng thường tính phụ phí nếu khách trả bằng thẻ tín dụng
Bốn là, cơ sở hạ tầng còn kém phát triển, trình độ công nghệ thông tin
còn thấp, hệ thống thanh toán liên ngân hàng chưa đồng bộ và thiếu sự thống nhất Hoạt động của thẻ tín dụng phụ thuộc lớn vào hoạt động của trung tâm
Trang 9tin học Máy móc thiết bị và vận hành hệ thống còn có lúc trục trặc gây khó khăn trở ngại cho khách hàng
Năm là, mạng lưới chấp nhận thẻ chưa rộng, loại hình chưa phong phú Sáu là, công tác Marketing tiếp thị sản phẩm còn nhiều hạn chế do
chưa có một chương trình marketing nào nhằm quảng bá sản phẩm thẻ tín dụng
Bảy là, vốn đầu tư công nghệ quá cao do đòi hỏi phải được trang thiết
bị hiện đại trong khi nguồn lợi thu được từ thanh toán, phát hành thẻ không nhiều
Tám là, rủi ro phát sinh trong lĩnh vực thẻ tín dụng quốc tế do phải đối
mặt với công nghệ giả mạo ngày càng tinh vi, vượt quá khả năng kiểm soát của ngân hàng Rủi ro phát sinh cũng còn do sự biến động tỷ giá có thể gây thiệt hại cho chủ thẻ hoặc cho ngân hàng
Chín là, sự cạnh tranh lớn trên thị trường do có sự tham gia của rất
nhiều các chi nhánh ngân hàng nước ngoài với những ưu thế về tài chính, kiến thức và kinh nghiệm trong công nghệ thẻ, sẵn sàng đầu tư để chiếm lĩnh thị trường
Mười là, môi trường pháp lý chưa hoàn thiện Các văn bản pháp quy
vẫn chưa quy định đầy đủ các vấn đề an ninh, bảo mật thẻ, xử lý tranh chấp, rủi ro, vi phạm trong thanh toán thẻ và trích lập dự phòng rủi ro trong kinh doanh thẻ
Mười một là, nguồn nhân lực cho hoạt động thẻ còn thiếu, chưa đáp
ứng kịp thời với tốc độ phát triển sản phẩm và dịch vụ thẻ Hầu hết cán bộ làm công tác thẻ đều trẻ cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề, vừa làm, vừa học, vừa tích luỹ kinh nghiệm
Trang 10Mười hai là, thiếu sự trợ giúp từ trung tâm thông tin tín dụng cho các
khách hàng cá nhân
Kết luận chương 2
Mảng dịch vụ thẻ tín dụng ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển sản phẩm của ngân hàng hiện đại Trong những năm qua, đặc biệt là từ năm 2008, Sở Giao dịch đang từng bước thiết lập các bước
đi phù hợp nhằm chiếm lĩnh thị trường thẻ tại địa bàn Hà nội Trong quá trình
đó, Sở Giao dịch đã đạt được một số kết quả nhất định luôn là một trong hai chi nhánh dẫn đầu trong hoạt động thẻ của VCB Tuy nhiên, Sở Giao dịch vẫn còn một số tồn tại do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan Để có thể tiếp tục duy trì và mở rộng dịch vụ thẻ, đòi hỏi Sở Giao dịch phải có biện pháp để phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt yếu trong quá trình kinh doanh của mình
Trang 11CHƯƠNG 3
Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ TÍN DỤNG TẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
3.1 Mô hình SWOT và định hướng phát triển dịch vụ thẻ tín dụng của
- Ban Lãnh đạo của Sở Giao dịch với đội ngũ Lãnh đạo trẻ, mạnh dạn, quyết đoán đã định hướng rất rõ về xu hướng phát triển dịch vụ bán lẻ
- Sở Giao dịch có đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ có kinh nghiệm, tận tâm có trách nhiệm, có trình độ nghiệp vụ cao, có khả năng tiếp cận nhanh các kiến thức, kỹ thuật hiện đại
- Sở Giao dịch am hiểu khách hàng, có mối quan hệ truyền thống lâu năm với khách hàng, am hiểu văn hoá, phong tục tập quán của người Việt Nam cho nên đội ngũ khách hàng của Sở Giao dịch khá đông đảo
- Quy trình phát hành thẻ của Sở Giao dịch luôn tuân thủ qui trình kiểm soát nghiêm ngặt
- Hoạt động kinh doanh của Sở Giao dịch mang màu sắc toàn cầu hoá, cung cấp đa dạng các dịch vụ ngân hàng
Trang 12*Điểm yếu:
- Sở Giao dịch còn tồn tại của thế chế nhà nước quan liêu bao cấp, tạo ra sức ỳ không nhỏ, chi phí quản lý cao, bộ máy hoạt động còn cồng kềnh, thiếu kinh nghiệm hoạt động ngân hàng theo cơ chế thị trường (kể cả hoạt động quản lý), thiếu đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm, chất lượng cao, chuyên nghiệp
- Công tác thẩm định phát hành thẻ tín dụng của Sở Giao dịch còn khó khăn do tình hình hệ thống thông tin cá nhân làm căn cứ để cấp tín dụng theo hình thức tín chấp không có
- Sở Giao dịch chưa có chiến lược Marketing và bán hàng hiệu quả
- Mạng lưới ĐVCNT còn ít, loại hình đơn điệu và chủ yếu tập trung cho tầng lớp khách hàng cao cấp, có thu nhập cao
- Quy trình quản lý nợ của Sở Giao dịch tuy chặt chẽ nhưng hầu hết được thực hiện bằng phương pháp quản lý thủ công Năng lực quản trị rủi ro
và năng lực quản lý còn chưa thích ứng được với cơ chế kinh tế thị trường
- Công nghệ: Trình độ công nghệ thiếu sự kết hợp trong việc phát triển các sản phẩm dịch vụ, chưa tạo được nhiều tiện ích cho khách hàng, các sản phẩm bổ sung chưa được quan tâm để phát huy hiệu quả cao
- Công tác nghiên cứu và dự báo kém, không đưa ra được các quyết sách, chiến lược dài hạn, đường lối kinh doanh cổ điển Cơ cấu thu nhập vẫn chủ yếu là hoạt động tín dụng truyền thống
- Sở Giao dịch dễ bị mất thị phần do thiếu các quyết sách nhanh chóng, linh hoạt với tình hình diễn biến thị trường Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội
bộ chưa phát huy được hiệu quả, thiếu tính độc lập, hệ thống báo cáo tài chính
kế toán và thông tin quản lý còn chưa đạt tới chuẩn mực và thông lệ quốc tế
Trang 13* Cơ hội:
- Cơ sở pháp lý: Để củng cố cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh thẻ Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy các hoạt động phát hành và thanh toán thẻ
- Tác động quốc tế: VCB là NHTM duy nhất trên thị trường Việt Nam được tất cả các Tổ chức tín dụng quốc tế chú ý và muốn đầu tư phát triển thương hiệu của mình Sở Giao dịch là một trong những chi nhánh lớn nhất của hệ thống VCB vì vậy đó là một cơ hội lớn cho Sở Giao dịch trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ thẻ tín dụng
- Môi trường kinh tế - xã hội trong nước: Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây tăng trưởng ổn định, đời sống của nhân dân từng bước nâng cao, ngành du lịch tăng trưởng cao, các dịch vụ hạ tầng về công nghệ thông tin và bưu chính viễn thông cũng được đầu tư phát triển mạnh
- Nội lực của Sở Giao dịch: Có một nền tảng kinh nghiệm vững chắc
và một lượng khách hàng lớn Sở Giao dịch có đội ngũ lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược, đã nhìn nhận tập trung vào thị trường ngân hàng bán lẻ trong đó tập trung chú trọng đầu tư nguồn nhân lực cho dịch vụ thẻ cả về lượng và chất
- Khách hàng tiềm năng: Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế, thị trường Việt Nam sẽ có khoảng hơn 20 triệu người có khả năng sử dụng các loại thẻ thanh toán trong khi hiện nay, số lượng khách hàng dùng thẻ mới chỉ đạt gần 10 triệu, trong đó chỉ có 1% dân số dùng thẻ tín dụng hiện tại
- Sở Giao dịch có cơ hội được tiếp cận với tiến bộ, khoa học kỹ thuật công nghệ, kiến thức tài chính hiện đại Thực hiện chuyên môn hoá sâu hơn
về nghiệp vụ ngân hàng, quản trị ngân hàng, quản trị tài sản nợ, quản trị tài
Trang 14sản có, quản trị rủi ro, cải thiện chất lượng tín dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn
- Sở Giao dịch có cơ hội rất lớn để thâm nhập được thị trường tiềm năng, mở rộng khách hàng và cơ hội để thay đổi phương pháp quản lý, thay đổi tư duy, lề lối làm việc cũ, nâng cao chất lượng cán bộ ngân hàng, nâng cao năng lực quản lý nhà nước
- Môi trường kinh tế xã hội: Trình độ phát triển của dịch vụ ngân hàng Việt Nam còn kém phát triển so với khu vực và thế giới cả về chất, về số lượng dịch vụ và các tiện ích cung cấp cũng ảnh hưởng gián tiếp lên dịch vụ thẻ của ngân hàng
- Nội bộ của Sở Giao dịch: Mô hình tổ chức dịch vụ hiện nay vẫn còn nhiều bất cập Nguồn nhân lực cho dịch vụ thẻ tuy đã được đầu tư nhưng vẫn không đáp ứng kịp với tốc độ phát triển sản phẩm và dịch vụ thẻ
- Tình hình cạnh tranh trong lĩnh vực thẻ tín dụng quốc tế Sở Giao dịch chịu áp lực cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng trong nước và các ngân hàng nước ngoài, với nhiều “đối thủ” hơn, trên bình diện rộng hơn, sâu hơn Đặc biệt là sức ép từ các ngân hàng nước ngoài rất lớn vì các ngân hàng nước ngoài có một loạt các ưu thế về quy mô: vốn lớn, chất lượng tài sản tốt, cơ chế quản lý kinh doanh linh hoạt, thiết bị tiên tiến, trình độ kỹ thuật cao, có kinh
Trang 15- Việc mở rộng mạng lưới và phát triển các ĐVCNT gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan Về khách quan, nhiều đơn vị cung cấp hàng hoá dịch vụ vẫn chưa thật sự mặn mà với dịch vụ này nên từ chối ký Hợp đồng chấp nhận thanh toán thẻ hoặc đã ký Hợp đồng nhưng trên thực tế không chấp nhận hoặc thu thêm phụ phí của khách hàng khi thanh toán thẻ Về chủ quan, xảy ra tình hình cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng trong việc đặt điểm chấp nhận thẻ, nên xảy ra tình trạng các đơn vị chuyển từ ngân hàng này sang ngân hàng khác tạo hiện tượng cục
bộ ở từng ngân hàng về số lượng ĐVCNT trong khi quy mô thị trường về cơ bản vẫn không đổi
- Trong những năm vừa qua, Sở Giao dịch đã gặp một số rủi ro trong hoạt động phát hành thẻ, tình hình giả mạo trong năm 2008 tiếp tục gia tăng Vấn đề bảo mật thông tin chưa đáp ứng được yêu cầu, nạn Hacker đối với phần mềm ngân hàng vẫn xảy ra Nguyên nhân dẫn đến những rủi ro trên không chỉ xuất phát từ hệ thống và trình độ quản lý của ngân hàng mà còn từ
ý thức bảo quản thẻ của chính khách hàng
- Nguồn nhân lực dễ bị chảy máu chất xám khi mở cửa hội nhập
3.1.2 Định hướng phát triển kinh doanh dịch vụ thẻ tín dụng của Sở Giao dịch trong thời gian tới
- Duy trì mức tăng trưởng hoạt động phát hành và chi tiêu của khách hàng qua thẻ tín dụng, mở rộng mạng lưới các ĐVCNT, ATM
- Thiết lập các mục tiêu và kế hoạch Marketing Sở Giao dịch cam kết xây dựng mô hình tổ chức theo các chuẩn mực quốc tế: đa dạng hoá hoạt động, đi đầu về ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại
Trang 163.2 Đề xuất nhằm phát triển dịch vụ thẻ tín dụng tại Sở Giao dịch
3.2.1 Phát triển chiến lược Marketing
3.2.1.1 Thực hiện chính sách sản phẩm, nghiên cứu nhu cầu khách
hàng, đề xuất với Hội sở chính trong công tác đa dạng hoá sản phẩm, tạo hình thức độc đáo, phù hợp
Để phục vụ công tác bán sản phẩm đặc biệt trong vấn đề phát triển thẻ tín dụng dưới hình thức tín chấp, Sở Giao dịch phải có một khung hạn mức trong đó quy định rõ từng đối tượng, từng nhóm khách hàng tương ứng với từng mức tín dụng cho phù hợp Có được khung hạn mức này, các cán bộ sẽ
dễ dàng tiếp cận được khách hàng và đề xuất các hạn mức tín dụng được nhanh chóng, thuận lợi
Hiện nay, Hội sở chính cũng có khung hạn mức cho sản phẩm thẻ, nhưng khung này còn thiếu tính thực tế mà cũng chỉ bao gồm một số ít nhóm khách hàng với hạn mức tín dụng rất thấp chủ yếu là các đơn vị hành chính sự nghiệp và khối công ty quốc doanh Đối với Lãnh đạo cấp cao nhất thuộc đơn
vị hành chính sự nghiệp, hạn mức cao nhất không vượt quá 100 triệu đồng/ tổng hạn mức thẻ Đối với Lãnh đạo không phải là các đơn vị hành chính sự nghiệp hạn mức chỉ nằm trong khoảng 12 tháng lương không vượt quá 200 triệu đồng / tổng hạn mức thẻ Vì đây là hình thức tín dụng tiêu dùng cá nhân, đối với những Lãnh đạo có vị trí, uy tín lớn trong xã hội, hạn mức đặt ra như vậy là thấp và không quảng bá được sản phẩm thẻ tín dụng Tuy nhiên, Hội sở chính cũng để chính sách mở giao cho Ban Giám đốc các chi nhánh được quyền quyết định hạn mức tín dụng vượt khung cho khách hàng Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tình hình thực tiễn của Việt Nam, Sở Giao dịch nên xây dựng một khung hạn mức tín dụng mở rộng đối tượng tín chấp Đối với Lãnh đạo cao cấp và Lãnh đạo các Tổng công ty có thể áp dụng
Trang 17các công ty liên doanh, các văn phòng đại diện, công ty cổ phần… cũng có thể được tín chấp phát hành thẻ với hạn mức tín dụng gấp đôi lương tháng thực nhận
Bảng 3.1 Bảng khung hạn mức tín dụng và hạn chế chi tiêu 1 ngày